Nhịp cầu y khoa: ThỜi SỰ Y HỌC - Nhịp cầu y khoa

Jump to content


Chào Mừng bạn ghé thăm Diễn Đàn NHỊP CẦU Y KHOA. Nơi trao đổi thông tin, học hỏi, giao lưu của Sinh Viên Y Khoa, Bác Sĩ, Dược Sĩ và Bệnh nhân.

Mời bạn đăng ký thành thành viên để cùng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, và những thắc mắc, những nghi vấn về Y, Dược, bệnh tật. Nếu bạn đã là thành viên Nhịp Cầu Y Khoa, xin hãy đăng nhập để cùng trao đổi và trợ giúp nhau. Nếu bạn yêu thích website này, xin giới thiệu đến các bạn bè, người thân quen !!!

Các chủ đề nổi bật

CÁC CHỨC NĂNG CĂN BẢN CẦN BIẾT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

Nhà trọ sinh viên - cùng chia sẻ thông tin để giúp nhau tìm nơi trọ hợp lý

Bệnh Lý Suy Tĩnh mạch Mạn Tính - Tư vấn và khám miễn phí

Đại Học Y Toronto - Canada Nhận Sinh Viên Nước Ngòai …

Du học Mỹ Cần Biết ... / XKCX To America ...

CẤP CỨU - Chuyên Ngành Cấp Cứu

THỜI SỰ Y HỌC - Tin Tức Y Học Trên Thế Giới (SỐ 190 - 06/09/2010)




  • (2 Pages)
  • +
  • 1
  • 2
  • You cannot start a new topic
  • You cannot reply to this topic

ThỜi SỰ Y HỌC Tin Tức Y Học Trên Thế Giới - BS NGUYỄN VĂN THỊNH Rate Topic: -----

#36 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 08 February 2010 - 10:32 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT TRẮC NGHIỆM DI TRUYỀN TRONG NƯỚC MIẾNG DÀNH CHO CÁC BỐ MẸ TƯƠNG LAI.

Một trắc nghiệm nước miếng của các bố mẹ tương lai sẽ cho phép phát hiện nguy cơ mắc phải trăm thứ bệnh trước khi thụ thai.

GENETIQUE. “ Hãy bảo vệ em bé khỏi bị hơn 100 loại bệnh với một xét nghiệm đơn giản nước miếng, ngay trước khi có thai. ” Đó là điều hứa hẹn bởi một công ty còn non trẻ ở Californie, Counsyl, với “ trắc nghiệm di truyền vạn ứng ” (test génétique universel). Với 349 dollars, hay ngay cả miễn phí trong khung cảnh của vài cơ quan bảo hiểm y tế, công ty đề nghị phân tích ADN nước miếng của các bố mẹ tương lai trong mục đích nói trước nguy cơ của vài bệnh di truyền xảy ra cho hậu duệ. Đã được thực hiện trong khoảng 100 nhà hộ sinh Hoa Kỳ từ vài tháng nay, trắc nghiệm cũng có thể được yêu cầu trên Internet. “ Các kết quả được gởi trong hai đến ba tuần, một thời hạn mà chúng tôi có thể giảm xuống còn dưới một tuần khi khẩn cấp, ví dụ trong khung cảnh của một chu kỳ thụ thai in vitro ”, một phát ngôn viên của công ty Counsyl đã chỉ rõ như vậy. Hiện nay, trắc nghiệm di truyền vạn ứng (test génétique universel) đã có thể phát hiện những biến dạng di truyền (variants génétiques) tương ứng với hơn 100 bệnh di truyền, trong đó có mucoviscidose, drépanocytose (một bất thường của hémoglobine của các hồng cầu) hay bệnh Tay-Sachs (được đặc trưng bởi những rối loạn nhãn khoa và thần kinh).

MỘT DỊCH VỤ LÀM ĂN CÓ LỢI CỦA Y KHOA BÁO TRƯỚC (MEDECINE PREDICTIVE).

Mặc dầu hiếm nhưng nghiêm trọng, những bệnh lý này có mẫu số chung là đơn gène (monogénique) (do bất thường của một gène duy nhất) và được truyền theo tính lặn (de façon récessive) : chúng chỉ được thể hiện nơi một cá thể nếu hai allèle của gène đều mang bệnh : allèle được thừa hưởng của mẹ và allèle phát xuất từ cha. Nếu chỉ một trong hai allèle này bị biến dị, cá thể không bị một triệu chứng nào, được gọi là dị hợp tử (hétérozygote) hay người lành mang bệnh (porteur sain). Những vấn đề có thể xảy ra nếu người chồng cũng mang biến dạng di truyền (variant génétique). Trong trường hợp này, nguy cơ của cặp vợ chồng có một đứa con mắc bệnh là một trên bốn. Nói chung, những người lành mang bệnh chỉ hay biết những đặc điểm di truyền của họ sau trường hợp bệnh đầu tiên trong gia đình. Trái lại, mục đích của trắc nghiệm Counsyl là phát hiện họ trước, nhằm đề nghị một lời khuyên di truyền (conseil génétique). Lời khuyên này có thể dẫn đến một chấn đoán trước thụ thai (diagnostic préimplantatoire), nếu thai nhi được thụ thai trong khung cảnh một thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro), hay những trắc nghiệm tiền sinh (test prénatal) trong trường hợp một thụ thai tự nhiên.

“ Khoảng 35 đến 40% những người được trắc nghiệm là những người mang ít nhất một bất thường di truyền. Và cả vợ lẫn chồng bị liên hệ trong 0,6 đến 0,8% ”, một bài báo vừa mới được đăng tải trong Technology Review đã chỉ rõ như vậy. Công ty Counsyl nhấn mạnh rằng trắc nghiệm di truyền của hãng đã được hiệu chính bởi những nhà nghiên cứu của những đại học có uy tín (Havard, Stanford, Yale) và xác nhận rằng một bài báo khoa học đang sắp được công bố. Đối với Ramji Srinivasan, giám đốc của công ty, tham vọng là tạo một trắc nghiệm tương đương với những trắc nghiệm thai nghén được thực hiện ở nhà ”.
Khả năng thực hiện các trắc nghiệm di truyền trên Internet không phải là hoàn toàn mới. Trong những năm qua, tiếp theo sau sự giải mã của bộ gène người (génome humain), nhiều hãng đã lao vào trong dịch vụ làm ăn sinh lợi của y khoa báo trước (médecine prédictive). Chỉ với vài trăm euro, các công ty này hứa hẹn với các khách hàng sẽ báo trước tính nhạy cảm của họ đối với những bệnh thông thường : ung thư, các bệnh tim mạch ...Ở Pháp, phần lớn các chuyên gia rất chỉ trích tính thích đáng của các check-up di truyền này.
(LE FIGARO 3/2/2010)

2/ MỘT LOẠI THUỐC CHO PHÉP THẮNG ĐƯỢC BỆNH LAO.

Những thuốc kháng sinh mới vô cùng có hiệu quả có thể diệt được trực khuẩn Koch, nguyên nhân của bệnh lao. Các nhóm nghiên cứu của Inserm và của Viện Pasteur vừa khám phá ra những loại thuốc, lần đầu tiên, có khả năng loại bỏ vi khuẩn bên trong các tế bào miễn dịch (các đại thực bào), trong đó nó ẩn mình sau khi gây nhiễm. Ngoài ra, các thuốc này có hiệu quả chống lại các giống gốc cực kỳ đề kháng (souches ultrarésistantes) với các kháng sinh được sử dụng hiện nay. Để đạt được kết quả này, các tác giả đã tạo nên một mô hình giả gây nhiễm (modèle de simulation d’infection) các đại thực bào bởi vi khuẩn và đã cho mô hình này chịu tác dụng của 53.000 hợp chất khả dĩ có một hoạt tính kháng khuẩn. Trong số 135 chất được giữ lại, nhiều chất, thuộc một họ dẫn xuất từ benzamide, có tác dụng trừ tiệt hoàn toàn vi khuẩn trong 10 ngày. “ Chúng tôi bắt đầu trắc nghiệm những thuốc ứng viên này trên các mô hình động vật. Nếu tính hiệu quả của chúng được xác nhận in vivo, sẽ còn cần phải tấn công giai đoạn phát triển để tạo nên những thuốc thật sự, Priscille Brodin, người phụ trách các công trình ở Viện Pasteur de Corée đã đánh giá như vậy. Nhưng để thực hiện giai đoạn này sẽ cần thời gian khoảng một chục năm.”
(SCIENCES ET VIE 2/2010)

3/ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA CÁC FLAVONOIDE CỦA RƯỢU VANG, TRÀ, CACAO.

Viện hàn lâm dược học quốc gia hôm qua đã thảo luận về những đóng góp có lợi lên tim và não bộ của những chất được chứa trong vài loại thức ăn.

PREVENTION. Rượu vang, trà, chocolat, là chủ yếu, và những thực phẩm khác chứa những chất flavonoides, có những tác dụng chống oxy hóa (antioxydant) và chống viêm, với một hiệu quả bảo vệ lên tim và não bộ. Từ 15 năm nay, các nghiên cứu gia tăng về những chất được chứa trong thực phẩm này. Hôm qua, Viện dược học quốc gia đã dành một trong những buổi họp để bàn về những tác dụng lên sức khỏe của những chất flavonoides đầy hứa hẹn này. Tuy nhiên, trong khi nhiều xí nghiệp dược phẩm đề nghị các viên thuốc mà chất căn bản là flavonoides, thì viện hàn lâm lại đánh giá rằng những dữ kiện hiện nay không cho phép khuyến khích các “ điều khẳng định sức khỏe ” (“ assertions santé ”) của các chất bổ trợ dinh dưỡng (adjuvants alimentaires).

Lịch sử của các flavonoides bắt đầu trong những năm 1990, với sự phát hiện của nghịch lý Pháp (paradoxe français) : các người Pháp, đặc biệt trong vùng Tây Nam, có một tỷ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nơi khác, mặc dầu một sự tiêu thụ cao các chất mỡ bảo hòa (một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng). Ngoại lệ này được quy cho sự tiêu thụ rượu vang đỏ, đặc biệt cao ở Pháp. Các flavonoides (các hợp chất polyphénol) của rượu đã được nhận diện như là các chất trung gian của tác dụng có lợi này. Và nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học đã cố gắng phân tích mối liên hệ giữa chế độ ăn uống giàu flavonoides và các bệnh tim mạch (đột qụy, nhồi máu) hay thoái hóa thần kinh (bệnh Alzheimer, Parkinson).

“ Toàn bộ các thông tin có được như thế cho thấy một khuynh hướng chung tán trợ cho việc liên kết giữa sự tiêu thụ rượu vang đỏ có mức độ (một hay hai ly mỗi ngày), (trên mức này, những tác dụng có hại của rượu làm đảo ngược khuynh hướng), của sự tiêu thụ trà xanh hay trà đen và cacao và tỷ lệ tử vong nguồn gốc tim mạch hay thoái hóa thần kinh, GS Jean-Claude Stoclet, ủy viên của Hội hàn lâm dược học (đại học Strasbourg) đã giải thích như vậy.

Vậy có vẻ hợp lý khi đưa ra giả thuyết, theo đó sự tiêu thụ đều đặn của vài loại trái cây giàu flavonoides hay những chế phẩm phát xuất từ đó, rượu vang đỏ, một vài nước nho vắt, trà xanh và đen (trong một chừng mực ít hơn), cacao, được liên kết với một sự giảm tỷ lệ tử vong… ”

SỰ ỨC CHẾ CỦA MỘT VÀI GENE .

Bằng cớ chính thức chỉ có thể được mang lại, sau những thử nghiệm lâm sàng so sánh một chế độ ăn uống giàu flavonoides với một chế độ ăn uống nghèo flavonoides. Chúng ta hãy ghi nhận rằng hầu hết các công trình nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu flavonoide và ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu thí nghiệm, trên cấy tế bào hay mô hình động vật, đã phát hiện một tác dụng của các flavonoides lên thành trong của các huyết quản, với một sự gia tăng của các yếu tố giãn mạch và chống tăng sinh (facteurs vasodilatateurs en antiprolifératifs). Những chất này cũng tác dụng bằng sự ức chế của vài loại gène, để dẫn đến một tác dụng kháng viêm.

Người ta tìm thấy ở đâu các flavonoides này ? Nhiều trăm flavonoides khác nhau đã được nhận diện. Mặc dầu có nhiều điều không chắc chắn, nhưng có vẻ như rằng các flavonoides có một tác dụng bảo vệ, thuộc về các lớp của các flavonols (rượu vang đỏ, trà, cacao) và của các chất anthocyanines (các trái cây đỏ, quả anh đào, cassis). “ Khi tính đến các dữ kiện mới đây về các hiệu quả và các cơ chế tác dụng của vài flavonoides, ta có thể dễ bị cám dỗ khi chủ trương ngay từ bây giờ một sự tăng cường flavonoides trong chế độ ăn uống, GS Stoplet đã đánh giá như vậy. Cần phải cưỡng lại sự cám dỗ này : ngoài những điều không chắc chắn về bản chất của các hợp chất hữu ích, về những lượng cần phải cho, không hoàn toàn loại bỏ sự hiện diện của những tác dụng phụ. ” Đối với GS François Chast, chủ tịch của Viện hàn lâm dược khoa, “ trên cơ sở của các dữ kiện hiện nay, một sự tăng cường các cố gắng nghiên cứu có vẻ được biện minh và khẩn cấp ”.
(LE FIGARO 28/1/2010)

4/ ARN CÓ THỂ PHONG BỀ VIRUS CỦA VIÊM GAN C.

Một phép điều trị di truyền (traitement génétique) mới chống lại virus của viêm gan C, đã được trắc nghiệm nơi khỉ. Thuốc mới này có hai ưu điểm so với những thuốc cổ điển : nó hiệu quả ngay cả nhiều tháng sau khi đã cho thuốc và không gây nên đề kháng với virus. Giải thích : để tăng sinh, virus của viêm gan C cần gắn vào một phân tử nhỏ ARN, miR-122, hiện diện rất nhiều trong gan. Do đó, Robert Lanford (tổ chức nghiên cứu sinh y học San Antonio, Hoa Kỳ) và Henrik Orum (Santaris Pharma, Đan Mạch) đã có ý nghĩ phong bế ARN này bằng cách sử dụng một ARN khác, bổ sung, gắn vào đúng nơi bám của virus của viêm gan C. Điều trị như thế đã cho phép làm giảm số virus trong máu của các con khỉ được dùng để nghiên cứu. Điều trị này đã là đối tượng của một thử nghiệm lâm sàng được gọi là giai đoạn I, nhằm trắc nghiệm tính vô hại của nó nơi một số nhỏ những người tình nguyện mạnh khỏe. Theo những đánh giá của OMS, viêm gan C gây bệnh cho gần 3% dân số thế giới.
(SCIENCES ET VIE 2/2010)

5/ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ (DEMENCE) LIÊN KẾT VỚI CÁC TIỀN SỬ CAO HUYẾT ÁP.


Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nghiên cứu mối liên hệ giữa huyết áp của các phụ nữ lúc họ được đưa vào trong công trình nghiên cứu Women’s Health initiative (WHI), điều trị cao huyết áp và những bất thường của chất trắng (substanche blanche) não bộ. Công trình nghiên cứu này là một phần của WHI Memory Study (WHIMS), bao gồm 1.424 phụ nữ, 65 tuổi hoặc hơn, chịu một sự kiểm tra hàng năm huyết áp cũng như một IRM não bộ của họ.

Lewis Kuller và các cộng sự viên đã quan sát thấy rằng những người tham dự vốn cao huyết áp (14/9 hoặc hơn) vào lúc đầu công trình nghiên cứu, cho thấy những thương tổn của chất trắng trên scan IRM, được thực hiện 8 năm sau, nhiều hơn một cách đáng kể so với những người huyết áp bình thường. Các thương tổn thường xảy ra hơn trong thùy trán (lobe frontal), trung tâm kiểm soát cảm xúc và nhân cách của não bộ, hơn là trong các thùy chẩm (occipital), đỉnh (pariétal) và thái dương (temporal). Huyết áp vào lúc đầu công trình nghiên cứu rất có liên quan với các thể tích của các thương tổn của chất trắng.

Những kết quả này xác nhận mối liên hệ giữa cao huyết áp/điều trị kiểm soát cao huyết áp và những bất thường của chất trắng não bộ. Các dữ kiện cũng biện minh cho sự kiểm tra chặt chẽ và chính xác của huyết áp, ở giai đoạn sớm trong cuộc đời, như là phương cách khả dĩ, và có lẽ duy nhất, để phòng ngừa chứng sa sút trí tuệ (démence).

“ Các phụ nữ phải được khuyến khích kiểm soát huyết áp của họ khi họ còn trẻ tuổi hay ở lứa tuổi trung niên, nhằm ngăn ngừa những vấn đề quan trọng về sức khỏe về sau này trong cuộc đời. Sự phòng ngừa và sự điều trị kiểm soát cao huyết áp và những rối loạn mạch máu não có thể là liệu pháp phòng ngừa tốt nhất hiện nay của chứng sa sút trí tuệ ”, BS Kuller đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)

6/ BỆNH ALZHEIMER: HƯỚNG ĐIỀU TRỊ CỦA CÁC THUỐC CHỐNG CAO ÁP.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ gợi ý rằng các chất đối kháng của các thụ thể angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine) không những làm hạ huyết áp, mà đồng thời còn bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer và những dạng sa sút trí tuệ khác.

Chứng sa sút trí tuệ (démence), cũng như bệnh Alzheimer, là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với y tế cộng đồng, nhất là dân số người già không ngừng gia tăng. Loại bệnh lý này gây nên những phí tổn quan trọng vì lẽ bệnh nhân thường lưu trú dài lâu trong một nhà dưỡng lão (maison de repos) hay trong một cơ sở điều trị khác.

Các nguyên nhân của chứng sa sút trí tuệ, và đặc biệt là bệnh Alzheimer, là phức tạp. Tuy nhiên dường như ngày càng rõ ràng rằng 3 yếu tố nguy cơ đóng một vai trò thiết yếu : tuổi tác cao, sự tích tụ của bêta-amyloide trong não bộ, và tình trạng hư hỏng của hệ tim mạch. Thật vậy các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ tim mạch ở tuổi trung niên (tăng cholestérol-huyết, cao huyết áp và bệnh đái đường) góp phần vào sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ. Điều này giải thích sự quan tâm đối với các thuốc tác dụng chống lại những yếu tố nguy cơ này. Hy vọng rằng những loại thuốc này cũng làm giảm tỷ lệ mắc phải chứng sa sút trí tuệ.

SỰ GIẢM ĐÁNG KỂ.

Nhà thống kê Nien-Chen Li và các cộng sự viên (Boston University School of Public Health, USA) đã tiến hành một công trình nghiên cứu để kiểm tra xem một lớp đặc biệt của các thuốc cao huyết áp, các chất đối kháng của các thụ thể của angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine), có thật bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer hay không. Công trình nghiên cứu bao gồm 819.491 người trên 65 tuổi (98% là đàn ông) bị một bệnh tim mạch. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá trong nhóm người tham gia này tỷ lệ mắc phải sa sút trí tuệ từ năm 2002 đến 2006.

Họ đã so sánh 3 loại : một nhóm nhận các chất đối kháng của các thụ thể của angiotensine, một nhóm sử dụng inhibiteur ACE và một nhóm thứ ba đã nhờ đến các loại thuốc khác để chống lại các bệnh tim mạch (ngoại trừ các statines).

Phân tích cho thấy rằng, trong nhóm người chủ yếu là nam giới, các chất đối kháng của các thụ thể của angiotensine được liên kết với một sự giảm đáng kể của tỷ lệ và của sự tiến triển của bệnh Alzheimer và những dạng khác của chứng sa sút trí tuệ, so sánh với những inhibiteur ACE và những loại thuốc khác được sử dụng. Người ta cũng đã chứng thực rằng các chất đối kháng của các thụ thể angiotensine có một tác dụng bổ sung nếu chúng được phối hợp với một inhibiteur ACE. Những người đã nhận phối hợp này phát triển bệnh sa sút trí tuệ ít hơn và ít bị đưa nhanh đến một cơ sở điều trị hơn, so với nhóm chỉ nhận các inhibiteur ACE.

“ Nếu chúng ta khám phá một phương cách hiệu quả đề phòng ngừa chứng sa sút trí tuệ, điều đó sẽ có một tác động to lớn lên y tế cộng đồng ”, các giáo sư của đại học Calgary đã viết như vậy trong một bài xã luận của tạp chí BMJ.

“ Sự theo đuổi các nghiên cứu cho phép xác nhận tính hữu ích của các thuốc chống cao áp, đặc biệt là các thuốc chống cao áp của lớp các chất đối kháng của các thụ thể angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine), đối với chỉ định này ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 51 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (18/11/2007)

3/ THUỐC CHỐNG TĂNG HUYẾT ÁP CHỮA BỆNH ALZHEIMER .

Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi BS.Pasinetti, các thuốc chống tăng huyết áp có thể làm giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer. Các nhà nghiên cứu này đã dành 2 năm để khảo sát một ngàn thứ thuốc khả dĩ có những hiệu quả dương tính lên bệnh Alzheimer và chứng sa sút trí tuệ.Trong số 55 thuốc chống tăng huyết áp được chọn lựa, có 7 loại thuốc tỏ ra có hứa hẹn bởi vì tuồng như chúng ngăn ngừa sự sản xuất beta amyloide. Các công trình được tiến hành trên một mẫu chuột Alzheimer đã chứng tỏ rằng propranolol, carvédilol, losartan, nicardipine, amiloride, hydralazine và valsartan ngăn ngừa sự sản xuất beta amyloide nơi động vật này. Các tác giả nghĩ rằng nếu các dữ kiện này được xác nhận nơi người thì chúng ta sẽ có một phương cách mới điều trị bệnh Alzheimer. Tuy nhiên còn nhiều việc cần phải làm bởi vì vai trò tiềm năng của các thuốc này hiện đang còn trong thí nghiệm

Các nghiên cứu lâm sàng về sự ngăn ngừa và điều trị bệnh Alzheimer còn cần phải được thực hiện nếu như muốn nhận diện những thuốc có hoạt tính anti-oligomérique lên beta amyloide. Những thuốc này phải được cho với liều lượng không ảnh hưởng lên huyết áp của những bệnh nhân Alzheimer có huyết áp bình thường.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/11/2007)


7/ MẠCH, TỶ LỆ TỬ VONG TIM MẠCH VÀ THỂ DỤC : CÁC PHỤ NỮ ĐƯỢC ƯU ĐÃI.

Một mạch tim tăng cao lúc nghỉ ngơi được liên kết với một nguy cơ tử vong do suy động mạch vành lớn hơn. Các phụ nữ tập thể dục thấy nguy cơ này giảm đi rất nhiều.

Javaid Nauman và các cộng sự viện (đại học Trondheim, Na Uy) đã khảo sát mối liên hệ giữa các nhịp đập của tim lúc nghỉ ngơi và nguy cơ tử vong do suy động mạch vành. Họ cũng đã tự hỏi không biết mối liên hệ này có bị ảnh hưởng bởi sự tập thể dục hay không.

Các dữ kiện của họ được căn cứ trên một nhóm khoảng 50.000 người trưởng thành khỏe mạnh (24.999 đàn ông, 25.089 phụ nữ). Vào lúc thực hiện công trình (1984-1986), người ta đã thu góp các dữ kiện về lối sống (trong đó có sự luyện tập thể dục). Các yếu tố ảnh hưởng lên nguy cơ tim mạch, trong đó có mạch tim lúc nghỉ ngơi, cũng đã được đo.

Suốt trong thời gian theo dõi (trung bình 18 năm), 6033 người đàn ông và 4.442 người đàn bà bị chết do hậu quả của một bệnh tim mạch.

Phân tích cho thấy rằng khi mạch tim gia tăng lúc nghỉ ngơi, tỷ lệ tử vong do tim mạch cũng tăng cao, đặc biệt là tỷ lệ tử vong do bất túc động mạch vành và cơn đau thắt ngực (angor). Đối với mỗi gia tăng mạch tim 10 đập mỗi phút, nguy cơ tử vong do suy động mạch vành gia tăng nơi các phụ nữ 18%. Dầu sao đó là điều xảy ra nơi các phụ nữ dưới 70 tuổi. Trên lứa tuổi này, hiệu quả biến mất. Nơi những người đàn ông mà mạch tim gia tăng theo cùng tỷ lệ, thì nguy cơ tử vong gia tăng 10% trong nhóm những người trẻ tuổi nhất và 11% trong nhóm những người lớn tuổi hơn.

Điều đáng ngạc nhiên là vai trò của tập thể dục : Việc tập thể dục dường như bù lại nguy cơ liên kết với mạch tim nhanh lúc nghỉ ngơi. Nhưng điều chứng thực này chỉ áp dụng đối với các phụ nữ : những phụ nữ thực hiện nhiều hoạt động vật lý có một nguy cơ chết vì bất túc động mạch vành thấp hơn, dầu cho mạch của họ lúc nghỉ ngơi như thế nào. Một sự bù trừ như thế không được thấy nơi các người đàn ông.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)

8/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 THỂ NẶNG : SỰ THÀNH CÔNG CỦA CÁC PHẪU THUẬT GHÉP NHỮNG TẾ BÀO TỤY TẠNG.

GS François Pattou là trưởng khoa ngoại tổng quát và nội tiết của CHRU de Lille, giám đốc của đơn vị INSERM 859. Tạp chí khoa học “ Diabetes Care ” xác nhận những kết quả dài lâu của bước tiến bộ mà GS François Pattou bình luận.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh đái đường loại 1 ?
GS François Pattou : Bệnh đái đường loại 1 tương ứng với một trường hợp trên 10 trường hợp bệnh đái đường, khi có sự phá hủy hoàn toàn và không đảo ngược của những tế bào của tụy tạng tiết insuline, được gọi là “ các đảo nhỏ Langerhans ”. Sự vắng mặt insuline ngăn cản việc sử dụng đường (nhiên liệu cần thiết cho tất cả các chức năng của chúng ta) bởi toàn thể các tổ chức mô của cơ thể, do đó tạo nên sự nghiêm trọng của bệnh này ! Những triệu chứng đầu tiên được thể hiện bởi một sự gầy ốm, khát nước mãnh liệt và một sự gia tăng nước tiểu. Khi đó người ta đo nồng độ đường trong máu, nếu cao một cách bất thường, thì đó là dấu hiệu của bệnh đái đường.

Hỏi : Điều trị thông thường của bệnh đái đường loại 1 là gì ?
GS François Pattou : Điều trị gồm có :
  • Mỗi ngày chích nhiều mũi tiêm insuline (mà bệnh nhân tự quản lý lấy nhờ một bút tiêm (stylo injecteur) hay một bơm tiêm mang theo người (pompe portable).
  • Một sự kiểm tra nghiêm ngặt chế độ ăn uống (cung cấp đường và mỡ phải được hạn chế).
  • Một hoạt động vật lý đều đặn nhằm làm giảm nồng độ đường-huyết.

Tất cả các bệnh nhân đái đường này kiểm tra đường huyết của họ nhiều lần mỗi ngày (bằng cách sử dụng một máy đọc đường huyết (lecteur de glycémie) sau khi đã tự chích vào đầu ngón tay). Trong trường hợp quá liều insuline, họ có nguy cơ bị hạ dưỡng huyết (hypoglycémie), có thể là nguồn gốc của các biến chứng thần kinh.

Hỏi : Những kết quả thu được với điều trị này là gì ?
GS François Pattou : Trong phần lớn các trường hợp, các bệnh nhân đái đường loại 1 đã học cách kiểm soát bệnh của mình và sống một cách bình thường. Một vài người trong số những bệnh nhân này, với thời gian, không còn có thể đạt quân bình nồng độ đường trong máu của họ và ngày càng bị các giảm đường huyết, mà họ không cảm thấy, đó mới là nguy hiểm ! Khi đó họ có nguy cơ bị hôn mê đái đường (coma diabétique), đôi khi có thể đe dọa tiên lượng sinh tồn. Với năm tháng trôi qua, sự gia tăng của nồng độ đường trong máu có thể dẫn đến những biến chứng, như bệnh võng mạc (rétinopathie), bệnh tim mạch, hay một suy thận cần phải ghép thận.

Hỏi : Vậy chính những bệnh nhân gặp khó khăn này là đối tượng của phẫu thuật ghép những tế bào tụy tạng. Protocole của phẫu thuật ghép là gì ?
GS François Pattou : Đó là một phương pháp sinh học còn đang được thí nghiệm, chỉ liên hệ đến những bệnh nhân trưởng thành bị một thể rất nặng. Mục đích là cung cấp cho cơ thể những tế bào sản xuất insuline và điều hòa sự tiết của chúng. Protocole gồm trước hết trích các đảo nhỏ Langerhans từ một tụy tạng được lấy nơi một người cho đã chết. Rồi, giai đoạn hai, bằng tiêm truyền, đưa những đảo nhỏ Langerhans này vào trong tĩnh mạch của gan người bệnh. Sau đó, những tế bào tụy tạng này sẽ đo thường trực nồng độ đường trong máu và phóng thích liều insuline cần thiết cho cơ thể.

Hỏi : Vậy có một nguy cơ bị thải bỏ (rejet) hay không ?
GS François Pattou : Có. Do đó cần liên kết với thủ thuật ghép này một điều trị chống thải bỏ (traitement anti-rejet) để cho các tế bào được ghép không bị tiêu hủy bởi hệ miễn dịch.

Hỏi : Những bất tiện của điều trị chống thải bỏ này là gi ?
GS François Pattou : Do làm giảm các phòng vệ miễn dịch, điều trị chống thải bỏ gây nên những nguy cơ nhiễm trùng hay sự xuất hiện vài loại ung thư. Những bệnh nhân được ghép này phải được theo dõi.

Hỏi : Đến nay, những kết quả thu được từ những thủ thuật ghép này là gì ?
GS François Pattou : Cùng với bà đồng nghiệp chuyên về bệnh đái đường của tôi, BS Vantyghem, chúng tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu đầu tiên vào năm 2003 trên 14 bệnh nhân. Hiện nay, 8 trong số những người được ghép này vẫn lành mạnh, sống bình thường và không còn phải nhận một mũi tiêm insuline nào nữa. Trong số 6 bệnh nhân khác, thì ba bệnh nhân, mặc dầu được ghép, phải tiếp tục lại những liều insuline tối thiểu nhưng không còn bị một hiện tượng hạ đường huyết nào nữa. 3 bệnh nhân sau cùng, 5 năm sau khi được ghép, đã đánh mất các vật ghép (greffon) và trở lại tình trạng trước đây. Kết luận : hơn một nửa các bệnh nhân được ghép hôm nay không cần đến insuline, đây là một đầu tiên trên thế giới trong điều trị những bệnh nhân đái đường vô cùng nặng này !
(PARIS MATCH 21/1-27/1/2010)

9/ ĂN ÍT NHANH HƠN ĐỂ ÍT BÉO PHÌ HƠN.

ALIMENTATION. Ăn ít nhanh hơn cho phép chống lại một cách hiệu quả bệnh béo phì. Đó là điều được chứng tỏ bởi mandomètre, một chiếc máy lạ kỳ được hiệu chính bởi Per Sodersten, thuộc Viện Karolinsa, Stockholm (Thụy Điển) và tuần này được trình bày trên site Internet của British Medical Journal. Chiếc cân trò bé nhỏ này được đặt dưới đĩa ăn và được nối với một máy vi tính, tác dụng như một tên “ mật thám ” nằm vùng để đo tốc độ khi người ta ăn.

Suốt trong bữa ăn, một biểu đồ hiện lên trên màn ảnh, tùy theo trọng lượng thức ăn được lấy trong đĩa và tùy thuộc vào thời gian cần thiết để hấp thụ nó. Người sử dụng sau đó có thể so sánh đường cong được phát sinh như vậy với đường cong lý tưởng được xác định trước đây bởi nhà dinh dưỡng. Một khi đã ăn xong, máy vi tính chỉ rõ là bữa ăn đã được ăn quá nhanh hay không hoặc là quá chậm. Nhờ những chỉ dẫn được cung cấp bởi bệnh nhân, mandomètre cũng tính mức độ no nê (taux de satiété) và so sánh, luôn luôn theo cùng nguyên tắc, với một đường cong “ bình thường ”.

Một nhóm nghiên cứu của clinique de l’obésité của bệnh viện nhi đồng Bristol (Anh), được điều khiển bởi giáo sư Julian Hamilton-Shield, đã nghiên cứu ảnh hưởng của sự sử dụng mandomètre trên 106 thiếu niên bị tăng thể trọng, tuổi từ 9 đến 17, được so sánh với một nhóm chứng.Tất cả được khuyến khích luyện tập thể thao trong ít nhất một giờ mỗi ngày và theo một chế độ ăn uống cân bằng, được xác định bởi Food Standards Agency Anh.

Các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng các thiếu niên tham gia công trình nghiên cứu của họ đã có thói quen ăn quá nhanh. Nhưng sau một năm họ đã chứng thực rằng những người sử dụng mandomètre đã ăn vào những khẩu phần thực phẩm với lượng ít quan trọng hơn và với một tốc độ ăn giảm 1%. Nhất là, chỉ số khối lượng cơ thể (IMC > 25: tăng thể trọng và > 30 : bệnh béo phì) đã hạ trung bình 2,1 điểm. Sự cải thiện đáng kể này được duy trì trong 6 tháng sau khi ngưng sử dụng máy. Điều này gợi ý một sự cải thiện dài lâu của hành vi ăn uống. Kết quả đáng lưu ý khác : nồng độ cholestérol tốt trong máu (HL) đã tăng cao hơn một cách đáng kể. Để so sánh, nơi các trẻ thuộc nhóm chứng (không sử dụng mandomètre nên ăn nhiều và nhanh), chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) đã 3 lần thấp hơn, với một sự gia tốc 4% thời gian cần để ăn.

“ Bằng cách tập trung vào tốc độ hấp thụ và khối lượng thức ăn được ăn vào của bữa ăn và bằng cách tăng cường cảm giác no nê, máy mandomètre bổ sung một cách hữu ích cho những phương pháp hiện đang có sử dụng (còn hiếm hoi) để chống lại chứng béo phì của các thiếu niên, mà không cần phải nhờ đến thuốc men ”, các tác giả của công trình nghiên cứu trong BMJ đã ghi nhận như vậy.
(LE FIGARO 18/1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 104 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/12/2008)

2/ ĂN KHÔNG THÍCH THÚ LÀM DỄ PHÁT SINH CHỨNG BÉO PHÌ

Để giữ thân hình mảnh khảnh, không gì bằng sự cảm thấy thích thú trong khi ăn! Thật vậy, những người bị gia tăng thể trọng (surpoids) là kết quả của sự thiếu hụt trong việc hoạt hóa những trung tâm não bộ phụ trách về sự thích thú (plaisir) và do đó ăn nhiều hơn để bù trừ sự thiếu hụt này, theo Eric Stice thuộc đại học Texas. Nhờ những kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ, ông ta đã theo dõi sự đáp ứng của đường vòng khen thưởng (circuit de récompense) nơi những thiếu nữ đang nhấm nháp milk-shake au chocolat. Vùng này của não bộ tiết dopamine, chất dẫn truyền thần kinh gây nên một cảm giác thích thú, tỷ lệ với lượng thức ăn được ăn vào. Đây là một phương cách của cơ thể cho biết là tình trạng no nê đã đạt được. Nơi vài thiếu nữ, dopamine được tiết không được đầy đủ và các thụ thể của dopamine hiện diện với số lượng thấp hơn. Thế mà chính những thiếu nữ này lại có chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) cao nhất sau một năm thí nghiệm. Một hướng để tìm những thuốc mới chống bệnh béo phì.
(SCIENCE ET VIE 12/2008)


10/ TRÀ XANH HIỆU QUẢ TRONG SỰ NGĂN NGỪA UNG THƯ PHỔI.

Nguyên nhân đầu tiên của tử vong ở Đài Loan là ung thư phổi.

Rất nhạy cảm với tai ương này, nhóm nghiên cứu của BS I-Hson Lin (Chung Shan Medical University) đã tiến hành một cuộc điều tra về những thói quen sinh sống của 170 bệnh nhân bị ung thư phổi và của 340 người chứng lành mạnh. Những kết luận của công trình nghiên cứu mới đây đã được trình bày tại hội nghị về những cơ chế phần tử, nguồn gốc của ung thư phổi, ở Colorado (Californie). Các kết quả gây ngạc nhiên : nơi những người hút thuốc không uống trà xanh, nguy cơ được nhân lên 12,7 lần so với những người hút thuốc nhưng uống trà xanh (ngay cả chỉ uống một tách mỗi ngày). Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự hiện diện của những profil di truyền được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư này. Nơi những người có mức độ nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) thuận lợi, trà xanh làm gia tăng tác dụng bảo vệ. Các chất có lợi, được chứa trong trà xanh, có một tác dụng lên tính ổn định của các tế bào và các gène của chúng. Đó là các polyphénol, các chất chống oxy hóa (antioxydant) được biết rõ, thí dụ như épigallocatéchine, có tác dụng 200 lần mạnh hơn vitamine E.
(PARIS MATCH 4/2-10/2/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/2/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#37 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 15 February 2010 - 12:59 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CHO BỐ SUNG VITAMINE D : AI ? TẠI SAO VÀ NHƯ THỂ NÀO ?

Ngày nay nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng một bộ phận quan trọng trong dân chúng thiếu vitamine D. Nơi người già, một sự cho bổ sung vitamine này cải thiện sức mạnh cơ, gia tăng mật độ khoáng xương và làm giảm nguy cơ gãy xương, đó là chưa nói đến những tác dụng nhiều hướng (effets pléiotrophes) khác. Điểm lại tình hình với GS Steven Boonen (Leuven University, Division of Geriatric Medicine).

Vitamine D là một vitamine tan trong mỡ, được xem như là một hormone stéroide do cấu trúc và những chức năng của nó. 1,25-dihydroxyvitamine D (1,25 (OH)-D) hay calcitriol, là chất chuyển hóa hoạt động (métabolite actif) của hai dạng khác nhau : vitamine D2 hay ergocalciférol và vitamine D3 hay cholécalciférol. Chức năng chính của vitamine D, hormone calciotrope, là duy trì nội hằng định calcium (homéostasie calcique) để khoáng hóa (minéralisation) tối ưu xương. Nồng độ huyết thanh bình thường biến thiên từ 75 đến 200 nmol/L ; người ta nói bất túc (insuffisance) khi trị số giữa 50 và 75 nmol/L, thiếu hụt vừa phải (carence modérée) giữa 30 và 50 nmol/L, và thiếu hụt nghiêm trọng (carence sévère) khi trị số dưới 30 nmol/L. Một sự thiếu hụt vitamine D làm giảm sự hấp thụ calcium ở ruột và giảm sự khoáng hóa (minéralisation) xương. Những thiếu hụt vitamine D là nguyên nhân của ostéopénie, chứng loãng xương (ostéoporose), chứng nhuyễn xương (ostéomalacie), cường phó giáp trạng thứ phát (hyperparathyroidie secondaire) và gia tăng nguy cơ té ngã và gãy xương. Một điều tra được tiến hành nơi các phụ nữ bị bệnh loãng xương, được nhập viện vì gãy xương háng, cho thấy rằng 50% trong số các phụ nữ này vốn đã có một sự thiếu hụt vitamine D. Đối với GS Boonen, “ chúng ta nhận thức rằng hiện nay nhiều người trên thế giới và ở Bỉ có những trị số dưới tối ưu (valeur suboptimale) vitamine D. Nói chung sự thiếu hụt này bị đánh giá thấp và không được phát hiện, đặc biệt là nơi người già, trong y khoa tổng quát cũng như trong môi trường bệnh viện trong các khoa bệnh người già.”

TRƯỚC HẾT HÃY BỒ SUNG VITAMINE D.

Sự điều chỉnh của sự thiếu hụt này được thực hiện bằng cách cho bổ sung vitamine D. “ Sự cấp bổ sung này được đề nghị cho mọi người bị thiếu hụt, GS Boonen đã giải thích như vậy, nhưng nơi người trên 75 tuổi, đó còn hơn là một lời khuyến nghị, đó gần như là một sự bắt buộc, khi xét đến sự thiếu hụt tổng hợp do tuổi tác nhưng cũng do một sự cung cấp không đầy đủ bởi thức ăn.” Liều lượng tối ưu được công nhận có hiệu quả là 800 đơn vị/ngày, mà không gây nên vấn đề dung nạp hay an toàn lúc sử dụng. Nguy cơ quá liều hay ngộ độc không được mô tả ngay cả với những liều lượng khoảng 10.000 đơn vị mỗi ngày. Việc cho bổ sung vitamine D tỏ ra có lợi : nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng một sự cung cấp vitamine D làm giảm 23-53% tỷ lệ té ngã nơi những người già trong các nhà dưỡng lão. Một phân tích méta, tập hợp 5 công trình nghiên cứu và 1.237 lão niên (80% phụ nữ, tuổi trung bình 70), được cấp 400-800 đơn vị vitamine D/ngày, có bổ sung calcium hay không, đi đến cùng kết luận, với một sự thu giảm 22% nguy cơ té ngã nơi những bệnh nhân được cho bổ sung vitamine D3. “ Hiệu quả độc lập với sự cho bổ sung calcium và việc kê đơn calcium phải được đánh giá tùy trường hợp, GS Boonen đã xác nhận như vậy. Trước hết, một sự điều chỉnh dinh dưỡng có thể là đủ, điều này tránh những vấn đề tuân thủ điều trị hay không dung nạp tiêu hóa đối với calcium.”

NHỮNG HIỆU QUẢ TRỰC TIẾP VÀ GIÁN TIẾP.

Vitamine D có những tác dụng gián tiếp lên khả năng sinh sản, sự biệt hóa tế bào, hệ miễn dịch và nguy cơ bị ung thư. Đặc biệt trong ung thư đại tràng, nguy cơ sẽ được nhân lên gấp đôi khi nồng độ trong huyết thanh của 25(0H)D3 dưới 20mcg/L. Cũng vậy một mối liên hệ dịch tễ học đã được xác lập giữa nồng độ vitamine D và các bệnh lý mạch máu, với một sự gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não nơi những người bị thiếu hụt. “ Những hiệu quả gián tiếp này đòi hỏi sự xác nhận, GS Boonen đã nói rõ như thế, nhưng ngược lại hiệu quả trực tiếp lên sức mạnh của cơ và mật độ khoáng xương đã được chứng minh một cách rõ ràng và biện minh cho việc cho bổ sung vitamine D nơi người già. Chúng ta thu được những hiệu quá lớn với phí tổn thấp,” GS Boonen đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 8/1/2010)

Đọc thêm : Tổng Hợp Thông Tin TSYH Về Vitamin D - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ BISPHENOL A TẤN CÔNG RUỘT.

Người ta đã nghi ngờ những tác dụng của bisphénol lên sự sinh sản, sự phát triển của não bộ và hệ tim mạch. Bisphénol A (BPA), hợp chất hóa học hiện diện trong các plastiques và đặc biệt là trong các bình sữa (biberons), cũng tác dụng lên ruột, theo các nhà nghiên cứu của INRA (Toulouse). “ Ruột là cơ bia (organe cible) đầu tiên của BPA ngay khi chất này được nuốt vào ”, Eric Houdeau, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã chỉ rõ như vậy. Các con chuột cái trưởng thành đã nhận BPA với những liều lượng 10 lần thấp hơn so với liều lượng hàng ngày dược cấp cho người. “ BPA khi đó có những tính chất của một hormone, oestrogène, bằng cách hoạt hóa các thụ thể của thành ruột. Do đó BPA được nuốt vào mỗi ngày làm gia tăng các tác dụng hormone. Hậu quả : tính thẩm thấu (perméabilité) của thành ruột, đường trao đổi cho phép sự lưu thông của nước và muối khoáng cần thiết cho cơ thể, bị giảm sút. Nơi động vật gặm nhấm, một sự tiếp xúc với BPA trong tử cung và trong thời kỳ cho bú cũng làm gia tăng nguy cơ phát triển một viêm ruột nặng. “ Ta không thể suy kết quả này, thu được trên ruột động vật, lên ruột người ”, Eric Houdeau phát biểu như vậy. Giới hữu trách y tế Pháp đang xem xét tất cả các dữ kiện hiện có để quyết định một sự cấm chỉ khả dĩ.
(SCIENCE ET VIE 2/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 96 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (10/10/2008)

6/ BISPHENOL A

Bisphénol A (BFA) , ngày nay có thể được phát hiện nơi hơn 90% dân số, dường như được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim mạch. Được thêm vào polycarbone được sử dụng trong nhiều đồ vật, những bình sữa cho con bú cũng như trong những résines époxy hiện diện ở mặt trong các đồ hộp thực phẩm bằng sắt tây, BFA có mặt khắp nơi trong môi trường sống của chúng ta. Năm qua, các trung tâm kiểm tra và phòng ngừa bệnh tật đã tiết lộ rằng BFA đã được phát hiện trong nước tiểu của 93% những người tham dự vào công trình nghiên cứu National Health and Nutrition Examination Survey.

Những nồng độ cao bisphénol A (BPA), được sử dụng trong việc chế tạo các chai bằng plastique và bao bì thực phẩm, được liên kết với một nguy cơ cao hơn mắc phải bệnh tim mạch, bệnh đái đường và các bất thường gan, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong Jama.

Phân tích các dữ kiện, được thực hiện trên 1.455 người Mỹ, tuổi từ 18 đến 74, các tác giả của nghiên cứu đã khám phá rằng những nồng độ cao nhất của BPA trong nước tiểu được liên kết với một sự gia tăng trung bình 39% nguy cơ bị bệnh tim mạch, bệnh đái đường loại 2 và những bất thường của các men gan. Các nhà nghiên cứu đã chia những người tham dự thành 4 nhóm ngang nhau, tùy theo nồng độ của BPA trong nước tiểu của họ. 15% những người tham dự có nồng độ BPA cao nhất, có một nguy cơ bị bệnh tim mạch gần 3 lần lớn hơn 25 % những người tham dự có nồng độ BPA thấp nhất. Đối với bệnh đái đường, nguy cơ được nhân lên 2,4 giữa hai nhóm này. Sự gia tăng của nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim mạch được nhận thấy ngay cả khi sự tiếp xúc hàng ngày với những nồng độ BPA, 50 đến 100 lần thấp hơn những nồng độ đến nay được cho là an toàn. Công trình nghiên cứu này, được thực hiện giữa năm 2003 và 2004 là công trình rộng rãi nhất được thực hiện trên người để đánh giá nguy cơ do BPA gây nên.

Công trình nghiên cứu này xác nhận những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, đã được thực hiện trên động vật và đã phát hiện những hiệu quả có hại của BPA với nồng độ thấp, đặc biệt vào lúc tăng trưởng . Như thế BPA có thể gây nên những biến đổi trong não bộ, tuyến tiền liệt, các tuyến vú và biến đổi tuổi dậy thì nơi các thiếu nữ.

BPA là một sản phẩm hoá học thuộc họ các hợp chất hữu cơ thơm (composés organiques aromatiques). Chất này cũng được xem như là một chất gây rối loạn nội tiết (un perturbateur endocrinien). BPA đã là đối tượng của nhiều nghiên cứu trong những năm 1930, khi người ta thấy đó là một oestrogène tổng hợp.Trên cơ sở những công trình nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi công nghiệp các chất plastique, từ lâu công nghiệp này lập luận rằng BPA không có một mối nguy cơ nào bằng đường ăn uống đối với loài người. Nhưng những nghiên cứu khác, độc lập, được tiến hành trên chuột và người, mới đây đã đi đến kết luận khác, đối với BPA lẫn phtalates. Những chất phtalates cũng hiện diện trong cac đồ plastique và có thể có một tác dụng âm tính lên những chức năng nội tiết, đã bị cấm chỉ trong Liên Hiệp Châu Âu. Được công bố năm 2007 trong tạp chí Environmental Health Perspective, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã xác lập nơi người những mối tương quan giữa các nồng độ phtalates trong nước tiểu và chứng béo phì vùng bụng (obésité abdominale).

Vào giữa tháng 4 năm nay, chính phủ Canada loan báo ý định cấm sự thương mại hóa các bình sữa (biberons), được cấu tạo bởi plastique chứa bisphénol A (BPA), từ nay được xem là chất độc bởi đất nước này. Ở Hoa Kỳ, nhiều người hữu trách thuộc đảng Dân Chủ vừa yêu cầu Cơ quan quản trị thực và dược phẩm hãy đánh giá lại những mức độ tiếp xúc có thể được xem là có thể chấp nhận được về phương diện y tế. Nguồn: (LE SOIR 29/9/2008) (LE JOURNAL U MEDECIN 2/10/2008) (LE MONDE 6/5/2008



3/ THUỐC LÁ VÀ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG, NHỮNG MỐI LIÊN KẾT NGUY HIỂM.

Sự lên cân, thường xảy ra khi ngừng thuốc lá, có thể, nếu sự lên cân này vượt quá 4 kg, làm gia tăng nguy cơ xuất hiện bệnh đái đường loại 2, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong Annals of Internal Medicine. Sự gia tăng nguy cơ có thể đạt đến 70% đối với những người đã hút hơn 10 năm và đã lên cân hơn 10kg sau khi ngừng hút.

“ Sự cai thuốc lá (sevrage tabagique) dẫn đến một sự thay đổi profil chuyển hóa và một nguy cơ gia tăng bị bệnh đái đường, đạt cao điểm trong 3 năm tiếp theo sau đó. Nguy cơ này vẫn có thể quan sát 6 năm sau khi bỏ thuốc lá để rồi giảm dần dần và biến mất sau 12 năm ”, GS Hsin-Chieh Yeh, chuyên gia dịch tễ học của đại học Johns Hopkins, Baltimore (Hoa Kỳ) đã kể lại như vậy ; ông đã theo dõi hơn 10.000 người trong 9 năm. Nguy cơ này tương quan với số cân được tăng thêm và đặc biệt đáng kể nơi những người nghiện thuốc lá nặng.

Nhưng như GS Bertrand Dautzenberg, chủ tịch của Sở phòng ngừa nghiện thuốc lá Pháp, đã nhấn mạnh, “ thuốc lá tự nó gây nên một nguy cơ gia tăng bị bệnh đái đường loại 2, có lẽ được gây nên bởi một phản ứng viêm toàn thể của các mô. Ngoài ra, người ta đã chứng tỏ rằng các biến chứng tim mạch của bệnh đái đường và của chứng nghiện thuốc lá cộng lại với nhau để tạo nơi người bệnh đái đường hút thuốc một bệnh lý trầm trọng hơn ”.

Hai chuyên gia nhấn mạnh rằng lợi ích của ngừng thuốc lá vẫn là điều không thể tranh cãi được, nhưng xác nhận rằng tốt hơn là đừng bao giờ bắt đầu hút thuốc. Còn về những người muốn ngừng hút, “ Họ phải được theo dõi về mặt y khoa, các thầy thuốc phải nhận thức về mối nguy cơ cao này và phải cho các bệnh nhân những lời khuyên về dinh dưỡng để họ có thể kiểm soát hay làm giảm thể trọng. Sự theo dõi đường huyết cũng phải được thực hiện đều đặn để phát hiện sớm sự xuất hiện khả dĩ của bệnh đái đường ”, Hsin-Chieh Yeh đã nói thêm như vậy.
(SCIENCE ET AVENIR 2/2010)

4/ BỆNH TRẦM CẢM CÓ THỂ DẪN ĐẾN CHỨNG SÓN TIỂU.

Người ta đã biết rằng những rối loạn tiểu tiện và chứng són đái (incontinence urinaire), thường xảy ra nơi các phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh, có thể gây nên một sự khó ở (mal-être), nhưng không gây nên một chứng trầm cảm thật sự. Một cuộc điều tra, được tiến hành nơi 600 phụ nữ khoảng 60 tuổi, cho thấy rằng, ngược lại, một chứng trầm cảm với mức độ quan trọng (une dépression majeure) có thể là nguyên nhân của những triệu chứng này. Trong 6 năm, 11% những người được hỏi đã nói rằng họ đã đi thăm khám vì chứng trầm cảm, và 21% vì chứng són đái. Thế mà, nếu tính đến diễn biến thời gian của các biến cố và những yếu tố chính làm dễ những rối loạn này, người ta chứng thực rằng nguy cơ bị són đái gia tăng gần 50% trong trường hợp đã bị chứng trầm cảm với mức độ quan trọng. Ngược lại, nguy cơ mắc phải trầm cảm với mức độ quan trọng không gia tăng trong trường hợp són đái nơi một người trước đây không bị rối loạn này. Sự thiếu hụt sérotonine, có liên hệ trong chứng trầm cảm, cũng chịu trách nhiệm trong những rối loạn tiểu tiện.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2010)

5/ BỆNH HƯNG TRẦM CẢM : MỘT CHIẾN LƯỢC MỚI.

GS Chantal Henry, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, giải thích những lợi ích của các trung tâm chuyện khoa được thành lập ở Pháp để điều trị tốt hơn bệnh hưng-trầm cảm.

Hỏi : Những đặc điểm của rối loạn tâm thần được gọi là bệnh hưng- trầm cảm (maladie maniaco-dépressive) hay rối loạn lưỡng cực (trouble bipolaire) là gi ?
GS Chantal Henry : Bệnh lý này (gây bệnh cho 1% dân số) là một rối loạn của khí huyết (humeur), được biểu hiện bởi một sự luân phiên của những đợt trầm cảm (épisode dépressif), những giai đoạn hưng phấn (phase d’exaltation) (cũng được gọi là épisode maniaque) và những thời kỳ ổn định. Những đợt trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng ; những đợt hưng phấn (épisodes maniaques) kéo dài nhiều tuần. Những người có một người bà con gần bị bệnh có một nguy cơ được nhân lên 10 lần phát triển bệnh này.

Hỏi : Tại sao những rối loạn lưỡng cực này thường gây tàn phế ?
GS Chantal Henry : Nơi những bệnh nhân này, những triệu chứng trầm cảm là những triệu chứng của một bệnh trầm cảm nặng : buồn bã, mất lạc thú, rối loạn giấc ngủ, các tư tưởng âm tính, trì chậm, mệt mỏi và, thường là những ý nghĩ tự tử (idées suicidaires). Những thời kỳ hưng cảm (périodes maniaques) được biểu hiện bởi một trạng thái hứng khởi (état d’exaltation), thường liên kết với một tính dễ bị kích thích mạnh (đôi khi có thể dẫn đến những hành động hung bạo), một sự kích động quan trọng, những ý nghĩ vĩ đại (idées de grandeur), một khuynh hướng quá mức (trong những tiêu xài, sự tiêu thụ rượu, và những hành vi có nguy cơ). Những hậu quả thường là bi thảm : người ta nêu lên 15% tử vong do tự tử và nhiều bệnh nhân hưng-trầm cảm làm sạt nghiệp gia đình và tiêu tan nghề nghiệp.

Hỏi : Để tránh sự tiến triển của những rối loạn này, đâu là vấn đề chủ yếu ?
GS Chantal Henry : Vấn đề chủ yếu là ở chỗ xác lập chẩn đoán sớm. Trong 60% các trường hợp, bệnh bắt đầu bằng một chứng trầm cảm, các đợt hưng phấn xảy ra về sau này (nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau). Do đó bị chậm trễ trong việc điều trị thích đáng. Mặt khác, các thuốc chống trầm cảm, thường được cho ưu tiên một, có nguy cơ làm trầm trọng tiến triển của bệnh.

Hỏi : Để phát hiện sớm hơn những rối loạn này và xử trí tốt hơn, chiến lược mới là gì ?
GS Chantal Henry : Hiện nay, trong các khoa tâm thần, người ta điều trị toàn bộ các bệnh tâm thần. Không có đơn vị chuyên biệt đối với một bệnh lý nào đó. Phải công nhận rằng, trong xã hội của chúng ta, bệnh tâm thần vẫn còn là một chủ đề cấm kỵ và những nơi người ta điều trị bệnh này thường có tính cách vạch mặt chỉ tên. Các bệnh nhân hoãn lại trước khi đến khám bệnh, hay đến trong tình huống cơn bộc phát. Ngay cả các thầy thuốc gia đình đôi khi khó đề nghị một thăm khám nơi thầy thuốc chuyên khoa tâm thần. Thế mà, đối với những người bị rối loạn lưỡng cực, điều trị sớm có một lợi ích chủ yếu để tránh các tái phát. Nhờ tổ chức FondaMental, những trung tâm chuyên môn điều trị và nghiên cứu, nối liền với các khoa bệnh viện, đã được thành lập để tiếp đón, cùng với những thầy thuốc chuyên khoa tâm thần chuyên về bệnh này, những bệnh nhân hưng-trầm cảm.

Hỏi : Làm sao ta có thể chẩn đoán sớm hơn một bệnh hưng-trầm cảm ?
GS Chantal Henry : Trong tám trung tâm được thành lập này, các bệnh nhân được cho thực hiện một bilan tổng quát về sức khỏe vật lý và tâm thần. Suốt trong hai ngày, những bệnh nhân này chịu một bilan lâm sàng rất hoàn chỉnh và những đánh giá khác nhau bởi một nhóm nhiều chuyên khoa (với xét nghiệm máu, điện tầm đồ, các trắc nghiệm nhận thức..). Các thầy thuốc có đủ thời gian để thực hiện một thăm khám lâm sàng rất sâu và đề nghị một điều trị thích hợp. Trong khi trước đây chúng tôi chỉ có lithium và các thuốc an thần kinh (neuroleptiques), thì từ nay chúng tôi sẽ kê toa, tùy theo các trường hợp, những loại thuốc điều hòa tính khí (régulateurs de l’humeur) : vài loại thuốc chống động kinh (anticonvulsants) và chống loạn tâm thần không điển hình (antipsychotiques atypiques). Tiến bộ khác : những liệu pháp tâm lý đặc hiệu (psychothérapie spécifique). Với những thái độ xử trí này, chúng tôi làm giảm được 50% các tái phát và những trường hợp nhập viện.
(PARIS MATCH 4/2-10/2/2010)

6/ BỆNH THẤP KHỚP (RHUMATISMES) : HƯỚNG VI KHUẨN.

Người ta biết rõ hơn vai trò của vài tác nhân nhiễm khuẩn trong sự xuất hiện của các bệnh thấp khớp hay trong sự chuyển biến của những bệnh này sang tình trạng mãn tính. Thí dụ người ta đã tìm thấy trong máu của những người bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) những nồng độ tăng cao của các kháng thể chống lại virus của bệnh sởi. Cũng vậy, các người lành mang virus của viêm gan B có những anticorps antipeptides cycliques citrullinés (anti-CCP), những chất chỉ dấu chẩn đoán (marqueurs diagnostiques) của bệnh viêm đa khớp dạng thấp.
(SCIENCE ET AVENIR 2/2010)

7/ QUÁ NHIỀU OREXINE GÂY NÊN HOẢNG SỢ (PANIQUE).

Thình lình tim đập loạn xạ, người ta ngộp thở và muốn bỏ chạy trốn các tiếp xúc do sự xuất hiện của một cơn lo âu không thể tả được : những triệu chứng này của cơn hoảng sợ (crise de panique) có lẽ là do một sự thặng dư orexine, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Indiana đã loan báo như vậy. Chất messager hóa học này được sử dụng bởi những neurone có liên hệ trong sự cảnh giác (vigilance). Chúng ta đã biết rằng sự vắng mặt bệnh lý của những neurone này gây nên cơn ngủ thoáng qua (narcolepsie). Nhưng các nhà nghiên cứu vừa cho thấy rằng, hoạt động quá mức, các neurone này gây nên cơn hoảng sợ (crise de panique). Bởi vì trong vùng dưới đồi, chúng cũng chịu trách nhiệm những biểu hiện sinh lý của hành vi được gọi là trốn chạy hay chiến đấu (comportement de fuite ou de combat) trong trường hợp stress.

Bằng cách làm giảm hoạt tính của orexine nơi chuột bị những cơn hoảng sợ, các nhà nghiên cứu đã thành công giữ chúng yên tĩnh, vừa bảo tồn tính hoạt động xã hội (activité sociale) và hành vi thăm dò (comportement d’exploration) của chúng. Theo bài báo của Nature Medicine, người ta nghi orexine đồng một vài trò tương tự nơi người. Thật vậy, những người bị rối loạn này (cơn hoảng sợ) có một nồng độ tăng cao của chất này trong nao bộ . Nồng độ này giảm đi sau khi được điều trị. Bấy nhiêu lý lẽ khiến cho các nhà nghiên cứu nghĩ rằng họ đã tìm ra một tác nhân quan trọng của cơn lo âu (crise d’angoisse) và do đó là một mục tiêu được lựa chọn để điều trị những tác dụng, mặc dầu không biết được nguyên nhân, của rối loạn tâm lý này.
(SCIENCE ET AVENIR 2/2010)

8/ MỘT LOẠI THUỐC BẢO VỆ CÁC NEURONE SỰ TẠI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Denis Vivien điều khiển một đơn vị Inserm chuyên về những bệnh lý mạch-thần kinh (pathologies neurovasculaire), ở Caen.

Hỏi : Sau một tai biến mạch máu não, các tế bào thần kinh chết với số lượng lớn. Các nhà nghiên cứu Canada và Đài Loan đã thành công làm giảm sự mất của các tế bào thần kinh này nơi chuột. Như thế nào ?
Denis Vivien : Nhóm nghiên cứu đã hiệu chính một peptide (một đoạn của protéine) có khả năng ngăn cản những phân tử độc hại, được tổng hợp trong lòng các neurone khi bị một tai biến mạch máu não. Thật vật, tai biến mạch máu não gây nên một sự bội tăng hoạt hóa (suractivation) của vài thụ thể nơi bề mặt của các neurone, điều này gây nên độc tính, chịu trách nhiệm phần lớn sự chết của tế bào thần kinh. Được cho nơi các con chuột hai giờ sau khi người ta đã tạo cho chúng một tai biến mạch máu não, peptide này đã làm giảm khoảng 50% thể tích của các thương tổn não bộ và những rối loạn hành vi được liên kết.

Hỏi : Peptide này can thiệp theo cơ chế nào ?
Denis Vivien : Các nhà nghiên cứu đã nhận diện một protéine mà sự hoạt hóa nó là cần thiết cho sự thiết lập của quá trình độc hại. Được mệnh danh là SREBO-1, protéine này được tổng hợp trong các neurone và điều hòa sự biểu hiện của các gène. Peptide được hiệu chính phong bế sự hoạt hóa này một cách gián tiếp bằng cách tác dụng lên một protéine khác.

Hỏi : Những ưu điểm của peptide này đối với các phân tử khác hiện có hay đang được nghiên cứu là gì ?
Denis Vivien : Peptide này không nhằm trực tiếp vào các thụ thể ở bề mặt của các neurone, nhưng nhằm vào những tín hiệu trong tế bào phát xuất từ sự bội tăng hoạt hóa chúng. Đó là một điểm quan trọng bởi vì sự vận hành chức năng bình thường của các thụ thể này không được làm rối loạn trong các neurone lành mạnh. Ngoài ra, hiện tượng độc tính này có thể kéo dài nhiều giờ sau những triệu chứng đầu tiên của tai biến mạch máu não. Vậy peptide này tiềm năng có thể được sử dụng nơi những bệnh nhân được điều trị muộn. Hiện nay, thuốc điều trị duy nhất để điều trị giai đoạn cấp tính của tai biến mạch máu não phải được cho trong 4 giờ rưỡi sau những triệu chứng đầu tiên. Bởi vì sau thời hạn này, nguy cơ mà thuốc gây ra xuất huyết là rất quan trọng. Điều này hạn chế số bệnh nhận được điều trị, trong khi bệnh lý này là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trong thế giới công nghiệp.

Hỏi : Những bệnh khác có viên hệ hay không ?
Denis Vivien : Các cơ chế độc hại của tai biến mạch máu não có nhiều điểm chung với những cơ chế được khám phá trong bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, sclérose latérale amyotrophique hay bệnh động kinh. Như thế, peptide này cũng có thể có một tiềm năng điều trị đối với những bệnh này. Nhưng một thách thức kỹ thuật quan trọng cần được nêu ra : đưa một cách hiệu quả peptide này vào được trong các neurone đang bị thương tổn.
(LA RECHERCHE 2/2010)[/color]

9/ CÁC TẾ BÀO LYMPHO TIÊN ĐOÁN SỰ TÁI PHÁT CỦA UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG.

Một nồng độ cao của vài loại tế bào miễn dịch nằm kế cận một khối u đại trực tràng, tương ứng với một nguy cơ tái phát thấp. Để thiết lập mối liên hệ này, một nhóm nghiên cứu của Inserm và của bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou đã định lượng các tế bào lympho T cytotoxique và mémoire, hiện diện trên vị trí của 602 khối u. Được đặt tương quan với các tỷ lệ sống còn và tái phát của các bệnh nhân, các kết quả không chút mập mờ : trong số những bệnh nhân có một nồng độ cao các tế bào lympho T, chỉ có 4,8 % các bệnh nhân đã bị một tái phát sau 5 năm, trong khi những bệnh nhân với một nồng độ thấp đã bị tái phát với tỷ lệ 75%. Cũng vậy, 86,2% các bệnh nhân có phản ứng miễn dịch mạnh đã sống sót sau cùng thời kỳ này trong khi tỷ lệ này chỉ là 27,5% nơi những bệnh nhân có mật độ các tế bào lympho T thấp. Những điều quan sát này bổ sung thêm những nghiên cứu đã có trước đây (điều trị bằng oestrogènes, trắc nghiệm di truyền nhằm phát hiện) và dùng làm trắc nghiệm tính hiệu quả của một liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée).
(SCIENCE ET VIE 1/2010)

10/ BỆNH CROHN : HƯỚNG CỦA ĐẠI THỰC BÀO.

Bệnh Crohn (60.000 người bị bệnh ở Pháp) là một viêm mãn tính của ruột, có thể dẫn đến những biến chứng trầm trọng. Mặc dầu nguyên nhân của bệnh này vẫn không được biết đến, nhưng bệnh được cho là “ bệnh tự miễn dịch.” Theo nhóm nghiên cứu của GS Anthony Segal (đại học Luân Đôn) thì đó là một sai lầm ! Những công trình của ông và những kết luận của các công trình này, được cho chỉ là một sự khiêu khích đối với những người này, là sự khám phá quan trọng đối với những người khác. Segal và nhóm nghiên cứu của ông đã tiêm các vi khuẩn được làm vô hại vào những bệnh nhân lành mạnh và vào những bệnh nhân bị bệnh Crohn, rồi đã so sánh sự đáp ứng miễn dịch của chúng : nơi những bệnh nhân bị bệnh Crohn, vài tế bào miễn dịch, được gọi là “ đại thực bào ” (macrophage), trong tình trạng giảm hoạt. Hậu quả : chúng sản xuất rất ít cytokine, protéine làm biến đổi hệ miễn dịch để chống lại kẻ thù. Sự suy diễn những kết quả này lên hệ tiêu hóa gợi ý rằng nơi những người có các đại thực bào ít hoạt động, hệ miễn dịch được huy động một cách không đầy đủ cho phép các vi khuẩn trở nên rất hung dữ. Đối với Segal, các vi khuẩn trực tiếp là căn nguyên của của những thương tổn đường tiêu hóa.
(PARIS MATCH 21/1-27/1/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/2/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#38 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 23 February 2010 - 12:04 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ CHỈ CẦN MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐỂ THEO DÕI UNG THƯ.

Sẽ có thể theo dõi tính hiệu quả của các điều trị và những tái phát bằng các chất chỉ dấu được cá thể hóa trong máu (marqueurs sanguins personnalisés).

GENETIQUE. Sự theo dõi của các ung thư được điều trị cần đến một loạt các xét nghiệm để thăm dò nhiều cơ quan, nhằm kiểm tra sự vắng mặt các tái phát hay di căn trong các cơ quan này. Một xét nghiệm máu đơn giản để nhận diện các tế bào ung thư đặc hiệu của bệnh nhân, phải chăng chẳng bao lâu nữa sẽ có thể thay thế các xét nghiệm theo dõi nặng nề này ? Đó là điều mà các công trình của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cho phép hy vọng. Những nhà nghiên cứu này đã hiệu chính một xét nghiệm di truyền (test génétique) đầu tiên có khả năng nhận diện các chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) đặc hiệu của một khối u ung thư từ một phân tích máu. Một kỹ thuật như thế sẽ cho phép kiểm tra tính hiệu quả của các điều trị, bằng cách theo dõi tiến triển của các chất chỉ dấu (marqueur) trong một xét nghiệm máu và cho phép phát hiện một tái phát có thể xảy ra. Những công trình nghiên cứu này, sẽ được công bố trong tạp chí Science Tanslational Medicine số ngày 24 tháng hai, đã được trình bày hôm thứ năm tại hội nghị thường niên của American Association for the Advancement of Science, được tổ chức ở San Diego. “ Kỹ thuật này, đó là sự áp dụng các technologies de séquençage của bộ gène người (génome huamin) vào sự cá thể hóa các điều trị chống ung thư (personnalisation des soins anticancéreux) ”, BS Victor Velculescu, giáo sư ung thư học thuộc phân khoa y khoa của đại học Johns Hopkins (Maryland), tác giả chính của công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy.

“ Séquençge du génome ”

Các tế bào ung thư được đặc trưng bởi sự biến đổi một cách hệ thống và quá mức của chất liệu di truyền (matériel génétique) của chúng. Trong lúc khảo sát 6 trường hợp ung thư, 4 của đại tràng và 2 của vú, nhóm nghiên cứu của BS Velculescu đã có thể nhận diện những chất chỉ dấu sinh học (biomarqueurs) trên cơ sở các chuỗi di truyền (séquence génétique) đặc thù cho mỗi trong số các khối u này. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã thành công, chỉ bằng một phân tích trong máu của các bệnh nhân, nhận diện các chất chỉ dấu sinh học đặc thù của khối u ung thư này, nhờ những kỹ thuật khuếch đại di truyền (technique d’amplification génétique), mở ra khả năng theo dõi tiến triển của bệnh.

Hiện nay, chiến lược này, mà tính khả thi vừa được chứng minh, có vẻ hơi phức tạp và tốn kém. Nhưng “ những technologies de séquençage du génome sẽ càng ngày càng ít tốn kém hơn, BS Velculescu đã nhấn mạnh như vậy. Đối với những bệnh nhân của công trình nghiên cứu, phí tổn để thực hiện séquençage là 5000 dollar mỗi người. Hiện nay, một xét nghiệm scanner phí tổn 1500 dollar và chỉ có thể phát hiện những ung thư vi thể (cancers microscopiques) chứ không thể phát hiện chữ ký di truyền (signature génétique) như xét nghiệm mới này.”

“ Nếu khuynh hướng hiện nay trong việc thực hiện séquençage du génome vẫn được tiếp tục, thì trắc nghiệm này, được gọi là Pare (Personalized Analysis of Rearranged Ends), sẽ trở nên ít tốn kém hơn và tỏ ra hiệu quả hơn các scanner ”, BS Kenneth Kinzler, giáo sư ung thư học của đại học Johns Hopkins, đã nhấn mạnh như thế, “ kỹ thuật này sẽ cho phép phát hiện các ung thư tái phát trước khi chúng được phát hiện bởi những phương pháp quy ước như scanner ”. Mặc dầu tỏ ra lạc quan như thế trước sự kiện là một xét nghiệm sẽ có để sử dụng cho một số lớn các bệnh nhân trong các năm đến, nhưng BS Velculescu đã cho rằng còn cần phải biết “ làm sao thu giảm phí tổn ” để làm cho xét nghiệm có thể phổ cập.

Đối với GS Dominique Maraninchi, tổng giám đốc của Viện ung thư quốc gia (Paris), công trình này thể hiện một bước tiến đáng lưu ý, nằm trong trào lưu hiện nay của các chiến lược mới càng ngày càng cá thể hóa trong chẩn đoán và điều trị ung thư. “ Chúng ta tham gia vào một công trình thế giới nhằm phân tích toàn thể bộ gène (génome) của 50 loại khối u ung thư khác nhau để nhận diện những biến dị đặc hiệu và tìm ra những chất chỉ dấu đặc hiệu, với mục đích hiệu chính những xét nghiệm chẩn đoán hay phát hiện, và dĩ nhiên những chiến lược điều trị cá thể hóa (stratégies de traitement personnalisés).”
(LE FIGARO 20/2-21/2/2010)

2/ SCANNER CÓ GÂY UNG THƯ KHÔNG ?

Scanner với các tia X là thăm khám y khoa “ phát xạ nhất ” (irradiant), nhưng không phải vì vậy mà ta có thể liên kết liều lượng phát xạ (dose d’irradiation) với nguy cơ gây ung thư. Những bài báo mới đây, theo đó các xét nghiệm X quang gây nên hàng trăm tử vong mỗi năm, rất may mắn thay lại được căn cứ trên những tính toán lý thuyết nhưng không được biện minh về mặt khoa học, bằng cách suy diễn những liều lượng mạnh của phát xạ mà những người sống sót Hirosima-Nagasiki đã chịu đựng với những liều lượng thấp của phát xạ mà dân chúng phải chịu mỗi năm, dầu đó là phát xạ tự nhiên, y khoa hay nguồn gốc kỹ nghệ.

Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp giả thuyết tệ hại nhất, nguy cơ được tính toán là rất thấp, khoảng một nguy cơ trên nghìn với scanner có phát xạ cao nhất, nhưng trên thực tế trị số này được đánh giá quá cao.

Từ 15 năm nay, các công trình nghiên cứu dịch tễ học đã không bao giờ nhận thấy nguy cơ có ý nghĩa đối với những liều lượng phát xạ thấp ở người trưởng thành hay trẻ tuổi. Những quan sát duy nhất về sự gia tăng của nguy cơ ung thư sau những thăm khám y khoa có liên hệ đến những phụ nữ trẻ ngày xưa đã tích lũy nhiều lần rọi huỳnh quang.

THÁI ĐỘ HỢP LÝ.

Điều này được giải thích, bởi vì các đề kháng của cơ thể chống lại những liều phát xạ thấp là khác và về mặt tỷ lệ, hiệu quả hơn so với những đề kháng được thực hiện để chống lại những liều phát xạ cao. Một liều phát xạ thấp chỉ làm tổn hại một số nhỏ các tế bào (có thể trở thành tế bào ung thư nhưng được loại bỏ một cách đơn giản và do đó không thoái hóa thành ung thư).

Một nguy cơ tiềm tàng chỉ hiện hữu khi một số lượng rất cao các xét nghiệm scanner được thực hiện qua trong một thời gian giới hạn. Đối với những liều phát xạ cao, số những tế bào bị thương tổn không còn cho phép loại bỏ chúng nữa. Khi đó các tổn hại tuy được sửa chữa nhưng với một nguy cơ mắc phải các sai lầm có thể dẫn đến một ung thư.

Vậy không phải chính scanner là mối nguy cơ, nhưng trái lại, nguy cơ không thực hiện xét nghiệm này vì sợ sự phóng xạ. Một thái độ hợp lý phải đảm bảo một sự bảo vệ chính xác, đồng thời tránh một sự đánh giá quá mức về các nguy cơ có thể làm bệnh nhân từ chối những xét nghiệm y khoa đã có một vai trò quan trọng trong sự cải thiện sức khỏe và kéo dài tuổi thọ từ đầu thế kỷ XX và có thể dẫn đến những biện pháp bảo vệ phóng xạ không cân xứng và rất tốn kém, mà không có lợi ích y tế được mong chờ.

Để kết luận, ta có thể nói rằng một scanner dẫn đến một nguy cơ gây ung thư gần như số không, nhưng người ta có thể sẽ không bao giờ chứng tỏ được điều đó. Điều này không đặt lại vấn đề sự kiện rằng scanner phải được biện minh bởi một lợi ích được mong chờ đối với bệnh nhân. Liều phát xạ phải thấp chừng nào có thể được, nhưng cho phép thu được những điều muốn tìm kiếm và nếu có những kỹ thuật không phát xạ (IRM hay siêu âm), thì ta phải ưa thích kỹ thuật này hơn.
(LE FIGARO 5/2/2010)

3/ “NÃO BỘ THAI NHI BỊ GÂY MÊ NGAY TRƯỚC KHI SINH”

3 câu hỏi được đặt ra cho Yehezkel Ben Ari, Giám đốc của Institut de Neurobiologie de la Méditerranée (Inmed).

Hỏi : Điều gì xảy ra trong não bộ của thai nhi, ngay trước khi sinh ?
Đáp : Các nhà sinh học của đơn vị chúng tôi mới đây đã chứng minh rằng oxytocine, một hormone được phóng thích bởi vùng dưới đồi (hypothalamus) của người mẹ, báo động não bộ của thai nhi về sự sinh sắp sửa xảy ra. Như thế dường như những tế bào thần kinh của thai nhi được gây mê để đương đầu với một tình huống thiếu oxy có thể xảy ra.

Hỏi : Phải chăng khám phá này làm xét lại vài thái độ thực hành ?
Đáp : Điều đó nêu lên các nghi vấn, đặc biệt là về các loại thuốc được cho để làm chậm lại những co thắt của tử cung bằng cách phong bế các thụ thế đối với oxytocine. Phải chăng những thứ thuốc này gây nguy cơ cho não bộ thai nhi khi ngăn cản một sự bảo vệ thần kinh (neuroprotection) tự nhiên ? Cũng vậy, thực hiện một mổ dạ con (césarienne) không có các co thắt, không có ocytocine, phải chăng không phải là không có nguy cơ ? Nếu mổ vì một vấn đề tiện nghi, ta có thể do dự. Tốt hơn là nên tìm những loại thuốc mới khác thích hợp hơn.

Hỏi : Tại sao ông khuyên đừng uống cà phê trước khi sinh ?
Đáp : Trong trường hợp thiếu oxy, các thụ thể với adénosine, nằm ở cuối các tận cùng thần kinh, bị phong bế để bảo vệ các neurone. Caféine gắn vào những thụ thể này và ngăn cản không cho sự phong bế xảy ra.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về OCYTOCINE - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

4/ UNG THƯ VÚ DI CĂN : HY VỌNG CỦA NHỮNG ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH MỚI.

BS Fabrice André, thầy thuốc chuyên khoa ung thư học thuộc Viện Gustave-Roussy, ở Villejuif, giám đốc của phòng nghiên cứu Inserm U-981, trình bày những kết quả đầy hứa hẹn của một công trình nghiên cứu đang được tiến hành.

Hỏi : Để chống lại những ung thư vú di căn (cancers du sein métastasiés), những vũ khí của chúng ta là gì ?
BS Fabrice André : Điều trị tùy thuộc vào tính chất hung dữ của các tế bào ác tính, phạm vi của các di căn, vị trí của chúng và tính nhạy cảm đối với liệu pháp. Tôi nêu cho ông 3 thí dụ.
  • Đối với những bệnh nhân trong thời kỳ mãn kinh bị một ung thư ít hung hiểm, với một định vị di căn rất giới hạn và khối u đã tỏ ra đáp ứng với các chất kháng hormone, thì liệu pháp hormone là rất có hiệu quả.
  • Trong những trường hợp ung thư mang HER2 (protéine làm cho ung thư hung hiểm hơn), số các di căn ít quan trọng trong việc xác lập protocole, xét vì tính hiệu quả quan trọng của điều trị nhắm đích bởi herceptine hay lapatinib.
  • Đối với những phụ nữ không ở trong thời kỳ mãn kinh, bị một ung thư rất hung hiểm với nhiều di căn, người ta thực hiện hóa học liệu pháp, ngày nay được kết hợp với một loại thuốc ngăn cản sự tạo thành những huyết quản mới nuôi dưỡng khối u. Ngoại khoa được dự kiến trong những trường hợp di căn nhỏ nằm trong một vùng có thể mổ được, nơi những bệnh nhân nhạy cảm với điều trị nội khoa.

Hỏi : Protocole của công trình nghiên cứu của ông với một điều trị mới “ à la carte ” là gì ?
BS Fabrice André : Trước hết, tôi phải giải thích tính chất phức tạp của một khối u. Một tế bào ung thư tăng sinh một cách liên tục. Sự loạn năng này là do các protéine được hoạt hóa một cách nguy hiểm, “ được chế tạo ” (được mã hóa) bởi các gène, (các gène này khi bất thường, mã hóa các protéine bệnh hoạn). Vậy ta phải tìm cách hiệu chính những loại thuốc nhắm đích (drogues ciblées) tác dụng trực tiếp vào những protéine “ bệnh hoạn ” này. Vấn đề là mỗi khối u khác nhau ; do đó ở mỗi bệnh nhân phải tìm kiếm, bằng một phân tích di truyền, gène hay các gène chịu trach nhiệm.

Hỏi : Ông có những công cụ nào để phân tích một khối u ?
BS Fabrice André : Để thu được cartographie của bộ gène, chúng tôi sử dụng một technologie GGH và một technologie de séquençage phát hiện những gène bất thường. Đó là một phương thức rất mới ở Gustave-Roussy, nhằm trích lấy ADN của khối u và phân tích các gène của nó. Bước tiến lớn là phân tích này, được gọi là “ pangénomique ”, đã chuyển từ lãnh vực thuần nghiên cứu cơ bản sang lãnh vực nghiên cứu lâm sàng nơi phụ nữ. Như thế, công trình nghiên cứu của chúng tôi, được tiến hành trên 400 bệnh nhân, là một giai đoạn quan trọng trong ung thư học.

Hỏi : Một khi gène bất thường đã được nhận diện, ông đề nghị gì với bệnh nhân ?
BS Fabrice André : Từ gène này, chúng tôi sẽ có thể nhận diện protéine được hoạt hóa (mà gène mã hóa) và xác định một điều trị nhắm đích đặc hiệu lên nó.

Hỏi : Vậy đã có những loại thuốc “ sẵn sàng để sử dụng ” chống lại những protéine khác nhau đã trở nên bất thường chưa ?
BS Fabrice André : Chúng đang còn ở giai đoạn I và II của thử nghiệm điều trị. Đó hoặc là những kháng thể, hoặc là những sản phẩm được hiệu chính bằng informatique và được hướng chống lại các protéine đã được biết đến bởi những công trình nghiên cứu cơ bản. Hơn một trăm loại thuốc chống ung thư hiện đang được đánh giá.

Hỏi : Những kết quả đầu tiên của ông là gì ?
BS Fabrice André : Trong thử nghiệm lâm sàng này, gồm 400 bệnh nhân trong tình huống tái phát và đề kháng với mọi điều trị, người ta đã có thể, nơi 39 bệnh nhân, nhận diện bất thường di truyền. Trong số những phụ nữ này, 15 bị những di căn gan hay phổi, đã nhận một điều trị nhắm đích bằng đường miệng hay bằng tiêm truyền. Hôm nay, với thời gian nhìn lại từ 6 tháng đến 1 năm, người ta chứng thực, nơi một vài bệnh nhân, một sự thoái giảm rõ rệt của khối u, đây là điều rất đáng phấn khởi ! Con đường mới điều trị nhắm đích tùy theo các gène này dường như rất đầy hứa hẹn. Từ nay đến 3 đến 5 năm nữa, những điều trị các ung thư di căn nhờ di truyền này sẽ thay đổi hoàn toàn.
(PARIS MATCH 7/1-13/1/2010)

5/ “LÝ TƯỞNG, ĐÓ LÀ ĐỌC SÁCH, XUẤT GIA VA DU LỊCH”

3 câu hỏi được đặt cho Michel Isingrini, giáo sư tâm lý học nhận thức (psychologie cognitive), đại học Tours.

Trí nhớ được chia thành các module. Sau 50-55 tuổi, các trí nhớ ngữ nghĩa (mémoire sématique) (vốn hiểu biết văn hóa, bagage culturel), trí nhớ ngầm (mémoire implicite) (trí nhớ không bằng miệng, mémoire non verbale) và trí nhớ thủ thuật (mémoire procédurale) được duy trì khá tốt. Ngược lại, trí nhớ giai đoạn (mémoire épisodique) (các kỹ niệm cá nhân) suy tàn. Người ta đã chứng tỏ rằng nơi những người có một đời sống nghề nghiệp kích thích trí tuệ, hậu quả này được làm chậm lại.

Hỏi : Sự khác nhau giữa sự lão hóa bình thường và bệnh Alzheimer là gì ?
Đáp : Trong bệnh Alzheimer, trí nhớ giai đoạn (mémoire épisodique) bị phá hủy một cách không cứu vãn được, bởi vì các neurone của thùy hải mã (hippocampe) bị thoái hóa. Trong sự lão hóa bình thường (vieillissement normal), chính những chiến lược nhắc lại các kỷ niệm hoạt động ít tốt hơn. Những kỷ niệm vẫn luôn luôn hiện diện.

Hỏi : Làm sao giúp não bộ bù lại sự suy tàn bình thường này ?
Đáp : Chính bản thân não bộ sẽ thực hiện sự bù trừ. Các công trình mới đây cho thấy một sự sử dụng của hai bán cầu đại não nơi người già, trong khi một người trẻ tuổi hơn chỉ sử dụng một bán cầu đại não cho cùng một công việc. Vài công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng việc sử dụng quan trọng hơn của hai bán cầu đại não này là đặc biệt rõ rệt hơn nơi những người có một trí nhớ tốt hơn, điều này khiến nghĩ rằng đó là một hiện tượng bù. Để duy trì sự bù trừ này, phải duy trì một mức độ nhận thức tốt. Đọc sách, ra khỏi nhà, thảo luận. Lý tưởng là du lịch. Sự việc hoạch định, tổ chức, quyết định, đương đầu với những tình huống mới, đáng giá bằng tất các các kích thích.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2010)

6/ TUỔI CỦA NGƯỜI MẸ, MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ MẮC PHẢI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG ĐỐI VỚI CON MÌNH ?

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện một sự gia tăng theo đường thẳng có giới hạn, nhưng đáng kể của nguy cơ mắc bệnh đái đường loại 1 nơi trẻ em sinh ra bởi người mẹ lớn tuổi. Chris Caldwell và các đồng nghiệp (Centre for Public Health, Queen’s University, Belfast ) đã duyệt lại tư liệu y học để kiểm tra xem các trẻ em sinh ra từ người mẹ lớn tuổi có một nguy cơ lớn hơn phát triển bệnh đái đường loại 1 trong những năm đầu sau khi sinh ra đời hay không.

Để thực hiện điều này, họ đã thu thập các dữ kiện liên quan đến 30 công trình nghiên cứu. Những dữ kiện này liên hệ 14.724 trường hợp bệnh đái đường loại 1. Các tác giả đã có thể chứng thực rằng có một sự gia tăng trung bình 5% tỷ lệ mắc bệnh đái đường loại 1 trong thời thơ ấu đối với mỗi gia tăng 5 năm tuổi người mẹ lúc sinh.

Các tác giả kết luận rằng có một sự gia tăng nhẹ nhưng có ý nghĩa của nguy cơ phát triển một bệnh đái đường loại 1 nơi các đứa trẻ khi tuổi của người mẹ càng gia tăng vào lúc sinh. Ta có thể quy sự gia tăng những trường hợp bệnh đái đường loại 1 nơi các trẻ em trong những năm qua là do sự gia tăng tuổi của các phụ nữ lúc thụ thai
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/2/2010)

7/ MỘT MỐI LIÊN HỆ HÀI HÒA VỚI NGƯỜI BẠN ĐỜI: SỰ CỨU TINH CỦA BỆNH VIÊM KHỚP ?

Các phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp sống rất thuận hòa với người bạn đời của họ thường có ít hơn những dấu hiệu khách quan của viêm khớp.

Những tác dụng có lợi của sự hỗ trợ xã hội nói chung lên sức khỏe đã được chứng minh nhiều lần. Trong nhiều công trình nghiên cứu, sự cô lập xã hội đã được đặt ngang hàng với những yếu tố nguy cơ đã được biết như chứng nghiện thuốc lá, chứng béo phì và cao huyết áp như là yếu tố tiên đoán một tỷ lệ tử vong và bệnh tật gia tăng. Ví dụ như là những bệnh nhân bị một ung thư vú có thể đưa vào một mạng lưới xã hội tốt, sẽ có những cơ may sống sót tốt hơn.

Và một cuộc sống vợ chồng thỏa mãn sẽ là yếu tố tiên đoán một sự sống còn dài lâu hơn đối với những bệnh nhân bị suy tim.

NHỮNG CƠ CHẾ KHÁC NHAU.

Các nhà nghiên cứu quy các hiệu quả có lợi của sự hỗ trợ xã hội (soutien social) lên sức khỏe vào những cơ chế khác nhau. Một mặt, những người thân cận có thể ảnh hưởng một cách thuận lợi hành vi của một cá nhân và khuyến khích người này theo một lối sống và cách ăn uống lành mạnh, theo đuổi một cách đúng đắn điều trị đã được quy định. Mặt khác, những nghiên cứu cũng gợi ý một cơ chế sinh học, trong đó sự hỗ trợ xã hội có thể ảnh hưởng lên sự điều hòa của các chức năng thần kinh-nội tiết, miễn dịch học và tim mạch.

Nơi những người bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, dường như cơ chế sinh học này đóng một vai trò rất rõ rệt. Thật vậy nhưng quan hệ xã hội có một ảnh hưởng lên một số các yếu tố thần kinh-nội tiết thích đáng cho hoạt động của bệnh trong viêm đa khớp dạng thấp. Những công trình nghiên cứu trước đã cho thấy rằng nơi những phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, sự hoạt động miễn dịch và lâm sàng của bệnh gia tăng dưới ảnh hưởng của sự căng thẳng và tình trạng stress. Người ta cũng đã gợi ý rằng những bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp sống cô đơn phát triển một phế tật nhanh hơn những bệnh nhân có một người bạn đời. Thì ra rằng, điều này không có gì là không logic, chất lượng của mối quan hệ cũng đóng một vài trò. Người ta đã chứng minh rằng những phản ứng âm tính lập đi lập lại và những lời chỉ trích của người bạn đời gây thêm sự trầm cảm, đau đớn, lo âu và hoạt động của bệnh nơi những bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp.

Shelley Kasle (University of Arizona, Tucson, Arizona, USA) và các đồng nghiệp đã nghiên cứu những hiệu quả dương tính của một mối quan hệ hài hòa với người bạn đời (“couple mutuality ”) lên phản ứng viêm, một chỉ dấu sức khỏe trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Những điều nhận thấy của họ được căn cứ trên những dữ kiện quan sát có được qua sự hỏi bệnh và hồ sơ y khoa của 70 phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Các tác giả đã thu thập các dữ kiện về chất lượng của quan hệ với người bạn đời, sự xuất hiện của các cơn bộc phát của bệnh viêm đa khớp dạng thấp và tốc độ trầm lắng, với tư cách là chỉ dấu , vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu rồi sau 6 và 12 tháng.

CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG.

Các phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, khi hỏi bệnh, báo cáo một quan hệ hài hòa với người bạn đời của họ, thì trong những tháng sau đó, có một tốc độ trầm lắng ít tăng cao hơn và do đó ít có dấu hiệu viêm hơn. Trái lại mức độ viêm nhiễm không đoán trước tính chất của mối quan hệ trong những tháng tiếp theo sau. “ Điều đó gợi ý rằng một mối quan hệ hài hòa với người bạn đời có một tác dụng có lợi lên sự viêm khớp và do đó lên tiên lượng lâm sàng của những phụ nữ này ”, các tác giả đã tuyên bố như vậy.

Một công trình nghiên cứu sâu hơn về tác dụng có lợi của một mối quan hệ tốt với người bạn đời lên sức khỏe trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp có thể, theo Shelley Kasle, góp phần vào sự phát triển những can thiệp mới nhằm vào thái độ quan hệ (comportement relationnel) nhằm cải thiện tiên lượng của bệnh và và chất lượng đời sống của những bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/2/2010).

8/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : MỘT DỊCH BỆNH THẦM LẶNG ?

Trên thế giới, 250 triệu người bị bệnh loãng xương (ostéoporose), đại đa số là phụ nữ. Con số sẽ tăng gấp đôi trong những năm đến ! Sau khi đã đạt một cao điểm khối lượng xương (pic de masse osseuse) trong thời kỳ thiếu niên, xương có khuynh hướng dễ vỡ dần. Bất hạnh thay, những biểu hiện của bệnh này chỉ xuất hiện trong trường hợp gãy xương. Nhưng gãy xương đốt sống ( “ gãy lún ” ) có thể được thể hiện bởi triệu chứng đau cột sống và bởi sự giảm kích thước của thân mình. Không có một dấu hiệu báo động nào, do đó mới có thuật ngữ bệnh dịch thầm lặng (épidémie silencieuse).

CÁC PHI ĐẠN CÓ ĐẦU TÌM (DES MISSILES A TETE CHERCHEUSE).

Mãi đến nay, các thuốc thuộc họ các biphosphonates như alendronate (Fosamax), risédronate (Actonel)... đã tỏ ra hiệu quả với cả một tác dụng ngăn ngừa các gãy cổ xương đùi. Raloxifène (Evista), thuốc thuộc các chất điều biến của các thụ thể oestrogène (modulateurs des récepteurs d’oestrogènes) cũng có một tác dụng có lợi chống lại chứng loãng xương. Một loại thuốc khác, ranélate de strontium (có cơ chế tác dụng độc đáo và duy nhất), kích thích các tế bào sản xuất xương và giảm những tác dụng của các tế bào phá hủy. Nhưng các điều trị không ngừng tiến triển và lại còn có cái tốt hơn : zolédronate (Aclasta, Zometa). Chỉ cần cho một lần mỗi năm bằng cách tiêm truyền trong 15 phút, GS Philippe Orcel đã xác nhận như vậy. Như thế ít bị gò bó hơn, tránh được những vấn đề về tiêu hóa và những lãng quên. Theo một công trình nghiên cứu quốc tế kéo dài trong 3 năm trên 8000 người, phép điều trị này ngăn ngừa 70% các gãy xương đốt sống và 40% các gãy xuống đùi. Thật là tiến bộ biết bao ! ”

Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ vượt qua một giai đoạn có tầm quan trọng chủ yếu với sự xuất hiện sắp đến của các sinh liệu pháp nhắm đích (biothérapie ciblée), mà tính hiệu quả vừa được chứng minh bởi những công trình nghiên cứu quốc tế. “ Cho mãi đến nay, GS Philippe Orcel đã giải thích như vậy, những điều trị của bệnh loãng xương đều tác động vào những tế bào xương bị rối loạn.

Với liệu pháp sinh học (thérapie biologique) hay sinh liệu pháp (biothérapie), người ta nhắm vào chính ngay các cơ chế là nguồn gốc của sự loạn năng của chúng. Bước nhảy vọt thật là đáng kể ! Những phi đạn có đầu tìm (missiles à tete chercheuse) này là gì ? Đó là một kháng thể, được chế tạo trong phòng thí nghiệm bằng génie génétique, có tác dụng làm vô hiệu hóa protéine chịu trách nhiệm sự phát sinh của những tế bào hủy xương, do đó phong bế sự tạo thành chúng. Như thế kháng thể này ngăn cản sự biến đổi của mô xương. Cách cho thuốc của sinh liệu pháp, dénosumab, sẽ ít bó buộc hơn : một mũi tiêm dưới da mỗi 6 tháng. Tác dụng của thuốc sẽ ngưng ngay khi ngừng điều trị, do đó thuốc này không có nguy cơ gây ngộ độc do tích lũy.
(PARIS MATCH 11/2-17/2/2010)

9/ MỘT VIRUS ĐƯỢC LIÊN KẾT VỚI UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT.

Lluis Fajas là giám đốc nghiên cứu Inserm ở Viện nghiên cứu ung thư học Montpellier và là chuyên gia về ung thư tuyến tiền liệt.

Hỏi : Một virus phải chăng có thể là nguyên nhân của sự xuất hiện của ung thư tuyến tiền liệt ?
Lluis Fajas : Đó là điều được gợi ý bởi những kết quả mới đây của một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ. Trong lúc phân tích 334 mẫu nghiệm mô của tuyến tiền liệt người, các nhà khoa học này đã phát hiện những protéine của một virus đã được biết, XMRV, trong 23% các mô ung thư so với 4% trong các mô lành. Ngoài ra sự hiện diện của những virus này tương quan với những khối u hung hiểm nhất. Sau hết, sự định vị của các protéine virus này trong mạng tế bào của các khối u nhắc lại một quá trình sinh ung thư cổ điển. Tóm lại, virus XMRV đúng là dường như liên kết với ung thư tuyến tiền liệt. Nhưng mối liên hệ nhân quả thật sự còn cần phải được chứng minh.

Hỏi : Người ta biết gì về virus này ?
Lluis Fajas : Mãi đến nay, người ta biết rằng virus XMRV thuộc giống các gammarétrovirus, được biết gây nên các ung thư bạch cầu (leucémie) và một vài loại ung thư ác tính nơi nhiều loài gặm nhấm, mèo và các động vật linh trưởng. Nhưng công trình nghiên cứu này đã cho phép xác định một cách chính xác hơn. Thật vậy các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng virus này rất tương cận với virus của bệnh ung thư bạch cầu mà chuột mắc phải. Tuy nhiên virus XMRV đã không bao giờ được nhận diện như là một nguyên nhân của ung thư người.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu trong tương lai về chủ đề này cần phải làm sáng tỏ những điểm nào ?
Lluis Fajas : Để xác định xem virus có thật sự liên hệ trong bệnh ung thư tiền liệt tuyến hay không, các thí nghiệm in vitro và trên động vật sẽ phải được tiến hành, cũng như những nghiên cứu dịch tễ học. Rồi còn phải hiểu cách tác dụng : phải chăng virus thúc đẫy những tế bào bị nhiễm trùng biểu hiện các gène liên kết với ung thư ? Các protéine virus phải chăng có một tác dụng trực tiếp hơn, v...v..? Mặc dầu virus XMRV dường như chỉ tăng sinh trong các dòng tế bào (lignées de cellules) phát xuất từ các ung thư tiền liệt tuyến, nhưng sẽ thích thú biết xem là nó có liên kết với các ung thư của các mô khác, đặc biệt là phụ khoa, hay không ?

Hỏi : Những áp dụng y khoa nào có thể phát xuất từ khám phá này ?
Lluis Fajas : Nếu sự trách nhiệm của virus được xác nhận, sự khám phá này có thể mở ra con đường dẫn đến sự phát triển các chỉ dấu sinh học (biomarqueur) để nhận diện những người có nguy cơ, và phát triển những thuốc kháng virus đặc hiệu để điều trị chúng một cách dự phòng. Những công trình cũng có thể được thực hiện để hiệu chính một vaccin, nhưng đã có vaccin chống lại vài loại papillomavirus có liên quan trong ung thư cổ tử cung. Điểm quan trọng cuối cùng : trái với điều mà một tài liệu trước đây đã chỉ rõ, công trình nghiên cứu này tiết lộ rằng nhiễm trùng bởi XMRV không liên kết với một profil di truyền đặc biệt của bệnh nhân. Như thế, tất cả các đàn ông đều nhạy cảm với virus.
(LA RECHERCHE 11/2009)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Ung Thư Tiền Liệt Tuyến (Prostate Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ MỘT GIẤC NGỦ XẤU LÀM TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ MẮC BỆNH HEN PHẾ QUẢN

Các nhà nghiên cứu (đại học Alberta, Edmonton) đã phát hiện rằng một giấc ngủ có chất lượng kém trong 3 năm đầu sau khi sinh làm gia tăng nguy cơ phát triển một bệnh hen phế quản không do dị ứng (asthme non allergique) (được thể hiện lúc trời lạnh, lúc gắng sức hay khi bị nhiễm trùng bởi virus). Trong số 2400 trẻ em được theo dõi từ lúc sinh đến tuổi thiếu niên, những trẻ mà giấc ngủ bị ngắt quảng đã có một nguy cơ phát triển một bệnh hen phế quan không do dị ứng lúc 6 tuổi, 1,87 lần cao hơn những trẻ khác. Vào lúc 14 tuổi, nguy cơ tăng lên gấp 2,18 lần ! Theo BS Anita Kozyrskyj, người phụ trách công trình nghiên cứu được công bố trong Journal européen de pneumologie, điều này được giải thích bởi các cytokines proinflammatoires : những chất trung gian hóa học trong đó một vài chất có liên quan đồng thời trong sự kiểm soát giấc ngủ và sự tăng hoạt tính phế quản (hyperactivité bronchique).
(SCIENCES ET AVENIR 1/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/2/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#39 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 01 March 2010 - 09:26 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : CUỘC CÁCH MẠNG CỦA CÁC SINH LIỆU PHÁP.

NHỮNG NGUYÊN NHÂN.

MỘT SỰ HĂNG TIẾT LÊN CỦA HỆ MIỄN DỊCH.

Người ta gợi ra một viêm khớp (arthrite) khi khớp bị thương tổn, bị sưng tấy và đau đớn, có tất cả các dạng vẻ của một bệnh viêm. Màng hoạt dịch tiết một cách bất thường một chất dịch, khi tích tụ lại, đã tạo nên một tràn dịch (épanchement). Viêm khớp gọi là dạng thấp (arthrite rhumatoide) được đặc trưng bởi một bất thường bổ sung : các tế bào của màng hoạt dịch tăng thêm và tăng sinh một cách vô tổ chức. Khi nhiều khớp bị thương tổn, lúc đó ta gọi là bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), bệnh viêm tự miễn dịch có thể rất gây tật nguyền và hiện nay gây bệnh cho hơn 100.000 người ở Pháp. Thường thường, một hiện tượng viêm tương ứng với phản ứng của hệ miễn dịch đối với sự xâm lấn từ bên ngoài của một virus, của một vi khuẩn... “ Cơ thể của chúng ta, GS Maxime Dougados đã giải thích như vậy, được tổ chức theo cung cách như xã hội của chúng ta. Trong trường hợp kẻ lạ xâm nhập, cơ thể gọi đến các gián điệp : các “ tế bào công an ” (cellules flics). Những tế bào này sẽ xác định vị trí, “ chụp hình ” cá nhân không được mong muốn. Những “ tế bào công an ” này sau đó tiến về “ sở công an trung ương (commissariat central) (tuyến hung, thymus) để xem kẻ lạ có nằm trong hộp phiếu (fichier) hay không. Nếu không nằm trong danh sách, khi đó người ta gọi đến các hiến binh (các tế bào lympho) để bắt kẻ lạ mặt. Trong trường hợp xâm lược quy mô nhỏ, kẻ thù nhanh chóng được chế ngự, mà không gây hiện tượng viêm. Nhưng thường là vi trùng tấn công các hiến binh... Khi đó cả một sư đoàn “ CRS ” (các kháng thể) đến tăng cường và ở đó gây nên những tổn hại bên (dégats collatéraux), lần này, với một phản ứng viêm mạnh mẽ, như một angine, nhằm loại bỏ kẻ xâm nhập. Trong trường hợp viêm đa khớp dạng thấp, người ta quan sát thấy một quá trình viêm với một sự tăng hoạt tính của các tế bào của hệ miễn dịch nhưng...không có kẻ xâm lược ! Từ lâu người ta đã tìm kiếm nó mà không tìm ra được. Chính vì vậy người ta mới gọi là bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune). Người ta nghĩ rằng một chất của cơ thể không có trong hộp phiếu trung ương (fichier central) đã không được nhận biết và do đó bị chống lại như sự hiện diện quân thù.”

MAY MẮN THAY TẤT CẢ CÁC DẠNG CỦA BỆNH LÝ NÀY KHÔNG CÓ CÙNG MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG.

Thể trầm trọng nhất (20% các trường hợp) gây thương tổn những yếu tố nằm kế cận khớp, gây nên một sự phá hủy sụn, xương, với những thương tổn của các dây chằng hay các dây gân. Thể ít nghiêm trọng nhất (20% các trường hợp) được điều trị sớm, sẽ tiến triển về hướng lành bệnh mà không gây nên sự biến dạng. Thể thường xảy ra nhất ngày nay là thể mà trong đó mặc dầu phản ứng viêm vẫn dai dẳng, nhưng những yếu tố lân cận vẫn được gìn giữ nhờ những trị liệu duy trì mới cho phép kiểm soát bệnh và hủy bỏ những đau đớn.“ Cái điều rất khó trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp, GS Maxime Dougados đã nhấn mạnh như vậy, đó là các triệu chứng của nó : lúc đầu chúng được biểu hiện bởi cứng khớp vào buổi sáng, ở các bàn tay và các bàn chân (trong vòng 30 phút) và bởi những đau đớn làm phải thức dậy vào ban đêm. Thật rất là khó chịu ! ”

NHỮNG ĐIỀU TRỊ

... GIẢM ĐAU.

Nếu nguyên nhân là một sụn bị phá hủy, ta cho một thuốc giảm đau (paracétamol hay dẫn xuất morphine). Nếu đau đớn là do một phản ứng viêm, ta cho một thuốc chống viêm. “ Nhưng, GS Maxime Dougaloudos đã xác nhận như vậy, các thuốc kháng viêm với cortisone (cac stéroidiens) về lâu về dài gây nên các nguy cơ bệnh đái đường, đục thủy tinh thể, cao huyết áp. Những thuốc kháng viêm không có cortisone (AINS) gây nên những rối loạn tiêu hóa. Sự hiệu chính các thuốc kháng viêm, các coxibs, ít độc tính hơn nhiều đối với dạ dày, là một bước tiến lớn. ”

... LÀM YÊN NGHỈ HỆ MIỄN DỊCH.

Các thuốc cổ điển được sử dụng từ nhiều thập niên, như méthotrexate, luôn luôn có vị trí của nó trong điều trị. Nhưng những thuốc này, mặc dầu làm giảm viêm, không luôn được dung nạp tốt và không thể ngăn chận hoàn toàn tiến triển của bệnh. Chúng có thể gây nên đau bụng và đôi khi vài biến chứng phổi, thận, máu. Do đó, cách nay vài năm, các nghiên cứu tích cực để hiệu chính các thuốc hiệu quả hơn và được dung nạp tốt hơn.

VŨ KHÍ SINH HỌC

MỘT TIẾN BỘ NGOẠN MỤC.

Các nhà khoa học đã biết rằng một trong những yếu tố chủ chốt của quá trình viêm là một đội quân các phân tử (các cytokine), được chế tạo bởi các tế bào của hệ miễn dịch khi chúng được tăng kích thích. Trong số những cytokine (những loại messager có hại) này, những loại độc hại nhất (những“ bêtes noires ”), đó là những TNF (Tumor Necrosis Factor). Những nhà nghiên cứu lỗi lạc, trong đó có Giáo Sư Ravinder Maini (Giải Lasker 2003), đã thành công hiệu chính một vũ khí sinh học, loại phi đạn có đầu tìm (missile à tête chercheuse), có khả năng phong bế tác dụng của các TNF này, do đó những thuốc này có tên là những kháng-TNF, trong đó có étanercept (Enbrel), adalimumab (Humira) và infliximab (Remicade)...Những điều trị nhắm đích này, được gọi là sinh liệu pháp (biothérapie) đã tạo nên một giai đoạn quan trọng ! Ngày nay, với những năm tháng nhìn lại, người ta quan sát thấy những kết quả ly kỳ với sự biến mất đôi khi hoàn toàn của phản ứng viêm, của các đau đớn và của sự sưng tấy khớp. Bên cạnh các chất kháng TNF này, những sinh liệu pháp khác nhằm vào các bia khác nhau đã chào đời trong những năm gần đây, như rituximab (Mabthera) và abatacept. “ Năm nay, GS Maxime Dougalos đã loan báo như vậy, chúng ta sẽ được hưởng một thuốc mới của sinh liệu pháp, tolicizumab, và khoảng 20 loại thuốc khác đang được phát triển. Sự thay đổi trong chiến lược điều trị của chúng ta là từ nay chúng ta sẽ điều trị ở thượng nguồn để ngăn ngừa những thiệt hại. Can thiệp càng sớm, các thuốc càng có hiệu quả hơn.”

(PARIS MATCH 11/2-1/2/2010).

2/ BỆNH BÉO PHÌ CÀNH MẠNH, NGUY CƠ UNG THƯ THẬN CÀNG GIA TĂNG.

Theo một công trình nghiên cứu mới đây của Hoa Kỳ, béo phì làm gia tăng nguy cơ phát triển một ung thư thận có các tế bào màu nhạt (cancer du rein à cellules claires). Các nhà nghiên cứu của Memorial Sloan-Kettering Cancer Center ở Nữu Ước đã khảo sát 1640 bệnh nhân bị những khối u thận, trong đó 88% là ác tính. Trong lúc xem xét trọng lượng của những bệnh nhân này, họ đã khám phá một mối tương quan đáng kể giữa sự việc bị béo phì và sự hiện diện của các tế bào màu nhạt (cellules claires). Các kết quả của họ tiết lộ rằng những người béo phì có 48% nguy cơ bổ sung phát triển một ung thư thận có các tế bào màu nhạt (cancer du rein à cellules claires), so với những người có một chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) dưới 30. Và các nguy cơ gia tăng 4% đối với mỗi điểm bổ sung của chỉ số khối lượng cơ thể. Như thế chỉ số khối lượng cơ thể là một yếu tố tiên đoán (facteur prédictif) độc lập của dạng ung thư này. Tuy nhiên cơ chế sinh l bệnh ý vẫn không được biết và như William Lowrance đã đảm bảo điều đó, “ những nghiên cứu trong tương lai sẽ phải xác định lý do của sự liên kết này ”
(SCIENCE ET VIE 3/2010)

3/ CAO HUYẾT ÁP : “ MỘT ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA ”

CARDIOLOGIE. Một ngày nào đó, phải chăng ta sẽ có thể chữa lành bệnh cao huyết áp bằng một động tác “ nhỏ ” quang tuyến can thiệp (radiologie interventionnelle), và tránh phải uống thuốc suốt đời ? Tháng qua, các thầy thuốc của bệnh viện châu Âu Georges Pompidou (Paris), lần đầu tiên đã thành công điều trị một bệnh nhân bằng “ cắt thần kinh thận ” (dénervation rénale), mở đường cho những điều trị đổi mới. Gần 25% những người bị bệnh cao huyết áp, mặc dầu một điều trị đúng đắn, vẫn có một trị số huyết áp rất cao khiến họ dễ bị các nguy cơ nhồi máu hay tai biến mạch máu não …Sau một bilan tìm kiếm một nguyên nhân hiếm của bệnh cao huyết áp hay một sự tuân thủ điều trị kém, các thầy thuốc lao mình vào trong sự kê đơn các loại thuốc, không nhất thiết có hiệu quả và không phải là không có những tác dụng phụ. Trong bối cảnh này, một kỹ thuật mới nhằm làm giảm hoạt tính của dây thần kinh giao cảm thận đã được phát triển. Phương thức này đang được đánh giá trong một thử nghiệm quốc tế ở Pháp, Đức, Úc, Bỉ, Ba Lan và Hoa Kỳ. “ Hiện nay, điều trị ngoại khoa này chỉ được chỉ định đối với những bệnh nhân bị cao huyết áp đề kháng (hypertension résistante), nghĩa là với một trị số huyết áp trên 14/9, mặc dầu một phối hợp điều trị gồm 3 thứ thuốc, trong đó có một chất lợi tiểu, GS Michel Azizi, thuộc bệnh viện Pompidou (đã thực hiện can thiệp với GS Marc Sapoval) đã giải thích như vậy. Qua một cathéter, một ông thông tần số phòng xạ (sonde de radiofréquence) được đưa vào trong các động mạch thận để phá hủy dây thần kinh giao cảm thận (nerf sympathique rénal) bằng những sóng tần số thấp (ondes de basses fréquences). Thủ thuật, được thực hiện với gây mê tại chỗ, kéo dài 1 giờ. Bệnh nhân đầu tiên được điều trị ở Pháp có diễn biến tốt và đã cải thiện trị số huyết áp của mình. Những kết quả khẳng định sẽ được đánh giá sau 6 tháng. Trên thế giới, 50 bệnh nhân đã hưởng điều trị ngoại khoa này, với một sự giảm huyết áp nhưng không gây tác dụng phụ quan trọng.
(LE FIGARO 8/2/2010)

4/ MỘT HUYẾT ÁP TĂNG CAO ĐÔI KHI LÀ MỘT ĐIỀU TỐT.

Đôi khi tốt hơn là đừng điều trị huyết áp tăng cao của những người trên 85 tuổi. Thật vậy, điều trị cao huyết áp có thể làm bệnh nhân sớm tử vong. Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu của Thomas van Bemmel (Leyde).

Thomas Van Bemmel của Universitair Medisch Centrum de Leyde (Hòa Lan) đã theo dõi 571 người trên 85 tuổi, trong đó 223 lão ông có những tiền căn cao huyết áp. Trong một thời kỳ theo dõi 4 năm, ông ta đã ghi nhận 290 trường hợp tử vong, Điều gây ngạc nhiên, đó là những bệnh nhân cao huyết áp có sức khỏe tốt mặc dầu huyết áp của họ vẫn tăng cao. Nếu người ta cấp cho họ các thuốc cao huyết áp, nguy cơ tử vong của họ gia tăng.

“ Những người đã luôn luôn có một huyết áp tăng cao và đã không bao giờ được điều trị, không được sử dụng các thuốc cao huyết áp một cách hệ thống vào một lứa tuổi cao ”, Thomas van Bemmel đã kết luận như vậy. Nếu ta cố làm giảm huyết áp, có thể rằng điều đó có hại cho tuần hoàn máu và do đó cho toàn cơ quan. Tuy nhiên nên điều trị những người đã luôn luôn có một huyết áp bình thường và khi tuổi cao, đột ngột có một huyết áp bằng hoặc cao hơn 160, nhà nghiên cứu đã chấp nhận như vậy.

ĐI NGƯỢC DÒNG.

Thomas van Bemmel như thế chống lại những lời khuyến nghị chung theo đó huyết áp phải luôn luôn được điều hòa nơi những người cao tuổi. Tuy nhiên, dường như có những lý lẽ vững chắc. Nhất là bởi vì ông chứng minh rằng nơi những người trên 85 tuổi có một trị số huyết áp tăng cao thường xuyên, các quả thận hoạt động tốt hơn và rằng trí nhớ và tư duy của họ lanh lẹ hơn.

“ Do đó cần phải biết các tiền sử y khoa của các bệnh nhân, nhưng thường là thiếu, Thomas van Bemmel đã xác nhận như vậy. Đó là lý do tại sao nên hiệu chính một phương pháp cho phép phân biệt giữa những người có tiến triển ổn định hay hướng hạ và những người có tiến triển hướng thượng, để như vậy thích nghi điều trị. Do đó chúng ta cũng phải đánh giá trị số thích đáng mà ta cần đạt được.” Ông hy vọng có thể tiến hành một công trình nghiên cứu về chủ đề này trong các bệnh viện.

LEIDEN 85-PLUS STUDIE.

Công trình nghiên cứu của Thomas van Bemmel nằm trong bối cảnh của Leiden 85-phus Studie. Đó là một công trình nghiên cứu dọc được thực hiện từ năm 1997 đến 1999 nơi tất cả các người dân 85 tuổi của thành phố Leyde. Tổng cộng, 599 người đã tham gia vào công trình nghiên cứu.

Mỗi năm, tất cả các lão niên này đã phải chịu một đánh giá kỹ về phương diện vật lý, chức năng, tâm thần và xã hội. Mục tiêu của công trình nghiên cứu này là nhận diện những yếu tố quyết định của một đời sống không có vấn đề về sức khỏe nơi những người thuộc lứa tuổi thứ 3 và 4.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/2/2010)

5/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM CHỈ HỮU ÍCH TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP RẤT NẶNG.

Các bạn mất hết tinh thần ? Các bạn bị mất một người thân ? Các bạn ít tin tưởng hơn vào chính mình ? Thế nhưng, các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs) không được chế tạo ra cho các bạn ! Đó là, về căn bản, những điều mà các tác giả của một công trình nghiên cứu mới của Hoa Kỳ đã trả lời như vậy về tính hiệu quả của những thứ thuốc này. Họ vừa cho thấy rằng những thuốc chống trầm cảm, được kê toa một cách rộng rãi, thật ra chỉ hữu ích nơi những người bị chứng trầm cảm rất nặng, được biểu hiện bởi những ý nghĩ tự tử, thậm chí những toan tính tự tử, một sự buông xuôi hoàn toàn từ nhiều tuần hay những cơn hoang tưởng... Để đi đến những kết luận này, các nhà nghiên cứu đã phân tích 6 công trình, so sánh sự sử dụng của hai thuốc chống trầm cảm với một placebo nơi 718 người. Đó là paroxétine, thuộc lớp Prozac, và imipramine, một thuốc xưa hơn. Sau 6 tuần điều trị, chỉ những bệnh nhân bị chứng trầm cảm nặng nhất đã thấy các triệu chứng của họ được cải thiện, hoặc 1/3 trong số những bệnh nhân được nghiên cứu. Mặt khác, dường như sự đề kháng đối với các điều trị của bệnh trầm cảm có thể được giải thích ít nhất một phần bởi sự thặng dư của các thụ thể với sérotonine trong não bộ của vài người bị bệnh trầm cảm, như BS René Hen, nhà nghiên cứu của đại học Columbia (Nữu Ước) mới đây đã khám phá.
(SCIENCE ET VIE 3/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Trầm Cảm - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

6/ “ MỘT TOA THUỐC NGỦ TỐT KHÔNG ĐƯỢC QUÁ VÀI NGÀY ”.

Một toa thuốc tốt kê đơn các thuốc ngủ không được quá vài ngày, BS Didier Benhamou (thầy thuốc đa khoa của một nhà dưỡng lão) đã giải thích như vậy. Các thuốc này phải được uống đúng giờ, để đối phó với những khó khăn tạm thời. Không phải được sử dụng một cách hệ thống, nhưng chỉ khi cần thiết. Bởi vì nếu không, sẽ xuất hiện rất nhanh một nguy cơ quen thuốc (accoutoumance) và những tác dụng phụ có tiềm năng nghiêm trọng, nhất là nơi những người già. ”

Mặc dầu những lời khuyên này, các thuốc để ngủ, các hypnotique và các thuốc an thần, còn được cấp phát rất rộng rãi ở Pháp. Sự tiêu thụ thuốc ngủ ở Pháp là 8 đến 10 lần cao hơn so với sự sử dụng của vài nước láng giềng Châu Âu. Những người già đặc biệt bị ảnh hưởng bởi những thái quá này. Haute Autorité de santé, trong những năm qua, đã công bố một loạt các hướng dẫn trong mục đích hạn chế việc sử dụng của các loại thuốc này mà không thành công. Trong các nhà dưỡng lão, 30% - 60% những người hưu trí, theo những công trình nghiên cứu, đã uống vào mỗi buổi tối loại thuốc này.

NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ.

Điều trị mất ngủ bằng thuốc dựa trên hai lớp thuốc chính, các thuốc ngủ (hypnotiques hay somnifères) có thời gian tác dụng ngắn, loại zopiclone (Imovane) hay zolpidem (stilnoct) và các thuốc an thần (các benzodiazépines). Hai lớp này có những cơ chế tác dụng và những chỉ định khác nhau, nhưng có điểm chung là gây nên, đặc biệt lúc dùng lâu dài, những tác dụng phụ. “ Người ta đã chứng tỏ rằng các thuốc ngủ chỉ có hiệu quả trong một thời gian ngắn và có những tác dụng có hại, đặc biệt nơi các người già, ta có thể đọc như vậy trong một báo cáo mới đây của Haute Autorité de santé về chủ đề này. Vậy chỉ định của các thuốc ngủ hoàn toàn bị hạn chế trong các rối loạn giấc ngủ.” Những benzodiazépine (Valium, Tranxène...) mà tác dụng lên giấc ngủ chủ yếu là do một tác dụng an thần, về lâu về dài sẽ gây nên những triệu chứng chóng mặt, các rối loạn trí nhớ, các tai nạn lưu thông, các té ngã với nguy cơ gãy xương. Các loại thuốc ngủ thuần túy (zopiclone, zolpidem), có thời gian tác dụng ngắn hơn, đóng vai trò chất gây cảm ứng (inducteur) của giấc ngủ, không làm rối loạn trí nhớ, nhưng cũng làm gia tăng nguy cơ gây té ngã, nhất là vào ban đêm. Hai loại thuốc này gây nên một sự quen thuốc (accoutoumance). Dĩ nhiên để chống những hậu quả này, đạo luật bắt buộc không được cấp toa thuốc với thời hạn trên 4 tuần trong những trường hợp mất ngủ, và 12 tuần trong các trường hợp rối loạn lo âu. Nhưng những khuyến nghị này phần lớn bị phớt lờ.

“ Nơi các người già, cấu trúc của giấc ngủ bị biến đổi, BS Benhamou nói thêm như vậy. Thêm vào đó thường là sự thiếu công việc, sự buồn chán, một tình trạng trầm cảm, sự cô đơn, tất cả làm gia tăng chứng mất ngủ. Phải tìm ra những hoạt động, phải chống lại sự cô đơn hiu quạnh, phải điều trị chứng trầm cảm. Nhưng rất thường giải pháp dễ dàng là kê toa các thuốc ngủ, loại thuốc trở thành một loại lễ nghi cần thiết vào mỗi buổi tối. ”
(LE FIGARO 22/2/2010)

7/ BCG CÓ THỂ TRỞ NÊN MỘT ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH HEN PHẾ QUẢN.

Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur đã hiệu chính một điều trị mới của bệnh hen phế quản nhờ vaccin chống bệnh lao. “ Ở Nhật Bản, là nơi bệnh lao thường xảy ra, bệnh hen phế quản nơi những trẻ em được tiêm chủng bởi BCG xảy ra 3 lần ít hơn, Gilles Marchal đã kể lại như vậy, từ đó nảy ra ý tưởng tiêm chủng BCG để điều trị bệnh hen phế quản. Với điều kiện có thể làm bất hoạt được BCG ”. Bởi vì BCG chứa các trực khuẩn Koch sống nhưng được làm giảm độc lực, nên có nguy cơ gây nên những phản ứng miễn dịch và các áp-xe trong trường hợp tiêm lập lại. Thu được bằng quá trình làm mất nước toàn bộ, giống gốc mới, vô hại và được đặt tên là BCG EFD (Extended Freeze-Dying), vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó trên chuột. “ Đúng là có một phản ứng viêm, nhưng BCG EFD kích thích hệ miễn dịch để kềm chế phản ứng viêm này ”, Gilles Marchal đã giải thích như vậy. Điều trị này có thể xuất hiện trên thị trường từ nay đến 5 năm. Điều trị cần bốn mũi tiêm mỗi năm và sẽ không có những tác dụng phụ.
(SCIENCE ET VIE 3/2010)

8/ CHỐNG BÉO PHÌ BẰNG CÁCH ĂN VÀO GIỜ TỐT.

SANTE. Những thí nghiệm nơi chuột gợi ý rằng sự việc ăn uống vào ban đêm góp phần gây bệnh béo phì.

Ăn như một ông vua vào buổi sáng, như một ông hoàng vào giữa trưa và như một dân nghèo vào buổi tối ? Câu ngạn ngữ dân gian đang được xác nhận một cách khoa học. Để ngăn ngừa chứng béo phì, phải ăn một cách lành mạnh, nhưng cũng phải đúng lúc, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, mà những công trình đã được công bố trong tạp chí Obesity, đã xác nhận như vậy. Như thế, ăn tối lúc 18 giờ tốt hơn là vào nửa đêm. Theo những thí nghiệm mà họ đã thực hiện nơi chuột, ăn muộn vào lúc đáng lý ra phải ngủ, có thể góp phần vào sự lên cân, dầu cho thành phần của bữa ăn là thế nào.

Tác giả chính của bài báo, Fred Turek (neurobiologiste ở đại học Chicago, Illinois), là một trong những chuyên gia lớn nhất về những nghiên cứu sinh học và di truyền của những chu kỳ thức/ngủ (cycles veille/sommeil). Cách nay 4 năm, ông đã chứng minh rằng các con chuột bị rối loạn nhịp đồng hồ sinh học (do sự biến dị của một gène được gọi là clock) có khuynh hướng ăn vào những giờ không đều và phát phì hơn những động vật chịu cùng chế độ ăn uống nhưng không có bất thường di truyền.

Lần này, nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ tập trung công tác vào những mối tương tác giữa các giờ giấc ăn uống và trọng lượng. “ Những người làm việc trực gác, có khuynh hướng tăng thể trọng và béo phì, là một trong những tâm điểm chú ý của chúng tôi, Deanna Arble, một trong những đồng tác giả của bài báo của tạp chí Obesity đã giải thích như vậy. Thời biểu làm việc của họ đã buộc họ ăn uống vào những giờ xung khắc với nhịp tự nhiên của cơ thể họ. Đó là điều đã khiến chúng tôi nghĩ rằng ăn vào một giờ xấu có thể góp phần làm phát phì. ”

Để kiểm tra điều đó, các nhà nghiên cứu đã so sánh hai nhóm chuột chịu cùng một chế độ ăn uống (khá giàu mỡ) nhưng vào những giờ giấc khác nhau.

Những con chuột này được cho ăn trong một thời kỳ 12 giờ, tương ứng với chu kỳ thức tự nhiên của họ (ban đêm, vì lẽ đó là những động vật sống về đêm), những con chuột kia trong thời kỳ giấc ngủ bình thường. Sau 6 tuần theo chế độ này, những con chuột thuộc nhóm thứ nhất đã gia tăng 20% trọng lượng và các con chuột nhóm thứ hai gia tăng 48%. Trên bình diện thống kê, sự khác nhau này là rất có ý nghĩa, mặc dầu sự cung cấp calo và những tiêu xài năng lượng giống nhau trong hai nhóm.

“ Một sự hiểu biết tốt hơn về vai trò của nhịp ngày đêm (rythme circadien) trên sự điều hòa trọng lượng cơ thể có những hàm ý quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại dịch bệnh béo phì hiện nay ”, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã đánh giá như vậy. Ngay từ bây giờ phải chăng ta có thể loại suy những kết quả này lên loài người, và làm tối ưu nhịp điệu ăn uống để có thể làm chủ trọng lượng của mình ? BS Alain Delabos, nhà dinh dưỡng học (Rouen) đã tin tưởng như vậy ...từ hai mươi năm nay. “ Điều quan trọng trong dinh dưỡng, đó là biết ăn đúng loại thức ăn, với đúng số lượng, và điều thiết yếu nhất là vào đúng lúc ”, người thầy thuốc này, tác giả của nhiều tác phẩm chrono-nutrition (thuật ngữ mà ông đã phát minh) đã đảm bảo như vậy. Theo ông, khẩu phần mỡ (và nhất là mỡ bảo hòa) phải được giảm trong ngày. Nhưng đối với các chuyên gia dinh dưỡng và những nhà nghiên cứu khác, các cơ sở khoa học về chủ đề này chưa khá vững chắc để có thể áp dụng lên dinh dưỡng người.

“ Thật vậy, tác phẩm quan trọng này là công trình đầu tiên chứng tỏ mối liên hệ giữa lúc ăn uống và một sự biến đổi của chuyển hóa, nhưng không thể khai thác áp dụng tức thời được ”, Claude Gronfier, chronobiologiste của Inserm (Lyon), người đã chỉ ra những khuyết điểm của công trình nghiên cứu, đã đánh giá như vậy.

Thật vậy, những người làm việc ban đêm, chiếm 20% những người làm việc trong các nước kỹ nghệ, thường bị những vấn đề về tăng thể trọng, nhà nghiên cứu nói thêm vào như vậy. Đồng hồ sinh học của họ có thể nói không bao giờ đúng giờ giấc.
(LE FIGARO 4/9/2009)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 81 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 13/6/2008 )

7/ HÃY ĂN NHIỀU HƠN VÀO BUỔI SÁNG.

Nếu chúng ta muốn tránh lên cân vào lứa tuổi trung niên, thì nên ăn nhiều hơn vào buổi sáng và ăn ít hơn vào buổi chiều. Đây là điều chứng thực của nhóm nghiên cứu của L.Purslow (Anh). Nhà nghiên cứu nữ đã quan tâm đến các dữ kiện của 5.764 đàn ông và phụ nữ trong lứa tuổi 40 đến 75. Những người này được theo dõi trong 3,7 năm. Hầu như tất cả đều lên cân trong thời gian theo dõi. Những tỷ lệ lên cân là thấp nhất nơi những người hấp thụ phần lớn calories hàng ngày vào buổi sáng . Những người hấp thụ 22% đến 50% lượng calories của họ vào buổi ăn sáng trung bình lên 0,79 kg vào cuối thời kỳ theo dõi. Những người không hấp thụ hơn 11% lượng calories mỗi ngày vào buổi ăn sáng có thể trọng gia tăng trung bình 1,23 kg.
(LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008)


9/ CÁC BỆNH THUỘC LOẠI ALZHEIMER : TÍNH HIỆU QUẢ CỦA NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA.

Sau hội nghị AMPA, GS Andrieu, chuyên gia dịch tễ học, và GS Vella, thay thuốc chuyên khoa lão khoa, bình luận những lợi ích của 3 quy tắc vệ sinh.

Hỏi : Những đặc điểm của bệnh Alzheimer là gì ?

GS Bruno Vellas : Bệnh này có lẽ là do các ứ đọng bất thường của các protéine amyloide xuất hiện một cách tỏa lan trong não bộ. Các ứ đọng này tập hợp lại với nhau, và gây nên một sự phá hủy của các vùng bị xâm chiếm.

Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên là gì ?
GS Bruno Vellas : Những triệu chứng đầu tiên trước hết được thể hiện bởi những rối loạn của trí nhớ mới xảy ra (mémoire récente), rồi trầm trọng dần, đến độ được cảm thấy bởi những người xung quanh. Vào một giai đoạn tiến triển hơn, người ta quan sát thấy một sự mất định hướng trong thời gian và không gian với những khó khăn thực hiện những hoạt động hàng ngày.

Hỏi : Nhũng công trình nghiên cứu nào chứng tỏ tính hiệu quả của những biện pháp phòng ngừa ?
GS Bruno Vellas : 3 công trình nhiên cứu dịch tễ học đã hứa hẹn đo lường ảnh hưởng lợi ích của hoạt động vật lý, của một chế độ ăn uống thuộc loại địa trung hải và của những bài tập luyện trí nhớ. Công trình nghiên cứu đầu tiên, vào năm 2006, được tiến hành trên 170 người trên 50 tuổi, bị những rối loạn về trí nhớ, đã so sánh hai nhóm người. Nhóm thứ nhất đã hưởng một hoạt động vật lý, nhất là bước, theo nhịp độ 50 phút, 3 lần mỗi tuần trong 6 tháng. Nhóm kia không được hưởng một tập luyện đặc biệt nào. Sau 18 tháng, người ta đã quan sát thấy một sự cải thiện đáng kể của trí nhớ trong nhóm đã hưởng hoạt động thể dục !

Hỏi : Làm sao giải thích những lợi ích này ?
GS Bruno Vellas : Thể dục tác động, hoặc là một cách trực tiếp bằng cách làm gia tăng sự tiết của các facteurs de croissance neutrophiques, kích thích sức sống của các tế bào thần kinh, hoặc một cách gián tiếp bằng cách làm giảm những yếu tố chuyển hóa và huyết quản, rất có thể gây tổn hại đối với não bộ. Tác dụng có lợi của hoạt động vật lý sẽ là mạnh hơn tác dụng có lợi của nhiều loại thuốc !

Hỏi : Còn công trình nghiên cứu thứ hai của Hoa Kỳ ?
GS Bruno Vellas : Các người tham gia được chia thành 4 nhóm : một nhóm chứng, và 3 nhóm khác chịu những buổi luyện tập não khác nhau, trong nhiều tháng. Sau 5 năm theo dõi, những người được hưởng những buổi tập luyện này đã báo cáo, để thực hiện những hoạt động hàng ngày, ít gặp phải các khó khăn hơn.

Hỏi : Những buổi tập luyện này có một ảnh hưởng bằng cách nào ?
GS Bruno Vellas : Những buổi luyện tập này tác động chủ yếu lên tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale), nghĩa là sự tái hoạt động của các tế bào thần kinh. Những neurone này tiết ra nhiều hơn các chất trung gian thần kinh (neuromédiateur). Những chất này sẽ kích thích trí nhớ và, do đó làm dễ khả năng thực hiện những động tác hàng ngày.

Hỏi : Protocole của công trình nghiên cứu khảo sát thứ ba là gì ?
GS Bruno Vellas : Công trình nghiên cứu này được thực hiện trên 1880 người với tuổi trung bình 77 và sống ở Nữu Ước. Các thói quen ăn uống và mức độ hoạt động vật lý của họ đã được thu thập vào đầu công trình nghiên cứu và trí nhớ của họ đã được đánh giá, mỗi 18 tháng, trong 5 năm. Những người dân Nữu Ước, theo một chế độ ăn uống loại Địa Trung Hải (giàu trái cây, rau xanh, cá và ngũ cốc), và thực hiện đều đặn một hoat động vật lý, ít bị phát triển bệnh Alzheimer hơn so với những người dân khác, ít hoạt động hơn, có một chế độ ăn uống nhiều mỡ bảo hòa hơn.

Hỏi : Phải chăng hoạt động vật lý và chế độ ăn uống Địa Trung Hải tác dụng cộng lực với nhau ?
GS Bruno Vellas : Một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh hạn chế stress oxy hóa gây nên sự sản xuất quá thừa các gốc tự do (mà những gốc tự do này tham gia vào sự phá hủy của các tế bào thần kinh). 3 yếu tố : hoạt động vật lý, sự kích thích nhận thức (stimulation cognitive), sự dinh dưỡng thích hợp, do tác dụng cộng lực với nhau, có thể làm chậm sự xuất hiện của các mảng amyloide.
(PARIS MATCH 18/2-25/2/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ NGỘ ĐỘC OXYDE DE CARBONE (CO) ĐỂ LẠI NHỮNG DẤU VẾT.

Phần lớn mùa đông có lẽ sẽ lùi lại phía sau chúng ta vào lúc các bạn đọc những dòng chữ này, nhưng tháng hai vẫn là một tháng nổi tiếng lạnh lẽo trong vùng của chúng ta. Vậy đó là một lý do để ta phải đến gần lò sưởi (poêle), và chắc chắn điều đó không phải là không nguy hiểm. Nước Bỉ mỗi năm có hơn 1000 trường hợp ngộ độc CO.

Từ lâu ta biết rằng monoxyde de carbone (CO) gây nên giảm oxy mô (hypoxie) do sự liên kết của nó với hémoglobine (Hb) và do sự chuyển về phía trái của đường cong phân ly của oxyhémoglobine (courbe de dissociation de l’oxyhémoglobine). CO cũng gây nên một tình trạng viêm, bởi những cơ chế không trực tiếp liên quan với hémoglobine. Điều đó giải thích tại sao ngộ độc CO có thể gây nên, không những một cơn đau thắt ngực (crise angoreuse) nơi những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, mà còn gây nên những thương tổn tim nơi những người không hề có một thương tổn mạch vành nào cả, đó là lý do tại sao những người bị ngộ độc CO phải được làm điện tâm đồ và phân tích máu để xác định nồng độ của các men tim (enzymes cardiaques).

Cũng có một dạng ngộ độc CO bán cấp đã được mô tả nơi những người đã bị tiếp xúc CO trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Điều đó có thể gây nên cả một loạt các triệu chứng mơ hồ, nhưng mệt mỏi kéo dài, các rối loạn tập trung và của trí nhớ, một giấc ngủ bị rối loạn, chóng mặt, cảm giác kiến bò và cả đau thần kinh (neuropathie).

NHỮNG RỐI LOẠN NHẬN THỨC (TROUBLES COGNITIFS).

Một sự ngộ độc cấp tính CO để lại các dấu vết một cách lâu dài. Một công trình nghiên cứu, được thực hiện về sự điều trị ngộ độc CO bằng liệu pháp oxy bình áp (oxygénothérapie normobare), đã cho thấy rằng 46% các bệnh nhân vẫn còn có những rối loạn nhận thức (troubles để là cognition) 6 tuần sau đó. Đau đầu, các rối loạn vận động, các bệnh thần kinh (neuropathies), và các rối loạn trí nhớ hay cân bằng cũng đã được báo cáo. Ta có thể tưởng tượng rằng các cơ chế khó có thể kiểm soát được đóng vai trò trong vài trường hợp, tương tự như điều được quan sát đối với fibromyalgie hay các triệu chứng thần kinh tiến triển chậm, lần lượt xảy ra sau một whiplash hay một chấn động não (commotion cérébrale).

Nhiều năm sau khi điều trị một ngộ độc CO, các thương tổn của các hạch nền (ganglions basaux) và một sự teo lại của thùy hải mã (hippocampe) đã được quan sát nơi vài bệnh nhân.Tuy nhiên đó là những thương tổn ít đặc hiệu, và chúng ta còn thiếu các dữ kiện được kiểm tra. Ngộ độc CO được biết là làm gia tăng nguy cơ thoái hóa sớm nhận thức (dégénérescence cognitive précoce). Không có gì là rõ ràng về chứng sa sút trí tuệ hay những di chứng có thể xảy ra của ngộ độc. Một công trình nghiên cứu đã cho thấy một nguy cơ gia tăng khi tuổi trên 36 tuổi, khi ngộ độc đã kéo dài hơn 24 giờ, không có liệu pháp oxy tăng áp (oxygénothérapie hyperbare), hoặc trong trường hợp có những vấn đề thần kinh có trước. Vì CO gây nên một trạng thái viêm, nên các chất chỉ dấu máu (marqueur sanguin) có thể là một hướng nghiên cứu trong tương lai. Những hậu quả lâu dài của một ngộ độc CO vẫn là một lãnh vực cần thăm dò một cách đúng đắn bởi nghiên cứu y học.

LIỆU PHÁP OXY BÌNH ÁP.

Các khoa cấp cứu đều nhờ vào liệu pháp oxy bình áp (oxygénothérapie normobare) khi họ gặp phải một bệnh nhân bị ngộ độc CO. Biện pháp này làm gia tăng sự biến mất của carboxyhémoglobine), nhưng tính hiệu quả của nó trong việc phòng ngừa của các di chứng thần kinh đã chưa bao giờ được chứng minh. Dầu thế nào đi nữa, liệu pháp oxy bình áp là rẽ tiền, an toàn và dễ sử dụng, và do đó biện pháp này không phải bị đặt lại vấn đề trong cấp cứu. Các ý kiến khác nhau về mối liên hệ giữa oxy liệu pháp tăng áp (oxygénothérapie hyperbare) và các di chứng thần kinh sau ngộ độc. Lindell Weaver, mà New England Journal of Medicine mới đây đã công bố một duyệt xét tư liệu y học về vấn đề này, đã chỉ tìm thấy một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh duy nhất đã kết luận rằng oxy liệu pháp tăng áp là hiệu quả chống lại sự xuất hiện của những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) sau 1 tháng. Đối với tác giả, sự hiện hữu của một công trình duy nhất không phải là một lý lẽ để không sử dụng điều trị này. Nhà chuyên gia của y học tăng áp (médecine hyperbare) này khuyến nghị áp dụng điều trị này vào một số lượng đầy đủ các bệnh nhân bị ngộ độc CO, trong hy vọng rút ra những điều chỉ dẫn xác định hơn. Còn đối với Hiệp hội y học tăng áp Hoa Kỳ thì chủ trương giới hạn việc dùng đến oxy tăng áp vào những trường hợp đáp ứng ít nhất với một trong những tiêu chuẩn sau đây : sự hiện diện của các triệu chứng, tuổi trên 36, thời gian tiếp xúc ít nhất 24 giờ, nồng độ CO trên 25%. Oxy liệu pháp tăng áp có thể được xem như là tương đối an toàn và ít gây nên những tác dụng phụ. Biến chứng thường xảy ra nhất là chấn thương tai do áp suất (barotraumatisme), được ghi nhận nơi 2% các bệnh nhân được điều trị.
(LE GENERALISTE 1/2/2010)

Đọc thêm : Cấp Cứu Ngộ Độc Cacbon Oxit (Intoxication Par Le Monoxyde De Carbone)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/3/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#40 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 09 March 2010 - 01:46 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : CHUẨN BỊ GIÀNH THẮNG LỢI MỚI.

Bệnh hư khớp gây bệnh cho 6 triệu người Pháp !

Vào cuối thập niên này, đánh dấu một thắng lợi to lớn lên bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), các nhà nghiên cứu chuẩn bị giành thắng lợi trong một cuộc chiến khác : lần này chống lại bệnh hư khớp (arthrose), bệnh khớp được đặc trưng bởi sự thoái hóa của sụn. Tỷ lệ mắc bệnh hư khớp thật là gây ấn tượng : 25% những người trưởng thành sau 30 tuổi và 65% sau 70 tuổi bị hư khớp của các ngón tay. Gần 40% các phụ nữ sau 65 tuổi có một hư khớp gối (gonarthrose) và 10% những người trên 70 tuổi phát triển một hư khớp háng (coxarthose). Đứng trước các con số này, ta có quyền tự hỏi không biết một ngày nào đó “ chúng ta sẽ bị cùng chung số phận ” hay không. Thật ra, yếu tố di truyền can thiệp khoảng 50% trong sự xuất hiện của bệnh thoái hóa khớp. Vậy phải hy vọng là ta đã được thừa hưởng một mô sụn có chất lượng và phải biết rằng một vài chấn thương có tác dụng làm dễ. Sự tăng trọng lượng quá mức, do tác dụng cơ học của nó, cũng được nêu lên bởi các thầy thuốc chuyên khoa khớp. “ Ngày nay người ta biết rằng, GS Francis Berenbaum đã xác nhận như vậy, tổ chức mỡ thặng dư sản xuất các protéine gây phản ứng viêm. Những protéine này lúc lưu thông trong máu, có thể đến tấn công một khớp. Những người béo phì như thế có hai lần nguy cơ bị hư khớp của các bàn tay hơn ! ”

MỘT KHÁM PHÁ MỚI ĐÂY.

SỤN TỰ PHÁ HUỶ.

“ Nhờ các tiến bộ của sinh học phân tử, sau cùng người ta đã làm sáng tỏ vài hiện tượng phát khởi của bệnh hư khớp, căn bệnh hoàn toàn không phải do sự hao mòn. Sụn là một mô sống gồm những tế bào hoạt động có khả năng sản xuất các “ men phàm ăn ” (enzymes gloutons) có thể tấn công sụn. Vậy đó là một quá trình tự phá hủy. Tại sao những tế bào này, bình thường nhằm chế tạo sụn, lại đột ngột phá hủy nó ? Bởi vì trong trường hợp stress bất thường lên khớp (va chạm, bong gân nặng, v..v..), các tế bào này sản xuất thừa một lượng rất lớn các enzyme : một sự loạn năng gây nên một quá trình viêm, tai hại cho sụn. Ở tuổi 20, các tế bào này chống lại một cách hoàn hảo đối với các stress lên khớp, sau 60 tuổi khả năng này ít hơn, bởi vì khi đó chúng bị lão hóa do tuổi tác. Điều này giải thích tại sao bệnh hư khớp được liên kết với sự lão hóa. Khám phá khác mới đây : người ta biết từ ít lâu nay rằng vài tế bào của xương lúc tiếp xúc với sụn gây tai hại bởi vì chúng kích thích sự sản xuất qua mức các men phá hủy (enzymes destructrices).

“ QUẢN LÝ ” BỆNH THOÁI KHỚP CỦA MÌNH.

Trong việc điều trị tai ương ảnh hưởng lên hàng triệu người trên thế giới này, sự tiến bộ trong những năm qua đã không có liên hệ đến những phương pháp điều trị chữa lành mới như đối với viêm đa khớp dạng thấp mà là làm thuyên giảm các triệu chứng. Trong các khoa thấp khớp, từ nay các kíp nhiều chuyên khoa sẽ dạy cho những người bị thấp khớp biết rõ bệnh lý của mình và các biểu hiện của nó, quản lý các đợt viêm để làm giảm sự đau đớn, theo một vệ sinh đời sống giúp họ làm quen với phế tật của mình (tập thể dục đặc hiệu, chế độ ăn uống, những hỗ trợ kỹ thuật...). Thí dụ nhiều công trình khoa học đã chứng minh những lợi ích của một hoạt động vật lý, được thực hiện giữa các cơn bộc phát.

Đối với bệnh hư khớp, mặc dầu các thầy thuốc khoa thấp khớp chưa có những thuốc nhằm mục đích chữa lành bệnh, tuy nhiên họ có cả một kho các dược phẩm chống đau. Trong đó những điều trị tại chỗ như tiêm ngấm cortisone để hủy bỏ những triệu chứng đau đớn của các đợt viêm và những mũi tiêm acide hyaluronique để làm giảm tần số của các cơn bộc phát. Với phương pháp điều trị này, các người bị hư khớp có thể hy vọng những hiệu quả nào ? Đối với GS Berenbaum, “ 60% các bệnh nhân được điều trị hưởng được một chất lượng đời sống tốt hơn ”.

NGHIÊN CỨU.

NHỮNG HY VỌNG MỚI.

Để chữa lành bệnh hư khớp, phải có những loại thuốc làm vô hiệu hóa các chất (các men) chịu trách nhiệm sự thoái biến của sụn. “ Một mục tiêu đang được đến gần , GS Francis Berenbaum đã giải thích như vậy, từ khi ta đã hiểu vài cơ chế gây hủy hoại chủ yếu của bệnh.” Các nhà nghiên cứu đang phát triển những dược phẩm nhắm đích (produits ciblés) : tanezumab, một sinh liệu pháp sử dụng một kháng thể (kháng-NGF) hướng chống lại một phân tử có liên hệ trong sự phát khởi của những đau đớn. Trên toàn thế giới, những thử nghiệm rất tiến triển (giai đoàn III) đang được tiến hành trên vài trăm bệnh nhân bị hư khớp gối và háng. Những kết quả sơ khởi là đáng khởi ! Những hướng nghiên cứu khác liên hệ đến sự rối loạn của các tế bào xương tham gia vào sự phá hủy sụn : ở Châu Âu và ở Canada, một công trình nghiên cứu rộng lớn được thực hiện trên nhiều trăm bệnh nhân bị hư khớp gối. Kết quả sẽ có vào năm 2011. Hy vọng khác : một sản phẩm sinh liệu pháp, adalimumab (kháng thể kháng-TNF đã được sử dụng trong viêm đa khớp dạng thấp), đang được nghiên cứu để đánh giá tình hiệu quả của nó, lần này trong những trường hợp hư khớp của bàn tay. Những kết luận chẳng bao lâu nữa sẽ được công bố.
(PARIS MATCH 11/2-17/2/2010)

2/ BỆNH LOÃNG XƯƠNG : MỘT KỶ NGUYÊN MỚI ĐƯỢC MỞ RA VỚI DENOSUMAB.

Một bước tiến quan trọng trong việc ngăn ngừa sự mất xương (perte osseuse).

Châu Âu đã bật đèn xanh cho phép đưa ra thị trường Prolia (denosumab) để điều trị bệnh loãng xương (ostéoporose) nơi các phụ nữ hậu mãn kinh và nơi các người đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt đang được điều trị hủy androgène (traitement de privation androgénique), mở ra những triển vọng hoàn toàn mới trong sự ngăn ngừa các gãy xương được liên kết với những bệnh lý này.

Uỷ Ban phụ trách các dược phẩm dùng cho người (CHMP : Committee for Medicinal Products for Human Use) của Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA : Agence européenne du médicament), rất mới đây, đã đưa ra một ý kiến dương tính để cho phép đưa ra thị trường Prolia (Denosumab) nhằm điều trị bệnh loãng xương (ostéoporose) nơi các phụ nữ hậu mãn kinh với nguy cơ gãy xương gia tăng và nhằm điều trị sự mất xương liên kết với sự thiếu hormone nam nơi những người đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt với nguy cơ gãy xương gia tăng. Quyết định của CHMP được căn cứ trên những kết quả rất thuyết phục của 6 công trình nghiên cứu giai đoạn III.

Việc hiệu chính của denosumab thể hiện kết quả của gần 2 thập niên nghiên cứu cật lực của Amgen, về quá trình sinh hóa học cơ bản trong sự kiểm soát sự tái tạo dáng của xương (remodelage osseux). Thuốc này là loại thuốc đầu tiên, và cho đến nay, là thuốc duy nhất nhằm một cách đặc hiệu ligand RANK, một tác nhân điều hòa chủ yếu của chức năng của các hủy cốt bào (ostéoclaste).

NGUY CƠ GÃY XƯƠNG GIẢM QUAN TRỌNG.

Công trình nghiên cứu FREEDOM (Fracture Reduction Evaluation of Denosumab in Osteoporosis every six Months), được tiến hành trên 7.868 phụ nữ có bệnh loãng xương hậu mãn kinh, đã cho thấy rằng việc thực hiện một mũi tiêm denosumab dưới da mỗi 6 tháng dẫn đến một sự thu giảm, so với một placebo, hơn 2/3 (68%) của nguy cơ gãy đốt sống mới. Nguy cơ gãy xương háng cũng giảm 40% và nguy cơ của những gãy khác không phải đốt sống giảm 20%.

Nơi người, công trình nghiên cứu HALT (Hormone Ablation Therapy), được thực hiện trên 1468 bệnh nhân chịu một điều trị hủy androgéne (traitement de privation androgénique) đối với ung thư tuyến tiền liệt không di căn, cho thấy một sự thu giảm 62% nguy cơ bị gãy xương đốt sống mới sau 36 tháng, một sự giảm đáng kể của nguy cơ này đã xuất hiện sau 12 tháng. Và điều này, trong hai công trình nghiên cứu, với một tý lệ bị những tác dụng phụ giống với tỷ lệ được quan sát khi điều trị với placebo : đau khớp, đau lưng, cao huyết áp, viêm tỵ hầu, bón và đau trong một chi. Tỷ lệ mắc các nhiễm trùng da nghiêm trọng (viêm tế bào) cao hơn trong nhóm được điều trị, nhưng với một tần số vẫn rất giới hạn.

Vậy, đó là một kỷ nguyên điều trị mới từ nay được mở ra với sự xuất hiện sắp đến trên thị trường của Prolia.
(LA SEMAINE MEDICALE 18/2/2010)

3/ CÁC BỆNH NGHỀ NGHIỆP : CÁC RỒI LOẠN CƠ XƯƠNG BÙNG NỔ Ở PHÁP.

Cứ năm người làm việc thì có hơn một người bị liên hệ bởi những rối loạn cơ-xương (troubles musculo-squelettiques : TMS)

SANTE PUBLIQUE. Đó là một dịch bệnh đang phát triển một cách đáng lo ngại ở nước Pháp, cũng như trong nhiều nước công nghiệp khác. Đau cổ, viêm dây gân (tendinite de l’épaule) của vai, hư khớp cùi chõ …các rối loạn cơ-xương (TMS), một tổng thể các bệnh lý đã là nguyên nhân đứng đầu của các bệnh nghề nghiệp ở Pháp, sẽ tiếp tục tiến triển, theo một báo cáo về các bệnh mãn tính trong lãnh vực lao động. Được làm dễ bởi những động tác lập đi lập lại và một công việc ở tư thế tỉnh (en position statique), những bệnh này gây ảnh hưởng chủ yếu các cơ, các dây gân và các dây thần kinh. “ Một đại bộ phận những người ở lứa tuổi làm việc ở Pháp bị hoặc sẽ bị ảnh hưởng một cách trực tiếp bởi các rối loạn cơ-xương trong những năm đến, điều này sẽ có những ảnh hưởng về mặt xã hội và kinh tế đối với cá nhân và gia đình ”, bản báo cáo đã tiên đoán như vậy, cho thấy rằng sự làm việc có thể là “ nguyên nhân và giải pháp ”. Cũng được tiến hành trong các nước khác của châu Âu, sự điều tra cũng chú ý vào mối liên hệ giữa các bệnh thấp khớp mãn tính như viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) và spondylarthrite ankylosante và đời sống nghề nghiệp.

Trên bình diện y-kinh tế, các con số (đầy dẫy trong báo cáo) rất là bổ ích. Ở Châu Âu, hơn 40 triệu người lao động bị những rối loạn cơ-xương có thể được quy cho công việc của họ. Theo Uỷ Ban Châu Âu, những bệnh này chiếm một nửa của tất cả những trường hợp nghỉ lao động (arrêt de travail) ít nhất 3 ngày, và chiếm 60% của tất cả các invalidité de travail. Mặt khác, gần 3 triệu người châu Âu bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), trong đó 40% “ nghỉ việc hoàn toàn trong 5 năm sau khi chẩn đoán.

Ở Pháp, cứ 5 người làm việc thì có hơn một (22%) kêu đau lưng (lombalgie) do những điều kiện làm việc. Và tỷ lệ gần giống hệt đối với các đau cơ ở cổ, vai và các chi. “ Các bệnh cơ-xương gia tăng với tuổi tác, và có thể ảnh hưởng lên tất cả mọi người. Nhưng sự gia tăng nguy cơ liên quan chủ yếu đến các công nhân và các nhân viên ít lành nghề, GS Yves Roquelaure, thuộc Laboratoire d’ergotomie et d’épidémiologie en santé au travail (Angers) đã xác nhận như vậy. Những bệnh lý này là một chỉ dấu của tính nặng nhọc của công việc, dầu cho những yếu tố khác cũng góp phần vào.”

Trong vòng chưa được 15 năm, số các trường hợp rối loạn cơ-xương, được công nhận như là những bệnh nghề nghiệp, đã bùng nổ ở Pháp. Sự gia tăng quá chừng này một phần là do sự nhận biết tốt hơn các bệnh này, GS Roquelaure đã phát biểu như vậy. Về những hậu quả xã hội-kinh tế, chúng không hẳn là ít ỏi : năm 2007, gần 7 triệu ngày làm việc đã bị mất vì những rối loạn cơ-xương, gây nên một phí tổn đối với xã hội được đánh giá hơn 736 triệu euro.
(LE FIGARO 3/12/2010)


4/ GIẤC NGỦ TRƯA CẢI THIỆN TRÍ NĂNG.

Sommeil : Điều đó có vẻ nghịch lý, nhưng trong những xã hội yêu cầu rất cao của chúng ta, có vẻ như đúng là giấc ngủ trưa đang được phục quyền. Một chút ít giấc ngủ vào giữa ngày sẽ góp phần, theo các công trình mới, kích thích khả năng sáng tạo và các trí năng (performances intellectuelles). “ Giấc ngủ có những tác dụng sửa chữa (effets réparateurs) sau một thời kỳ thức tỉnh kéo dài nhưng cũng làm gia tăng những năng lực thần kinh-nhận thức (capacité neurocognitive) so với năng lực này trước khi ngủ trưa, Matthew Walker, giáo sư tâm lý học của Đại học Berkeley và là tác giả chính của một công trình nghiên cứu về giấc ngủ trưa, được trình bày ở hội nghị thường niên của American Association for the Advancement of Science, tuần vừa qua ở San Diego (Hoa Kỳ), đã giải thích như vậy. Để đạt được kết luận này, nhà nghiên cứu đã thăm khám 39 người trưởng thành tình nguyện trẻ tuổi, được chia thành hai nhóm. Vào đúng ngọ, tất cả đều chịu những bài tập trí tuệ ghi nhớ (exercices intellectuels de mémorisation). Cả hai nhóm đều đã có những hiệu năng giống hệt nhau. Vào lúc 14 giờ, những người thuộc nhóm “ ngủ trưa ” được cho phép ngủ một giấc ngắn 90 phút, trong khi đó những người khác vẫn phải thức. Vào 18 giờ, tất cả những người tham dự lại chịu một loạt các trắc nghiệm trí tuệ (tests mentaux). Những người vẫn phải thức suốt ngày đã thấy hiệu năng của họ suy giảm so với những bài tập trí tuệ đã thực hiện trước đó. Những người đã được cho ngủ trưa đã cải thiện năng lực của mình với những kết quả tốt hơn những kết quả có được trước khi ngủ.
(LE FIGARO 1/3/2010)

5/ VACCIN CHỐNG UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT ĐANG ĐƯỢC CHỜ ĐỢI.

Hoa Kỳ sẽ cho phép đưa ra thị trường vaccin điều trị đầu tiên chống ung thư ? Câu trả lời vào tháng 5.

Một vũ khí chưa từng có chống ung thư đang được đánh giá ở Hoa Kỳ. Cơ Quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ sẽ loan báo vào tháng năm liệu cơ quan sẽ cho phép hay không việc đưa ra thị trường vaccin điều trị đầu tiên chống các ung thư : Provenge. Nhằm vào những người đàn ông bị ung thư tiền liệt tuyến ở giai đoạn tiến triển, điều trị này kích thích hệ miễn dịch để nó phá hủy tốt hơn những tế bào ác tính. Nguyên tắc ? Các tế bào miễn dịch của bệnh nhân được trích lấy và được cho tiếp xúc với các protéine đặc trưng của ung thư tuyến tiền liệt. Rồi chúng được tiêm vào lại cho bệnh nhân. Một thử nghiệm giai đoạn 3, được tiến hành trên 512 bệnh nhân, đã cho thấy một sự gia tăng đáng kể thời gian sống thêm của các bệnh nhân.
(LA RECHERCHE 3/2010)

6/ NỖI ĐAU ĐỚN CỦA NHỮNG KẺ KHÁC KHÔNG TÁC ĐỘNG LÊN NGƯỜI THẦY THUỐC.

Đứng trước cảnh tượng đau đớn dữ dội nhất, người thầy thuốc hay người phẫu thuật viên phải giữ thái độ bình tỉnh của họ để hành động một cách có hiệu quả. Sự kềm chế của những mối cảm xúc này đạt đến tối đa, các nhà nghiên cứu của đại học quốc gia Yang-Ming của Đài Loan và Jean Decety, của đại học Chicago (Hoa Kỳ) đã đánh giá như vậy. Trong một công trình nghiên cứu trước đây, họ đã cho thấy rằng việc nhìn các hình ảnh của một bệnh nhân đau khổ đã không làm hoạt hóa trong não bộ của họ những vùng chi phối các cảm xúc (zones des émotions) và của đường vòng đau đớn (circuit de la douleur), như các người chứng, nhưng chỉ làm hoạt hóa các vùng kiểm soát nhận thức (zones du contrôle cognitif).

Mặc dầu vậy, phải chăng nhân viên điều trị vẫn giữ một một khả năng nhạy cảm vô thức (sensibilité inconsciente) đối với sự đau đớn của những kẻ khác ? Đó là điều mà nhóm nghiên cứu đã muốn biết. Các nhà nghiên cứu đã đo bằng điện não đồ phản ứng đầu tiên của não bộ đối với những hình ảnh đau khổ, chỉ có thể thấy được trong 100 milli giây, và đã chứng thực rằng phản ứng đã không xuất hiện nơi các thầy thuốc được trắc nghiệm. Kết luận được công bố trong tạp chí NeuroImage : những năm tháng học tập và thực hành lâm sàng dường như gây nên một sự điều hòa vô thức của tính nhạy cảm đối với sự đau đớn của những kẻ khác. Như vậy, người điều trị có thể tập trung tất cả sự chú ý của mình vào bệnh nhân và vào sự điều trị mang lại cho bệnh nhân, đồng thời đảm bảo với bệnh nhân bằng sự chế ngự xúc cảm. Đó cũng là lý do tại sao các thầy thuốc không nên điều trị cho những người thân thích của mình : những mối cảm xúc có thể trở nên quá mạnh và vượt quá sự kềm chế của nhận thức, khi đó tạo hiểm nguy cho sự an toàn và chất lượng điều trị.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2010).

7/ HUYẾT ÁP THẤP LÚC ĐỨNG DẬY : NGUY HIỂM CHO TIM.

Coi chừng hạ huyết áp được gọi là chỉnh lập (hypotension orthostatique : hạ huyết áp ở tư thế đứng) ! Rối loạn này, được biểu hiện bởi sự choáng váng trong ba phút sau khi chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng, được gây nên bởi một sự giảm huyết áp (ít nhất 20mmHg đối với huyết áp thu tâm, hay ít nhất 10mmHg đối với huyết áp trương tâm). Được quan sát nơi 6,2% những người tuổi từ 28 đến 61 tuổi, theo một công trình nghiên cứu của Thụy Điển được tiến hành trên 30 .000 trường hợp, rối loạn này có thể là nguồn gốc của những biến chứng nghiêm trọng. Huyết áp thấp lúc đứng dậy đặc biệt làm gia tăng nguy cơ tử vong (+ 60% đối với một hạ huyết áp tâm thu hơn 30mmHg) và nguy cơ xảy ra tai biến động mạch vành (+ 70% đối với hạ huyết áp trương tâm trên 15mmHg). Điều đó độc lập đối với những yếu tố liên kết như tuổi tác, giới tính nữ, sự hiện diện của cao huyết áp hay một điều trị bởi vài thuốc chống cao áp, cũng như một sự gia tăng mạch lúc nghỉ ngơi.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2010)

8/ NHỮNG HÔN MÊ GIẢ ĐƯỢC PHÁT HIỆN BỞI CHỤP HÌNH ẢNH NÃO BỘ.

Một công trình nghiên cứu trên 54 bệnh nhân đã cho phép khám phá những dấu hiệu ý thức nơi 5 trong số những bệnh nhân này.

NEUROLOGIE. Những bệnh nhân trong hôn mê có thể phản ứng nhiều hơn điều mà ta tưởng cho đến nay. Chụp hình ảnh chức năng não bộ (imagerie fonctionnelle cérébrale) đang làm vỡ tung quan niệm về tình trạng thực vật (état végétatif) và điều chỉnh vài chẩn đoán. Thật vậy, một công trình nghiên cứu tiết lộ rằng trên 54 bệnh nhân (23 trong tình trạng thực vật và 31 trong tình trạng ý thức tối thiểu), những dấu hiệu ý thức (signal de conscience) đã có thể được phát hiện nơi 5 trong số những bệnh nhân này. Trong khi yêu cầu các bệnh nhân trong tình trạng thực vật này tưởng tượng là đang chơi tennis hay đang dạo chơi trong ngôi nhà của họ, hai nhóm nghiên cứu của đại học Cambridge (Anh) và của đại học Liège (Bỉ) đã khám phá ra rằng những vùng não bộ được hoạt hóa nơi những bệnh nhân trong tình trạng thực vật giống với những vùng não bộ nơi những người không bị một thương tổn thần kinh nào (New England Journal of Medicine, 4/2/2010).

Lại còn gây bối rối hơn, người duy nhất trong 5 bệnh nhân này đã chịu một trắc nghiệm trao đổi (test de communication) khác và đã thành công. Khi các nhà nghiên cứu yêu cầu anh ta trả lời nhiều câu hỏi có liên quan đến anh ta, anh ta đã luôn luôn cho những câu trả lời đúng đắn. “ Chúng tôi đã cần nhiều năm để tạo ra trắc nghiệm này. “ Thật là tuyệt vời ! ”, Stevens Laureys, thuộc đại học Liège, người đã lèo lái công trình nghiên cứu, đã phát biểu như vậy. Bệnh nhân này, 29 tuổi, được xem như ở trong tình trạng thực vật từ 5 năm nay.

5 người phản ứng dương tính với các trắc nghiệm, đã bị một chấn thương sọ nặng sau một tai nạn. Người ta không nhận thấy một người nào có não bộ đã bị thiếu oxy, như điều đó có thể xảy ra trong trường hợp ngừng tim. Một điều quan sát xác nhận những công trình nghiên cứu lâm sàng.

MỘT CÔNG CỤ TỐN KÉM

Những kết quả này hẳn phải củng cố niềm tin của những kẻ có một người thân trong một tình trạng thực vật. Đôi khi tin chắc giao tiếp được với bệnh nhân này một cách hết sức tinh tế, dĩ nhiên họ muốn một ngày nào đó có thể giao tiếp một cách trực tiếp hơn. “ Phải rất thận trọng và không nên tạo nên những hy vọng hảo. Tất cả những công trình nghiên cứu này sẽ còn cần nhiều thời gian ”, Steven Laureys đã báo trước như vậy.

Chụp hình ảnh bằng IRM (résonance magnétique fonctionnelle) không phải là một công cụ giao tiếp đối với bệnh nhân trong tình trạng thực vật. Đó là một công cụ chẩn đoán, nhiều phí tổn và nặng nề lúc sử dụng. Sẽ phải chờ đợi sự phát triển của những máy điện não đồ mới, nhẹ hơn và nhạy cảm hơn, là những interface não bộ-máy vi tính mới để những công cụ giao tiếp có thể sử dụng. “ Công nghệ học là đó, nhưng sẽ phải làm cho nó đạt được kết quả ”, Stevens Laureys đã đánh giá như vậy. Một phân tích được chia xẻ bởi Lionel Naccache, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc bệnh viện Lariboisière (Paris), cũng đang chờ đợi những công trình nghiên cứu sắp đến : “ Đó là những bước chập chững đầu tiên. Hôm nay chỉ mới có một tí chút thông tin ”, ông đã nhấn mạnh như vậy. Những kết quả của công trình nghiên cứu không có nghĩa là tất cả các bệnh nhân trong tình trạng thực vật đều có cùng những khả năng như những khả năng được ghi bởi những nhà nghiên cứu. Trạng thái tri thức mà họ có thể có có lẽ không liên quan đến các tri thức của một người “ bình thường ”. Cũng như với tình trạng của những người bị hội chứng lock-in syndrome.“ Không nên chỉ hỏi rằng đâu là những dấu hiệu tri thức của những bệnh nhân này, mà cũng phải hỏi đâu là năng lực nhận thức của họ ”, Stevens Laureys đã chỉ rõ như vậy. Những người trong tình trạng thực vật cũng có những tình trạng dao động như những người có ý thức và có thể rằng một vài người đã không đáp ứng với các trắc nghiệm bởi vì đó không phải là đúng lúc đối với họ, Lionel Naccache đã gợi ý như vậy.”

Những khám phá này chắc chắn sẽ có những ảnh hưởng trên mặt lâm sàng và đạo đức. Trong lúc chờ đợi, những nghiên cứu tiếp tục tiến bước. Stephen Laureys chẳng bao lâu sẽ công bố một công trình nghiên cứu khác sử dụng IRM và chứng tỏ cái điều mà người ta gọi là sự giao tiếp làm dễ (communication facilitée) (một người cầm các bàn tay của một bệnh nhân trong tình trạng thực vật và giải thích các điều muốn nói của bệnh nhân này) không phải luôn luôn thật sự có căn cứ. IRM đôi khi không phát hiện một tín hiệu não của bệnh nhân trong khi người làm dễ (facilitateur) lại xác nhận là cảm nhận được điều đó.
(LE FIGARO 9/2/2010)

9/ GHÉP DA CHỐNG CAO HUYẾT ÁP.

THERAPIE GENIQUE. Huyết áp của chuột đã được kiểm soát nhờ ghép da được biến đổi về mặt di truyền.

Một ngày nào đó phải chăng ta sẽ điều trị một vài bệnh nhờ các thuốc dán (patch) da có khả năng phóng thích những chất thuốc điều trị ? Một giai đoạn đầu tiên đã được vượt qua bởi nhóm nghiên cứu của Jonathan Vogel, thuộc Viện Ung Thư Quốc Gia, Hoa Kỳ. Thật vậy, nhóm nghiên cứu đã thành công kiểm soát huyết áp của chuột sau khi đã ghép cho chúng da chứa các tế bào người được biến đổi về mặt di truyền để sản xuất một tiền chất (précurseur) của hormone alphe-ANP, được biết là làm giảm huyết áp của những bệnh nhân cao áp.

Các nhà khoa học trước hết đã cấy những tế bào da người : các nguyên bào sợi (fibroblasts) và các kératinocytes. Rồi các nhà nghiên cứu đã cho những tế bào này tiếp xúc với một rétrovirus có nhiệm vụ đưa vào trong bộ gène (génome) của các tế bào gène của tiền chất của hormone alpha-ANP. Gène này được liên kết với một gène chỉ dấu (gène marqueur) mã hóa một protéine cho phép các tế bào kháng lại một phân tử độc, colchicine. Các tế bào sau đó được “ chế biến ” trong phòng thí nghiệm để chúng được tổ chức lại thành những lớp như trong một da bình thường. Nhóm nghiên cứu sau đó đã ghép những miếng dán (patch) này trên lưng chuột có hệ miễn dịch thiếu hụt để tránh sự thải bỏ.“ Phương thức này đã cho phép làm gia tăng và duy trì sự biểu hiện của gène của hormone, mà không phải lập lại việc sử dụng vecteur virus ”, Jonathan Vogel đã giải thích như vậy. Một khi được phóng thích bởi thuốc dán (patch), tiền chất của hormone đi vào trong tuần hoàn máu của các động vật gậm nhấm. Nó được biến đổi thành alpha-ABP nơi vài các tế bào tim.

XƯỞNG TỔNG HỢP.

Kết quả : “ Huyết áp của các con chuột đã giảm xuống, đôi khi 10 tháng sau khi được ghép, với những nồng độ của alpha-ANP lên đến 7 lần cao hơn các nồng độ của các con chuột chứng, Jonathan Vogel đã giải thích như vậy. Vài con chuột đã chịu một chế độ ăn uống nhiều muối : các thuốc dán đã ngăn cản sự xuất hiện của một cao huyết áp.” Đối với Joseph Emmerich, chuyên khoa y khoa huyết quản ở bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, “ công trình nghiên cứu này cho thấy rằng da có thể được sử dụng như là một xưởng tổng hợp (usine de synthèse) các thuốc điều trị, được phóng thích một cách đều đặn qua đường máu.” Kỹ thuật này có thể áp dụng cho những bệnh lý được đặc trưng bởi một sự thiếu hụt các phân tử khó tổng hợp, quá đắc hoặc phải sử dụng những loại thuốc rất bó buộc. Khi đó chế tạo một patch nhờ các tế bào của bệnh nhân.“ Nhưng trước khi thử nghiệm nó lên người, các thí nghiệm tương tự phải được tiến hành trên những động vật lớn hơn, Joseph Emmerich đã ghi nhận như vậy. Và chỉ những vecteur virus có tính vô hại được chứng minh, mới có thể được sử dụng, đó không phải là trường hợp đối với rétrovirus.
(LA RECHERCHE 3/2010)

10/ ĐAU ĐỚN BẤT TRỊ : NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÓ TÁC DỤNG NHANH.

Sau hội nghị của Société française d’études de la douleur, BS Ivan Krakowski, thầy thuốc chuyên khoa ung thư thuộc trung tâm chống ung thư Alexis-Vautrin, Nancy, giải thích những tiến bộ trong điều trị sự đau đớn của ung thư.

Hỏi : Trong bệnh ung thư, ông sẽ kê đơn một điều trị cho những loại đau đớn nào ?
BS Ivan Krakowski :: Đó có thể là những đau đớn liên kết, hoặc với chính khối u (sự xâm nhập của các nhánh thần kinh kế cận), hoặc liên kết với những di chứng của một điều trị chống ung thư đã làm thương tổn một hay nhiều dây thần kinh chung quanh, hoặc liên hệ đến những động tác điều trị, nhất là được lập đi lập lại (chọc dò, sinh thiết..).

Hỏi : Làm sao ta có thể điều trị những loại đau đớn khác nhau này ?
BS Ivan Krakowski :: Khi phải giới hạn những đau đớn liên kết với các nhánh thần kinh bị xâm nhập, trước khi quyết định loại điều trị, chúng tôi đo cường độ của triệu chứng đau đớn. Để thực hiện điều đó, chúng tôi sử dụng một thang đánh giá nhỏ, rất được biết rõ bởi các người điều trị. Để làm thuyên giảm đau đớn của các bệnh nhân, chúng tôi có cả một loạt các loại thuốc : từ paracétamol, các thuốc kháng viêm và các opioide. Thật vậy, nơi các bệnh nhân có các nhánh thần kinh bị thương tổn, người ta tìm cách làm giảm sự kích thích của các thụ thể của cảm giác đau đớn. Trong loại thứ hai, loại trong đó các bệnh nhân chịu những di chứng của một điều trị và có sự phá hủy của dây thần kinh, mục đích là làm giảm luồng thần kinh đến. Ta đạt được điều đó với vài loại thuốc như các thuốc chống trầm cảm hay các thuốc chống động kinh. Và ta thường kết hợp các thuốc giảm đau.

Hỏi : Những kết quả và những tác dụng phụ của những điều trị này là gì ?
BS Ivan Krakowski :: Người ta kiểm soát những đau đớn liên kết với các khối u (80% các kết quả tốt nếu các điều trị được theo một cách đúng đắn) tốt hơn những đau đớn gây nên bởi sự phá hủy của một dây thần kinh (trường hợp này, ta chỉ thành công làm thuyên giảm một nửa các bệnh nhân). Ngoại trừ paracétamol, mà sự dung nạp rất tốt, tất cả các dược phẩm này gây nên những tác dụng phụ (rối loạn tiêu hóa, ngủ gà, táo bón, lên cân). Khi phải chịu đựng những phản ứng phụ này về lâu về dài, chất lượng đời sống có thể bị giảm ! Vấn đề lớn đối với các đau đớn ung thư là điều trị duy trì, dầu cho có hiệu quả chăng nữa, cũng không ngăn cản sự xuất hiện các cơn đau đớn đột ngột.

Hỏi : Để kiểm soát và làm ngưng những cơn đau không đúng lúc này, tiến bộ điều trị đạt được là gì ?
BS Ivan Krakowski :: Từ nay người ta sử dụng những dược phẩm làm thuyên giảm đau đớn cho các bệnh nhân nhanh chóng hơn nhiều. Nhiều tiền bộ đã được thực hiện, đặc biệt với sự hiệu chính một dạng mới có tác dụng cực kỳ nhanh của một thuốc đã được biết đến : fentanyl. Đó là một chất opioide mà ta đặt dưới lưỡi, ở đó thuốc sẽ được hấp thụ rất nhanh bởi niêm mạc để đi vào trực tiếp trong máu. Chất này tác dụng trực tiếp lên các thụ thể opioide của hệ thần kinh, mà không làm xáo trộn bộ máy tiêu hóa. Để điều trị tại chỗ, ngày này ta có các thuốc dán gây tê (patch anesthésique) chứa chất Lidocaine, mà ta áp vào những vùng đau đớn để làm thuyên giảm nhanh chóng sự đau đớn của bệnh nhân. Ta cũng có một dược phẩm có chất căn bản là protoxyde d’azote và oxygène, mà bệnh nhân thở với một mặt nạ. Rất hiệu quả đối với đau đớn cấp tính và âu lo.

Hỏi : Ta sẽ có thể quản lý tốt hơn những tác dụng phụ của các thuốc chống ung thư hay không ?
BS Ivan Krakowski :: Những thử nghiệm đang được tiến hành. Để ngăn cản chứng bón nặng do các chất opioide, một thuốc mới đã được thương mãi hóa : méthylnaltrexone. Bằng cách phong bế các thụ thể opioide nơi ruột, thuốc này cũng là một chất đối kháng (antidote) đặc biệt có hiệu quả và được dung nạp tốt. Cũng phải công nhận rằng việc sử dụng các bơm morphine mang theo người (pompe portable à morphine) cho bằng đường tĩnh mạch, đã được pho bien một cách đáng kể !

Hỏi : Trong cuộc đấu tranh này chống lại các cơn đau, giai đoạn kế tiếp sẽ là gì ?
BS Ivan Krakowski :: Người ta đánh giá khả năng thiết đặt, với một quy mô lớn hơn, một bơm vào dưới da bụng và được nối với một cathéter, để phóng thích vào tủy sống sản phẩm opioide nhằm làm giảm đau một cách liên tục và để bơm thuốc trong trường hợp cơn đau. Một thuốc mới, zicotonide, cũng đang được nghiên cứu. Những kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi.
(PARIS MATCH 28/1-3/2/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/3/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#41 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 15 March 2010 - 07:00 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ CÓ NÊN DÙNG VITAMINE D ĐỂ CHỐNG UNG THƯ ?

Ngày xưa chỉ được giới hạn trong việc ngăn ngừa bệnh còi xương (rachitisme) nơi trẻ em hay để phòng ngừa sự mất canxi xương (décalcification osseuse) nơi người lớn, vitamine D mới đây đã được công nhận có hiệu quả trong việc ngăn ngừa các gãy xương liên kết với bệnh loãng xương (ostéoporose) do tuổi tác. Thật vậy, viatmine D làm dễ sự hấp thụ ở ruột calcium và phosphore trong thức ăn, điều này hạn chế nguy cơ mất chất khoáng xương (déminéralisation osseuse).

Ngày nay, các thí nghiệm mới gợi ý rằng vitamine D có thể tác động ngăn ngừa những bệnh tim mạch và cả ung thư nữa. Trong phòng thí nghiệm, người ta thấy rằng vitamine D tác động hơn 200 gène có ảnh hưởng đặc biệt lên sự tăng sinh và sự biệt hóa của các tế bào ung thư. Cũng vậy, vitamine D kềm hãm sự tăng trưởng của vài loại tế bào ung thư trong canh cấy, điều này có khả năng mở ra hướng của một điều trị. Trong trường hợp thiếu hụt trầm trọng vitamine D, nguy cơ bị khối u ung thư sẽ gia tăng. Ngược lại, một nồng độ vitamine D tăng cao trong máu sẽ được liên kết với một sự giảm hơn 50% nguy cơ bị ung thư đầu và cổ, của thực quản, tụy tạng và của ung thư bạch cầu cấp tính (leucémie aigue). Một công trình nghiên cứu dịch tễ học kết luận rằng sau thời kỳ mãn kinh, vốn xương (capital osseux) nguyên vẹn làm giảm nguy cơ bị ung thư đại-trực tràng. Một sự cho bổ sung calcium và vitamine D có tính chất kềm hãm sự phát triển của các thương tổn đại tràng.

Nồng độ trong máu của vitamine D phải chăng phải là đối tượng của một sự theo dõi ? Nhưng làm sao biện minh điều đó trong khi ta có thể vẫn khỏe mạnh với những nồng độ thấp đáng ngạc nhiên của vitamine D ? Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chỉ có thể cung cấp các phương hướng. Chúng ta đừng quên rằng các giả thuyết vào đầu những năm 2000 về các chất chống oxy hóa (antioxydants) (bêtacarotène, vitamine A, C và E và sélénium) được cho là ngăn ngừa ung thư. Nhưng vài năm sau, đã phải thất vọng : những chất chống oxy-hoa này lại có hại và việc cho bổ sung chúng làm gia tăng nguy cơ ung thư !

Hiện nay ta không có một công trình nghiên cứu nào cho phép xác nhận lợi ích của vitamine D trong sự ngăn ngừa ung thư hoặc lợi ích của việc cho bổ sung vitamine này nơi những bệnh nhân bị ung thư. Vào lúc này, người ta không biết được các nồng độ cần thiết trong máu của vitamine D để có được một hiệu quả phòng ngừa hay điều trị ; người ta không biết liệu các liều lượng được đòi hỏi có giống hệt nhau, dầu cho ung thư thuộc loại nào và người ta cũng không biết các nguy cơ của việc cho bổ sung vitamine D là những nguy cơ nào. Cũng có thể rằng người ta lẩn lộn những hiện tượng được quan sát một cách đồng thời và những hiện tượng nhân quả. Nếu ta quan sát thấy một tỷ lệ bị ung thư ít hơn nơi những người hưởng một chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng, thì logic ta tìm thấy những cung cấp thích hợp vitamine D nơi nhóm người này.

Vậy có vẻ còn sớm khi khuyên sử dụng vitamine D một cách hệ thống chừng nào không có nghiên cứu lâm sàng có tính thuyết phục, cho phép đánh giá lợi ích và độc tính có thể xảy ra. Vitamine D vẫn quá nguy hiểm để có thể được đề nghị như là chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire), những liều lượng quá mức có thể dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng. Đơn giản nhất là đi tìm kiếm vitamine D ở nơi mà nó hiện diện một cách tự nhiên, trong thực phẩm (dầu gan cá morue, vài loại cá mỡ như saumon, maquereau, cá ngừ và sardines, nhất là đồ hộp) và ở một mức độ ít hơn trong sữa, trứng và ngũ cốc. Phơi nắng ít nhất vài phút mỗi ngày cũng đủ để đảm bảo sự cung cấp cần thiết vitamine D.
(LE FIGARO 8/3/2010)

2/ TÌNH TRẠNG THỰC VẬT : MỘT SỰ GIAO TIẾP ĐƯỢC XÁC LẬP.

Bệnh nhân bị đắm chìm trong một tình trạng thực vật từ 5 năm nay và tuy vậy, một thanh niên 29 tuổi đã có thể “ trả lời ” các câu hỏi của những nhà nghiên cứu. Làm thế nào ? bằng cách làm hoạt động vài vùng của não bộ anh ta, như các nhà khoa học đã có thể chứng thực điều đó nhờ một IRM chức năng. Đó là khám phá của nhóm nghiên cứu Adrian Owen, thuộc đại học Cambridge (Anh), và Steven Laureys, thuộc đại học Liège, (Bỉ), được công bố trong New England Journal of Medicine. Những kết quả này xác nhận một công trình nghiên cứu trước đây (2006), trong đó các nhà khoa học đã yêu cầu một nữ bệnh nhân, cũng trong tình trạng thực vật, tưởng tượng một trận đấu tennis rồi một cuộc đi dạo, cả hai sự tưởng tượng này làm hoạt hóa hai vùng não bộ rất riêng biệt. Lần này, các nhà nghiên cứu đã trắc nghiệm 54 bệnh nhân và 5 bệnh nhân đã điều biến hoạt động não bộ của họ. Rồi Adrian Owen và Steven Laureys đã vượt qua một bước bổ sung bằng cách thử đặt các câu hỏi cho một trong 5 người trả lời. “ Vì “ vâng ” hay “ không ” không có thể thấy được bằng IRM, Steven Laureys đã giải thích như vậy, nên người ta đã đề nghị bệnh nhân hãy nghĩ đến tennis để nói “ vâng ”, nghĩ đến đi dạo để nói “ không ”. ” “ Anh có một người chị hay không ? Cha anh tên gọi là Thomas phải không ?...”. Chàng thanh niên đã trả lời không sai lầm. “ Điều đó hàm ý rằng bệnh nhân nghe được câu hỏi, hiểu được nó, nhớ điều ký thác để trả lời. Thật rất đáng ngạc nhiên, Stevens Laureys đã bình luận như vậy. Mục đích của chúng tôi là xác nhận một phương pháp mô tả một cách chính xác hơn tình trạng tri thức của các bệnh nhân. ” Một nhu cầu thật sự bởi vì, như nhóm nghiên cứu Liège đã chứng tỏ điều đó vào năm 2009, 41% những tình trạng thực vật thật ra là những tình trạng ý thức tối thiểu (état de conscience minimale) không được chẩn đoán đúng.

NGỮ VỰNG

CHẾT NÃO (MORT CEREBRALE) : một hôn mê không thể đảo ngược, được đặc trưng bởi một điện não đồ bằng phẳng (không có hoạt động điện). Người chết não không còn cử động nữa và chỉ thở nhờ hô hấp nhân tạo.“ Không bao giờ có ai tỉnh lại cả ”.

HÔN MÊ (COMA) : tình trạng thức tỉnh (état de vigilance) bị biến đổi, với những giai đoạn khác nhau. Tùy theo độ sâu của hôn mê, bệnh nhân mở mắt hay không, thở tự nhiên hay cần hỗ trợ thông khí, và phản ứng hay không với các kích thích.

TÌNH TRẠNG THỰC VẬT (ETAT VEGETATIF) hay HÔN MÊ THỰC VẬT (COMA VEGETATIF) : thức tỉnh (mắt mở), không có ý thức, bệnh nhân thường thở tự nhiên. Nói không có ý nghĩa.

TÌNH TRẠNG Ý THỨC TỐI THIẾU (ETAT DE CONSCIENCE MINIMALE) : thức tỉnh, có ý thức tối thiểu, thở tự nhiên, ngôn từ sơ đẳng. Hôn mê thực vật (coma végétaif), tình trạng ý thức tối thiểu (conscience minimale) hay tình trạng ít giao thiệp (état pauci-relationnel). “ Sự khác nhau giữa các trạng thái khác nhau này và hôn mê nói riêng khó mà xác định được.” Vài bệnh nhân trong số này có thể dùng mắt theo dõi một người thân hay mỉm cười với người này, nhưng các bệnh nhân này không có thể trao đổi được. Các nghiên cứu cho thấy rằng những tình trạng này có thể thay đổi nhiều tùy theo mỗi cá thể và không hẳn là được nhận diện một cách rõ ràng.

LOCKED-IN-SYNDROME : thức tỉnh, có ý thức, không nói được, liệt 4 chi.

(SCIENCES ET AVENIR 3/20101)

3/ MAGNESIUM ĐỂ “KÍCH THÍCH ” CÁC TẾ BÀO THẦN KINH.

Chính một chất kích thích trí nhớ, ly kỳ, mà các nhà nghiên cứu của đại học Tsinghua ở Bắc Kinh (Trung Hoa) và của Massachusetts Institute of Technology ở Boston (Hoa Kỳ), loan báo đã khám khá trong tạp chí Neuron. Một loại thuốc hoàn toàn mới ? Không, đó là magnésium, nhưng dưới dạng hợp chất cho phép nó đi vào trong não bộ một cách dễ dàng hơn. Magnésium cần thiết cho sự chuyển hóa của các tế bào và đặc biệt là cho sự vận hành chức năng của các tế bào thần kinh. Mặc dầu rất hiện diện, thí dụ trong chocolat, chuối hay vài loại nước uống, nhưng đôi khi magnésium bị thiếu hụt trong chế độ ăn uống hiện đại. Bù lại, sự thặng dư của magnésium trong máu được loại bỏ rất nhanh, điều này khiến nồng độ của nó trong máu ít có khả năng tăng cao trong não bộ, mặc dầu có lợi. Nhóm nghiên cứu Trung quốc-Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng sự kết hợp của magnésium với một phân tử nhỏ, acide L-thréonique, làm dễ sự hấp thụ của nó bởi não bộ. Một tháng sử dụng thréonate de magnésium (MgT) cải thiện trí nhớ nơi chuột và dập tắc sự suy đồi của trí nhớ không gian (mémoire spatiale) nơi các động vật gậm nhấm lớn tuổi. Những hiệu năng tốt hơn này vẫn được duy trì chừng nào MgT được thêm vào nước uống của chúng. Những hiệu năng này cũng được thể hiện nơi chuột bởi một sự gia tăng số các nối kết thần kinh (connexions nerveuses) và sự ổn định của chúng trong một vùng não bộ quan trọng đối với trí nhớ và học tập, thùy hải mã (hippocampe). Được hấp thụ dễ dàng bởi cơ thể, vô hại, MgT có thể nhanh chóng thay thế các công thức pha chế Mg đang hiện diện trên thị trường.
(SCIENCE ET AVENIR 3/2010)

4/ ĐỘNG KINH : MỘT SỰ NGHIỆP HIỂN HÁCH KHẢ DĨ NHƯ AGATHA CHRISTIE HAY MOLIERE.

Con tôi bị động kinh không biết rồi sẽ ra sao ? Câu hỏi này, rất là chính đáng, sớm hay muộn cũng được đặt ra. Agatha Christie đã bị bệnh động kinh cũng như Molière, nhưng điều này đã không ngăn cản họ bắt các màng não của hàng triệu độc giả phải làm việc. Như thế, người ta có thể bị bệnh động kinh và vẫn có một đời sống bình thường. Bởi vì trong số 40 dạng động kinh hiện có, phần lớn không đặt ra vấn đề quan trọng : 2/3 các động kinh này là những động kinh riêng rẽ và có tiên lượng tốt, mặc dầu vài dạng kèm theo một cách tạm thời những giai đoạn trầm trọng hóa. Vậy đúng là lúc cần có cái nhìn thay đổi đối với những kẻ khác. Vâng, động kinh là một bệnh thần kinh, thường có thể kiểm soát được. Không, khi ta có phương tiện điều trị, bệnh này không phải là không thích hợp, trong đại đa số các trường hợp, với một sự hội nhập tốt. Mặt khác, các cơn động kinh biến mất (gần ½) trước tuổi trưởng thành.

Không phải tất cả các học sinh bị bệnh động kinh đều theo đuổi cấp một trung học một cách bình thường mặc dầu trí thông minh toàn bộ không bị ảnh hưởng đối với đại đa số những học sinh này. Nguyên nhân : vài rối loạn của sự chú ý hay của ngôn ngữ, chưa kể đến đôi khi ảnh hưởng có hại của điều trị chống động kinh. Lại càng đáng tiếc khi phần lớn những vấn đề này đang lý ra có thể được cải thiện bằng sự theo dõi của một thầy thuốc thần kinh-tâm lý (neuropsychologue) và bởi sự hiện diện của một sự hỗ trợ đời sống học đường, ít nhất là trong những giai đoạn trầm trọng tạm thời. Đó là một trong những con ngựa chiến của Viện của các bệnh động kinh của trẻ em và của thiếu niên, mà trung tâm sẽ có thiên chức theo sát gia đình...Đó là điều chủ yếu bởi vì chỉ sự việc tiếp xúc với giáo viên giảng dạy của một em bé động kinh để giải thích với ông ta làm sao giúp đỡ em bé cũng có thể đủ cứu vớt tình trạng học vấn của em này ”, GS Arzimanoglou đã nhấn mạnh như vậy.

Thể thao cũng cần cho sự phát triển của đứa trẻ. Chỉ có những hoạt động trong đó một sự bất tỉnh có thể làm nguy hiểm người bệnh (leo núi, lặn, nhảy dù...) là bị cấm chỉ. Ngoài những ngoại lệ này, hoạt động vật lý làm dễ sự hội nhập và có thể gợi lên nhiều thiên hướng : mặc dầu bị bệnh động kinh, Marion Clignet đã giành được 6 danh hiệu thế giới và hai huy chương bạc thế vận hội đua xe đạp : một thắng lợi vang dội.

Từ khi có nghị định 21/12/2005, những bệnh nhân động kinh nhận giấy chứng nhận khả năng tạm thời lái xe trong một năm sau khi có ý kiến của một thầy thuốc thần kinh. Không có một lý do nào khiến các người bị động kinh bị tước mất việc thực hiện vài loại nghề nghiệp không có nguy cơ, như trong lãnh vực dịch vụ. Những chuyến du lịch vui chơi giải trí hay công tác cũng không phải là một vấn đề với điều kiện mang theo đủ thuốc men. Ngay cả thai nghén đã trở thành khả dĩ. Vì không phải tất các các thuốc chống động kinh đều có thể tương hợp, nên một sự thích ứng (trước khi có thai) có thể cần thiết. Một sự theo dõi sát và sự sinh đẻ trong môi trường bệnh viện là những bước còn lại.
(LE FIGARO 1/3/2010)

5/ LIỆT MẶT : PHỤC HỒI SỰ NHÁY MẮT ?

Những người bị liệt mắt vĩnh viễn không có khả năng nháy mắt về phía bị bại liệt. Ngoài sự thiệt hại về mặt thẩm mỹ, việc không nháy mắt làm dễ sự làm khô giác mạc và sự xuất hiện của các rối loạn dinh dưỡng (troubles trophiques) (loét, viêm kết mạc...). Những thầy thuốc ngoại khoa Travis Tollefson và Craig Senders, thuộc Davis Medical Center (Sacramento, Hoa Kỳ), đã hiệu chính một vòng điện dưới da (circuit électrique sous-cutané), được thiết đặt giữa cơ vòng mí mắt trên (l’ orbiculaire de la paupière supérieure) không bị thương tổn bởi bại liệt mặt và những bộ phận được cắm vào phía bên bại liệt. Cơ vòng lành mạnh được nối bằng một điện cực với một động cơ điện nhỏ xíu, được đặt trong hố thái dương (fosse temporale) nơi vùng bị bệnh và được nối với những cơ nhân tạo bằng silicone, được nối với hai dải mảnh được đặt trong mí mắt bị bại liệt (trên và duoi). Khi mí mắt lành nháy, nó sẽ gởi một tín hiệu đến động cơ điện làm biến đổi tín hiệu này thành những xung động điện và làm hoạt động những mí mắt bị bại liệt. Theo các nhà nghiên cứu, kỹ thuật này sẽ có thể được sử dụng từ nay đến 4 hoặc 5 năm nữa.
(PARIS MATCH 25/2-3/3/2010)

6/ DÙNG NHỮNG BỮA ĂN TRONG GIA ĐÌNH LÀM GIẢM BỆNH BÉO PHÌ CỦA TRẺ EM.

Theo một điều tra Hoa Kỳ, ăn trong gia đình, có một giấc ngủ đầy đủ và không xem quá nhiều TV làm giảm nguy cơ.

ALIMENTATION. Chứng béo phì của trẻ em là một hiện tượng đáng quan tâm, không chỉ ở Hoa Kỳ, mà còn ở Pháp, là nơi những con số mới nhất chỉ rõ rằng 18% các trẻ em bị tăng thể trọng (surpoids) và 4% bị béo phì. Với nhiều hậu quả, đặc biệt là sự xuất hiện của một bệnh đái đường mỡ (diabète gras) nơi các trẻ em, các thiếu niên, trong khi bệnh này nói chung dành cho những người trên 50 tuổi. Một khi sự tăng thể trọng được thành hình, thì khó mà làm mất được. Do đó tầm quan trọng của sự phòng ngừa. Nhưng thực hiện như thế nào ?

Hai thầy thuốc Hoa Kỳ, Robert Whitaker và Sarah Anderson (một là thầy thuốc nhi khoa, và một là chuyên gia về y tế cộng đồng), đã xem xét các dữ kiện liên quan đến 8550 trẻ em, được thu thập trong khung cảnh của một công trình nghiên cứu rộng lớn, “ Early childhood longitudinal study ”, nhằm tìm hiểu những yếu tố quyết định của sức khỏe nhi đồng. Các kết quả của công trình phân tích của họ, được công bố tuần này trong báo y học Pediatrics hẳn sẽ chỉ dẫn cho các bà mẹ làm sao để phòng ngừa con cái họ chống lại sự tăng thể trọng.

3 TIÊU CHUẨN CẦN ĐƯỢC TÔN TRỌNG.

Cuộc điều tra, được thực hiện trên những trẻ thuộc lứa tuổi trước học đường (dưới 6 tuổi), tiết lộ rằng những trẻ dùng đều đặn bữa ăn trong gia đình (ít nhất 5 lần mỗi tuần) hay có một thời gian ngủ thích nghi với lứa tuổi của chúng (ít nhất 10 giờ rưỡi mỗi đêm), hay những trẻ chỉ xem TV trong một thời gian có giới hạn (dưới 2 giờ mỗi ngày), bị chứng béo phì ít hơn những trẻ khác. Khi hội đủ 3 tiêu chuẩn này, tỷ lệ bị béo phì là dưới 40% so với những trẻ không đáp ứng với một tiêu chuẩn nào trong 3 tiêu chuẩn này. Phân tích thống kê cũng cho phép biết được rằng, trong số những trẻ có lối sống tôn trọng 3 tiêu chuẩn nêu trên, chỉ 14,3% bị chứng béo phì, trong khi 24,5% các trẻ không tôn trọng tiêu chuẩn nào cả bị chứng bệnh này.

3 yếu tố này không được đánh giá một cách tình cờ. Người ta đã chứng tỏ rằng sự việc dùng bữa ăn trong gia đình làm gia tăng sự tiêu thụ trái cây và rau xanh, mang lại một chế độ ăn uống đa dạng hơn và làm giảm sự ăn vặt, giữa các bữa ăn, những sản phẩm mỡ có muối và đường. Sự thiếu ngủ nơi trẻ em và thiếu niên cũng được liên kết với một sự tăng thể trọng, có lẽ là do sự gia tăng ăn uống trong thời kỳ thức và bởi vì giấc ngủ là một yếu tố điều hòa quan trọng. Sau hết, việc xem TV dài lâu làm giảm thời gian dành cho hoạt động vật lý và làm gia tăng các đợt ăn vặt.

“ Tiêu chuẩn nào trong ba tiêu chuẩn này là quan trọng nhất cần được tôn trọng ”, các bố mẹ tự hỏi như vậy. Bữa ăn gia đình, thời gian ngủ, sự hạn chế xem truyền hình ? Mỗi tiêu chuẩn có tầm quan trọng như nhau. Và tốt nhất, đó là thực hiện 3 tiêu chuẩn đồng thời, GS Sarah Anderson (giáo sư dịch tễ học của Đại học Ohio) đã trả lời như vậy.

Những công trình nghiên cứu trước đây đã phát hiện, như là yếu tố tiên đoán (facteur prédictif) của chứng béo phì trẻ em, một sự tăng thể trọng của người mẹ, một trình độ thấp về mặt xã hội-kinh tế và học vấn, sự kiện được nuôi dạy trong một gia đình chỉ có cha hay mẹ. Tất cả những yếu tố này đã được tìm thấy lại trong công trình nghiên cứu này. Tuy nhiên, ngay cả trong những gia đình “ không được ưu đãi ” này, sự việc hội đủ cả ba tiêu chuẩn nêu trên (các bữa ăn trong gia đình, giấc ngủ đầy đủ, giới hạn việc xem truyền hình) cũng làm giảm nguy cơ bị bệnh béo phì. Những dữ kiện này đáng được phổ biến để giúp đỡ các bố mẹ hạn chế dịch bệnh béo phì đang đe dọa chúng ta.
(LE FIGARO 10/2/2010)

7/ NHẤT CỬ LƯỠNG TIỆN CHỒNG LẠI BỆNH ALZHEIMER.

Một đường hướng nghiên cứu mới chống lại bệnh Alzheimer đã được mở ra ? Có thể, nếu tin theo hai công trình nghiên cứu phát hiện những tính chất của một protéine, FKBP52, hiện diện tự nhiên trọng não bộ. Bệnh Alzheimer phát khởi khi hai quá trình lão hóa não bộ này tác dụng cộng lực với nhau. Hiện tượng đầu tiên là loạn năng của một protéine được gọi là APP, phóng thích ra ngoài neurone một peptide bất thường A-bêta. Hiện tượng thứ hai là sự biến đổi của một protéine tau có nhiệm vụ làm ổn định cấu trúc của sợi trục (axone). Dưới tác dụng của tau được biến đổi, sợi trục co rút lại rồi thoái hóa. Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng A-bêta làm dễ bệnh tau (taupathie) này. Tấn công trực diện cùng lúc hai hiện tuợng này là một điều trị lý tưởng.

Protéine FKBP52 đúng là có thể có tác dụng kép này. Một nhóm nghiên cứu của đại học New Jersey (nghiên cứu các drosophile transgénique) đã cho thấy rằng các con ruồi siêu biểu hiện FKBP52, thấy độc tính của A-bêta giảm bớt và tuổi thọ của chúng được kéo dài ra. Cùng lúc, phòng thí nghiệm Inserm 788 của Etienne-Emile Baulieu cho thấy rằng FKBP 52 có một ái lực mạnh đối với tau, in vitro, và nhất là đối với tau bị biến đổi. Lúc cố định vào tau, FKBP52 làm bất hoạt protéine có hại này. Vẫn còn phải biết xem là một tác dụng như thế có sẽ được phát hiện in vivo hay không, và người ta có thể chế tạo một chất kích thích của yếu tố bảo vệ này hay không. Nhóm nghiên cứu Pháp phát động song hành một nghiên cứu chẩn đoán, với bệnh viện Charles-Foix (Ivry-sur-Seine). Một sự thiếu hụt FKBP52 nơi các bệnh nhân có phải là một chỉ dấu sớm của bệnh Alzheimer ? Câu trả lời trong hai hoặc ba năm nữa.
(SCIENCE ET AVENIR 3/2010)

8/ CAO HUYẾT ÁP : MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI BẰNG TẦN SỐ PHÓNG XẠ.

30% dân số thế giới bị bệnh cao huyết áp.

Rất thường xảy ra sau 50 tuổi, bệnh cao huyết áp là lý do của sự sử dụng suốt đời của một hay nhiều loai thuốc giảm huyết áp, nhằm tránh sự xuất hiện các biến chứng trầm trọng(như một tai biến mạch máu não). Thường thường người ta không tìm thấy một nguyên nhân chính xác nào cho căn bệnh này nhưng, dầu cho bệnh thuộc dạng nào, luôn luôn có một loạn năng của hệ thần kinh giao cảm (dysfontionnement du système nerveux sympathique). Những dây thần kinh giao cảm có liên hệ với bệnh cao huyết áp, đi theo đường đi của của các động mạch thận và ngay cả nằm trong lớp vỏ bọc ngoài của các động mạch này. G.S Henry Krum (đại học Monash, Melbourne, Úc) đã hiệu chính một kỹ thuật nội huyết quản (technique endovasculaire) cho phép cắt thần kinh (dénervation) các động mạch thận với gây mê tại chỗ. Các siêu âm, áp vào thành của các động mạch, được phát ra nhờ một ống thông được đưa vào bằng cathétérisme : nhiệt phát ra làm phá hủy các sợi thần kinh mà không làm hư hỏng các động mạch. Kỹ thuật tần số phóng xạ (technique de radiofréquence) này (một giờ) đã được trắc nghiệm thành công nơi 45 bệnh nhân người Ức đề kháng với tất cả các điều trị nội khoa. Một công trinh nghiên cứu quốc tế quy mô lớn đang được tiến hành.
(PARIS MATCH 4/3-10/3/2010)

9/ BỆNH SUY THẬN SẼ BÙNG NỔ TRONG NHỮNG NĂM SẮP ĐẾN.

Ngày 1/3, Ngày quốc tế về thận (Journée mondiale du rein) sẽ nhấn mạnh đến vai trò của bệnh đái đường mỡ (diabète gras) trong sự phát khởi của các bệnh suy thận này.

NEPHROLOGIE.Vào năm 2010, cứ mười người trưởng thành thì có một bị một bệnh thận, điều này thể hiện hơn 500 triệu bệnh nhân trên thế giới. Chính để báo động công chúng, các thầy thuốc, và kể cả những người hữu trách y tế về sự tiến triển đáng lo ngại của những bệnh lý trầm trọng này, thường được chẩn đoán quá muộn, mà Liên Đoàn quốc tế của các tổ chức về thận và Hiệp hội quốc tế khoa thận, tổ chức vào ngày 11/3, lần thứ năm liên tiếp, Ngày quốc tế về thận (Journée mondiale du rein).

GS Eric Rondeau, tổng thư ký của Fondation française du rein đã giải thích hôm qua trước báo chí “ những dữ kiện dịch tễ học cho thấy rằng tần số của các bệnh thận sẽ gia tăng gấp 1,5 đến 2 lần từ nay đến 2025.” Bệnh cao huyết áp và nhất là bệnh đái đường loại 2, đang gia tăng một cách hằng định trong các năm qua, là những nguyên nhân chính của tiến triển đáng lo ngại này. “ Ngày nay, GS Rondeau đã chứng thực như vậy, 30 đến 40% các bệnh nhân chịu thẩm tách mãn tính (dialysés chroniques) đều bị bệnh đái đường loại 2 này, “ nguồn cung cấp lớn ” của bệnh suy thận. Do đó các nhà tổ chức đã chọn bệnh đái đường làm đề tài trung tâm của Ngày về thận (Journée du rein) năm 2010.

Người ta sẽ nhấn mạnh vào sự điều tra phát hiện (dépistage) của những bệnh lý này (néphropathies : bệnh thận ; glomérulonéphrite : bệnh vi cầu thận), đôi khi có nguồn gốc di truyền như bệnh đa nang thận (polykystode rénale), nếu không được chẩn đoán đúng lúc, trở nên không đảo ngược được. Một khi cả hai quả thận không còn hoạt động được nữa, bệnh nhân không còn lựa chọn nào khác là phải ghép thận, với điều kiện tìm được một người cho, hay thẩm tách (dialyse). “ Ngay khi ta phát hiện thấy một tí xíu dấu vết albumine hay máu trong nước tiểu, bệnh nhân phải được gởi đến một thầy thuốc chuyên khoa bệnh thận (néphrologue) ”, BS Brigitte Lanz thuộc Fondation du rein đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, nếu được đảm nhận khá sớm, những bệnh lý này có thể được điều trị. Tiếc thay, mỗi năm ở Pháp, người ta vẫn còn đếm được 8000 trường hợp bệnh nhân thẩm tách mới. Với những hậu quả to lớn về mặt y tế cộng đồng. “ Thẩm tách chiếm 2% ngân sách của Bảo hiểm-bệnh tật cho khoảng 37.000 bệnh nhân. Nhưng ngân sách này có nguy cơ bùng nổ trong những năm đến, BS Lantz nói tiếp như vậy.

Thách thức quan trọng khác là cải thiện những điều kiện sống của những người suy thận mãn tính. Được thực hiện ngoại trú, thẩm tách phúc mạc (dialyse péritonéale), sử dụng, như tên chỉ rõ đều đó, phúc mạc (péritoine) để lọc máu thay thế cho những quả thận bị suy, cho phép bệnh nhân có một cuộc sống gần như bình thường, trong khi chờ đợi một phẫu thuật ghép thận nếu có (chỉ 2000 trường hợp mỗi năm ở Pháp).
(LE FIGARO 5/3/2010)

10/ UNG THƯ THẬN VỚI CẮT BỎ LẠNH (CRYOABLATION) : ĐIỀU TRỊ KHÔNG CẦN PHẢI MỒ.

GS François Desgrandchamps, trưởng khoa niệu Bệnh Viện Saint Louis và Eric de Kerviler, thầy thuốc quang tuyến bệnh viện Saint Louis, giải thích những lợi ích của kỹ thuật cắt bỏ lạnh (cryoablation), vừa mới xuất hiện ở Pháp.

Hỏi : Đối với những ung thư nào của thận, ta sẽ thực hiện điều trị bảo tồn (chirurgie conservatrice) ?
GS Eric de Kerviler : Hiện nay người ta thống kê được 8.000 trường hợp ung thư thận mới mỗi năm ở Pháp. Tỷ lệ mắc bệnh ung thư thận đã gia tăng 80% từ 15 năm qua. Thường thường người ta khám phá ra chúng một cách rất tình cờ, trong khi chúng còn rất nhỏ (60% các trường hợp), vào lúc một thăm khám nào đó. Cho mãi đến cách nay 10 năm, điều trị chuẩn (traitement de référence) là lấy bỏ quả thận. Ngày nay, sự cắt bỏ hoàn toàn này chỉ được thực hiện nơi những ung thư thận có kích thước trên 7 cm. Đối với những ung thư khác và khi khối u nằm ở ngoại biên của quả thận, người ta chỉ thực hiện cắt bỏ phần bị ung thư mà thôi. Những kết quả đều giống hệt nhau.

Hỏi : Ngoại khoa bảo tồn này phải chăng là một động tác nặng nề ?
GS Eric de Kerviler : Đó là một phẫu thuật cần phải gây mê toàn thân, cần phải xẻ một xương sườn hay của cơ lân cận, điều này thường dẫn đến một sự bại liệt tạm thời của các cơ thành bụng. Thời gian nhập viện biến thiên từ 3 đến 7 ngày và thời gian nghỉ việc khoảng 1 tháng. Trong 10% các trường hợp, người ta nêu lên những biến chứng giải phẫu : áp xe, viêm tĩnh mạch, xuất huyết. Nghịch lý lạ lung : hậu phẫu thường nặng nề so với sau khi cắt bỏ toàn bộ một quả thận ! Nhưng, khi người ta có thể, thi tốt hơn là gìn giữ hai quả thận.

Hỏi : Do đó nảy sinh một kỹ thuật ít gây thương tổn hơn. Kỹ thuật cắt bỏ lạnh (cryoablation) nhằm mục đích gì ?
GS Eric de Kerviler : Mục đích của cắt lạnh (cryoablation) là nhằm phá hủy khối u bằng lạnh, đồng thời vẫn tôn trọng các mô chung quanh. Phương thức nhằm đưa các cây kim rỗng, được hướng dẫn bởi scanner, vào trong khối u để tạo ở đó một hòn nước đá (boule de glace). Trong thời gian điều trị này (kéo dài 1 giờ rưỡi), các cây kim được làm lạnh ở mỗi đầu mút nhờ một loại khí, argon. Khí argon này làm hạ một cách đáng kể nhiệt độ của đầu kim xuống đến dưới 100 độ âm C. Khi khối u có thể tích to tướng, dĩ nhiên người ta gia tăng số lượng của các cây kim.

Hỏi : Làm sao người ta chắc chắn là đã phá hủy toàn bộ ung thư ?
GS Eric de Kerviler : Để có một giới hạn an toàn, vùng được đông lạnh nhất thiết phải vượt quá định vị của khối u. Sự sử dụng scanner trong lúc phẫu thuật cho phép thực hiện điều này. 24 giờ sau điều trị, bệnh nhân chịu một kiểm tra đầu tiên bằng IRM. Thăm khám IRM sẽ được lập lại nhiều lần mỗi năm, và nếu các kết quả được duy trì, mỗi năm một lần.

Hỏi : Có những chống chỉ định đối với kỹ thuật cắt bỏ lạnh (cryoablation) hay không ?
GS Eric de Kerviler : Có hai chống chỉ định chính.
  • Khối u không được vượt quá 4cm đường kính.
  • Sự tiếp cận với một cơ quan láng giềng, như đại tràng, không được quá lớn, mặc dầu hiện nay, người ta thường tách được cơ quan này bằng khí C02.

Hỏi : Hậu phẫu diễn biến như thế nào ?
GS Eric de Kerviler : Những đau đớn tối thiểu không cần đến những chất morphinique. Vì người ta đã không mở thành bụng cũng như không đụng đến các cơ và các dây thần kinh, nên nguy cơ bị biến chứng là thấp. Thời gian nhập viện là 24 giờ, hoạt động nghề nghiệp được tái tục rất nhanh.

Hỏi : Còn những kết quả lâu dài thì như thế nào ?
GS Eric de Kerviler : Những liệu pháp lạnh (cryothérapie) đầu tiên đã được thực hiện ở Hoa Kỳ. Vào năm 2008, các kết quả thu được nơi hai nhóm bệnh nhân (tổng cộng 500 người) đã được công bố. Một nhóm đã được điều trị bằng ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice), nhóm kia bằng cắt bỏ lạnh (cryoablation). Năm năm sau, những người thuộc hai nhóm đều có cùng những kết quả tốt : tỷ lệ chữa lành là 92-95%. Nhưng người ta nêu lên ít biến chứng hơn nhiều trong nhóm được điều trị bằng cắt bỏ lạnh.

Hỏi : Ở Pháp, ở đâu ta có thể được điều trị bằng cắt bỏ lạnh ?
GS Eric de Kerviler : Hiện nay hai trung tâm lớn đặc biệt có nhiều kinh nghiệm : trung tâm của chúng tôi ở bệnh viện Saint-Louis, Paris và trung tâm của CHU Strasbourg. Những nhóm giải phẫu khác cũng bắt đầu sử dụng kỹ thuật này.
(PARIS MATCH 25/2-3/3/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/3/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#42 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 22 March 2010 - 11:26 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ TẠI SAO CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU UNG THƯ ?

Giáo Sư Maurice Tubiana,
Thầy thuốc chuyên khoa ung thư
,
Hội viên của Viện Hàn làm Y Học quốc gia


Từ năm mươi năm qua, số các trường hợp ung thư đã gia tăng ở Pháp, do sự gia tăng dân số, từ 45 triệu năm 1950 lên 65 triệu hôm nay, và là do sự kéo dài của tuổi thọ, từ 59 lên 81 tuổi. Thế mà ung thư, thường hiếm trước 45 tuổi, sau đó gia tăng với tuổi tác. Ngoài ra, sự khám nghiệm thăm dò (dépistage) phát hiện những ung thư nhỏ không tiến triển ; những ung thư này đáng lý ra đã không bao giờ được phát hiện ; việc phát hiện những vi ung thư (microcancer) hiền tính này là cái giá phải trả để chẩn đoán sớm các ung thư tiến triển. Những sự kiện này giải thích rằng, mặc dầu sự gia tăng số các trường hợp ung thư, tỷ lệ chết vì một ung thư mỗi năm đã giảm nơi các phụ nữ khoảng 0,5% và ở Pháp đó là một trong những tỷ lệ thấp nhất trên thế giới. Mặt khác, các người Pháp có một trong những tuổi thọ dài nhất trên thế giới, điều này chứng tỏ rằng môi trường và điều trị nằm trong số những nước tốt nhất.

Để đi xa hơn, phải xem xét tiến triển của những loại ung thư khác nhau. Số các trường hợp ung thư vú đã gia tăng, vì nhiều lý do : trước hết có một sự gia tăng tỷ lệ của các phụ nữ tăng thể trọng (surpoids), điều này làm dễ tỷ lệ mắc phải những ung thư này sau thời kỳ mãn kinh. Sau đó, một thai nghén trước 25 tuổi làm giảm nguy cơ của ung thư vú. Thế mà ngày nay, hơn một nửa những thai nghén đầu tiên xảy ra sau 30 tuổi ; sau cùng, có những điều trị bằng hormone thay thế của chứng mãn kinh, cần phải giới hạn vào những trường hợp cần thiết về mặt y khoa. Tuy vậy, từ năm 1990, tỷ lệ tử vong do ung thư vú giảm , nhờ những chẩn đoán sớm hơn và nhờ những điều trị hiệu quả hơn. Tần số của những ung thư khác đã giảm : tỷ lệ mắc phải ung thư dạ dày được chia 5 từ năm 1950, mặc dầu dạ dày là tạng bị tiếp xúc nhất với các chất gây ung thư hiện diện trong thức ăn. Sự giảm tỷ lệ ung thư dạ dày là do một chế độ ăn uống giàu các sản phẩm tươi hơn và do sự điều trị chống lại các nhiễm trùng dạ dày.

Ung thư cổ tử cung vào năm 1939 là ung thư thường xảy ra nhất nơi phụ nữ ; loại ung thư này gần như đã biến mất nơi các phụ nữ thực hiện đều đặn những frottis cổ tử cung-âm đạo ; than ôi ! ¼ các phụ nữ không thực hiện những xét nghiệm này, đôi khi vì những lý do văn hóa. Trong những trường hợp này, cần phải nhờ đến sự tiêm chủng chống lại virus papillome vào tuổi dậy thì. Cũng cần khẩn trương tiêm chủng một cách có hệ thống các thiếu niên chống lại viêm gan B, là nguồn gốc của ung thư gan, những loại ung thư này ở Pháp tương đối thường xảy ra.

Nơi các người đàn ông, nguy cơ chết vì một ung thư đã gia tăng từ năm 1950 đến 1990, rồi đã giảm khoảng 1% mỗi năm, nhưng tuy vậy nguy cơ chết vì ung thư vẫn là một trong những nguy cơ cao nhất ở Châu Âu. Tiến triển này theo tiến triển của sự tiêu thụ thuốc lá và rượu, là nguyên nhân của ½ của những ung thư nam giới (1/4 của các ung thư nữ giới). Ở Pháp, chỉ có sự gia tăng giá cả, với điều kiện ít nhất là 10%, mới có thể làm hạ chứng nghiện thuốc lá. Cần khẩn trương thực hiện điều đó và chống lại chứng nghiện rượu.

Nhưng số các trường hợp ung thư mới đã gia tăng từ năm 1985. Môi trường thường được quy trách nhiệm nhưng những công trình nghiên cứu được tiến hành bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (CIRC) cho thấy rằng ảnh hưởng của môi trường là thấp. Ngược lại, các ung thư tuyến tiền liệt (cancer de la prostate) đã trở nên thường xảy ra hơn mặc dầu tỷ lệ tử vong lại giảm. Sự gia tăng này là do việc đưa vào xét nghiệm định lượng PSA, không những cho phép chẩn đoán sớm nhưng cũng cho phép phát hiện những bệnh hiền tính của tuyến tiền liệt. Hơn một nửa các người đàn ông trên 60 tuổi có những ung thư nhỏ không tiến triển, vẫn trong tình trạng ngấm ngầm không triệu chứng. Vậy đúng là PSA dẫn đến một sự phát hiện gia tăng số các trường hợp ung thư tiến triển.

Rốt cục chỉ có số các trường hợp lymphome non hodgkinien đã gia tăng mà người ta không biết tại sao. Ngoài việc đấu tranh chống lại thuốc lá và rượu, chỉ cần cho áp dụng những quy tắc vệ sinh là đủ : theo dõi thể trọng, tập thể dục (5 giờ mỗi tuần), hạn chế sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, giới hạn việc cho hormone vào những trường hợp được biện minh về mặt y khoa. Điều này đòi hỏi sự can đảm về phía các thầy thuốc và của Nhà nước, nhưng cũng đòi hỏi một thông tin hợp lý.
(LE FIGARO 15/3/2010)

2/ NGỦ TRƯA CÓ HẠI ?

Một công trình nghiên cứu mới đây đã quan sát thấy, trong dân chúng người Hoa lớn tuổi, một sự liên kết hơi gây ngạc nhiên giữa các giấc ngủ trưa (một thói quen rất thường thấy và được chấp nhận về mặt xã hội ở Trung Quốc) và bệnh đái đường. Sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với nhiều yếu tố có khả năng gây lẩn lộn, nhất là một tình trạng sức khỏe xấu có thể biện minh cho một giấc ngủ gà vào ban ngày, các tác giả kết luận rằng rất có thể có một mối liên hệ nhân quả (un lien de cause effet) giữa hai hiện tượng này : ngủ trưa thường hơn và giấc ngủ dài hơn (>30 phút) là nguyên nhân của một nguy cơ gia tăng bị bệnh đái đường.
(LE GENERALISTE 18/3/2010)

3/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME) : HƯỚNG DI TRUYỀN.

Thái độ xử trí đối với bệnh có nhiều dạng khác nhau này đã biến đổi một cách cơ bản trong 10 năm qua.

NEUROLOGIE. Bệnh tự kỷ (autisme) là một bệnh có nhiều thể dạng, nhưng có cùng những tính chất chung làm nền tảng cho chẩn đoán. Theo chiều hướng này, bệnh tự kỷ là một tổng hợp các dấu hiệu, một “ hội chứng ” hơn là một bệnh đơn độc và duy nhất. Ở Pháp, bệnh này ảnh hưởng lên 400.000 người (theo OMS), với một nguy cơ 4 lần cao hơn đối với các thiếu niên trai.

Chính thầy thuốc thần kinh-tâm thần (neuropsychiatre) Hoa Kỳ Léo Kanner lần đầu tiên vào năm 1943 đã dùng thuật ngữ này để mô tả những trẻ em nhỏ tuổi bị một rối loạn sớm và toàn bộ của sự phát triển của các tương tác xã hội và tình cảm (interactions sociales et affectives). Chữ tự kỷ, khởi thủy được mượn từ tâm thần học (psychiatrie) của người lớn, để chỉ sự thu mình lại (repli sur soi) rất rõ rệt của các trẻ em bị bệnh này.

“ Đôi khi bố mẹ, ngay năm đầu tiên, cảm nhận được hành vi đặc biệt của em bé, được đánh dấu bởi một thái độ hững hờ, sự vắng bóng của những tiếp xúc thị giác, của những nụ cười, của những lời nói líu lo... Tất cả những dấu hiệu mà qua đó em bé thường chứng tỏ mối quan tâm đặc biệt của nó đối với thế giới chung quanh ”, GS Catherine Berthélémy, thầy thuốc tâm thần trẻ em (pédopsychiatre) của CRHU Bretonneau de Tours đã giải thích như vậy. Nhưng ngay cả khi sự thăm dò phát hiện của những em bé có nguy cơ phải càng ngày càng sớm để có thể đề nghị một thái độ điều trị thích ứng càng sớm càng tốt, mặc dầu vậy chẩn đoán vẫn khó xác nhận trước 3 tuổi. “ Thật vậy, chẩn đoán chỉ dựa vào những dấu hiệu hành vi. Ngày nay không có một phương tiện sinh học hay di truyền nào để chẩn đoán căn bệnh này ”, người thầy thuốc đã nhấn mạnh như vậy.

Chẩn đoán sớm dựa vào sự hiện diện đồng thời của ba loại rối loạn hành vi : rối loạn của quá trình xã hội hóa (trouble de socialisation) (đứa bé, với vẻ mặt không diễn cảm, dường như cô đơn, chỉ chơi một mình, ít có tiếp xúc tình cảm và cư xử với người ta như thể đó là những đồ vật) ; rối loạn trao đổi (trouble de communication) (nó không nói, hay nói nhưng không tìm kiếm sự đối thoại) ; rối loạn thích nghi (trouble de l’adaptation) (một sự thay đổi nhỏ trong môi trường quanh nó có thể gây nên những cơn lo âu hay hung dữ, những hoạt động của nó ít đa dạng, lặp đi lặp lại, với những cử động khuôn sáo như vỗ tay, đu đưa...). “ Chính bộ ba này, được thể hiện bởi những mức độ khác nhau, xác định bệnh tự kỷ. Do đó trong cùng một ngày có khi tôi thực hiện chẩn đoán này nơi một đứa trẻ rất thông minh và một đứa trẻ khác rất thiểu năng ”, Catherine Barthélémy đã nhấn mạnh như vậy.

Thật vậy những biểu hiện này được tìm thấy trong những thể nặng, được đánh dấu bởi một sự chậm phát triển trí tuệ tột bực và sự vắng mặt của ngôn ngữ, cũng như trong bệnh Asperger, thể của người bị bệnh tự kỷ với những khả năng thông minh đôi khi ngoại hạng, được minh họa bởi Dustin Hoffman trong phim Rain Man. “ Nơi những người bị bệnh tự kỷ có trình độ cao này, một chẩn đoán đầu tiên vào năm 50 tuổi, sau một một cuộc sống lang thang điều trị, không phải là ngoại lệ, GS Marion Leboyer, thầy thuốc tâm thần phụ trách cụm bệnh viện Chenevier-Mondor de Créteil đã xác nhận như vậy.

Nguồn gốc của bệnh tự kỷ vẫn là một bí ẩn. Nơi 10% đến 20% các em bé, bệnh tự kỷ được gọi là “ hội chứng ” ( “ syndromique ”), bởi vì được liên kết với một bệnh di truyền hay bệnh chuyển hóa làm dễ (X fragile, sclérose tubéreuse, trisomie 21...). Nhưng trong 80% các trường hợp, người ta không biết được nguyên nhân. Tuy nhiên, những tiến bộ được thực hiện trong những năm qua từ nay cho phép loại bỏ cái quan niệm từ lâu đã ngự trị, quan niệm cho rằng căn bệnh do sự thu mình sớm của đứa bé này được gây nên bởi một mối quan hệ được cảm nhận như là âm tính với bà mẹ. Ngay vào những năm 1970, những tiến bộ của thần kinh học đã dẫn đến giả thuyết về một loạn năng não bộ (dysgonctionnement cérébral) và đã cho phép sự phát triển của các liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapies cognitives et comportementales) mới “ mặc dầu chưa có một điều trị nào trong những thái độ xử trí đa dạng này đã thực sự được chuẩn nhận về mặt khoa học cả ”, GS Barthélémy đã xác nhận như vậy. Người ta thường liên kết các liệu pháp nêu trên với rispéridone, một thuốc làm giảm sự lo âu và sự hung dữ liên kết với bệnh tự kỷ nhưng thuốc này không tác dụng trực tiếp lên căn bệnh.

SỰ CỘNG TÁC ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG.

Từ năm 2003, các công trình nghiên cứu đã nhận diện, nơi động vật hay trong những gia đình có nhiều người bị bệnh này, những biến dị trên các gène có liên hệ trong sự giao tiếp của các tế bào thần kinh. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa rằng bệnh tự kỷ có ít nhất một thành phần di truyền. Chẩn đoán một ngày nào đó có thể bị đảo lộn, và có lẽ về lâu dài cả các điều trị cũng vậy. Các hormone như mélatonine, thậm chí ocytoxine, dường như cũng can thiệp vào. Những tiến bộ của phép chụp hình ảnh não bộ gợi ý rằng một vùng đặc biệt của não bộ được liên kết với bệnh tự kỷ. Sự chuyển đổi từ một quan niệm phân tâm học (conception psychoanalytique) qua một cái nhìn thần kinh-sinh học (une vision neurobiologique) hơn về bệnh tự kỷ không phải luôn luôn được diễn ra mà không có sự va chạm giữa các người chuyên nghiệp, nhưng dần dần dẫn đến một sự công tác được tăng cường của các thầy thuốc tâm thần, các chuyên gia di truyền học và các thầy thuốc thần kinh. Không còn mặc cảm tội lỗi, các gia đình có con bị bệnh tự kỷ cũng càng ngày càng tham gia vào cuộc cách mạng đang diễn biến này.
(LE FIGARO 8/2/2010)


4/ DRACULA : MỘT NGƯỜI SỢ ÁNH SÁNH (PHOTOPHOBIQUE) NỒI TIẾNG.

Dracula, tên thật là Vlad III, là một nhân vật lịch sử trở nên huyền thoại. Hoàng tử của thế kỷ XV chứ không phải là bá tước, ông ưa thích xem máu chảy hơn là uống nó. Vậy đó hoàn toàn không phải là một quỷ hút máu (vampire) ! Trên thực tế, có lẽ ông bị bệnh porphyrie, một bệnh di truyền hiếm autosomique tính trội, gây bệnh cho khoảng một trên 10 đến 50 ngàn người. Những người bị bệnh porphyrie không chịu được ánh sáng mặt trời, do sợ ánh sáng (photophobie) nhưng cũng do nhạy cảm với ánh sáng (photosensibilité) làm bỏng rát da… và các lợi răng của họ, đến độ làm biến dạng mặt và làm cho các chiếc răng nổi dô ra. Ngoài ra, chứng rậm lông (hypertrichose) và sự thiếu máu của các bệnh nhân này khiến họ có một vẻ mặt nhợt nhạt và đáng lo ngại. Sự hấp thụ tỏi có thể làm trầm trọng bệnh porphyrie và gây nên những cơn dữ dội qua diallyl disulfide mà nó chứa. Người ta kể rằng hàng ngàn các trường hợp porphyrie được liệt kê ở Nam Phi được truyền bởi những hậu duệ của cùng một tổ tiên duy nhất, di cư đến Cap vào thế kỷ XII. Porphyrie cũng có thể được phát khởi do sự hấp thụ vài sản phẩm hóa học, dầu đó là tự nhiên hay tổng hợp. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, việc tiêu thụ lúa mì được xử lý bởi một chất diệt nấm (hexachlorobenzène), vào những năm 60, đã gây nên một dịch bệnh porphyrie thật sự. Dracula phải chăng đã trở thành cái điều mà ông đã là, do sự hấp thụ vài loại cây mọc trong vùng Carpates ? Dầu sao đi nữa, vào thời đó khi sự hiện hữu của “ dịch bệnh ” này được cáo giác với báo chí Hoa Kỳ, 5000 người mắc bệnh porphyrie đã bị đặt cách ly. Huyền thoại về ma cà rồng (vampire : quỷ hút máu) có ảnh hưởng lên các đám đông nhiều hơn là ý kiến của các thầy thuốc.
(LE GENERALISTE 18/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 63 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 09/02/2008 )

6/ PORPHYRIE (RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA PORPHYRINE)

Các rối loạn chuyển hóa porphyrine tạo nên một nhóm bệnh hiếm (khoảng 1 trường hợp trên 10.000 đến 50.000), đặc trưng bởi các rối loạn di truyền hay thụ đắc của sinh tổng hợp hème (nhóm ngoài của hémoglobine chứa porphyrine), trong đó các enzymes phụ trách các giai đoạn khác nhau của sự tổng hợp hème, bị khiếm khuyết một phần hoặc toàn phần.

Do các enzymes này bị thiếu hụt, porphyrine và các tiền chất (précurseurs) như acide delta-aminolévulinique (ALA) và porphobilinogène (PBG) được tích tụ trong các mô hoặc được thải trong nước tiểu hoặc trong phân. Porphyrie di truyền là những bệnh đơn gène (maladie monogénique), phần lớn được truyền theo cách nhiễm sắc thể thường, tính trội. Porphyrie mắc phải là do ngộ độc bởi kim loại nặng.

Các cơn porphyrie cấp tính với các triệu chứng lâm sàng không phải luôn luôn gợi ngay chẩn đoán, nhưng các thầy thuốc không thể không biết các triệu chứng này, bởi vì những sai lầm chẩn đoán và điều trị có thể gây nên tai họa. Thế thì khi nào phải nghĩ đến cơn porphyrie cấp tính? Chẩn đoán có thể được nghi ngờ trước một phụ nữ trẻ (25-35 tuổi trong 90% các trường hợp) kêu đau bụng dữ dội, không khu trú, đau các vùng thắt lưng lan xuống các chi dưới, kèm theo nôn mửa và táo bón. Khám bụng bình thường trên bình diện lâm sàng và quang tuyến. Nước tiểu có màu đỏ hoặc nhuộm màu khi gặp ánh sáng. Một bệnh sử gia đình porphyrie sẽ góp phần vào chẩn đoán, được xác nhận bởi đo nồng độ ALA và PGB trong nước tiểu. Phải nhập viện khẩn cấp để được điều trị đặc hiệu. Biến chứng đáng sợ là bại liệt hô hấp, và phải đưa vào phòng hồi sức nếu có các triệu chứng thần kinh.

PORPHYRIE VÀ VÀI GIAI THOẠI LỊCH SỬ

Porphyrie là một trong hai bệnh di truyền (bệnh kia là bệnh ưa chảy máu, hémophilie) đã giáng vào hoàng gia Anh. Bệnh porphyrie đã xuất hiện với Marie Stuart, hoàng hậu Ecosse. Marie Stuart, suốt đời đã bị những đợt rối loạn tâm thần và những cơn đau bụng, có lẽ đã bị vướng víu bởi căn bệnh này trong cuộc đấu tranh chống lại các thủ đoạn của hoàng hậu Anh, Elizabeth. Cuối cùng Elizabeth đã bắt giam và hành quyết Marie Stuart. Chắt gái của Marie Stuart là Henriette d’Angleterre, chết năm 29 tuổi, có lẽ là do một cơn porphyrie cấp tính. Henriette là vợ của Philippe d’Orléans, anh của Louis XIV.Chính Bossuet đã đọc bài điếu văn nổi tiếng vào lúc mất của Henriette. Lúc đọc bài điếu văn này ông đã thốt lên: «Ôi đêm trường tai hại ! Ôi đêm trường khủng khiếp ! Thình lình vang lên như một tiếng sét cái tin lạ lùng này : Đức bà đang chết ! Đức bà đã chết!». Một hậu duệ khác của dòng họ Stuart là Georges III. Trị vì nước Anh từ năm 1760 đến 1820 và đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ và các cuộc chiến với Napoléon, Georges III đã bị nhiều cơn ảo giác và hoang tưởng, được gán cho bệnh porphyrie. Các nhà viết sử cho rằng việc nhà vua đã có một vài quyết định ít đúng đắn có thể đã ảnh hưởng lên tiến trình của lịch sử. Georges III đã bị thay thế bởi một quan nhiếp chính khi nhà vua bắt đầu cho rằng các cây trong công viên của ông là vua nước Phổ. Dạng bệnh di truyền này được biểu hiện nơi nhiều con cháu hậu duệ thuộc các triều đại Stuart và Hanovre.
(LE GENERALITE 7/2/2008)


5/ SUY THẬN : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA GHÉP THẬN VƯỢT QUÁ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THẨM TÁCH THẬN.

NEPHROLOGIE. Các phẫu thuật ghép thận thường làm các bệnh nhân bị suy thận sợ hãi, nhưng xét về mặt chất lượng sống và tỷ lệ sinh tồn, cũng như về mặt kinh tế, thì ghép thận rõ rệt ưu việt hơn nhiều so với thẩm tách thận (dialyse rénale). Đó là điều mà các nhà chuyên gia muốn nhắc lại, hai ngày trước Ngày thế giới về thận, được tổ chức hôm 1/3. Trên bình diện thuần tài chánh, năm đầu tiên sau khi ghép thận tổn phí khoảng 46.000 euros. Sau đó hóa đơn hàng năm là 7600 euro, trong khi hóa đơn của một thẩm tách thận (dialyse rénale) lên đến 70.000 euro. Vào năm 2007, Quỹ Bảo hiểm-bệnh tật quốc gia đã chi phí 4 tỷ euro cho suy thận, 82% dành cho các thẩm tách và 18% dành cho ghép thận. Tuy nhiên chúng ta phải biết rằng không phải tất cả những người bị suy thận đều có thể là ứng viên của ghép thận, ví dụ trường hợp những bệnh nhân đái đường bị biến chứng suy thận. Nhưng hai công cuộc điều tra chưa từng có, được công bố hôm nay trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire, làm sáng rõ tính chất ưu việt của các ghép thận về mặt chất lượng sống.

Nhóm nghiên cứu của Serge Briançon (Trường Y Tế Cộng Đồng, Nancy) đã quan tâm đến 832 bệnh nhân được thẩm tách thận và 1061 người được ghép thận. Dầu cho các tham số được đo là gì (trạng thái vật lý, đau đớn, sức khỏe tâm thần, sức sống...), chất lượng sống của những người được ghép (greffés) cao hơn chất lượng sống của những người được thẩm tách (dialysés), mặc dầu vẫn dưới chất lượng sống của dân chúng nói chung. Nhìn toàn bộ, chất lượng sống tốt hơn trong nam giới. “ Tất cả những biện pháp khả dĩ để cải thiện khả năng được ghép và làm giảm thời gian lúc thực hiện thẩm tách sẽ phải được thực hiện. Hiệu quả có lợi này được quan sát ngay cả nơi người già ”, các tác giả đã kết luận như vậy. Tuổi tác ngày nay sẽ không còn là một yếu tố hạn chế nữa, GS Briançon đã nói thêm như vậy. Ngày nay, ở Pháp, khoảng 37.000 người được điều trị bằng thẩm tách và 31.000 đã được ghép thận. Tuy nhiên tần số của điều trị bằng thẩm tách hay ghép thận thay đổi theo vùng lãnh thổ.

Hiện nay, ở Pháp, hơn 90% các trường hợp thận được ghép phát xuất từ những người cho đã chết (donneurs décédés). “ Từ năm 1958, Pháp là nước tiền phong về việc lấy thận trên xác chết, Denis Glotz, trưởng khoa thận và ghép thuộc bệnh viện Saint Louis, Paris đã giải thích như vậy. Mặt khác, một vài thầy thuốc có thái độ rất ngập ngừng khi lấy thận nơi những người cho còn sống (donneur vivant).” Tuy vậy, từ năm 1958, Pháp chỉ có một trường hợp tử vong trong số những người cho này mà thôi.
(LE FIGARO 9/3/2010)

6/ NGĂN NGỪA CÁC HUYẾT KHỐI TRÊN STENT : ĐIỀU TRỊ MỚI.

GS Michel Desnos, trưởng khoa tim bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, giải thích tiến bộ quan trọng với sự thương mãi hóa mới đây ở Pháp thuốc prasugrel.

Hỏi : Trong những trường hợp nào khiến ta phải thực hiện một angioplastie đồng thời đặt stent và protocol là gì ?
GS Michel Desnos : Angioplastie là thủ thuật nhằm đưa một quả bóng nhỏ (baloonet) vào trong các động mạch của tim (các động mạch vành), để mở lỗ bị hẹp. Trong đại đa số các trường hợp, để tránh sự hẹp tái phát, người ta thiết đặt một loại lưới sắt nhỏ, được gọi là stent. Có hai chỉ định chính đối với thủ thuật này. 1. Nhồi máu cơ tim khi động mạch vành bị bít bởi một cục máu đông. 2. Những cơn đau ngực không kiểm soát được bằng điều trị ngoại khoa, bởi vì cơn đau xảy ra do động mạch bị hẹp. Ở Pháp, người ta thực hiện khoảng 120.000 angioplastie với đặt stent mỗi năm. Và con số này không ngừng gia tăng.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ? Những biến chứng là những biến chứng nào ?
GS Michel Desnos : Về nhồi máu cơ tim, từ 10 năm qua, kỹ thuật này đã cho phép một sự thu giảm một nửa tỷ lệ tử vong. Nhưng cũng như mọi sự can thiệp, có những nguy cơ có thể xảy ra trong khi làm thủ thuật hay xuất hiện thứ phát. Người ta quan sát thấy 2 biến chứng muộn. 1. Một sự hẹp trở lại (resténose) : sau 3 đến 6 tháng động mạch lại bị hẹp lại ở cùng vị trí trước đây. 2. Một sự tắc (occlusion) : động mạch bị trít lại hoàn toàn với huyết khối (thrombose) trên stent (2 đến 3%), một tai biến trầm trọng có thể dẫn đến tử vong (trong 40% các trường hợp).

Hỏi : Mãi đến nay, làm sao ta có thể ngăn ngừa những biến chứng này ?
GS Michel Desnos : Khi sự hẹp trở lại xuất hiện ở cùng một chỗ, ta có thể thực hiện một sự nong giãn mới. Để ngăn ngừa sự xuất hiện một huyết khối (thrombose), ta kê đơn một điều trị chống kết tụ tiểu cầu (traitement antiagrégant plaquettaire), sẽ ngăn cản sự tạo thành một cục máu đông (caillot) trong máu. Trong ít nhất năm đầu sau khi đặt stent, ta kê đơn hai thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant) là aspirine kết hợp với clopidogrel (Plavix) và sau đó nói chung chỉ còn một thứ thuốc.

Hỏi : Những thất bại nơi các bệnh nhân được điều trị phòng ngừa này là do đâu ?
GS Michel Desnos : Chủ yếu do 3 nguyên nhân. 1. Một sự tuân thủ điều trị kém của các bệnh nhân, quên uống thuốc hay ngừng điều trị không được biện minh (ví dụ để chữa răng hay nội soi tiêu hóa). 2. Sự hiện hữu của vài loại bệnh liên kết, đặc biệt là bệnh đái đường. 3. Một sự đề kháng đối với clopidogrel do những bất thường di truyền được biểu hiện nơi gan : nơi 25% các bệnh nhân, chất chống ngưng kết này tỏ ra không có hiệu quả.

Hỏi : Liệu pháp mới nhất dành cho các trường hợp đề kháng với điều trị cổ điển là gì ?
GS Michel Desnos : Đó là prasugrel, một chất chống ngưng kết tiểu cầu mới được thương mãi hóa ở Pháp. Đối với những bệnh nhân đề kháng này, thuốc prasugrel có hiệu quả hơn và tác dụng của nó ít được liên kết với chuyển hóa gan hơn và do đó ít nhạy cảm hơn với những bất thường di truyền. Người ta kê đơn thuốc này với liều lượng 10 milligramme mỗi ngày, liên kết với 75 đến 325 mg aspirine.

Hỏi : Những thử nghiệm nào đã chứng tỏ hiệu quả của prasugrel ?
GS Michel Desnos : Công trình nghiên cứu lớn “ Triton ” (được công bố trong “ New England Journal of Medicine ”) đã được thực hiện trên hơn 13.000 bệnh nhân đã bị một nhồi máu cơ tim và mang stent (trong 700 bệnh viện của 30 nước). Các nhà nghiên cứu đã so sánh trong vòng một năm những bệnh nhân được điều trị cổ điển (aspirine +clopidogrel) với những bệnh nhân được điều trị bởi aspirine và prasugrel. Kết quả : thuốc mới đã tỏ ra có hiệu quả hơn do làm giảm 52% các huyết khối trên stent.

Hỏi : Điều trị mới này có gây nên những phản ứng phụ hay không ?
GS Michel Desnos : Điều trị với prasugrel có một nguy cơ gây xuất huyết, nhất là nơi não bộ, ít xảy ra hơn (2,4% các xuất huyết với clopidogrel so với 1,8% với prasugrel).

Hỏi : Người ta có thể giảm mối nguy hiểm này không ?
GS Michel Desnos : Có, bằng cách không cho thuốc này nơi các bệnh nhân có nguy cơ cao hơn : những người trên 75 tuổi, những người đã bị một tai biến mạch máu não, những người cân nặng dưới 60kg.
(PARIS MATCH 1/3-17/3/2010)

7/ HEN PHẾ QUẢN : MỘT VACCIN ?

Tỷ lệ lao phổi tăng cao ở Nhật Bản, do đó cần tiêm chủng tích cực. Nơi các trẻ em được tiêm chủng, các thầy thuốc Nhật đã chứng thực tỷ lệ hen phế quản 2 đến 3 lần ít hơn. Theo nhóm nghiên cứu của GS Gilles Marchal thuộc Viện Pasteur, BCG có một tác dụng chống hen phế quản. Những nhà nghiên cứu của Viện Pasteur đã sử dụng một giống gốc của trực khuẩn lao được làm bất hoạt bằng cách làm mất nước (déshydratation). Giống gốc này khác với vaccin sống được làm giảm độc lực (vaccin vivant atténué) ở chỗ nó không gây nên một sự cảm ứng (sensibilisation) chống lại bệnh lao. Lợi ích của giống gốc này là ở khả năng kích thích các tế bào miễn dịch hiệu quả nhất chống lại phản ứng viêm loại hen phế quản. Nơi các động vật gậm nhấm, sau khi hít các dị ứng nguyên, đã phát triển một hen phế quản thể nặng tương tự với dạng hen phế quản nơi người, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng những động vật gậm nhấm được điều trị bởi BCG được làm mất nước này, bảo tồn một chức năng hô hấp bình thường. Khả năng bảo vệ có được độc lập với dị ứng nguyên và tồn tại từ 3 đến 4 tháng. Sau đó, phải tiêm nhắc lại BCG.

Hy vọng không phải là chữa lành bệnh hen phế quản với liệu pháp được dung nạp tốt này, mà làm ổn định nó đồng thời giảm việc phải nhờ đến các thuốc giãn phế quản hay các corticoides.
(PARIS MATCH 18-24/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 163 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (01/3/2010)

7/ BCG CÓ THỂ TRỞ NÊN MỘT ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH HEN PHẾ QUẢN.

Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur đã hiệu chính một điều trị mới của bệnh hen phế quản nhờ vaccin chống bệnh lao. “ Ở Nhật Bản, là nơi bệnh lao thường xảy ra, bệnh hen phế quản nơi những trẻ em được tiêm chủng bởi BCG xảy ra 3 lần ít hơn, Gilles Marchal đã kể lại như vậy, từ đó nảy ra ý tưởng tiêm chủng BCG để điều trị bệnh hen phế quản. Với điều kiện có thể làm bất hoạt được BCG ”. Bởi vì BCG chứa các trực khuẩn Koch sống nhưng được làm giảm độc lực, nên có nguy cơ gây nên những phản ứng miễn dịch và các áp-xe trong trường hợp tiêm lập lại. Thu được bằng quá trình làm mất nước toàn bộ, giống gốc mới, vô hại và được đặt tên là BCG EFD (Extended Freeze-Dying), vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó trên chuột. “ Đúng là có một phản ứng viêm, nhưng BCG EFD kích thích hệ miễn dịch để kềm chế phản ứng viêm này ”, Gilles Marchal đã giải thích như vậy. Điều trị này có thể xuất hiện trên thị trường từ nay đến 5 năm. Điều trị cần bốn mũi tiêm mỗi năm và sẽ không có những tác dụng phụ.
(SCIENCE ET VIE 3/2010)


8/ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG : 3 GENES LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH.

Tiến bộ lớn và mới nhất trong bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan với tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge) là khám phá 3 gène có liên quan trong sự xuất hiện của bệnh này. “ Bây giờ chúng ta biết được vai trò quan trọng của tố bẩm di truyền (prédisposition génétique), GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Từ nay đến vài năm nữa, bằng một xét nghiệm máu ta sẽ có thể xác định một nguy cơ gia tăng, thiết đặt một sự theo dõi sớm và một biện pháp phòng ngừa bằng những quy tắc chế độ ăn uống. Nhất là, sự giáo dục bệnh nhân có nguy cơ sẽ tạo khả năng điều trị rất sớm ! ”. Bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) khởi đầu bằng một sự tích tụ các mảnh và những tế bào chết trong các cơ quan nhận cảm ánh sáng (photorécepteurs) của võng mạc và các mô nâng đỡ. Vào một giai đoạn tiến triển, sự đổi mới của những cơ quan cảm thụ ánh sáng không còn thực hiện được nữa và bệnh nhân mất thị giác trung ương (vision centrale). Ở Pháp, đó là một vấn đề y tế công cộng thật sự : 1,5 triệu người bị bệnh này và hơn 200.000 người bị tật nguyền nặng. Điều đáng sợ nhất của các bệnh nhân là tình trạng phụ thuộc (dépendance), bởi vì DMLA có thể xảy ra cả hai bên mắt. “ Chúng tôi trấn an các bệnh nhân của chúng tôi bằng cách nói với họ rằng họ sẽ luôn luôn vẫn còn thị giác ngoại biên (vision périphérique), mặc dầu trung tâm của võng mạc bị thương tổn, và rằng họ sẽ phải học sử dụng thị giác ngoại biên này để bù trừ phần nào phế tật ”, GS José-Alain Sahel đã giải thích như thế. Có hai dạng tiến triển : dạng ướt (forme humide), có thể xảy ra rất đột ngột, được đặc trưng bởi sự tạo thành những mạch máu mới (néovaisseaux), và dạng khô (forme sèche), trong đó những cơ quan nhận cảm ánh sáng bị teo di và biến mất dần dần. “ Tần số mắc bệnh trung bình là 1% vào lúc 55 tuổi, 10% vào lúc 65 tuổi, 25% vào lúc 75 tuổi và 60% vào lúc 90 tuổi, GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Với sự kéo dài tuổi thọ, người ta dự kiến tăng gấp đôi những con số này vào năm 2050. ” Những triệu chứng đầu tiên được biểu hiện bởi những vấn đề thích nghi đối với sự thay đổi ánh sáng. Hai dấu hiệu phải khiến đi thăm khám càng sớm càng tốt : một vết cố định (une tache fixe), ổn định trong thị trường, hay một sự biến dạng các hình ảnh.

MỘT THĂM KHÁM VÕNG MẠC, TỪNG TẾ BAO MỘT

Ở Quize-Vingts, nhóm của GS Sahel thuộc một trong những nhóm có hiệu năng nhất trong lãnh vực chẩn đoán DMLA : “ Từ tháng giêng năm 2009, chúng tôi sử dụng một kỹ thuật thiên văn (technique d’astronomie) cho phép nhìn thấy từng tế bào nhận cảm ánh sáng (cellule photoréceptrice) của võng mạc.Nhờ kỹ thuật này và nhờ những tiến bộ của các hệ thống như chụp lớp quang học (tomographie optique), các chuyên gia chẳng bao lâu nữa sẽ có thể quyết định điều trị theo các tiêu chuẩn khách quan và rất là chính xác. Những tiêu chuẩn này cũng sẽ cho phép họ đánh giá tính hiệu quả của điều trị với một chất lượng chưa từng có. Hãy tưởng tượng xem các thầy thuốc ngoại thần kinh sẽ hạnh phúc biết bao nếu họ có thể quan sát từng tế bào thần kinh một ! ”. Trước giai đoạn đặc biệt này, các kỹ thuật chẩn đoán đã hưởng rộng rãi các tiến bộ công nghệ học. Thí dụ từ 3 năm qua, các bệnh nhân có thể được phát hiện nhờ các hình chụp đơn giản của đáy mắt.

ĐIỀU TRỊ DẠNG ƯỚT (FORME HUMIDE) : MỘT SỰ CẢI THIỆN NGOẠN MỤC.

Một giai đoạn quan trọng đã được vượt qua trong những năm qua với sự xuất hiện của các anti-VEGF, các tác nhân chống sinh mạch (antiangiogénique), ngăn cản sự tạo thành các huyết quản mới trong võng mạc và giới hạn sự phù nề. Các loại thuốc này (mà đầu đàn là ranibizumab) là rất có hiệu quả khi chúng được tiêm sớm vào trong mắt mỗi tháng. “ Trong 90% các trường hợp, ta quan sát thấy một sự ổn định của căn bệnh, và trong hơn 10%, một sự cải thiện nhỏ, GS Sahel đã xác nhận như vậy. Kỹ thuật này đã là có tính cách mạng bởi vì, trước đây, với các kỹ thuật bằng laser và quang động (techniques au laser et photodynamiques), chỉ dưới 20% các bệnh nhân được ổn định mà thôi. Những bệnh nhân khác đánh mất thị giác trung ương. Không còn có thể đọc cũng như nhận diện các gương mặt nữa, bị cản trở không thể đi ra đường, họ chịu một phế tật khủng khiếp ! Sự thay đổi tiên lượng này tuyệt vời.” Những nghiên cứu đang được tiến hành để cải thiện thêm nữa chất lượng của các bệnh nhân : người ta đang nghiên cứu chế tạo các loại thuốc giọt có tác dụng kéo dài (được sử dụng mỗi 6 tháng).

NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐÁNG PHẤN KHỞI ĐỐI VỚI DẠNG KHÔ.

“ Tiến bộ lớn, GS Sahel đã giải thích như vậy, có liên quan đến các giai đoạn sớm mà ta có thể làm chậm tiến triển của bệnh lại nhờ một cocktail các chất chống oxy hóa (oxydants), làm tăng cường sự hóa sắc tố của võng mạc. Nhưng các nghiên cứu đang tiến triển : các nhóm nghiên cứu, trong đó có nhóm của chúng tôi, đang trắc nghiệm hai loại thuốc mới. Một vài loại thuốc nhằm giới hạn sự tích tụ của các chất đọng (dépôts) trong võng mạc (kháng vitamine A), những chất khác phong bế phản ứng viêm (các chất điều biến của các complément). Những thử nghiệm này, ở giai đoạn 2, là đáng phấn khởi. Sẽ còn phải chờ đợi những kết quả của giai đoạn 3 rồi mới phát biểu được.”

Đối với những người mà bệnh ở một giai đoạn tiến triển và rất bị trở ngại do mất thị giác trung ương, chúng tôi phát triển société Essilor des lunettes mang các caméra nhỏ xíu cho phép lúc nhìn chiếu các hình ảnh được phóng đại trong những vùng ngoại biên mà bệnh nhân còn thấy được. Những prototype đầu tiên đã gần như sẵn sàng. Các trung tâm cải tạo đã được thành lập để dạy cho những bệnh nhân phế tật sử dụng tốt hơn đôi mắt của họ. Ở Viện thị giác, chúng tôi đang hiệu chính đủ loại công nghệ học nhằm cải thiện chất lượng sống, ví dụ một GPS sẽ chỉ rõ rất chính xác cho người sử dụng vị trí, môi trường của mình.
(PARIS MATCH 5/1-1/1/2009).

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 82 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/6/2008 )

6/ SỰ TIÊU THỤ CÁ NGĂN NGỪA VÀI BỆNH MÙ LÒA.

Những người tiêu thụ các oméga-3 sẽ giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge)

Ở Pháp, sự thoái hóa điểm vàng do tuổi tác gây bệnh, ở những mức độ khác nhau, cho hơn 500.000 người. Sự thoái hóa của vùng trung tâm võng mạc này được thể hiện bởi một sự giảm thị lực trung tâm, có thể dẫn đến mù lòa sau nhiều năm tiến triển. Mặc dầu các nguyên nhân của căn bệnh nghiêm trọng và thường xảy ra này vẫn không được biết đến, nhưng rõ ràng rằng một vài yếu tố làm dễ căn bệnh này như tuổi tác và thuốc lá. Sự tiếp xúc quá mức với ánh sáng cũng được cho là có liên hệ, nhưng không có chứng cớ tuyệt đối.

Vậy người ta có thể bảo vệ chống lại căn bệnh này hay không ? Các nhà nghiên cứu Úc đại lợi vừa khảo sát vấn đề này, và kết luận trong một công trình nghiên cứu được công bố tuần này trong Archives of Ophtalmology, rằng những người có một chế độ ăn uống giàu cá hay ăn bổ sung những thức ăn có oméga 3 sẽ có một nguy cơ bị DMLA ít hơn.

Các oméga-3 là những chuỗi acide béo không bảo hoà mà người ta tìm thấy nhiều nhất trong cá mỡ : cá hồi (saumon), cá thu (maquereau), cá trích (hareng)…, trong cây cai dầu (colza), các quả hồ đào. Vào đầu những năm 1990, các chất mỡ này được gán cho nhiều tác dụng tốt, không phân biệt đúng hay giả.

Mặc dầu nhiều nghiên cứu đã phát hiện một nguy cơ bị tai biến tim mạch ít hơn nơi những người tiêu thụ nhiều cá, nhưng những thử nghiệm phòng ngừa cơn đau tim bằng oméga-3 đã hơi gây thất vọng hơn. Chính trong bối cảnh này mà các thầy thuốc Úc đại lợi ở Melbourne đã quyết định xem xét một cách hoàn toàn, mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu cá hay oméga-3 và nguy cơ bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Để thực hiện điều này, họ đã xem lại 9 công cuộc điều tra được công bố trong 20 năm qua về chủ đề này, và đã sưu tập thành một phân tích méta trên 88.974 người.

Những kết quả của công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng những người tiêu thụ nhiều oméga-3 nhất, dầu đó là cá hay các bổ sung thực phẩm, có 38% nguy cơ bị một thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) ít hơn, so sánh với những người tiêu thụ ít nhất. Như vậy, sự việc ăn cá hai lần mỗi tuần liên kết với một nguy cơ bị DMLA thấp hơn.

CẦN NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

“Phân tích của chúng tôi gợi ý rằng sự tiêu thụ cá và các thức ăn giàu oméga-3 được liên kết với một nguy cơ bị DMLA ít hơn”, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Như vậy có phải ăn cá hay dùng oméga-3, ngay cả khi chúng ta vẫn khỏe mạnh, để ngăn ngừa hoặc kềm hãm sự thoái hóa này hay không?

Các tác giả tỏ ra thận trọng không muốn bước thêm bước nữa, đánh giá rằng trước khi có những khuyến nghị chính thức, thì bây giờ phải thực hiện, không phải là những điều tra quan sát như đã làm cho từ trước cho đến nay, mà phải thực hiện những thử nghiệm điều trị quy mô lớn. Các thử nghiệm này nhằm so sánh tiến triển của thị lực của những người dùng oméga-3 so với những người không dùng chất bổ sung này.

Bằng cách nào các oméga-3 làm giảm nguy cơ bị DMLA? Theo Elaine Chong, tác giả chính của công trình nghiên cứu, các acides béo này là một thành phần sinh tử của võng mạc và một sự thiếu hụt có thể sẽ đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh này. Cũng phải biết rằng vào tháng 2 năm 2008, các thầy thuốc Úc Đại Lợi của đại học Sidney đã chứng tỏ rằng những người bị DMLA cũng có một nguy cơ tim mạch gia tăng. Điều này khiến các nhà nghiên cứu nghĩ rằng cùng những yếu tố ảnh hưởng lên tim (huyết áp cao, cholestérol máu cao, nghiện thuốc lá...) cũng gây thương tổn ở mắt và có liên hệ trong sự phát sinh bệnh DMLA. Như thế, tác dụng thuận lợi do oméga-3 lên tim cũng có thể được giải thích ở mắt.

Hiện nay, đó chỉ là một giả thuyết.Trong tất cả mọi trường hợp, không gì có thể ngăn cản chúng ta ăn cá hai lần mỗi tuần, hoặc nhiều hơn nếu trái tim của chúng ta muốn như vậy, ngoại trừ các phụ nữ có thai.
(LE FIGARO 11/6/2008)

Thời Sự Y Học Số 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/6/2009 )

10/ CÁ, HỒ ĐÀO VÀ OLIVE CHỐNG BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC (DMLA).

Việc gìn giữ một thị giác tốt cũng có thể phụ thuộc vào chế độ ăn uống. Trong les Archives d’Ophtalmologie, một tạp chí của Hoa Kỳ, được công bố hôm nay, các thầy thuốc người Úc của đại hoc Sidney cho thấy rằng một chế độ ăn uống giàu hồ đào (noix), cá hay dầu olive, làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Hiện nay, ở Pháp, sự biến đổi thị giác trung tâm này cùa võng mạc tác động lên 500.000 người, ở những mức độ khác nhau. Ngược lại, những axít béo được gọi là trans (những chất béo thực vật được bảo hòa bởi một phương thức công nghiệp để cải thiện sự tiêu thụ chúng) có một tác dụng có hại lên thị giác. Hiện nay, ở Pháp cũng như trong những nước kỹ nghệ hóa khác, DMLA là nguyên nhân chính của thị lực kém (malvoyance) nơi những người trên 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ dĩ nhiên là tuổi tác, cũng như tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và hút thuốc lá.

Để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và DMLA, các nhà nghiên cứu người Úc đã quan tâm đến chế độ ăn uống, và đặc biệt là sự tiêu thụ mỡ, của 2454 người tuổi hơn 65, từ năm 1992 đến 1994 và đã chụp hình võng mạc. 10 năm sau, các kết quả cho thấy rằng những người ăn cá, ít nhất một lần mỗi tuần (nhưng cũng ăn hồ đào và dầu olive) có tỷ lệ bị DMLA 30% thấp hơn. Sự tiêu thụ càng quan trọng thì nguy cơ càng ít cao.

Một công trình nghiên cứu thứ hai, được công bố trong cùng tạp chí, đã kết luận rằng một sự tiêu thụ quá mức axít trans (hiện diện trong viennoiserie công nghiệp, biscuit và vài món ăn tiền chế khác) làm gia tăng nguy cơ bị DMLA.

Những công trình nghiên cứu này, nếu được xác nhận, chứng tỏ một cách rõ ràng một mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sự biến đổi võng mạc do bệnh DMLA.
(LE FIGARO 12/5/2009)


9/ SỰ LÃO HÓA TẾ BÀO : THỂ THAO CÓ LỢI ?

Nhóm nghiên cứu của GS Ulrich Laufs (đại học Saarland, Hambourg) vừa cho thấy rằng hoạt động vật lý tác động trực tiếp lên các tế bào bằng cách hoạt hóa télomérase, một enzyme chủ chốt của các quá trình lão hóa (processsus de sénescence).Vai trò của télomérase là sản xuất các télomère, những mảnh nhỏ của ADN nằm ở đầu mút của các nhiễm sắc thể, cần thiết cho sự truyền của các gène từ một tế bào mẹ đến các tế bào của nó khi nó phân chia. Nhưng, vào mỗi phân chia tế bào, các télomère bị rút ngắn đến độ, vì đã quá ngắn, nên không còn có sự phân chia nào có thể thực hiện được nữa : tế bào bị chết. Người ta có thể đo lường hoạt tính của télomérase và độ dài của các télomère trong các bạch cầu và như thế đánh giá sự lão hóa tế bào. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu hai biến số này nơi động vật (chuột chạy trên một bánh xe được so sánh với chuột nhàn rổi) và nơi người (những người lành mạnh ít thể thao so với những vận động viên nghề nghiệp và các vận động viên marathon). Hoạt động thể thao tác động thuận lợi lên télomérase và làm giảm sự co ngắn của các télomère của chúng. Vậy hoạt động vật lý làm dễ tuổi thọ của các tế bào của chúng ta.
(PARIS MATCH 28/1-3/2/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Thể Dục Thể Thao - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ NHIỀU TÁI PHÁT UNG THƯ VÚ HƠN NẾU PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP CHẬM TRỄ.

Các phụ nữ càng chờ đợi trước khi thực hiện một phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) sau ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice) vú, nguy cơ bị tái phát tại chỗ sẽ càng lớn.

“ Hãy bắt đầu phóng xạ liệu pháp càng nhanh càng tốt, đó là thông điệp của một nhóm nghiên cứu quy tụ những người Mỹ, Nhật và Canada. Nói chung, người ta xem một khoảng thời gian 4 đến 6 tuần (giữa lúc phẫu thuật ngoại khoa và lúc bắt đầu phóng xạ liệu pháp) là hợp lý trong điều trị ung thư vú. Nhóm nghiên cứu quốc tế đã khảo sát mối liên hệ giữa độ dài của khoảng thời gian này và nguy cơ tái phát. Để thực hiện điều đó, nhóm nghiên cứu đã tập hợp các dữ kiện liên quan đến 18.050 phụ nữ Mỹ được chẩn đoán ung thư vú vào một giai đoạn sớm giữa năm 1991 và 2002. Các phụ nữ này đã được phẫu thuật bảo tồn vú và chịu một phóng xạ liệu pháp nhưng hóa học liệu pháp (chimiothérapie) thì không. Thời gian theo dõi kéo dài 5 năm.

Những kết quả cho thấy rằng sự thực hiện phóng xạ liệu pháp sau một thời hạn 6 tuần sau điều trị ngoại khoa được liên kết với một sự gia tăng đáng kể của nguy cơ tái phát tại chỗ. Một phụ nữ trên 4 (30%) đã tham gia công trình nghiên cứu này chỉ bắt đầu phóng xạ liệu pháp sau 6 tuần và 734 phụ nữ (4%) đã bị một tái phát tại chỗ trong một thời gian 5 năm. Một phân tích đã phát hiện mối liên hệ liên tục giữa thời gian chờ đợi trước khi làm phóng xạ liệu pháp và nguy cơ tái phát.

Các tác giả của công trình nghiên cứu này, được công bố trong BMJ, kết luận rằng việc thực hiện càng nhanh càng tốt phóng xạ liệu pháp có thể làm giảm nguy cơ tái phát tại chỗ. Trong một bài báo, Ruth Jack và Lars Holmberg (King’s College London) khẩn khoản để người ta áp dụng những biện pháp cần thiết nhằm làm giảm chừng nào có thể được khoảng thời gian giữa ngoại khoa và phóng xạ liệu pháp.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/3/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/3/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#43 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 29 March 2010 - 07:51 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ RƯỢU VANG CÓ ĐƯỢC CHỨNG MINH LÀ TỐT CHO SỨC KHỎE HAY KHÔNG ?

Ngày nay chúng ta thường chấp nhận rằng một sự tiêu thụ có mức độ nhưng đều đặn rượu vang đỏ (vin rouge) (một hay hai ly mỗi ngày) bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch. Đó là “ nghịch lý Pháp ” (paradoxe français) nổi tiếng từ 40 năm nay. Các cổ nhân đã nói rằng “ ruợu ngon làm vui trái tim của con người ”(Le bon vin réjouit le cœur de l’homme).

Gần chúng ta hơn, Louis Pasteur đã không do dự khi xác nhận rằng“ rượu vang là nước uống lành mạnh nhất và vệ sinh nhất mà ta có được. Tuy vậy những tác dụng có hại của rượu đúng là được xác lập. Rượu vang phải chăng là ngoại lệ trong số các nước uống được pha chế cồn (boissons alcoolisées) hay phải chăng chính cách uống “ theo kiểu Pháp ”, có chừng mực nhưng đều đặn mà ta phải quy kết ?

Nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học với những kết quả nói chung giống nhau ủng hộ cho giả thuyết về một tác dụng bảo vệ của rượu vang đỏ, (mà những nước uống có chất cồn khác không có được), được thể hiện chủ yếu bởi một sự giảm huyết áp và các nguy cơ bị tai biến mạch máu não và tim.

Nhưng những thử nghiệm lâm sàng dài hạn, cho phép rút ra những kết luận về các hiệu quả của một sự tiêu thụ có mức độ rượu vang, trên thực tế không thể thực hiện được. Thật vậy, xét vì tiến triển rất chậm của các bệnh tim mạch, để cho những kết quả về mặt thống kê có giá trị, trong nhiều năm buộc cần phải có một chế độ kiểm soát nghiêm ngặt nơi một số rất lớn những người tình nguyện, được chia thành những người chứng và những người được điều trị,

NHỮNG THÍ NGHIỆM KHÔNG HOÀN TOÀN.

Ngoài cồn (alcool), rượu vang chứa các chất polyphénols, trong số đó có những hợp chất tạo nên sắc màu rượu vang đỏ, dường như có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại những tác dụng có hại của “ stress oxy hóa ”, một hiện tượng oxy hóa (oxydation) các hợp chất trong tế bào, gia tăng với tuổi tác và can thiệp trong các bệnh mãn tính có liên quan với sự lão hóa.

Polyphénols của rượu vang, hay sự liên kết của chúng với những nồng độ nhỏ cồn, có thể tham dự vào những tác dụng bảo vệ của rượu vang lên hệ tim mạch. Tuy nhiên những kết luận này được rút ra từ những thí nghiệm trên các tế bào hay động vật, hay những thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn. Nhiều nghi vấn khoa học tồn tại về sự hấp thụ bằng đường tiêu hóa và số phận của các chất polyphénols này trong cơ thể .

Mặt khác, các polyphénols này được tìm thấy trong các loại thức ăn khác : chúng hiện diện với những lượng quan trọng trong vài nước vắt nho đỏ (raisin rouge), nhưng cũng có mặt trong các trái cây đỏ, trong vài loại rau xanh, trong trà và cacao, với cùng những tác dụng bảo vệ.

Nhưng người ta cũng chứng thực rằng tỷ lệ tử vong tim mạch thấp nhất được quan sát chủ yếu trong miền nam nước Pháp và trong những nước khác của vùng Địa trung hải ; thế mà, ở đó rượu vang cạnh tranh với những thành phần khác của món ăn cổ truyền của những vùng này, các trái cây và các rau xanh, không quên dầu olive.

Xét vì nhiều điều không chắc chắn về những tác dụng có thể có lợi của rượu vang (vin), ngược với những tác dụng có hại được xác lập của cồn (alcool), do đó khuyến nghị tiêu thụ đều đặn rượu vang, ngay cả với lượng vừa phải, vì một lý do không phải là sự lạc thú thưởng thức một cách khôn ngoan, là điều không thận trọng.
(LE FIGARO 8/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 97 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 16/10/2008 )

6/ RƯỢU VANG ĐỎ CHỐNG LẠI UNG THƯ PHỔI

Sự tiêu thụ có mức độ rượu vang đỏ (vin rouge) làm giảm nguy cơ bị ung thư phổi nơi các người đàn ông. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong “Cancer Epidemiology, Biomarkers and Prevention”, một tờ báo của Hiệp hội nghiên cứu chống ung thư của Hoa Kỳ. Tính chất bảo vệ này là do khả năng chống oxy hóa của resveratrol, một phân tử hiện diện dồi dào trong rượu vang đỏ. Công trình nghiên cứu, được thực hiện giữa năm 2000 và 2003 trên hơn 80.000 người đàn ông, đã cho thấy rằng nguy cơ bị ung thư phổi giảm 60% nơi những người nghiện thuốc uống 1 đến 2 ly rượu vang đỏ mỗi ngày.
(LE SOIR 8/10/2008)

9/ UỐNG ÍT RƯỢU CHỐNG BỆNH SUY TIM

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã cho thấy rằng một sự tiêu thụ rượu mức độ thấp đến trung bình dường như làm giảm nguy cơ bị suy tim nơi những người cao huyết áp.

Điều chứng thực này là của Luc Djousse và J.Michael Gaziano (Havard Medical School, Boston, Hoa Kỳ) từ các kết quả của Physician’s Health Study . Điều này có liên quan những bệnh nhân với tiền sử nhồi máu cơ tim hay đái đường cũng như những bệnh nhân không có những bệnh lý này.

Trong quá khứ, việc uống rượu đã được đặt trong mối liên quan với một sự gia tăng huyết áp và khi sự gia tăng này quan trọng, sẽ dẫn sự giãn tim. Trái lại, điều chưa được rõ ràng đó là hiệu quả, nơi những người cao huyết áp, của một sự tiêu thụ rượu ở mức độ thấp đến trung bình. Chính điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu phân tích các dữ kiện liên quan đến 5.153 người đàn ông cao huyết áp được tuyển mộ trong công trình Physicians’ Health Study.

Những người tham dự, không có những tiền sử tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim hay ung thư vào lúc thực hiện công trình nghiên cứu, đã được theo dõi trong 18 năm. Tuổi trung bình vào lúc bắt đầu nghiên cứu là 58 tuổi. So sánh với nhóm uống ít hơn một ly rượu mỗi tuần, những người uống nhiều có nguy cơ 11% thấp hơn (một đến 4 ly mỗi tuần) đến 62% thấp hơn (8 ly hoặc nhiều hơn mỗi tuần) phát triển một suy tim.

Cơ chế chính xác qua đó rượu có một tác dụng bảo vệ nơi những người cao huyết áp vẫn luôn luôn không được làm sáng tỏ. Có thể đó là do tác dụng lợi tiểu của nó, hoặc là do sự tăng cao nồng độ adiponectine mà nó gây ra trong huyết tương? Thật vậy, trong những mô hình động vật, người ta thấy rằng adiponectine bảo vệ chống lại các bệnh tim.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 7/10/2008)

Thời Sự Y Học Số 103 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/11/2008 )

8/ RƯỢU VANG : MỘT NGUỒN BỔ SUNG POLYPHÉNOLS

Ở Pháp, người dân có một cơ may mà những người Mỹ thèm muốn. Mặc dầu có một chế độ ăn uống giàu nước chấm (sauce), phó mát, đồ thịt lợn thổ địa, gratins, nhưng người Pháp vẫn giữ một tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim tương đối thấp. Vùng của nước Pháp, nơi tỷ lệ mắc bệnh nhồi máu cơ tim thấp nhất, thật lạ lùng chính là nơi mà món ragout là chúa tể, đó là miền Tây Nam nước Pháp. Cái “nghịch lý Pháp” (french paradox) này từ lâu đã được xem như đặc biệt liên kết với sự tiêu thụ rượu vang đỏ, thông thường ở Pháp hơn là ở bên kia Đại tây dương, ở đây bia và whisky được ưa thích hơn.

Sự kiện một sản phẩm tổng hợp có tác dụng giống polyphénol, được chứa trong vỏ của trái nho, có thể làm giảm nguy cơ bị béo phì và bị bệnh đái đường, có cho phép kết luận rằng chính sự tiêu thụ nho giải thích “cái nghịch lý Pháp” hay không? “Thật vậy chất polyphénol (resveratrol) được chứa chủ yếu trong nho đen. Thế mà chất này sau đó lại được thấy nhất trong rượu vang đỏ. Nhưng có lẽ phải uống hàng trăm lít rượu trong ngày để có được một liều lượng có hiệu quả chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường”. Thế mà uống trên ba ly rượu vang mỗi ngày đối với đàn ông và hai đối với phụ nữ, các biến chứng do rượu sẽ bắt đầu xuất hiện. Cái “nghịch lý Pháp” có lẽ có thể được giải thích một phần bởi rượu vang, nhưng cũng có những yếu tố khác can dự vào.
(LE FIGARO 6/11/2008)

Thời Sự Y Học Số 105 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/12/2008 )

5/ MỘT CHẤT CHỐNG BÉO PHÌ ĐẦY HỨA HẸN XUẤT PHÁT TỪ RƯỢU VANG

Pháp đã khám phá một chất tổng hợp có tác dụng giống với vài thành phần của rượu vang và cho phép chuột giữ một trong lượng không thay đổi mặc dầu co một chế độ ăn uống tăng calo (un régime hypercalorique).

Những nhà nghiên cứu người Pháp đã nhận diện một chất được mệnh danh hiện nay là SRT 1720, cho phép các chú chuột tiếp tục một chế độ ăn uống giàu mỡ, nhưng không béo phì, không trở nên bị bệnh đái đường, đồng thời cải thiện hiệu năng cơ. Các kết quả của những công trình này, được công bố hôm qua trong tạp chí Hoa Kỳ Cell Metabolism, hết sức làm lưu ý công nghiệp dược phẩm, bởi vì có ít nhất ba hãng dược phẩm đang phát triển một thứ thuốc phát xuất từ những nghiên cứu này.

Tất cả bắt đầu cách nay vài năm, khi các thầy thuốc người Pháp khám phá ra rằng một trong những polyphénols được chứa trong vỏ của trái chanh đen, resvératrol, bảo vệ chuột chống lại bệnh đái đường và chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu khi đó cho thấy rằng phân tử resvératrol tác dụng lên cả hai bệnh lý này bằng cách làm hoạt hóa một protéine của cơ thể được gọi là Sirt 1. Sirtris, một hãng Hoa Kỳ có cơ sở ở Boston, quyết định đầu tư vào khái niệm này và hiện nay đang trắc nghiệm một thứ thuốc có chất cơ bản là resvératrol để chống lại bệnh đái đường mỡ (diabète gras), cũng được gọi là bệnh đái đường loại 2. Các nhà nghiên cứu người Pháp của Viện di truyền và sinh học phân tử và tế bào, nguồn gốc của những khám phá đầu tiên này, sau đó bắt đầu tìm kiếm những phân tử tổng hợp cho phép hoạt hóa chất protéine Sirt 1, chất có ảnh hưởng một cách quan trọng lên thể trọng và nguy cơ bị bệnh đái đường. Sau cùng, họ nhận diện một hợp chất tổng hợp tương tự với resvératrol trên bình diện hóa học, SRT 1720 và quyết định trắc nghiệm chất này trên hàng chục con chuột được cho những chế độ ăn uống khác nhau.

MỘT HIỆU QUẢ KÉO DÀI.

Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong Cell Metabolism thật đặc biệt đáng quan tâm. Những chú chuột được điều trị với SRT 1720 và chịu một chế độ ăn uống rất giàu mỡ đã không lên một gam trọng lượng nào và không phát triển khối lượng mỡ (masse grasse), trái với những con chuột được nuôi cùng cách thức nhưng không được điều trị với loại thuốc này. Ngoài ra không có chú chuột nào được điều trị với SRT 1720 bị bệnh đái đường cả, trong khi những con chuột khác có một sự đề kháng với insuline sau chế độ ăn uống quá nhiều mỡ. Rõ ràng là thuốc SRT 1720 bảo vệ chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường loại 2. Thời gian tác dụng lên chuyển hóa kéo dài : tác dụng xuất hiện ngay tuần lễ thứ tư và tiếp tục trong suốt thời gian quan sát các chú chuột hoặc 15 tuần

“Những con chuột được điều trị bởi thuốc SRT 1720 đã giữ một trọng lượng không thay đổi mặc dầu chế độ ăn uống nhiều mỡ, trong khi những chú chuột khác đã tăng 2/3 trọng lượng của chúng. Thuốc này kích thích sự sử dụng mỡ, một cách tương tự như điều mà chúng ta quan sát trong trường hợp hạn chế calo, mặc dầu thức ăn giàu mỡ mang lại sự thặng dư năng lượn” , BS Jérome Feige (Viên di truyền và sinh học phân tử Illkirch) đã giải thích như vậy.

Nhiều hãng dược phẩm đã khởi đầu những thứ nghiệm để trắc nghiệm SRT 1720 chống lại chứng béo phì, bệnh đái đường. Một vài hãng cho là hợp lý đánh giá tác động của nó lên những bệnh khác liên quan với tuổi tác, và nhất là trong bệnh Alzheimer. Công việc vẫn gay go. Đến mãi ngày nay, các thuốc chống béo phì đã không có cơ may, vì lẽ chúng hầu như bị rút ra khỏi thị trường sau vài năm, do những tác dụng phụ của chúng.
(LE FIGARO 6/11/2008)

Thời Sự Y Học Số 106 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/12/2008 )

4/ RƯỢU VÀ CÁC HUYẾT QUẢN

Nếu một hoặc hai ly rượu vang mỗi ngày có thể có lợi cho tim và các huyết quản, thì trái lại sự hấp thụ những lượng lớn rượu trong một khoảng thời gian giới hạn làm gia tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch (athérosclérose). Một thí nghiệm được thực hiện in vitro bởi John P.Cullen và các cộng sự viên (Đại Học Rochester, Hoa Kỳ) đã làm sáng tỏ một cơ chế khả dĩ. Những liều lượng cao acétaldéhyde, chất chuyển hóa chính của rượu, có thể kích thích sự dính kết của các bạch cầu mono (monocytes) với hậu quả là làm gia tốc quá trình xơ mỡ động mạch.

Vậy rượu dường như gây nên những tác dụng đối nhau, tùy theo cách uống : uống có mức độ (1-2 ly mỗi ngày) có một tác dụng bảo vệ tim. Nhưng hoàn toàn trái lại nếu ta “ tiết kiệm ” những nồng độ có ích hàng ngày trong năm, để uống chúng chỉ trong một lần vào dịp đêm Giáng Sinh.
(LE GENERALISTE 18/12/2008)


2/ UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG : VẪN CÒN QUÁ NHIỀU NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG CÓ THỂ TRÁNH ĐƯỢC.

Những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới xuất hiện, nhưng chẩn đoán sớm vẫn là cơ bản.

ONCOLOGIE. Ở Pháp ung thư đại-trực tràng (cancer colorectal) chịu trách nhiệm mỗi năm 17.000 trường hợp tử vong trên 37.000 trường hợp mới được phát hiện. Đó là ung thư đứng thứ ba về tần số mắc bệnh, đứng thứ hai đối với tỷ lệ tử vong. Hơn những loại ung thư khác, ung thư này, gây bệnh cho 3 người đàn ông đối với hai phụ nữ, được liên kết với sự lão hóa. “ Cứ 100.000 người đàn ông, người ta đếm được 10 trường hợp ung thư đại-trực tràng mới mỗi năm nơi những người trên 50 tuổi, so với gần 400 trường hợp nơi những người 70 đến 80 tuổi ”, GS Philippe Rougier, trưởng khoa dạ dày-ruột và ung thư tiêu hóa của bệnh viện Ambroise Paré, Boulogne, đã chỉ rõ như vậy.

Mặc dầu các điều trị đã tiến bộ nhiều, nhưng hiệu quả của chúng tùy thuộc phần lớn vào chẩn đoán sớm những khối u này. Thế mà, vẫn còn 40% các chẩn đoán ung thư đại-trực tràng được thực hiện trong khi đã có các di căn. Do đó có chiến dịch hiện nay của Inca và của bộ y tế nhằm khuyến nghị những người từ 50 đến 74 tuổi cần đi thăm khám phát hiện bệnh.

Nguồn gốc của ung đại-trực tràng là một polype được biến hóa một cách âm thầm thành ung thư ác tính. 1/3 những người trên 65 tuổi có những polype hiền tính, hay các u tuyến (adénome), trên niêm mạc của đại tràng hay trực tràng. Cứ 10 u tuyến thì có một sẽ đạt đường kính 1cm, và trong số các u tuyến này thì một trên bốn sẽ thoái hóa thành ung thư. Thật là may mắn, ung thư đại-trực tràng tiến triển một cách chậm chạp, trung bình trong khoảng thời gian 10 năm. Nhưng không có một triệu chứng nào cho phép nhận diện nó trong suốt thời kỳ này. Chỉ có xét nghiệm phát hiện (test de dépistage) mới có thể phát hiện một ít hémoglobine trong phân, dấu hiệu khả dĩ của một polype đang chảy máu. Chính vì vậy, việc thăm khám phát hiện được lập lại mỗi hai năm nơi những người từ 50 đến 74 tuổi là rất quan trọng.

VỆ SINH ĐỜI SỐNG

Thuốc lá, rượu, tăng thể trọng, nhàn rỗi không hoạt động và chế độ ăn uống tăng calo nhiều thịt làm dễ sự xuất hiện của ung thư này, có tần số sụt giảm trong những nước có chế độ ăn uống đặt ưu tiên vào các sợi. Chỉ 3% các trường hợp là do một bệnh di truyền, bệnh polip gia đình (polypose familiale) hay hội chứng Lynch, mà việc chẩn đoán là quan trọng để theo dõi các người thân thích. Trong 17% các trường hợp, một ung thư đại-trực tràng nơi một người bà con cấp độ 1 (parent au premier degré) biểu hiện một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale) nhân nguy cơ lên hai lần. Nhưng 80% các trường hợp là những ung thư riêng rẻ. Quá 50 tuổi, những biến đổi của sự chuyển vận ruột, các cơn đau bụng, sự hiện diện máu trong phân khiến bệnh nhân phải đi thăm khám. Khi sự phát hiện dương tính (3% các trường hợp) và nơi những bệnh nhân có nguy cơ, một thủ thuật soi đại tràng cho phép xác định một polype khả nghi, khi đó được lấy đi và phân tích cơ thể bệnh lý.

Ngoại khoa vẫn là điều trị ưu tiên của ung thư đại-trực tràng. Một mình phẫu thuật cũng đủ để điều trị 70% đến 80% các ung thư nông (cancers superficiels) hay các ung thư được giới hạn nơi ruột. Nhưng những ung thư này chỉ chiếm 1/3 các trường hợp. Khi các hạch kế cận bị xâm nhập hay khi ung thư đã tạo nên các di căn trong những cơ quan khác, điều trị khi đó cũng phải cần đến hóa học liệu pháp (chimiothérapie). “ Khi ung thư vẫn được giới hạn ở ruột già và các hạch lân cận, hóa học liệu pháp làm giảm 50% nguy cơ tái phát sau mổ, và 30% đến 40% nguy cơ tử vong, GS Rougier đã giải thích như vậy. Khi có các di căn, hóa học liệu pháp trở nên điều trị chính. Liệu pháp này làm thoái biến các khối u trong 50% các trường hợp. Nơi 1% các bệnh nhân, sự thoái biến này đủ để cho phép phẫu thuật viên lấy đi các di căn ở gan và ở phổi, biến đổi một căn bệnh nan y (maladie incurable) thành bệnh có khả năng có thể chữa lành (maladie potentiellement curable).”

Bên cạnh liệu pháp hóa học cổ điển (chimiothérapie clasique), phối hợp 5-fluorouracile, irinotécan (Campto) và oxaliplatine (Eloxatin), mới đây đã xuất hiện những liệu pháp nhắm đích (thérapies ciblées), ức chế một cách đặc hiệu một giai đoạn của quá trình ung thư. “ Bevacizumab (Avastin) được hướng chống lại VEGF, một yếu tố tăng trưởng cần thiết cho sự tạo mạch (vascularisation), do đó cho sự phát triển của khối u. Cetuximab (Erbitux) và panitunumab (Vectibix) ức chế thụ thể đối với EGF, giai đoạn đầu tiên của một đường hướng về sự tăng sinh không kiểm soát được của các tế bào, GS Pierre Laurent-Puig, phụ trách đơn vị ung thư sinh học của bệnh viện Georges-Pompidou (Paris) đã giải thích như vậy. Nhưng hai loại thuốc sau không có hiệu quả nếu khối u có một biến dị của gène Kras, hoặc 1/3 các trường hợp. Vậy sự biến dị này được tìm kiếm một cách hệ thống. Y khoa cá thể hóa (médecine personnalisée) này sẽ được phát triển, được căn cứ đồng thời trên sự nghiên cứu các biến đổi di truyền của khối u, cho phép tiên đoán sự đáp ứng của nó, và về di truyền dược liệu (pharmacogénétique), cho phép thích ứng điều trị và độc tính của nó với các tham số của bệnh nhân.” Sự ức chế những đường tín hiệu tế bào (voies de signalisation cellulaire) khác (đặc biệt là MAP kinases, PI3kinases và IGF1) dường như cũng đáng quan tâm.

Ngày nay, khi bệnh được chẩn đoán vào giai đoạn đầu tiên hết, tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm đạt 94% : những con số tự chúng nói lên sự tán trợ cho công tác điều tra phát hiện.
(LE FIGARO 15/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 97 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 16/10/2008 )

8/ CHIẾN DỊCH PHÁT HIỆN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG CHO 16 TRIỆU NGƯỜI PHÁP

Viện quốc gia ung thư Pháp phát động một chiến dịch thông tin đại chúng.

16 triệu người Pháp tuổi từ 50 đến 74 tuổi sẽ nhận tại nhà trong những tháng sắp đến một lá thư khiến họ yêu cầu các bác sĩ gia đình tham gia vào chiến dịch phát hiện ung thư đại tràng.

Ung thư đại trực tràng là một trong những ung thư thầm lặng tăng sinh trong ruột của chúng ta mà không biểu hiện triệu chứng, ít nhất là lúc ban đầu. Đó thường là những polype, những cục bướu ở bề mặt của đại tràng, biến hoá, trở thành ung thư, và cuối cùng nếu không được chẩn đoán và điều trị, xâm nhập những mô chung quanh. Trên thế giới, mỗi năm có 437.000 người chết vì một ung thư đại tràng. Trong số những người này, có gần 100.000 người châu Âu, đàn ông và đàn bà, trẻ em và già cả : ung thư đại tràng chiếm 15% của tất cả các ung thư ác tính và ở Pháp, có 33.500 trường hợp mới được khám phá mỗi năm, kèm theo 16.000 trường hợp tử vong.

GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG 10%

Thế mà có hai phương tiện chiến lược để điều tra phát hiện kịp thời các khối u, mà viện quốc gia ung thư muốn đặt dưới sự sử dụng của người dân, thành hai thời kỳ. Trắc nghiệm đầu tiên là tìm kiếm máu ẩn (không có thể nhìn thấy được) trong phân (Hémoccult 2), được đề nghị một cách hệ thống cho những người từ 50 đến 74 tuổi, bằng thư gởi đến nhà. Những người này lấy hẹn với bác sĩ gia đình của họ để được thực hiện xét nghiệm và người thầy thuốc này sẽ gởi mẫu nghiệm đến các phòng xét nghiệm.

Nếu trắc nghiệm Hémoccult dương tính (hoặc 2% các trường hợp), một nội soi đại tràng (coloscopie: khám đại tràng bằng một hệ thống quang học dưới gây mê tổng quát) phải được thực hiện. Các con số cho thấy : đối với 100 xét nghiệm phân dương tính, nội soi đại tràng sẽ tìm thấy 5 đến 10 ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã cho thấy rằng nếu xét nhiệm Hémoccult được thực hiện trên một bộ phận quan trọng của dân chúng (ít nhất 50%), sự điều tra phát hiện sẽ hiệu quả làm giảm 15% tỷ lệ tử vong mà không làm biến đổi số những trường hợp mới. Ngày nay, 17 nước châu Âu đã bắt đầu thực hiện một chương trình điều tra phát hiện đại trà nhưng ở Trung tâm Quốc tế nghiên cứu về ung thư ở Lyon, người ta đánh giá rằng “chưa có nước nào thật sự đã thiết lập chương trình này trên toàn bộ lãnh thổ”. Ở Pháp, cần phải 10 triệu công dân chịu một điều tra phát hiện như vậy mới tránh được 1.500 tử vong mỗi năm. Nhưng không chắc chắn chút nào có thể đạt được mục tiêu đó. “Ở Nhật Bản, trên 120.000 trường hợp mới được phát hiện mỗi năm, chỉ có 6.500 trường hợp là chịu sự điều tra phát hiện đại chúng của một dân chúng rất có kỹ luật”,

“Nhưng sau hết, dầu tương đối không có hiệu quả, việc điều ta phát hiện đại chúng do Pháp đề nghị, đang được thực hiện trên căn bệnh này, và các người Pháp có thể tự mình phát hiện lấy bằng cách yêu cầu làm nội soi đại tràng. Kết quả sau cùng sẽ là phát hiện tốt hơn ở một giai đoạn sớm hơn và suy cho cùng, chính đó là điều chủ yếu”.
: (LE FIGARO 10/9/2008)


3/ NHÚC NHÍCH CỬ ĐỘNG LÀ TỐT CHO TIM, NHÚC NHÍCH CỬ ĐỘNG HƠN NỮA LẠI CÒN TỐT HƠN.

Tim và các mạch máu là những cơ quan đầu tiên được hưởng sự gia tăng của hoạt động vật lý. Lợi ích đã xuất hiện sau 2,5 giờ tập thể dục mỗi tuần. Những điều đạt được lại còn rõ rệt hơn nếu hoạt động vật lý tích cực hơn.

Đó là điều được tiết lộ bởi công trình nghiên cứu của Andrea Chromitek và các cộng sự viên (Havard Medical School, Boston, MA), được công bố trong Heartwire, và trình bày nhân hội nghị Dịch tễ học Bệnh Tim mạch và Phòng ngừa và Dinh dưỡng, Hoạt động vật lý, và Chuyển hóa 2210, ở San Francisco. Phân tích được căn cứ trên các dữ kiện liên quan đến 43.647 người đã tham gia vào Health Professionals Follow-Up Study. Các nhà nghiên cứu hướng sự chú ý vào hoạt động vật lý của những người tham dự, ngay lúc khởi đầu công trình nghiên cứu vào năm 1986, và sau đó mỗi 2 năm, cho đến năm 2004. Các dữ kiện đã xét đến số giờ hoạt động vật lý được thực hiện mỗi tuần và tương đương chuyển hóa (équivalent métabolique), là một thước đo sự tiêu thụ năng lượng (tiêu thụ năng lượng lúc gắng sức/tiêu thụ năng lượng lúc nghỉ ngơi). Đối với cùng một tương đương năng lượng, các nhà nghiên cứu đã có thể chứng thực một nguy cơ tim mạch thấp hơn nơi những người đã thực hiện những hoạt động vật lý mạnh hơn (chạy, đi xe đạp) so với nhóm chỉ thực hiện những hoạt động nhẹ (đi dạo). Ngoài ra, nguy cơ dường như giảm lúc số giờ tập luyện mỗi tuần gia tăng. Nguy cơ thấp nhất được quan sát nơi những người đàn ông đã thực hiện mỗi tuần 6 đến 7,9 giờ cố gắng vật lý cường độ mạnh.

Nguy cơ hơi cao hơn (nhưng không phải một cách đáng kể) nơi những người thực hiện những hoạt động mạnh trong hơn 8 giờ mỗi tuần.Vậy sự lo ngại những cố gắng mạnh mẽ có hại cho tim là không có căn cứ.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/3/2010)

4/ NHỮNG NGƯỜI CHA VÀ NGƯỜI MẸ CỦA VIÊN THUỐC NGỪA THAI.

Ludwig Haberlandt (1885-1932), nhà sinh lý học người Áo. Ông là người đầu tiên chứng minh rằng có thể làm cho một phụ nữ tạm thời vô sinh bằng cách cấp một hormone nữ. Vào năm 1919, ông ghép (implanter) các buồng trứng của thỏ cái thụ thai lên các thỏ cái không mang thai, làm cho chúng vô sinh trong nhiều tháng. Vào năm 1930, ông hiệu chính chế phẩm kích thích tố (préparation hormonale) infecunfin nhưng không nhận được trợ cấp để trắc nghiệm chế phẩm này. Ông tự tử.

Carl Djerassi (1923), nhà hóa học Áo-Mỹ. Vào năm 1951, Djerassi phát triển hormone tổng hợp nữ noréthindrone (hay noréthistérone), cộng tác với nhà hóa học Mễ tây cơ Luis E. Miramontes và nhà hóa học Hongrie George Rosenkraz. Tuy nhiên ông không phải là người đầu tiên thực hiện những nghiên cứu này. Thật vậy, chính nhà hóa học người Mỹ Russell Marker, năm 1940, phân lập progestérone từ củ từ (igname) Mễ tây cơ, một loại cây có củ ăn được. Noréthindrone là hormone tổng hợp nữ đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn sau khi chuyển vận qua hệ dạ dày-ruột. Djerassi không nhận thức rằng khám phá của ông cũng được sử dụng như thuốc ngừa thai uống (contraceptif oral).

Gregory Pincus (1903-1967), nhà sinh học Hoa Kỳ. Vào năm 1952,

Pincus và thầy thuốc phụ khoa John Rock bắt đầu nghiên cứu về progestérone. Nhà sinh học Hóa-Mỹ Min Chueh Chang đã khám phá ra rằng chế phẩm của Djerassi có thể ngăn trở sự rụng trứng và như thế có thể dùng làm thuốc ngừa thai. Pincus thực hiện những trắc nghiệm trên các phụ nữ ở Porto Rico vào năm 1956. Mẫu nghiệm của ông được pha trộn với một hormone nữ khác, oestrogène, nhằm sản xuất một viên thuốc phối hợp (pilule combinée). Ông được sự ủng hộ của BS Edris Rice-Wray. Ông này kết luận rằng Enovid mang lai một sự bảo vệ đáng tin cậy 1100% nhưng có quá nhiều tác dụng phụ. Piccus và Rock tiếp tục thí nghiệm và Enovid được thương mãi hóa từ năm 1957 như là thuốc chống lại những hành kinh đau đớn. Vào năm 1960, chính phủ Hoa Kỳ bật đèn xanh để thương mãi hóa Enovid như là thuốc ức chế sự rụng trứng. Vào ngày 23 tháng 7 năm 1960, viên thuốc ngừa thai đầu tiên được chính thức tung ra thị trường.

Ferdinand Peeters (1918-1998), thầy thuốc phụ khoa Bỉ. Vào năm 1959, cùng với các cộng sự viên của ông Marcel Van Roy và H.Oeyen, ông bắt đầu những trắc nghiệm lâm sàng trên SH 513, một chế phẩm có chất cơ bản là acétate de noréthistérone, được phát triển bởi hãng bào chế Đức Schering. Năm 1960, ông đi Berlin để trình bày những kết quả của công trình nghiên cứu của ông. Viên thuốc của Peeters cũng hiệu quả như viên thuốc của Pincus nhưng có liều lượng thấp hơn và không có các tác dụng phụ. Sau một loạt trắc nghiệm, hãng Schering thương mãi hóa viên thuốc của Peeters, đặt tên là Anovlar, bắt đầu từ 1/2/1961. Viên thuốc mà hàng triệu phụ nữ sẽ sử dụng là viên thuốc của một người Bỉ.

Margaret Sanger (1879-1966), người theo chủ nghĩa nữ quyền Hoa Kỳ.

Katharine McCormick (1875-1967), phụ nữ đòi quyền bầu cử Hoa Kỳ và là nhà từ thiện.

Kinh nghiệm có được lúc sống với những phụ nữ sống trong cảnh bần cùng trong khu phố Lower East Side ở Nữu Ước làm Margaret Sanger ý thức được sự cần thiết phải tìm cho được một phương tiện ngừa thai có hiệu quả. Vào năm 1951, bà gặp Gregory Pincus nhân một bữa ăn tối. Nhờ ông ta bà có được một số tiền nơi Planned Parenthood Federation of American. Vào năm 1953, bà nhận được sự ủng hộ của Katharine McCormick, người phụ nữ giàu có và là nhà từ thiện, đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ. Bà đã cấp 2 triệu dollars mà Pincus và Rock cần đến để phát triển Enovid.
(VIF EXPRESS 9/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 98 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/10/2008 )

1/ CÁC PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI QUA THỜI GIAN

Tùy theo thời kỳ và nơi chốn, ước muốn giới hạn sinh đẻ được thể hiện vì những lý do dân số, đạo đức, thẩm mỹ hay một cách giản đơn là để tách sự khoái lạc với sự sinh sản. Dầu thế nào đi nữa, trong bất cứ thời kỳ nào và trong tất các các nền văn minh, sự ngừa thai là một bộ phận của cuộc sống hàng ngày và tạo nên một mối quan tâm quan trọng. Do đó con người đã tưởng tượng ra rất nhiều phương pháp để cứu chữa những hậu quả không được mong muốn của động tác giao hợp. Từ những phương thức êm ái nhất đến những phương cách thô bạo nhất, sau đây là một sơ lược những phương tiện ngừa thai ngày xưa.

Những tài liệu bắt đầu có từ hơn 4000 năm chỉ rõ rằng những người cổ Ai Cập sử dụng các viên đạn âm đạo (suppositoires vaginaux), được cấu tạo bởi bột men (pâte de levain), mật hay phân cá sấu để bảo vệ chống lại một thai nghén không được mong muốn.Tuy nhiên, người ta xác nhận rằng các sản phẩm này phải được đưa vào trong âm đạo trước khi giao hợp, điều này tạo nên một sự kiện đáng lưu ý vào thời kỳ đó, nhưng tiếc thay rất mau bị chóng quên vì lẽ hầu hết các phương pháp về sau này đều được quy định dùng sau khi sinh. Để bảo vệ chống lại các bệnh phong tình, các người lính Ai cập che phủ bộ phận sinh dục của họ bằng ruột cừu và như thế cho ra đời những túi dương vật (préservatif) đầu tiên, 3000 năm trước công nguyên.

Những phương pháp khác còn được mô tả trong papyrus de Berlin (1.300 trước công nguyên), trong đó người ta nhận thấy những chỉ dẫn về một sự hun khói (fumigation) kết hợp với một hỗn hợp gồm có mỡ, cỏ và bia ngọt để uống vào lúc thức dậy, suốt trong 4 ngày ! Có lẽ hiệu quả hơn : những phụ nữ Ai Cập không do dự đưa vào trong âm đạo của họ một nửa của quả trái cây được khoét rỗng để che phủ cổ tử cung, mặt khác, dạng mũ cổ tử cung (cape cervicale) này có lẽ đã được chính Cléopâtre sử dụng.

LÀM MAU LÊN CHỨ !

Trong thời cổ Hy lạp, các thầy thuốc cho toa các công thức pha chế phát xuất từ cổ truyền dân gian. Soranos d’Ephèse và các đồ đệ chủ trương, nơi những phụ nữ quá trẻ hay có cuộc sống bị đe dọa nếu có thai, không được làm sẩy thai, mà phải sử dụng những phương pháp nhằm không để cho tinh dịch của người đàn ông đi vào trong tử cung. Để được như vậy họ cho những lời khuyên rất chính xác như đưa vào trong tử cung những thuốc đạn (suppositoire) chứa những sản phẩm có tác dụng làm thắt chặt cổ tử cung (nghệ, acacia, mandragore...) hoặc đóng lối vào của cổ tử cung với các nút (tampon) bằng len. Họ cũng khuyên các phụ nữ đứng dậy ngay sau mỗi lần giao hợp, hách xì, bước, nhảy, làm những cử động thô bạo và đừng do dự khi phải bước lên các xe bò (tình trạng đường xá thời đó rất thuận lợi cho những rung chuyển !). Nếu, mặc dầu những lời khuyên này, tinh trùng vẫn đi vào tử cung, Soranos chủ trương trích máu (saignée) nhưng thường tránh làm sẩy thai. Các loại thuốc sắc (tisanes) khác nhau còn được pha chế và tiêu thụ vì những tính chất ngừa thai. Trong số những thuốc sắc này, chúng ta hãy kể dầu olive, dây thường xuân (lierre), cây liễu, cây phong (peuplier), cây thông tuyết (cèdre), bạc hà cay (menthe poivrée), cây đào gai (aubépine). Việc kiêng nhịn (abstinence) trong những thời kỳ sinh sản dĩ nhiên được khuyên nhủ mặc dầu bây giờ chúng ta biết rằng tiền nhân hiểu lầm về chu kỳ kinh nguyệt. Những người La mã sử dụng cùng những phương thức, đồng thời nhờ đến thụt rửa âm đạo sau giao hợp (douche vaginale postcoitale). Để làm được điều đó, các nhà quý tộc phải nhờ đến một người nô lệ sau mỗi lần giao hợp. Họ cũng chế tạo một loại túi dương vật được cấu tạo bởi ruột và bàng quang động vật. Điều kỳ lạ là thời Thượng Cổ người ta không đề cập đến phương pháp rút dương vật (retrait), mặc dầu thoạt nhìn điều này rất là hiển nhiên. Tuy nhiên phương pháp rút dương vật này được ghi chú trong Thánh kinh với câu chuyện Oran, trong Talmud và nơi những người musulman.

TRIỆT ĐỂ HƠN : GIẾT CON MỚI ĐẺ

Dĩ nhiên những người thời xưa đã không luôn luôn có thể làm chủ được việc sinh đẻ như họ mong muốn, do đó họ đã dùng một phương pháp triệt để hơn nhiều, đó là giết con mới đẻ (infanticide) ! Đó là chuyện thường xảy ra ở thời Thượng cổ, là thời người ta ít coi trọng cuộc sống của các trẻ em. Dầu đó là Hippocrate, Soranos hay Platon, tất cả đều nhất trí xét đoán “ những trẻ nào nên được nuôi nấng dạy dỗ ” . Hãy nhắc lại rằng, ở Rome người cha có quyền sanh sát đối với các con mình và tuyên bố, vài ngày sau khi sinh, ông ta sẽ giữ lại để nuôi dưỡng trẻ vừa mới được sinh ra đời hay không. Chính những người Do thái có lẽ quyết định không thực hiện việc giết trẻ con sau khi sinh nữa.Vào thế kỷ thứ VI, Mahomet cấm điều đó trong khi ở Châu Âu việc này được hủy bỏ bởi Charlemagne vào thế kỷ thứ VIII. Vào thời Trung Cổ, còn những phương pháp khác xuất hiện và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nhưng, nếu người ta loại trừ những dây nịt tiết trinh (ceintures de chasteté), thì phương pháp ngừa thai trong thời kỳ này không tiến triển được bao nhiêu vì bị kềm hãm bởi Giáo Hội Cơ Đốc. Thật vậy, ngay vào thời kỳ đầu của đạo Cơ Đốc, suốt trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội căn cứ hôn nhân trên sự sinh đẻ và lên án sự khoái lạc và sự ngừa thai. Về sự việc này ít có văn bản chỉ cho chúng ta thấy dân chúng thời Trung cổ kiểm soát sinh sản như thế nào, nếu họ dám làm ! Không nên quên rằng vào thời kỳ này, mọi phương thức ngừa thai, gồm cả rút dương vật (retrait), đều được xem như là một tội phạm và sẽ bị trừng trị. Vậy chính ở Châu Á là nơi mà các túi dương vật (préservatifs) tiến triển. Những túi này được chế tạo bằng giấy lụa dầu (papier de soie huilée) ở Trung Quốc và bằng vảy rùa (écaille de tortue) hay bằng da thuộc (cuir) ở Nhật bản, nơi đây túi dương vật mang tên Kabuta-gata.

TÚI DƯƠNG VẬT THỜI TRANG

Ở châu Âu, phải đợi đến thế kỷ XVI và sự bùng nổ của bệnh giang mai thì các lính trận mới chịu bảo vệ lấy mình. Nhà cơ thể học và giải phẫu học người Ý Gabriel Fallope phát minh một loại bao bằng vải nhẹ, được tẩm một thứ nước sắc gồm có cỏ và nước miếng, mà ông gọi là túi dương vật (sac pénien).

Vào thế kỷ XVII, túi dương vật được làm bằng lụa hoặc nhung và được trang trí bởi một đai màu giữ nó vào vị trí. Từ nay túi dương vật này là một phần của hoạt động sinh dục và trở nên một vật phụ thời trang của những nhà quý tộc và ngay cả của vua chúa.

CHANH KHOÉT RỖNG HAY TÚI DƯƠNG VẬT?

Vào thế kỷ sau, người Venise Giacomo Casanova, nổi tiếng về những tình nhân, đã quảng cáo về chanh được khoét rỗng (citron évidé) và về túi dương vật, hai phương pháp mà ông sử dụng rộng rãi để chống lại những hậu quả của cuộc đời “sôi động” của ông. Chính Casanova đã đặt tên “capote anglaise” (chiếc áo khoác Anh) cho cái khúc ruột (bout de boyau) này, lúc nói rằng “tôi phải giam mình trong một khúc da chết (un bout de peau morte) để chứng tỏ rằng tôi đúng là còn sống”. Nữ hầu tước Sévigné đã định nghĩa túi dương vật như sau: “Đó là một áo giáp chống khoái lạc và một mạng nhện chống nguy hiểm”. Đúng là bao dương vật chưa tiện nghi lắm cũng như chưa được tin cậy lắm. Rửa âm đạo (douche vaginale) với alun, sulfate kẽm, muối Eratus, dấm và chlorure de soude, thời đó được sử dụng nhưng luôn luôn sau động tác giao hợp. Những ống tiêm đầu tiên và các dụng cụ để tiêm âm đạo xuất hiện. Cần ghi nhận rằng chậu rửa đít (bidet) xuất hiện ở Pháp vào thời đó, phần lớn được dùng để rửa chân...

ÁO KHOÁC BẢO ĐẢM 5 NĂM.

Việc sử dụng và sự thương mãi của túi dương vật được hợp pháp hóa sau Cách mạng Pháp. Vào giữa thế kỷ XIX, hãng Goodyear Tire and Rubber phát minh túi dương vật bằng cao su, có thể rửa được và được bảo đảm năm năm! Như thế, sau mỗi lần sử dụng, áo choàng (capote) được rửa, sấy khô và rắc tan. Người ta cũng gọi túi dương vật là “đối thủ bảo vệ”, “túi khoái lạc”. Năm 1880, túi dương vật bằng latex đầu tiên được sản xuất và những tiến bộ đáng kể về màng ngăn (diaphragme) xuất hiện. Cùng năm, Walter John Rendell, dược sĩ Luân Đôn, hiệu chính một vòng đỡ (pessaire), được cấu tạo bởi quinine và bơ cacao, dễ tan ở đáy âm đạo. Phương pháp này giành được thành công nhanh chóng và được phân phát khắp toàn thế giới. Vào đầu thế kỷ XX, nhiều phương pháp ngừa thai xuất hiện. Chúng ta có thể kể phương pháp Ogino, mang tên thầy thuốc người Nhật đã phát minh ra nó. Sự kiêng không giao hợp được khuyên giữa ngày thứ 12 và 16 của chu kỳ kinh nguyệt và phương pháp này đã sinh ra hàng ngàn em bé Ogino ! Còn phương pháp Knauss nhằm định ngày phóng noãn bằng cách theo dõi nhiệt độ, thì lại tỏ ra có hiệu quả đối với những người muốn mang thai hơn là đối với những người muốn được bảo vệ. Sau đó là sự xuất hiện của vòng ngừa thai (stérilet) và thuốc ngừa thai (pilule contraceptive). Vào năm 1961, túi dương vật được bôi trơn (préservatif lubrifié) đầu tiên được đưa ra thị trường.

Còn việc chống thụ thai ở nam giới thì sao? Có chứ, ngoài túi dương vật, đàn ông cũng tham gia kiểm soát sinh đẻ từ những năm 70! Tuy nhiên từ slip làm nóng đến các dược phẩm hormone mới, còn cần phải thực hiện những tiến bộ quan trọng. Suốt trong nhiều thế kỷ, các phương pháp ngừa thai và phá thai đã dựa trên những kiến thức thường sai lầm về cơ thể học và sinh lý học! Dĩ nhiên, trước khi nghĩ đến sự ngừa thai... phải tự hỏi về sự thụ thai!
: (SEMPER 5/2008)

Thời Sự Y Học Số 143 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/09/2009 )

5/ CHẲNG BAO LÂU NỮA VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) SẼ XUẤT HIỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG.

CONTRACEPTION . Viên thuốc này, theo nguyên tắc của viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau (pilule du lendemain), có thể uống trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, và không chỉ uống vào ngày hôm sau.

Sau viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau là viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain). Một viên thuốc ngừa thai cấp cứu mới, được sử dụng trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, theo dự kiến sẽ xuất hiện trong các hiệu thuốc của Pháp từ nay đến cuối tháng chín. Được đặt tên là EllaOne, viên thuốc được thương mãi hóa bởi HRA Pharma, với liều duy nhất, đã được Châu Âu cấp giấy phép cho lưu hành vào tháng năm, và chờ đợi đèn xanh cuối cùng của Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA : Agence européenne du médicament) ngày 24 tháng chín. Sau đó thuốc sẽ được thương mãi hóa ở Pháp rồi rất nhanh ở Anh và Đức.

EllaOne cũng sẽ là đối tượng của nhiều bài thuyết trình khoa học ở hội nghị phụ khoa châu Âu, diễn ra vừa qua ở Rome. Theo những công trình nghiên cứu lâm sàng, hiệu quả của nó sẽ là khoảng 95%, hằng định trong 5 ngày, hoặc tương ứng với thời gian sống của các tinh trùng. Trong số 1.241 phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu chính cho đến cùng, 26 (hoặc 2,1%) đã bị có thai. Con số này là dưới tỷ lệ 5,5% của các phụ nữ sẽ có thể bị mang thai nếu họ đã không sử dụng một phương pháp ngừa thai nào. ElleOne do đó tránh được khoảng 3/5 các thai nghén được chờ đợi ”, EMEA đã xác nhận như vậy. Về các tác dụng phụ, thường đó là những cơn đau bụng hay những rối loạn kinh kỳ.

“ HIỆU QUẢ LÂU HƠN ”

Tính hiệu quả của levonorgestrel (Norlevo), viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) được thương mãi hóa vào năm 1999, là không thay đổi trong 24 giờ đầu, nhưng chỉ còn 60% sau 48 đến 72 giờ. Mặt khác việc uống thuốc được khuyên trong 12 giờ đầu nếu có thể được, chậm nhất là 3 ngày sau giao hợp không hoặc kém được bảo vệ.

Theo phòng bào chế HRA Pharma, sự tương phản về hiệu năng giữa hai dược phẩm được giải thích bởi sự khác nhau về cách tác dụng. “ Levonorgestrel là một progestatif, nó ức chế sự phóng noãn nhưng không còn tác dụng nữa kể từ lúc cao điểm của sự tiết LH (pic de LH : sự tiết hormone làm phát khởi sự phóng noãn), Luc Massart giám đốc của HRA Pharma đã giải thích như vậy. EllaOne, mà hoạt chất là ulipristal acetate, là một chất điều biến đặc hiệu (un modulateur spécifique) của các thụ thể đối với progertérone (SPRM). Nó cũng ức chế sự phóng noãn, nhưng vẫn có hiệu quá lâu hơn, cho đến khi vỡ các noãn nang (rupture folliculaire). Thế mà đó lại là thời kỳ có nhiều giao hợp nhất.” EllaOne cũng có thể gây nên những biến đổi ở niêm mạc tử cung, mặt khác EMEA đã chỉ rõ như vậy. Theo hãng bào chế HRA Pharma, tính chất này mang lại hy vọng về những lợi ích trong một vài bệnh của tử cung. “ Các thử nghiệm đang được tiến hành trong bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose) và các u xơ tử cung (fibromes utérins) ”, Luc Massart lại còn ghi nhận như vậy.

Tuy nhiên vài hiệp hội cơ đốc giáo lo ngại về việc xuất hiện của dược phẩm mới này, mà về phương diện hóa học họ xem là giống với viên thuốc làm sẩy thai RU486. Mặt khác, các công trình nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng RU486, chất đối kháng của progestérone, cũng có hiệu quả như là thuốc ngừa thai cấp cứu, mặc dầu nó không được cho phép luu hành trên thị trường trong mục đích này.

“ MỘT TIẾN BỘ THẬT SỰ ”

Đối với Bs Elisabeth Anbeny, thầy thuốc phụ khoa và chủ tịch của Hiệp hội ngừa thai của Pháp, thì không có một chút mập mờ nào. “ EllaOne ngăn cản sự phóng noãn, trong khi RU486 chống lai sự làm tổ của trứng ở tử cung, bà nhấn mạnh như thế. Đó là một tiến bộ thật sự so với Norlevo, mà chúng ta đã chứng kiến những thất bại không thể bàn cãi vào đâu được. ” Theo bà vẫn còn tồn tại hai vấn đề. Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) sẽ chỉ có thể được cấp với đơn thuốc của BS, trái với Norlevo, được bán tự do. Về giá cả, viên thuốc mới này hẳn phải đắc hơn nhiều so với viên thuốc của ngày hôm sau đang được sử dụng hiện nay (giá khoảng 7,5 Euro).

Mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc ngừa thai cấp cứu (Norlevo và générique) được bán ở Pháp. Điều này không nghĩa lý gì, so với 25 triệu tình huống nguy cơ mang thai (quên uống thuốc, tai biến préservatif..) mà các công dân gặp phải mỗi năm. Và không đáng kể gì, so với 200.000 sẩy thai mỗi năm trong đất nước của chúng ta.
(LE FIGARO 8/9/2009)

Thời Sự Y Học Số 146 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/11/2009 )

4/ NGỪA THAI CẤP CỨU : VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) VÀ SAU ĐÓ...

Thuốc ngừa thai cấp cứu phụ nữ, dùng trong 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ, “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain), như Kristina Gemzell (Thụy Điển) đã đặt tên như thế nhân Hội nghị lần thứ 8 của Hiệp hội Phụ Khoa Châu Âu, được dùng để thay thế lévonorgestrel (LNG), điều trị chuẩn cho đến ngày hôm nay, có hiệu quả nhưng với một hoạt tính giảm dần trong 72 giờ. Thật vậy, acétate d’ulipristal (UPA) có nhiều ưu điểm : an toàn hơn lévonorgestrel, thuốc ngừa thai mới này ngăn cản một cách hoàn toàn hơn sự rụng trứng và chỉ có ít các tác dụng phụ.

Acétate d’ulipristal (UPA), chất điều biến chọn lọc (modulateur sélectif) của các thụ thể của progestérone, hoạt tính bằng đường miệng, tác dụng bằng cách liên kết với một ái lực rất mạnh với các thụ thể của progestérone người. Cơ chế tác dụng nguyên phát có thể là một sự ức chế hay một sự làm chậm lại sự rụng trứng. Sau khi cho bằng đường miệng một liều duy nhất 30 mg, UPA nhanh chóng được hấp thụ và đỉnh cao nồng độ huyết thanh đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống, đồng thời có một thời gia bán hủy dài (32,4 giờ), góp phần duy trì một hoạt tính không thay đổi trong 120 giờ.

Sự ngừa thai cấp cứu bằng hormone, được sử dụng cho đến nay (1,5 mg lévonorgestrel), thường được gọi là “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau ” (pilule du lendemain), có hiệu quả giảm một cách đáng kể ngay ngày thứ ba (giữa 48 và 72 giờ chỉ còn 58% hiệu quả).

Những công trình nghiên cứu lâm sàng được tiến hành với UPA, ở Bắc Mỹ và châu Âu, nơi hơn 4.000 phụ nữ, đã cho thấy một hiệu quả tăng cao khoảng 95%. Hiệu quả này không thay đổi suốt trong 5 ngày, đúng đắn với thời gian sống còn của một tinh trùng trong tử cung, trái với điều đã được quan sát lúc sử dụng LNG (lévonorgestrel) (hoạt động 72 giờ, giảm với thời gian từ 95% đến 58% giữa 0-24 giờ và 48-72 giờ). UPA có một độ dung nạp tốt, có thể so sánh với lévonogestrel.

THỰC TIỄN.
  • Uống một viên thuốc trong 120 giờ (5 ngày) theo sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ.
  • UPA vẫn rất hiệu quả cho đến ngày thứ 5 sau một giao hợp không được bảo vệ.
  • Thuốc có thể được uống vào bất cứ lúc nào của chu kỳ kinh nguyệt.
  • Một thai nghén phải được loại trừ trước khi dùng thuốc.
  • Không nên cho bú trong suốt 36 giờ sau khi uống UPA, do tính chất thích mỡ của thuốc.
  • Trong trường hợp mửa trong 3 giờ sau khi uống, phải uống một viên thứ hai.
  • Hầu hết các phụ nữ (80,8%) có kinh vào lúc được dự kiến hay trong thời hạn 7 ngày quanh thời kỳ này (6,1% có kinh 7 ngày sớm hơn và 13,1% 7 ngày chậm hơn). Tuy nhiên, nếu lévonorgestrel (LNG) làm ngắn chu kỳ 2,1 ngày, UPA trung bình kéo dài nó 2,6 ngày.
  • Không có một thay đổi đáng kể nào đã được nhận thấy về thời gian và lưu lượng của kinh kỳ.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/10/2009)

Thời Sự Y Học Số 154 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 28/12/2009 )

1/ MỘT ÍT LỊCH SỬ VỀ SỰ CHỐNG THỤ THAI.

Lịch sử của viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) tất nhiên liên kết với lịch sử của sự chống thụ thai (contraception). Tài liệu xưa cổ nhất bàn về sự chống thụ thai, papyrus để Kahun, đã có cách nay 4000 năm và mô tả các thuốc chống thụ thai với chất căn bản là bột men (levain), được sử dụng bởi các phụ nữ trong thời Ai Cập cổ đại. Sau đó, suốt trong nhiều thế kỷ, các túi dương vật (préservatif) bằng da cừu, dê, rắn,v...v đã được sử dụng trong nhiều xã hội, nhất là ở Pháp.

Kỷ nguyên chống thụ thai hiện đại đã bắt đầu với những nghiên cứu khoa học về chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ. Chính vào năm 1901, nhà sinh lý học người Áo Ludwig Haberlandt (1885-1932) đã thực hiện một khám phá chủ yếu : ông đã chứng minh rằng kinh nguyệt phụ thuộc vào các hormone (các hormone não bộ kích thích nang trứng FSH và thể vàng (LH) và những hormone buồng trứng oestradiol và progestérone), được sản xuất bởi não bộ và các buồng trứng. Vào năm 1921, nhà nghiên cứu này đã cho thấy rằng, việc tiêm các trích chất buồng trứng của thỏ có thai cho phép làm tuyệt sinh sản tạm thời, bằng cách ngăn cản hay làm chậm lại sự rụng trứng của người phụ nữ. Điều này đã khiến nhà nghiên cứu chế ra thuốc chống thụ thai bằng hormone (contraceptif hormonal) đầu tiên dưới dạng tiêm chích, chứa các hormone phát xuất từ sự thanh lọc các trích chất của buồng trứng. Những thuốc chống thụ thai đầu tiên này là quá đắt nên không thể được thương mãi hóa với quy mô lớn...

CÁC HORMONE TỔNG HỢP.

Chính vì thế mà Margaret Sanger, nữ y tá và người sáng lập kế hoạch hóa gia đình ở Nữu Ước, và Katherine Dexter McCormick, nhà sinh vật học nữ Hoa Kỳ, đã thuyết phục nhà sinh vật học và thầy thuốc Hoa Kỳ Gregory Pincus (1903-1967) phát triển một viên thuốc dễ phổ cập hơn. Chính Pincus đã nghĩ đến việc cho progestérone và oestradiol để phong bế sự rụng trứng. Ông đã có ý nghĩ đó sau khi đã thực hiện, một cách nhân tạo, sự ngăn cản rụng trứng bằng cách cho các động vật cái hai chất progestérone và oestradiol này.

Viên thuốc chống thụ thai có chất căn bản hormone tổng hợp đầu tiên đã có từ năm 1955. Vào năm 1956, viên thuốc này đã được trắc nghiệm trên 250 phụ nữ cư ngụ trong một vùng ngoại ô nghèo của Porto , trước khi Cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ cho phép thương mãi hóa nó vào tháng năm 1960.

Nếu ở Đức, viên thuốc chống thụ thai đầu tiên được phát hành ngay năm 1961 bởi hãng dược phẩm Đức Schering, thì ở Pháp, phải đợi đến năm 1967 viên thuốc này mới được bán ở các hiệu thuốc. Chính đạo luật của dân biểu Lucien Neuwirth đã bật đèn xanh để đưa thuốc bán ra thị trường, bãi bỏ đạo luật 30 tháng 7 năm 1920, khi đạo luật này, nhằm chấn hưng dân số, đã cấm mọi biện pháp chống thụ thai. Từ đó, các thành phần tổng hợp và các liều lượng của viên thuốc chống thụ thai đã thay đổi, bởi vì tất cả các phụ nữ không phản ứng như nhau đối với sự sử dụng loại thuốc này : cùng một viên thuốc chống thụ thai, vài phụ nữ cảm thấy nhiều phản ứng phụ trong khi những phụ nữ khác lại không cảm thấy một phản ứng nào.

LÀM GIẢM CÁC TRƯỜNG HỢP SẨY THAI.

Vào năm 1975, hãng Schering đã đưa ra thị trường “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilules minidosées) đầu tiên (cũng được gọi là “ minipilule ” ; 20 đến 30 microgramme oestrogène, thay vì 50). Những viên thuốc này đã dần dần thay thế những viên thuốc chống thụ thai có liều lượng mạnh, được gọi là những “ viên thuốc liều lượng bình thường ” (pilules normodosées), chứa các hormone tổng hợp, progestérone đơn độc hay kết hợp với oestrogène. Ưu điểm của “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilule minidosée) : thuốc có ít những tác dụng phụ hơn (lên cân, ứ máu ở vú, nguy cơ ung thư vú, ung thư cổ tử cung...).

Ngày nay, mỗi ngày có hơn 110 triệu phụ nữ dùng thuốc chống thụ thai thuộc loại này (pilules minidosées). Còn về viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), “ Norlevo ”, thuốc chống thụ thai này đã được đưa ra thị trường bởi hãng bào chế HRA Pharma ở Pháp (quốc gia đầu tiên cho phép lưu hành) vào tháng sáu 1999. Sự sử dụng thuốc này đã được dân chủ hóa bắt đầu từ năm 2000, khi Ségolène Royal, khi đó là thứ trưởng Bộ Giáo dục, đã mang lại cho nước Pháp đạo luật 13/12/2000, liên quan đến sự chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence). Đạo luật quy định rằng các thuốc chống thụ thai cấp cứu, vì đã được chứng tỏ về mặt an toàn, nên “ không phải cần toa bác sĩ ” nữa. Ngoài ra, bản văn của đạo luật này chỉ rõ rằng, các thuốc chống thụ thai cấp cứu (contraceptifs d’urgence) có thể được phát miễn phí “ cho các các thiếu nữ vị thành niên, mong muốn được giữ bí mật, trong các hiệu thuốc hay, trong trường hợp đặc biệt, bởi một nữ y tá, trong các trường học đệ nhị cấp ”, Mục tiêu của chính quyền lúc đó là để giảm các trường hợp sẩy thai. Đó là lý do tại sao từ đó viên thuốc của ngày hôm sau được bán tự do.

Đối với viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) EllaOne, Ủy ban châu Âu đã đồng ý cho phép để đưa ra thị trường vào tháng năm 2009. Sau đó viên thuốc bé nhỏ màu trắng này đã được trình bày, dành riêng cho thế giới, tại Hội Nghị Châu Âu lần thứ 8 của Hiệp Hội Phụ Khoa, được tổ chức ở Rome từ 10 đến 13 tháng 9. Từ 24/9, bởi vì Cơ quan các dược phẩm của Châu Âu đã bật đèn xanh cho phép đưa thuốc này ra thị trường, nên người ta có thể mua nó với toa bác sĩ nơi các hiệu thuốc ở Pháp, Đức và Anh. Trong tương lai, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau, viên thuốc của ngày hôm sau nữa sẽ được bán tự do, sau khi thuốc đã được chứng tỏ về mặt an toàn.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

2/ VIÊN THUỐC CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA.

Đó là một cuộc cách mạng nhỏ về chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence) : mười năm sau khi tung ra thị trường viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), cho phép tránh có thai ngoài ý muốn sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ (vỡ túi dương vật, quên uống thuốc), giờ đây là “ viên thuốc của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain). Ở Pháp EllaOne đã được bán từ cuối tháng chín : viên thuốc màu trắng 30 mg có tác dụng cho đến 5 ngày sau giao hợp, với một tỷ lệ hiệu quả không bị mang thai trung bình hơn 98%. Nhưng, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau (hay Norlevo), tính hiệu quả này giảm dần với thời gian.

THUỐC NGỪA THAI CẤP CỨU.

Cho phép chống lại có thai ngoài ý muốn và do đó chống lại sẩy thai (200.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp), sự chống thụ thai cấp cứu cho đến nay được thực hiện dưới dạng Norlevo trong nhiều nước trên thế giới : Nam Phi, Algérie, Anh, Bỉ, Pháp, Israel, Maroc, Mễ tây Cơ...và từ 22/4/2009 ở Hoa Kỳ đối với những người trên 17 tuổi ! Không nên lẫn lộn giữa sự chống thụ thai cấp cứu, cho phép tránh bị mang thai, do đó được sử dụng khi có một xét nghiệm thai nghén dương tính, với viên thuốc làm sẩy thai (pilule abortive) RU 486, được đưa vào Pháp năm 1988 và có thể sử dụng trong trường hợp có thai được xác nhận để gây nên sẩy thai...

Ở Pháp, mỗi năm, cứ 3 phụ nữ có một bị nguy cơ có thai ngoài ý muốn. Số lượng lý thuyết của các giao hợp có nguy cơ liên kết với việc quên uống thuốc được ước tính không dưới 22 triệu mỗi năm. Và mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc chống thụ thai cấp cứu được bán ra.

Một cách cụ thể, hoạt chất của EllaOne, một phân tử tổng hợp được gọi là “ ulipristal acétate ”, gắn vào các thụ thể của hormone sinh dục progestérone, nơi não bộ và các buồng trứng. Như thế, nó ngăn cản các thụ thể này kích thích sản xuất các protéine (đặc biệt là hormone “ LH ”), đóng một vai trò trong việc chương trình hóa của sự rụng trứng và sự chuẩn bị niêm mạc tử cung để tiếp nhận trứng thụ tinh. Phân tử “ levonorgestrel ”, được chứa trong viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) và các progestatifs của viên thuốc chống thụ thai, đều có cùng cơ chế hoạt động như vậy. Nhưng nhờ cấu trúc phân tử đặc biệt, gây một sự tương tác khác với thụ thể của progestérone, nên EllaOne, trái với Norlevo và viên thuốc ngừa thai, tác dụng ngay cả khi quá trình rụng trứng đã được khởi động.

CẦN ĐƠN THUỐC BÁC SĨ.

Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) chỉ được cấp với toa thuốc của bác sĩ : một biện pháp an toàn đối với tất cả các loại thuốc mới, trước khi được bán tự do, phải chứng tỏ tính an toàn trên một số lượng lớn các bệnh nhân. Được bào chế bởi hãng HRA Pharma (cũng sản xuất Norlevo), EllaOne (viên thuốc của ngày hôm sau nữa) giá đắc hơn viên thuốc của ngày hôm sau (Norlevo) : gần 50 euro thay vì 7,50 euro. Vào lúc Norlevo được đưa ra thị trường vào năm 1999, hoạt chất của EllaOne tung đã được chế tạo bởi viện dược phẩm Hoa Kỳ, Research Triangle Institute. Nhưng đã phải cần 10 năm để hãng HRA Pharma, sau khi được các quyền thế giới về thuốc này, mới thực hiện tốt một số tối thiểu các công trình nghiên cứu về tính hiệu quả và mức độ an toàn của sản phẩm trên người. EllaOne đã được trắc nghiệm trên 4000 phụ nữ khi những người này đòi hỏi một ngừa thai cấp cứu giữa 2 và 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ hay được bảo vệ kém. Kết quả : chỉ 1,6% là có thai. Vào lúc này, HRA Pharma không dự kiến loại thuốc ngừa thai cấp cứu hiệu quả hơn, nhưng suy nghĩ đến khả năng sử dụng hoạt chất của EllaOne để chống lại một vài bệnh tật.

VÀ NGÀY MAI ?

Theo Philippe Bouchard, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết của bệnh viện Saint-Antoine(PARIS), làm việc với nhiều hãng dược phẩm về sự chống thụ thai. “ Vào lúc này, không có những công trình nghiên cứu về một thuốc chống thụ thai cấp cứu hiệu năng hơn EllaOne ”. Ngược lại, nhà chế tạo thuốc EllaOne cố gắng xác định xem chất hoạt hóa của viên thuốc ngừa thai này (ulipristal acétate) có thể có hiệu quả chống lại vài bệnh của phụ nữ hay không, mà vài nghiên cứu đầu tiên trên động vật hay người cho phép nghĩ như vậy. Đặc biệt đó là trường hợp u xơ tử cung (fibrome). Khối u này, phát triển từ cơ của tử cung, thường là hiền tính, nhưng đôi khi nó có những triệu chứng rất bất lợi : gây bệnh cho 20 đến 40% các phụ nữ từ 30 đến 45 tuổi, căn bệnh này có thể gây nên những kinh nguyệt thường xuyên và nhiều, các cơn đau vùng hố chậu, đau bụng quặn, trướng bụng, thậm chí những vấn đề về khả năng sinh đẻ. Đến nay, điều trị u xơ tử cụng có thể cần đến phẫu thuật cắt bỏ, một can thiệp ngoại khoa nặng nề, đòi hỏi nhập viện nhiều ngày.

MỘT HOẠT CHẤT RẤT HOẠT TÍNH.

Thế mà các công trình nghiên cứu đầu tiên trên người đã cho thấy rằng hoạt chất của EllaOne có thể “ làm tan ” các khối u xơ tử cung. Do đó có thể tưởng tượng rằng một ngày nào đó có thể thay thế phẫu thuật nặng nề cắt bỏ u xơ bằng uống một viên thuốc đơn thuần ? Các kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi nhưng cần ít nhất 4 năm nghiên cứu để xác nhận chúng.

Căn bệnh khác có thể một ngày nào đó được điều trị bằng viên thuốc của ngày hôm sau nữa : ung thư vú.

Tuy nhiên các nghiên cứu đến nay đã không vượt qua giai đoạn thí nghiệm trên động vật. Viên thuốc chống thụ thai này cũng có thể hiệu quả chống lại bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose), một bệnh phụ khoa tiến triển, gây bệnh cho 10 đến 15% các phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ, và được biểu hiện bởi những cơn đau vùng chậu dữ dội, ra nhiều kinh kỳ, và ngay cả có thể dẫn đến vô sinh. Sau cùng, hoạt chất của EllaOne có thể dùng để điều chế một thuốc chống thụ thai chính quy. Nhưng lại nữa, không có thông tin chính xác nào được đưa ra , bí mật công nghiệp buộc phải thế.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)


5/ MỘT PHƯƠNG THUỐC TRUNG HOA CHỐNG LẠI NHỮNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.

Được trắc nghiệm cách nay khoảng một chục năm ở Châu Á trên các nạn nhân bị tai biến mạch máu não, một hợp chất của dược điển Trung Hoa làm quan tâm giới nghiên cứu y học Phương Tây để điều trị những bệnh nhân đã bị bệnh này. Cocktail, có tên gọi Danqi Piantan Jiaonang, được bào chế từ 9 hợp chất có nguồn gốc thực vật và 5 có nguồn gốc động vật. Mặc dầu những kết quả đầy hứa hẹn ở Trung Hoa và ở Đông Nam Á, cocktail này phải được đánh giá trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn ở tầm cỡ quốc tế. Nhất là cơ chế phân tử của thuốc này vẫn cần phải được làm sáng tỏ. Đó là điều vừa được trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm dược lý của đại học Nice. Các chú chuột đã nhận dược phẩm này ba giờ sau một tai biến mạch máu não. 30 giờ sau, nhồi máu não đã thu giảm, và các con chuột đã phục hồi tốt hơn các chức năng não bộ của chúng. Trong não bộ của các con chuột này, các đường vòng tế bào thần kinh (circuits neuronaux) mới đã phát triển, hợp chất Trung Hoa hoạt hóa sự tổng hợp của một yếu tố tăng trưởng được biết là kích thích tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale). “ Đó là lần đầu tiên mà một hợp chất chống tai biến mạch máu não tác động lên sự phục hồi chức năng ”, Catherine Heurteaux, thuộc đại học Nice đã tuyên bố như vậy. Các công trình nghiên cứu dược lý được tiếp tục, và các thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành.
(SCIENCE ET VIE 4/2010)

6/ CÁC BALADEUR LÀ NHỮNG MỐI NGUY THẬT SỰ CỦA THÍNH GIÁC.

Hôm qua, Ngày của thính giác (Journée de l’audition) điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thanh thiếu niên. Hơn 40% những người trẻ tuổi này đã bị chứng ù tai (acouphène).

SURDITE. Trong khi việc thăm khám các thầy thuốc nhãn khoa thường là một bộ phận của những thăm khám thường niên không tránh được đối với một đại đa số người Pháp, thì không phải vậy đối với việc thăm khám các thầy thuốc Tai Mũi Họng. “ Nếu võng mạc có 120 triệu tế bào, thì tai trong (oreille interne) chỉ đếm được 16.000 tế bào (13.000 khuếch đại các âm thanh và 3000 cho phép nghe chúng) ”, BS Gérald Fain, chuyên gia Tai Mũi Họng ở Paris đã nêu lên như vậy. Thế mà, việc kiểm tra đều đặn thính giác của mình cho phép có những điểm quy chiếu (points de répère).

Hôm qua, nhân Ngày của Thính giác (Journée de l’audition), hiệp hội tổ chức sự tập hợp này đã công bỏ một cuộc điều tra về chủ đề. Các kết quả rất bổ ích. Sự vấn chẩn (interrogatoire) đã được thực hiện trên 1.001 những người trẻ từ 12 đến 25 tuổi. Kết quả là những thanh thiếu niên này sử dụng baladeur trung bình một giờ rưởi mỗi ngày với một thời gian nghe liên tục một giờ. Những người sử dụng nhiều nhất là các thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi với thời gian nghe trung bình 2 giờ 5 phút. Mặt khác, 40% các thanh thiếu niên được hỏi tuyên bố đã cảm thấy các tiếng ù tai (acouphène) sau khi nghe baladeur và lúc ra khỏi discothèque.

Khi các thanh thiếu niên đi thăm khám, thường là quá muộn. Đó là trường hợp đối với chàng thanh niên 19 tuổi đã cảm thấy một tiếng rít trong tai sau một đêm dạ vũ ở discothèque. Anh ta chỉ đi khám một thầy thuốc 4 ngày sau và được chẩn đoán là bị chứng điếc vĩnh viễn (surdité définitive). Hiện nay, người thầy thuốc bất lực khi đứng trước sự phá hủy của những tế bào của tai trong này. Ngoài điều trị bằng corticoides thuốc uống dùng trong khoảng 8 ngày, các hướng điều trị là khả mong manh. Do đó cần phải tự bảo vệ. Một trong những giải pháp, dĩ nhiên, là mang các vật bảo vệ trong các lỗ tai của mình. “ Nghỉ ngơi âm thanh (repos sonore) cũng là một cách tự gìn giữ, GS Frachet, trưởng khoa Tai Mũi Họng thuộc bệnh viện Avicenne, Bobigny, đã phát biểu như vậy. Khi ta thỉnh thoảng đi ra ngoài lúc ở trong một hộp đêm, không sử dụng một baladeur một cách liên tục hay tránh xa các baffles lúc nghe hòa nhạc : xa 2 m ta chia nguy cơ cho 4.”

Trái với các định kiến, tất cả chúng ta không bình đẳng trước tiếng ồn.“ Nếu bạn ở trong một discothèque, và cường độ của tiếng nhạc quá mạnh, đừng an lòng khi người ở cạnh bạn nói với bạn rằng anh ta chịu được tốt cường độ đó, GS Bruno Frachet đã giải thích như vậy. Cũng vậy, vài người sẽ trở thành điếc ngay phát súng đầu tiên trong khi những kẻ khác lại sẽ chịu được nó rất tốt.”

Công trình nghiên cứu, được tiến hành nhân Ngày Thính Giác (Journée de l’audition) cũng nêu ra sự kiện là 75% trong số các thiếu niên 12-14 tuổi không biết decibels biểu hiện cái gì. Thế mà một iPod được mua ở Châu Âu được giới hạn ở mức 100dB, điều này tương đương với mức thính giác của một hộp đêm hay với một TGV phóng với vận tốc 300 km/ giờ ! Để so sánh, 75 dB tương ứng với một máy hút đang hoạt động và 15 dB tương ứng với một marteau-piqueur. “ Nghe baladeur với âm độ 100 dB, thật là quá lớn ! Pascal Petitpas, giám đốc của laboratoire d’essai của Fnac đã kêu lên như vậy, nguy cơ đối với tai đã được xác nhận ở âm lượng 80 dB. ” Một ý kiến được chia xẻ bởi BS Fain : “ Nghe iPod với âm lượng 100 dB, đó là tự tử vậy ! ”

Dẫu sao đi nữa, một vài người không thỏa mãn với âm lượng này, và tháo cương máy để gia tăng cường độ âm thanh. Đó là chưa kể ở Hoa Kỳ, những máy này được bán với một giới hạn 115 dB, hoặc một âm lượng cao hơn rõ rệt so với điều được thực hiện ở Châu Âu. Mặc cho “ trận dịch rối loạn đích giác ” (épidémie de troubles auditifs), theo lời diễn đạt của BS Fain, các thông điệp với mục đích phòng ngừa khó có thể đến với quần chúng, huống hồ là các thanh thiếu niên. “ Những lời khuyên thận trọng được đưa ra bởi những người đứng tuổi, lại không biết rằng âm nhạc phải được nghe với cường độ mạnh, GS Frachet đã phàn nàn như vậy. Thông điệp của họ được cảm nhận như là thiến hoạn (castrateur) trong khi giới trẻ không đánh giá tốt biên giới giữa lạc thú và sự nguy hiểm.” Cũng như đối với các bao thuốc lá, tại sao không viết trên các baladeur, “ tiếng ồn làm điếc tai ”, BS Fain đã yêu cầu như vậy ?
(LE FIGARO 12/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 157 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/1/2010 )

3/ CỨ MƯỜI THIẾU NIÊN THÌ CÓ MỘT BẮT ĐẦU BỊ CHỨNG ĐIẾC.

Đó là một cấp cứu nội khoa rất thường không được hay biết. Sau khi xem xong một buổi hòa nhạc hay đi ra từ một hộp đêm, cảm giác như một lỗ tai “ bị bít lại ”, ù tai hay chóng mặt có thể là những biểu hiện cùa một chấn thương âm thanh cấp tính (TSA : traumatisme sonore aigu), đe dọa chức năng thính giác. “ Nhiều trong số những bệnh nhân này, nói chung là trẻ tuổi, không thăm khám hay thăm khám muộn khi những thương tổn đã trở thành vĩnh viễn, BS Jean-Michel Klein, tổng thư ký của Công đoàn quốc gia của các thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi họng, đã lấy làm tiếc như vậy. Tuy nhiên, theo ông một điều trị rất sớm bằng corticoides, sau một bilan với thính lực đồ (audiogramme), có thể giới hạn sự mất thính giác.

Trên bình diện cơ thể học, sự mất thích giác này được thể hiện bởi một sự biến đổi của những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) của tai trong (oreille interne). 15.000 tế bào này, rất quan trong đối với chức năng thính giác nhưng lại mỏng manh, có thể bị “ nổ tung ” dưới tác dụng của áp suất gây nên trong ốc tai (cochlée) do một sự tiếp xúc âm thanh ở những mức độ rất cao. Ngưỡng đau đớn (seuil douloureux) nằm ở 120 décibel, nhưng những chấn thương âm thanh (traumatisme sonore) cấp tính xuất hiện ở mức cao hơn nhiều so với ngưỡng này.

CÁC BALADEURS MP3 ĐƯỢC CHO LÀ THỦ PHẠM..

( Chú thích : Baladeur là máy điện tử nhỏ xíu tái tạo âm thanh và hình ảnh, được trang bị bởi các tai nghe (écouteurs), nhằm sử dụng cá nhân và thường người sử dụng di động. Các baladeur này rất được ưa thích bởi các thiếu niên ).

Trong thực tiễn, các triệu chứng có thể hồi phục được trong vài giờ, nhưng những bệnh cảnh “ mệt thính giác ” (fatigue auditive) này hẳn phải được xem như là một báo động, Jean-Michel Klein đã nhấn mạnh như thế. Trong vài trường hợp, các tế bào tiêm mao (cellules ciliées) bị phá hủy một cách không vãn hồi được, gây nên những rối loạn thường trực của thính giác, kèm theo tiếng ù tai hay không. Theo một điều tra cách nay vài năm, những chấn thương âm thanh cấp tính này không phải là ngoại lệ : chúng ảnh hưởng lên 1400 người mỗi năm ở Pháp. Các âm nhạc khuếch đại (hòa nhạc, discothèque..) là nguyên nhân đầu tiên, đứng trước tiếng súng bắn, tiếng nổ, pháo, còi báo động và ngay cả điện thoại cầm tay. Mặt khác, những tiếng động quá mạnh có thể gây nên thủng màng nhĩ hay sai khớp chuỗi các xương nhỏ do một hiện tượng sóng va chạm (onde de choc). Những thương tổn này của tai giữa (oreille moyenne), cổ điển trong những vụ nổ do khủng bố, có thể xảy ra, nhưng hiếm, trong các buổi hòa nhạc.

Nhưng ngoài những tai nạn cấp tính này, các thầy thuốc và giới hữu trách đặc biệt quan tâm đến các baladeur MP3, làm gia tốc quá trình lão hóa của tai trong. Theo một báo cáo châu Âu, 50 đến 100 triệu công dân của Liên Hiệp Châu Âu sử dụng hàng ngày những chiếc máy số (appareils numériques) này, và 10 triệu có nguy cơ trở nên điếc vì nghe chúng quá mạnh và quá thường xuyên. Mức âm thanh của các baladeur chẳng bao lâu sẽ được giới hạn bởi Uỷ Ban châu Âu.

MỘT PHẾ TẬT NẶNG..

Patrick Arthaud, chủ tịch công đoàn của các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (audioprothésiste) Pháp cũng ghi nhận rằng các môn đồ của MP3 đã trở thành quen (accoutoumance) với những cường độ âm thanh mạnh (qua trung gian của các chất dẫn truyền thần kinh), tạo nên một dạng phụ thuộc (dépendance). “ Thật là lệch lạc, ta đã thành công làm giảm các chứng điếc do nghề nghiệp bằng cách cải thiện biện pháp phòng ngừa, và rồi ta lại sẽ quan sát thấy một sự gia tăng của các chứng điếc, hậu quả của việc nghe nhạc giải trí ”, Patrick Arthaud nói tiếp như vậy, đồng thời nhấn mạnh đến sự phế tật nặng gây nên bởi chứng điếc trong cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp.

Những môn đồ đầu tiên của các baladeurs (các walkmans của những năm 1980) phải chăng đã trở thành điếc ? Khó mà biết được nếu không có gần như hoàn toàn những nghiên cứu dịch tễ học về vấn đề này. Các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (prothèse auditive) (audioprothésiste) có cảm giác đang đặt máy (appareiller) cho những người trẻ tuổi hơn, nhưng tiến triển này có thể do chiến dịch thông tin tốt hơn. Tuy nhiên, một điều tra trong giới học đường đã cho thấy rằng trước 17 tuổi, cứ 10 thiếu niên thì có 1 bị khởi đầu của chứng điếc với một sự mất thính lực hơn 20 dB. Trong những năm qua nhiều chiến dịch phòng ngừa đã được thực hiện nơi giới trẻ.
(LE FIGARO 11/1/2010)


7/ ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG....CA HÁT.

Cứ mỗi 4 phút, một tai biến mạch máu não xảy ra ở Pháp. Khi cơn đột qụy gây thương tổn bán cầu đại não trái, nơi định vị của trung tâm nói (centre de la parole), thì các nạn nhân bị mất đi khả năng diễn đạt (capacité d’élocution). Tuy vậy, vài bệnh nhân trong số những người bị á khẩu (aphasique : mất ngôn ngữ) này lại có thể ca hát. Vì vậy, một đường lối điều trị, liệu pháp âm điệu (MTP : thérapie d’intonation mélodique), đã được thực hiện bởi Gottfried Schlaug, thầy thuốc thần kinh thuộc đại học Havard, Boston. Trong hội nghị ở San Diego vào tháng hai vừa rồi, ông đã trình bày những trường hợp phục hồi lời... hát (parole chantée) ! Các bệnh nhân, không có khả năng thốt ra những lời có thể hiểu được, đã thành công, sau những buổi luyện tập, hát “ happy birthday ” hay thể hiện một nhu cầu, như “ tôi khát ”. Theo nhà nghiên cứu, những tác dụng của liệu pháp này được tăng cường khi các bệnh nhân nhấn các nhịp bằng đôi bàn tay, một động tác được cho là kích thích phần bên phải của não bộ.

Thật vậy, các hiệu quả của liệu pháp âm điệu đã được nghiên cứu một cách song hành nhờ chụp hình ảnh não bộ (IRM chức năng). Gottfried Schlang và nhóm nghiên cứu của ông như thế đã cho thấy rằng âm nhạc kích thích các vùng của não bộ khác với những vùng phụ trách lời nói. Sự tuyền đạt bằng miệng (communication orale) dường như dùng hai đường thần kinh khác nhau : nếu để phát biểu một bài nói, chính bán cầu đại não bên trái bị kích thích ; nếu để diễn đạt bằng lời hát, chính bán cầu đại não bên phải, và đôi khi cả hai. Liệu pháp âm điệu (MTP) do đó dựa vào tính dẻo (plasticité) của não bộ và sự tạo thành những nối kết tế bào thần kinh (connexions neuronales) mới trong bán cầu não lành mạnh.

Một thử nghiệm lâm sàng với 30 bệnh nhân á khẩu (aphasiques) đang được tiến hành.
(SCIENCE ET AVENIR 4/2010)

8/ UNG THƯ : HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ LÀM GIẢM CÁC NGUY CƠ.

BS Thierry Bouillet, thầy thuốc chuyên khoa ung thư (CHU Avicenne de Bobigny), bình luận những công trình nghiên cứu chứngminh tác dụng có lợi của hoạt động vật lý đối với vài loại ung thư.

Hỏi : Đối với những ung thư nào, hoạt động vật lý được liên kết với một sự giảm nguy cơ ?
BS Thierry Bouillet : Theo những kết quả đồng quy của nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, có một sự giảm thật sự tỷ lệ của các ung thư của vú, đại tràng, nội mạc tử cung (cancer de l’endomètre) và tuyến tiền liệt với một hoạt động vật lý đều đặn và có cường độ trung bình.

Hỏi : Những hoạt động vật lý nào được khuyên thực hiện và theo nhịp độ nào ?
BS Thierry Bouillet : Những hoạt động gây nên một sự tiêu hao năng lượng đủ và được thực hiện ít nhất 3 giờ mỗi tuần. Những môn thể thao như tennis, bơi lội, karaté, golf…những bài tập gymnastique và ngay cả bước nhanh.

Hỏi : Làm sao giải thích cơ chế của sự bảo vệ này ?
BS Thierry Bouillet : Bắt đầu từ một mức tiêu hao năng lượng đủ, ta biến đổi các sự tiết của oestrogène, insuline và những hormone khác phát xuất từ các mô mỡ. Tất cả các hormone này tạo nên các yếu tố tăng trưởng, nghĩa là những chất kích thích của các tế bào ung thư đã hiện diện trong cơ thể. Thế mà, ngay cả lúc lành mạnh, tất cả chúng ta sản xuất các tế bào ung thư, nhưng chúng bị phá hủy một cách hệ thống bởi hệ miễn dịch (ngoại trừ trong vài trường hợp chúng có thể tăng sinh, đặc biệt dưới tác dụng của một sự tăng hoạt tính hormone có hại).

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào chứng minh những tác dụng phòng ngừa của hoạt động vật lý ?
BS Thierry Bouillet : Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động vật lý lên tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú, một công trình nghiên cứu rộng lớn của Pháp (E3N), đã thực hiện trong 12 năm, trên 90.509 phụ nữ (tuổi từ 30 đến 65), tất cả đều khỏe mạnh lúc ban đầu. Nơi những phụ nữ thực hiện tối thiểu 5 giờ hoạt động vật lý mỗi tuần, người ta ghi nhận một sự thu giảm 25% nguy cơ ! 5 công trình nghiên cứu quốc tế khác đã xác nhận những dữ kiện này. Về ung thư đại tràng, tôi có thể kể cho ông các kết quả của 2 công trình phân tích méta (tập hợp các quan sát trên nhiều trăm ngàn người). Nơi những người đã thực hiện đều đặn một hoạt động vật lý, người ta đã ghi nhận một sự thu giảm 25% ung thư đại tràng (các kết luận được công bố trong “ British Journal of Cancer ” và “ Colorectal Disease ”)

Hỏi : Mức độ đáng tin cậy của những kết quả này là gì ?
BS Thierry Bouillet : Mức độ đáng tin cậy là không chối cải được bởi vì tất cả các công trình nghiên cứu này được tiến hành với một phương pháp học rất nghiêm túc trên một số lượng người rất lớn...và trong những thời kỳ dài. Các kết luận luôn luôn giống nhau : 26 đến 30% ung thư ít hơn với một hoạt động vật lý đều đặn !

Hỏi : Những người có nguy cơ nào được khuyên phải tự tiêu hao năng lượng ?
BS Thierry Bouillet : Những người bị bệnh đái đường, những người tăng cao thế trọng, những người mà một thành phần trong gia đình (hay nhiều) đã bị một ung thư. Đối với những người sau cùng này, theo một cuộc điều tra Hoa Lan được thực hiện trên 725 bệnh nhân (được công bố vào nam 2010 trong “ Breast Cancer Research Treatment ”), sự giảm nguy cơ là...40% !

Hỏi : Hoạt động vật lý cũng góp phần làm giảm các nguy cơ tái phát hay không ?
BS Thierry Bouillet : Sự giảm này đã được chứng minh đối với những truồng hợp ung thư vú và đại tràng. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế tìm thấy lại những kết quả y hệt, kết luận một sự thu giảm 50% nguy cơ tái phát nơi những người đã duy trì sự thực hiện một hoạt động vật lý đều đặn và đủ mạnh sau khi điều trị những ung thư này.

Hỏi : Những điều chứng thực này có khiến thiết lập một điều trị đặc hiệu hay không ?
BS Thierry Bouillet : Ở Pháp, 9 cơ sở hoạt động vật lý được thích nghi trong ung thư học mới đây đã được thiết lập trong nhiều bệnh viện khác nhau (trong đó có Viện Gustave-Roussy ở Villejuif và bệnh viện Avicenne ở Bobigny). Từ ít lâu nay, một văn bằng đại học (thể thao và ung thư) đã được thành lập ở đại học Paris-XIII ở Bobigny (dưới sự chỉ đạo của GS Laurent Zelek) để đào tạo các huấn luyện viên y khoa thể thao (éducateurs médicaux sportifs).
(PARIS MATCH 18/3-24/3/2010)

9/ PHẢI CHĂNG ĐIỀU TRỊ CÁC THOÁT VỊ ĐĨA PHẢI LUÔN LUÔN LÀ NGOẠI KHOA ?

Người ta ước tính rằng 60% đến 80% dân chúng đau lưng ít nhất một lần trong cuộc đời của họ ? Trong phần lớn các trường hợp, cơn đau được định vị ở phần thấp của lưng, tương ứng với các đốt sống thắt lưng. Những rối loạn này đặc biệt thường xảy ra trong thăm khám khoa khớp nhưng cũng trong các phòng mạch của các thầy thuốc đa khoa. Phí tổn xã hội-kinh tế của chúng là quan trọng bởi vì những chứng đau lưng này chịu trách nhiệm 20% các trường hợp nghỉ việc và 7% các tai nạn lao động, với những hậu quả thường khó khăn.

Việc điều trị chứng đau lưng đòi hỏi thời gian để nghe những lời than vãn của bệnh nhân, đòi hỏi kinh nghiệm và một sự thăm khám chăm chú. Nguồn gốc của một đau đốt sống càng khó xác lập khi không có sự tương quan giữa cường độ của đau đón và hình ảnh X quang.

Đĩa liên đốt sống (disque intervertébral) là một loại sụn đặc biệt có vai trò giảm chấn (amortisseur) với một phần ngoại biên cứng hơn, annulus, và một phần trung ương ngấm nước (hydraté), nucleus. Các ứng lực (contraintes) và sự lặp đi lặp lại những gắng sức sẽ gây nên những vết rạn nứt với sự di chuyển của nucleus : đó là thoát vị đĩa (hernie discale).

Bắt đầu từ 40 tuổi, chứng thoát vị đĩa được liên kết với những thương tổn hư khớp (lésions d’arthrose) ít nhiều lan rộng và được đặc trưng bởi một sự phá hủy của sụn với các cấu tạo xương, các chòi xương (ostéophytes).Thoát vị đĩa không thấy được trên phim chụp X quang đơn giản. Những phim chụp này đặc biệt hữu ích để không bỏ sót một khối u, một ung thư, một viêm khớp đốt sống gây cứng liền khớp (spondylarthrite ankylosante) hay một nhiễm trùng đĩa-đốt sống (infection disco-vertébrale). Chụp hình ảnh hiện đại, scanner hay IRM, cho phép chứng tỏ sự hiện hữu cơ thể học của thoát vị đĩa, nhưng không cho phép một kết luận mặc nhiên nào về những hậu quả lâm sàng của nó.

CÁC CẦU TRÚC THẦN KINH.

Tùy theo định vị của thoát vị, đau lưng có thể lan tỏa ra sau đùi và cẳng chân, đó là chứng thần kinh tọa (sciatique), hay ra phía trước đùi, đó là chứng đau dây thần kinh đùi (névralgie du nerf crural). Phải biết rằng trong hơn 80% các trường hợp, đau đớn biến mất một cách ngẫu nhiên trong một thời hạn có thể lên đến 6 tháng.

Những trường hợp buộc phải can thiệp ngoại khoa tức thời là hiếm. Có thể đó là một cơn đau cực kỳ dữ dội, đề kháng với các thuốc giảm đau quan trọng, với liệt cơ năng hay nhất là với các biến chứng thần kinh tiến triển. Các biến chứng này liên kết ở những mức độ khác nhau với những rối loạn cơ vòng và những bại liệt của chi dưới, tùy thuộc vào vị trí của thoát vị đĩa. Các rối loạn tiến triển làm phải dự kiến ngay một can thiệp ngoại khoa. Những bại liệt ban đầu có thể được điều trị nội khoa trừ khi ta chứng thực một sự trầm trọng dần dần.

Dầu cho kỹ thuật được sử dụng là gì, can thiệp ngoại khoa có mục đích làm mất sự đè ép (décompression) của các cấu trúc thần kinh trong ống sống (canal rachidien). Nơi người trẻ, vài phẫu thuật viên đề nghị bổ sung sự nạo đĩa (curetage discal) bằng sự thiết đặt một đĩa liên đốt sống giả (prothèse discale intervertébrale). Lợi ích của kỹ thuật này vẫn còn là đối tượng của các cuộc tranh luận.

Ngoại khoa của thoát vị đĩa không phải là thuốc chữa bá bệnh. Giải phẫu có thể đưa đến biến chứng viêm đĩa đốt sống (spondyldiscite) do nhiễm trùng bệnh viện (infection nosocomiale). Sau phẫu thuật, chứng bại liệt không thoái lui nhanh hơn so với hồi phục chức năng (rééducation) đơn độc. Các cơn đau vẫn có thể tồn tại không thay đổi, thậm chí nặng thêm. Để giải thích, trước đây người ta nêu ra các hiện tượng sẹo hóa sợi (fibrose cicatricielle). Ngày nay người ta nghĩ đó là do các thương tổn của các rễ thần kinh, thường là vĩnh viễn, do huyết khối mạch máu (thrombose vasculaire). Đối với các thầy thuốc ngoại khoa, chính sách chờ đợi quá mức và thái độ ngẫm nghĩ của vài thầy thuốc khoa thấp khớp làm dễ những thương tổn của các rễ thần kinh này.
(LE FIGARO 8/2/2010)

10/ MỘT LIỆU PHÁP GEN CẢI THIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PARKINSON.

NEUROLOGIE. Bằng cách tiêm 3 loại gène vào trong não bộ của các động vật linh trưởng mô hình (primates modèles) của bệnh Parkinson, các nhà nghiên cứu người Pháp đã thành công điều trị chúng, mà không gây nên những tác dụng phụ gây phế tật.

Run rẩy, cứng các chi, giảm sự đi lại : những triệu chứng của bệnh Parkinson rất là gây phế tật. Bệnh lý này, mà khoảng 100.000 người Pháp mắc phải, được liên kết với sự thoái hóa của các tế bào sản xuất dopamine trong não bộ. Thuốc chuẩn để điều trị bệnh Parkinson ? L-dopa. Nhưng thuốc này gây nên những cử động không kiểm soát được, loạn vận động (dyskinésie). Do đó lợi ích của liệu pháp gène (thérapie génique) được hiệu chính bởi một nhóm các nhà nghiên cứu người Pháp ; liệu pháp này cho phép điều trị các con khỉ macaque mô hình của bệnh, mà không gây nên những tác dụng phụ.

VIRUS VÔ HẠI.

Tính độc đáo của điều trị này dựa trên sự sử dụng đồng thời của 3 loại gène thiết yếu cho sự tổng hợp dopamine. Các nhà nghiên cứu đã đưa 3 gène này vào trong một virus được làm vô hại. Virus này được lựa chọn vì khả năng của chúng vận chuyển một lượng quan trọng những thông tin di truyền. virus này sau khi đã được biến đổi như thế, được chích vào trong striatum của khỉ macaque, vùng của não bộ thiếu dopamine trong bệnh này. Virus truyền 3 gène này cho các tế bào thần kinh và các tế bào này đã bắt đầu chế tạo chất dẫn truyền thần kinh.

Các kết quả thu được rất là đáng khởi. Sự sản xuất dopamine, được đo in vivo, đã đạt một mức lên đến 50% mức bình thường. Tất cả các con khỉ macaque được điều trị đã có một sự cải thiện những rối loạn của chúng trong 12 tháng theo dõi. Khả năng cử động đặc biệt đã trở lại 80% của mức bình thường. Sau hết, nếu so sánh với việc uống thuốc L-dopa, liệu pháp gène này đã không gây nên loạn vận động (dyskinésie). Được áp dụng vào một nhóm các con khỉ macaque “ parkinsoniens ” mà khởi đầu được điều trị bằng L-dopa, liệu pháp gène đã gây nên giảm số các các con khỉ macaque parkinsonien.

SỰ SẢN XUẤT LIÊN TỤC.

“ Giả thuyết của chúng tôi là : việc cho cách quản cần thiết của các liều thuốc uống L-dopa gây nên một sự kích thích từng hồi của não bộ, nguồn gốc của những biến chứng loạn vận động (dyskinésie) này, Béchir Jarraya, thầy thuốc ngoại thần kinh và nhà nghiên cứu CEA-Inserm đã giải thích như vậy. Sự sản xuất tại chỗ và liên tục của dopamine do liệu pháp gène của chúng tôi mang lại củng cố lý lẽ này.” Liệu pháp gène này có thể được sử dụng ngay khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, được dùng riêng rẻ hay bổ sung L-dopa.

Được khích lệ bởi thành công này, các nhà khoa học đã phát động một thử nghiệm lâm sàng trên các người bệnh Parkinson ở bệnh viện Henri-Mondor (Créteil). “ Tình trạng của 6 bệnh nhân đã được điều trị đã được cải thiện ở những mức độ khác nhau, phép điều trị tỏ ra được dung nạp tốt ”, Stéfane Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh điều khiển thử nghiệm này, đã loan báo như vậy. “ Những công trình này thể hiện một bước tiến quan trọng, Etienne Hirsch, chuyên viên về bệnh Parkinson ở CNRS, về phần mình đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, cũng như mọi can thiệp ngoại thần kinh, liệu pháp gène cũng có những nguy cơ xuất huyết.”
(LA RECHERCHE 12/2009)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Parkinson - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (29/3/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#44 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 05 April 2010 - 09:03 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT LOẠI THUỐC ĐỂ PHÒNG NGỪA UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN.

Theo một công trình nghiên cứu được tiến hành trong 4 năm trên hơn 6000 người đàn ông, dutastéride (Avodart) làm giảm nguy cơ mắc phải ung thư tuyến tiền liệt 23%

SANTE. Ý tưởng cho rằng một loại thuốc, có thể ngăn cản một ung thư xuất hiện, đã bắt đầu từ những năm qua, với nhiều thử nghiệm lâm sàng, đặc biệt chống lại các khối u ung thư thường xảy ra như các ung thư của vú và của tuyến tiền liệt. Tất cả khó khăn là ở chỗ tìm ra một thứ thuốc, mặc dầu có hiệu quả nhưng không có những tác dụng phụ : mọi nguy cơ xảy ra là không thể chấp nhận được khi người ta nhắm vào những người khỏe mạnh và chỉ mong muốn là như vậy. Hôm nay, trong New England Journal of Medicine, các thầy thuốc Hoa Kỳ trình bày những kết quả đáng lưu ý với dustastéride, một loại thuốc ,khi được điều trị đền đặn, cho phép làm giảm 23% nguy cơ mắc phải ung thư tuyến tiền liệt sau 4 năm.

Hiện nay, ở Pháp, ung thư tuyến tiền liệt gây bệnh cho 90.000 người đàn ông mỗi năm và dẫn đến 10.000 tử vong mỗi năm. Sự khác nhau quan trọng giữa số các ung thư xuất hiện và tử vong là do các tiến bộ điều trị cũng như công tác điều tra phát hiện. Sự thăm khám phát hiện bệnh cho phép một chẩn đoán sớm, gồm cả những ung thư có tiên lượng tốt, đáng lý ra không bao giờ được nói đến nếu người ta không tìm kiếm chúng.

Dutastéride (Avodart) là một loại thuốc hiện nay được thương mãi hóa bởi hãng dược phẩm GKS (GlaxoSmithKline) trong bệnh adénome prostatique, và có tác dụng phong bế sự biến đổi testostérone thành dihydrotestostérone, kích thích tố “ làm dễ ” (hormone facilitatrice) trong ung thư tuyến tiền liệt. Các thầy thuốc Hoa Kỳ đã có ý tưởng trắc nghiệm loại thuốc này nhằm ngăn ngừa, trong bối cảnh một thử nghiệm trên 6729 người đàn ông tuổi từ 50 đến 75 tuổi, được xem như là có nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt, trên cơ sở một nồng độ PSA (chất chỉ dấu của ung thư này) tăng cao, nhưng với những sinh thiết âm tính. 6729 người đàn ông có nguy cơ mắc phải ung thư này được chia thành hai nhóm : nhóm thứ nhất (3305 người) nhận 0,5 mg dutastéride mỗi ngày, nhóm thứ hai (3424 người) nhận một placebo, nghĩa là một chất không có một tác dụng dược lý nào cả. Thử nghiệm lâm sàng đã được tài trợ bởi hãng GSK.

Sau 4 năm, 659 người tình nguyện (19,9%) của nhóm dutastéride đã có một ung thư tuyến tiền liệt, so với 858 người (25,1%) trong nhóm placebo. Nhìn toàn bộ, sự dùng thuốc làm giảm 23% nguy cơ. Con số này đạt đến 31,4% đối với những người đàn ông có một thể gia đình của bệnh. Những tác dụng phụ duy nhất được quan sát là một sự giảm nhẹ dục tính và vài khó khăn gia tăng về vấn đề tình dục. Cũng cần ghi nhận một tỷ lệ gia tăng bị nhồi máu cơ tim với dutastéride (0,7%) so với một placebo (0,4%). Những tai biến này là do sự sử dụng đồng thời các alphabloquant (được sử dụng chống cao huyết áp).

Từ nay ta có thể dự kiến thực hiện một sự phòng ngừa như thế trên thực tiễn hay không ? Các chuyên gia không đồng nhất ý kiến và vài người cho rằng cần có thêm những thử nghiệm khác.“ Trước hết phải có những tiêu chuẩn chính xác để xác định các nhóm có nguy cơ, GS Marc Zerbib (khoa niệu bệnh viện Cochin, Paris) đã đánh giá như vậy. Mới đây, các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng một định lượng PSA giữa 40 và 44 tuổi là một xét nghiệm tốt để phân biệt những người đàn ông có nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến. Ở lứa tuổi này, một nồng độ dưới 1,5ng/ml được liên kết với một nguy cơ thấp về sau, trên trị số này, ít nhất một sự theo dõi là cần thiết. ” Tuy nhiên không có vấn đề phải cho một cách hệ thống các thuốc để phòng ngừa nơi những người đàn ông trên 50 tuổi trên cơ sở các tiêu chuẩn ít chọn lọc. “ Tôi không bị quyến rũ bởi chiến lược này, GS Guy Vallancien (thầy thuốc chuyên khoa niệu, Viện Montsouris, Paris) đã thú nhận như vậy, người ta sẽ không dùng thuốc để tránh tất cả các ung thư, điều này sẽ không ngăn cản chúng ta khỏi chết. Hiện nay, chiến lược thực sự đó là phát hiện kịp thời và sau đó quyết định xem có phải điều trị hay không. ”
(LE FIGARO 1/4/2010)

2/ UNG THƯ VÚ : CHỮA LÀNH KHÔNG ĐỂ LẠI DI CHỨNG.

Với tỷ lệ sinh tồn 85% sau năm năm, các thầy thuốc bắt tay vào làm giảm các di chứng dài lâu của các điều trị.

CANCER DU SEIN. Nhờ các tiến bộ trong lãnh vực điều trị và phát hiện bệnh, từ nay đại đa số các ung thư vú có thể chữa lành. Trong số 52.000 trường hợp mới của những ung thư vú được đăng ký mỗi năm ở Pháp, 84% từ nay vẫn còn sống 5 năm sau khi được chẩn đoán. Thế mà những con số này lại còn ngoạn mục hơn đối với những ung thư vú được điều trị ở một giai đoạn sớm. “ Tỷ lệ tái phát sau 10 năm chỉ còn 6%. Cách nay 15 năm, tỷ lệ này lên đến 15% ”, B.S Alain Fourquet, chủ tịch của Hội nghị châu Âu về ung thư vú lần thứ 7, được tổ chức tuần qua ở Barcelone, đã xác nhận như thế.

Nếu hôm qua mối quan tâm chủ yếu là sự chữa lành của các người bệnh, thì bây giờ đây các chuyên gia về ung thư vú có thêm một mục tiêu mới : mang lại cho các bệnh nhân chất lượng cuộc sống tốt hơn chừng nào có thể được. Bởi vì việc cải thiện ngoạn mục tiên lượng của các ung thư vú này làm nổi bật lên nguy cơ của các di chứng và của các tác dụng phụ xảy ra chậm của các điều trị. Trong lúc theo dõi thường quy, các thầy thuốc càng ngày càng thường đối diện với nhiều triệu chứng và bệnh lý, được làm dễ bởi hóa học liệu pháp hay phóng xạ liệu pháp : sự lên cân, những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs), các vấn đề tim mạch…

“Vài tác dụng phụ xuất hiện một hay hai năm sau điều trị, như những rối loạn của sự tập trung hay của trí nhớ. Những tác dụng phụ khác có thể xuất hiện 8 đến 10 năm sau, BS Etienne Brain, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của viện Curie đã giải thích như vậy. Ngay cả với những thuốc dường như vô hại, vẫn cần có một sự cảnh giác lâu dài, phải được gộp vào trong quá trình theo dõi.”

Trong những năm qua, nhiều công trình cũng đã được tiến hành để xác định và phòng ngừa tốt hơn những nguy cơ lâu dài của các phóng xạ liệu pháp. Với một thời gian nhìn lại 20 năm, các phóng xạ liệu pháp này làm gia tăng 1,5% tỷ lệ tử vong do tim, theo các công trình nghiên cứu từ những năm 1960-1980. Tuy nhiên, sự quá mức của tỷ lệ tử vong hẳn phải giảm xuống với sự cải thiện của các kỹ thuật từ những năm 1980, BS Fourquet ghi nhận như vậy. Về những ung thư có khả năng gây nên bởi phóng xạ, hiện nay chúng đang được nghiên cứu sát, để hiểu các cơ chế và tìm kiếm những yếu tố tiên đoán (facteurs prédictifs).

Tuy nhiên, trong kinh nghiệm của BS Youlia Kirova, thầy thuốc chuyên khoa phóng xạ liệu pháp, các khối u thứ phát sau liệu pháp phóng xạ, các sarcome hay các ung thư phổi, là “ vô cùng ” hiếm . Ngoài ra, đối với các khối u của phổi, trách nhiệm của phóng xạ liệu pháp thường khó xác nhận, bởi vì trong đại đa số các trường hợp, chúng xảy ra nơi những người hút thuốc, BS Kirova đã nêu lên như vậy. “ Chúng tôi làm việc nhiều để thích ứng phóng xạ liệu pháp với cơ thể học của bệnh nhân, với tuổi tác và với những điều trị đã nhận được ”, thầy thuốc phóng xạ liệu pháp nói thêm. Như thế, các buổi điều trị phóng xạ thường được phân chia (một lần mỗi tuần) nơi những người lớn tuổi.

Những động tác ngoại khoa và những điều trị nội khoa, chúng cũng càng ngày càng được nhắm đích, tùy theo các đặc điểm của khối u. Chiến lược mới này đã bắt đầu với herceptine, một kháng thể gắn vào thụ thể HER2, được đề nghị cho 10-15% các phụ nữ mà nơi họ thụ thể này được hoạt hóa.

MÔI TRƯỜNG CỦA KHỐI U.

Những thuốc khác, ức chế một cách đặc hiệu sự tăng trưởng của khối u hay sự tạo thành của các huyết quản nuôi khối u, được thương mãi hóa hay đang được thử nghiệm. “ Ngày nay chúng ta biết khoảng 20 dạng ung thư vú, và chúng ta đã chứng minh rằng tính không thuần nhất đã hiện hữu ngay vào những giai đoạn sớm của bệnh ”, thầy thuốc cơ thể bệnh lý Anne Vincent-Salomon đã giải thích như vậy.

Các nhà nghiên cứu cũng quan tâm nhiều đến môi trường của khối u, “ bãi cỏ làm dễ sự nảy nở của các tế bào ung thư mà một ngày nào đó chúng ta có thể biến đổi ”, Anne Vincent-Salomont đã giải thích như vậy. Những tiến bộ mọi mặt về sự điều trị này không được làm quên rằng 1/3 các trường hợp ung thư vú đáng lý ra có thể tránh được nếu các phụ nữ ăn ít hơn và tập thể dục nhiều hơn, như các nhà nghiên cứu đã nhắc lại như vậy trong hội nghị Barcelone.
(LE FIGARO 31/3/2010)

3/ TRỌNG LƯỢNG LÚC SINH, MỘT VŨ KHÍ CHỐNG LẠI BỆNH LAO.

Các nhà nghiên cứu của đại học Michigan đã khảo sát nguy cơ mắc phải bệnh lao trong mối liên hệ với chỉ số trọng lượng (indice pondéral) nơi 21.579 trẻ sinh đôi người Thụy Điển, được sinh ra đời giữa năm 1926 và 1958. Họ đã tính toán rằng cứ mỗi 500 g trọng lượng lúc sinh được thêm vào, nguy cơ phát triển một bệnh lao về sau này giảm đi 11% và giảm 8% đối với mỗi 0,2 đơn vị BMI (body mass index : chỉ số khối lượng cơ thể). Nơi những trẻ sinh đôi đồng hợp tử (jumeaux monozygotes), nguy cơ này được giảm 46% đối với 500g trọng lượng được thêm vào lúc sinh và sự liên kết này mạnh hơn nơi con trai (giảm 87% đối với mỗi 500g) so với con gái (16%).

Đối với các tác giả, Eduardo và các đồng nghiệp thuộc Viện Karolinska ở Thụy Điển, những dữ kiện này là quan trọng bởi vì bệnh lao gây nhiễm cho gần 1/3 dân số thế giới. “ Tuy nhiên còn quá sớm khi nói một sự tăng trưởng thai nhi không đầy đủ có làm gia tăng sự nhạy cảm đối với bệnh lao hay không, nhưng những công trinh này gợi ý rằng điều đó có thể đúng trong trường hợp này ”, tác giả công trình nghiên cứu xác nhận như vậy. Công trình nghiên cứu, được thực hiện trên những trẻ sinh đôi cho phép kiểm soát nhiều yếu tố di truyền và môi trường ảnh hưởng lên sự xuất hiện của bệnh lao, xác nhận mối liên hệ nhân quả này.

Các công trình nghiên cứu này cũng cho phép hiểu tốt hơn những nguồn gốc của sự phát triển của các bệnh tật, một lãnh vực nghiên cứu đang mới xuất hiện. “ Sự tiếp xúc tiền sinh đối với các tấn công của môi trường, đặc biệt là sự kém dinh dưỡng nơi người mẹ, có thể chương trình hóa (programmer) cái điều sẽ xảy đến sau này trên bình diện của những đáp ứng miễn dịch của chúng ta đối với sự nhiễm trùng, có lẽ nhờ sự chương trình hóa của hệ miễn dịch (la programmation du système immunitaire). Công trình nghiên cứu của chúng tôi là một ví dụ ”, Eduardo Villamor đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/3/2010)

4/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG : SỰ NGHIÊN CỨU BÙNG NỔ.

Dầu bạn nghĩ thế nào về Balzac thì nghĩ, khi ông viết rằng bệnh thiên đầu thống (migraine) chỉ là một cái cớ của phụ nữ để trốn tránh nghĩa vụ vợ chồng, thì chứng bệnh thiên đầu thống này quả là một bệnh có nguồn gốc di truyền, được mang bởi các nhiễm sắc thế 19, 1 và 2. Ngoài ra, trên 8 triệu người Pháp bị liên hệ bởi chứng bệnh này, thì 2,8 triệu là những người đàn ông (35%). Cơn đau xảy ra là do sự kích thích của các màng não, gây nên sự truyền trong não bộ của các tín hiệu đau đớn, qua đường thần kinh và mạch máu. Thế mà, tính chất khó tiên đoán được của các cơn và tính chất lập đi lập lại của chúng có thể là một nguồn phế tật : 50% các người bị bệnh thiên đầu thống bị nhiều hơn một cơn mỗi tháng.

Tại sao ít bệnh nhân bị thiên đầu thống được theo dõi đến thế ? “ Ở Trung tâm cấp cứu các bệnh đau đầu của bệnh viện Labiboisière, 10.000 bệnh nhân đến thăm khám mỗi năm, trong đó có 4700 bệnh nhân thiên đầu thống. Một vài người đã được theo dõi, những người khác thì không, cũng như trên toàn thể lãnh thổ, 47% các bệnh nhân bị thiên đầu thống tự điều trị lấy. Trên 53% những bệnh nhân còn lại đã thăm khám bác sĩ, nhưng 1/3 trong số này đã không bao giờ trở lại nữa. Vậy cuối cùng chỉ có một thiểu số người bị bệnh thiên đầu thống là được điều trị vì vấn đề này ”, BS Dominique Valade, người phụ trách trung tâm duy nhất này ở Châu âu, đã lấy làm tiếc như vậy.

KHÔNG CẦN ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ.

Nguy cơ chính, khi người ta xoay xở tự điều trị lấy, là một sự lạm dụng thuốc, một sự quen thuốc (accoutumance) và sau cùng, một sự trầm trọng của các cơn đau đầu : 3% những người bị thiên đầu thống (240.000 người) bị liên hệ bởi vấn đề này. Thật đáng tiếc, bởi vì sự xuất hiện của các triptans (một lớp thuốc gây nên co mạch), trong những năm 1990, đã cách mạng hóa việc điều trị cơn thiên đầu thống, ngoại trừ những bệnh nhân có những tiền sử mạch máu và những bệnh nhân không có quyền sử dụng triptans.

Sự xuất hiện vào tháng 1/2009 của một triptan dưới dạng đông khô (lyophilisat), không phải uống nước, lại còn làm gia tăng khả năng phản ứng rất nhanh, một bảo đảm cho tính hiệu quả. Bằng cách cho phép hoạt động trở lại trong vòng dưới 2 giờ trong hơn 2/3 các trường hợp, các triptan là một phương tiện tốt, đối với những người đau thiên đầu thống có ít cơn, hoàn toàn không cần phải điều trị duy trì.

“ Nhằm làm giảm tần số và cường độ của các cơn, các điều trị duy trì (traitements de fond) dựa trên sự uống thuốc hàng ngày, một hay nhiều viên. Điều này được biện minh khi bệnh thiên đầu thống gây phế tật, nhưng không được được minh khi vài cơn được làm thuyên giảm nhanh chóng. Chính vì vậy, từ nay, tùy theo sự trở ngại gây nên bởi các cơn đau, tùy thuộc các bệnh nhân đau thiên đầu thống quyết định họ sẵn sàng theo hay không theo một điều trị duy trì như thế ”, BS Vandale nói tiếp như vậy. Ngoại lệ duy nhất : triptans và các chất kháng viêm không có thể được sử dụng hơn 12 lần mỗi tháng, nếu không sẽ bị nguy cơ quen thuốc, nhưng điều trị duy trì cần thiết khi các cơn đau lập lại quá thuờng xuyên. Khi đó, điều trị duy trì dựa trên sự sử dụng các bêta-bloquant, inhibiteur calcique, antisérotoninergique, các thuốc chống động kinh hay các thuốc chống trầm cảm

Sau các triptans, chúng ta chờ đợi các gepans (olcégepan và telcagepan) từ nay đến năm 2012. Những thuốc này tác dụng một cách trực tiếp lên dây thần kinh chịu trách nhiệm của bệnh thiên đầu thống và không có tác dụng lên huyết quản như trường hợp của các triptans. “ Ưu điểm chính yếu : các bệnh nhân có một tiền sử nhồi máu cơ tim, các tai biến mạch máu não hay cao huyết áp sau cùng có thể hưởng các thuốc mới này. Cũng vậy đối với các 5 HT1F (các chất đối kháng đặc hiệu của sérotonine), được chờ đợi từ nay đến năm 2013 ”, BS Valade đã nhận xét như vậy.

Bên cạnh các điều trị của cơn bệnh, một điều trị duy trì được dự kiến xuất hiện từ nay đến 2014. Điều trị này đang còn ở trong giai đoạn thí nghiệm. Đó là một chất giảm đau mạnh, gần giống kétamine (một thuốc gây mê), rất hiệu quả chống lại đau đớn và không có tác dụng làm quen thuốc.

Còn về những người đau thiên đầu thống mãn tính, người ta cũng không quên họ : gần 800.000 bệnh nhân bị vấn đề này. Họ bi đau đầu thống 15 ngày hoặc hơn mỗi tháng, với ít nhất 8 ngày migraine, nhưng không lạm dụng thuốc.

“ Nơi những bệnh nhân này, hai hướng điều trị rất hứa hẹn. Hướng phát triển nhất, đó là Botox, đang chờ đợi được cho phép đưa ra thị trường. Với mỗi liều tiêm mỗi 90 ngày, thuốc cho phép chuyển từ một bệnh thiên đầu thống mãn tính (migraine chronique) sang một bệnh thiên đầu thống xảy ra từng đợt (migraine épisodique) và làm giảm việc sử dụng các thuốc cắt cơn, như đã được chứng tỏ bởi hai công trình nghiên cứu (Preempt 1 và 2), BS Valade đã thông báo như vậy. Sau đó hướng thứ hai là sự kích thích của dây thần kinh Arnold, có can dự trong sự truyền các tín hiệu đau đớn lên não bộ, bằng một máy kích thích (stimulateur) nhỏ được đặt nơi điểm phát xuất của dây thần kinh này, ở phía sau đầu : hiện nay máy kích thích này là đối tượng của một công trình nghiên cứu thế giới mà các kết quả được chờ đợi trong hai năm nữa.

(LE FIGARO 29/3/2010)

Đọc thêm : Cấp cứu nội thần kinh số 2: Thiên Đầu Thống (Migraine Headaches)

Quote

Thời Sự Y Học Số 152 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 14/12/2009 )

9/ MIGRAINE : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẺ CÓ MỘT HIỆU QUẢ NHANH HƠN.

GS Dominique Valade, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, trưởng khoa Cấp cứu đau đầu của bệnh viện Lariboisière, giải thích những lợi ích của rizatriptan (Maxalt).

Hỏi : Ông có thể định nghĩa cái điều mà ông thường gọi là một migraine (bệnh thiên đầu thống)?
G.S Dominique Valade : Đó là một bệnh nguồn gốc di truyền, gây nên bởi các nhiễm sắc thể 19,1 và 2. Ở Pháp có 8 triệu người bị bệnh migraine. Để có thể xác định đúng chẩn đoán, phải đảm bảo rằng bệnh nhân đã bị ít nhất 5 lần một cơn kéo dài từ 4 đến 72 giờ. Một đặc điểm : đau đầu bắt đầu ở một phía rồi lan ra toàn thể đầu. Trong đại đa số các trường hợp, migraine kèm theo nôn hay mửa cũng như một sự khó chịu đối với ánh sáng và tiếng động.

Hỏi : Có nhiều loại migraine hay không ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại chính.
  • Các migraine “ không có tiền triệu (aura) ”, thường xảy ra nhất (80% các trường hợp migraine), xuất hiện nhanh và không có triệu chứng báo trước.
  • Các migraine “ với tiền triệu ”, được đi trước bởi những triệu chứng thần kinh như rối loạn thị giác (với những điểm sáng), lời nói.

Một nửa những người migraine có nhiều hơn một cơn mỗi tháng, điều này rất trở ngại cho đời sống nghề nghiệp, gia đình và xã hội của họ.

Hỏi : Những điều trị thường cho là gì ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại.
  • Các thuốc dùng trong trường hợp lên cơn.
  • Một điều trị duy trì.

Vài thuốc họ triptans có hiệu quả với điều kiện được sử dụng sớm, ngay lúc đầu cơn migraine, khi đau đầu còn có cường độ nhẹ. Các thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) cũng có thể được cho. Các điều trị duy trì là một phương cách phòng ngừa : chúng được cho nhằm làm giảm tần số, cường độ và thời gian của các cơn (tùy theo bệnh nhân : các beta-bloquant, các thuốc chống trầm cảm, các antisérotonine, các thuốc chống động kinh...)

Hỏi : Những thuốc này tác dụng như thế nào ?
G.S Dominique Valade : Trong trường hợp lên cơn, điều trị làm thuyên giảm trong vòng dưới 2 giờ, 20% đến 30% các bệnh nhân, điều này có thể có vẻ dài lâu khi ta đau đầu. Nơi những người khác, thuốc cần nhiều thời gian hơn.

Bởi vì migraine xảy ra đột ngột, nên các bệnh nhân không luôn luôn có sẵn một ly nước bên cạnh để uống viên thuốc ; họ thường dùng thuốc quá muộn để có thể được làm thuyên giảm nhanh chóng. Các thuốc chống viêm có bất tiện là gây nên một rối loạn tiêu hóa. Tính hiệu quả kém của các triptans khi chúng được sử dụng trong lúc migraine đã trở nặng, giải thích tại sao nhiều bệnh nhân không quan tâm đến điều trị của họ. Sự không tuân thủ điều trị hiện nay rất quan trọng, khoảng 70%.

Hỏi : Vì lý do gì, rizatriptan (MAXALT) đặc biệt có hiệu quả ?
G.S Dominique Valade : Thuốc này cũng thuộc vào lớp các triptans, nhưng nó được thương mãi hóa dưới một dạng thuốc hòa tan dưới lưỡi trong vòng hai hay ba giây. Thuốc phải được sử dụng càng sớm càng tốt trong khi cơn đau đầu còn nhẹ.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào được thực hiện với loại thuốc này là gì ?
G.S Dominique Valade : Một công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên 188 bệnh nhân. Những kết quả đã cho phép nhận xét rằng 24% người đã được thuyên giảm trong 30 phút và rằng, nơi một số rất lớn (66%), cơn đau đã biến mất trong vòng chưa được hai giờ. Điều chứng thực khác : nơi 63% các bệnh nhân, những triệu chứng mửa kèm theo cũng đã biến mất nhanh chóng.

Tóm lại những ưu điểm của thuốc chống migraine này là gì ?
  • Trong bất cứ trường hợp nào, không cần phải có ly nước bên cạnh, chỉ cần mang một viên thuốc theo mình để làm ngưng cơn migraine rất nhanh chóng, điều này cải thiện đáng kể chất lượng sống.
  • So sánh với các điều trị thông thường, thuốc này có một tác dụng nhanh lên một số lớn hơn những người bị migraine.
  • Rizatriptan chứng tỏ một hiệu quả tốt lên các triệu chứng liên kết.
(PARIS MATCH 26/11[*] 2/12/2009)


5/ RUỘT THỪA CÓ THẬT SỰ LÀ VÔ DỤNG HAY KHÔNG ?

Trong khi vài người coi thường “ vết tích của tiến hóa ” này, thì những kẻ khác lại thấy ở đó một khúc cơ quan phòng vệ chống lại nhiễm trùng.

Ruột thừa mà chúng ta quan tâm là ruột thừa-manh tràng (appendice iléo-coecal). Nếu chúng ta biết nó, chính trước hết là vì sự viêm nhiễm cấp tính gây nên ruột thừa viêm (appendicite). Theo một công trình nghiên cứu mới đây, 360.000 người chịu một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa mỗi năm ở Pháp.

Ruột thừa là một ống hình trụ nhỏ với 5-12 cm chiều dài, có một xoang ở trung tâm với đường kính 3-7 mm, nối với manh tràng (caecum), đoạn đầu của đại tràng, gần lối vào của ruột non. Các thành của ruột thừa được bọc bởi những tế bào lymphoide của hệ phòng vệ chống lại các nhiễm trùng, cũng như các hạch bạch huyết phân tán trong toàn cơ thể.

Cơ quan nhỏ bé này nằm gần với các vi khuẩn sống trong ruột già, nhất là các vi khuẩn không sinh bệnh cần thiết cho sự tiêu hóa. Ruột thừa có thể bị nhiễm trùng khi các vi khuẩn sinh bệnh xuất hiện. Nếu ruột thừa viêm không được nhanh chóng xử trí, các nguy cơ sẽ rất nhiều : áp xe, viêm phúc mặc, thậm chí tử vong.

Sau nhiều thế kỷ bất lực đứng trước tai ương này, người ta đã tìm thấy phương thuốc để điều trị các bệnh nhân. Các thầy thuốc ngoại khoa thực hiện cắt bỏ ruột thừa, một động tác ngoại khoa thường quy nhằm lấy đi ruột thừa bị tắc (appendice obstrué).

Khi một ruột thừa viêm được chẩn đoán, tỷ suất của lợi ích giữa việc lấy ruột thừa đi trên các nguy cơ gặp phải khi phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa, cao đến độ vài thầy thuốc ngoại khoa có khuynh hướng đề nghị các phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa được gọi là phòng ngừa trên ruột thừa lành mạnh, trong vài tình huống hiếm hoi. Đó là trường hợp đối với những người phải sống rất cô lập trong một thời gian dài, xa mọi cấp cứu ngoại khoa, trong trường hợp du hành bằng đường biển xa ngoài khơi dài ngày, trong những cuộc thám hiểm nam cực hay bắc cực, trong những chuyến bay không gian,..

Hành động ngoại khoa này gần giống với phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa được gọi là trắng (appendicectomie blanche), được thực hiện trên một ruột thừa lành mạnh, khi can thiệp ngoại khoa bụng không có dính dáng gì đến ruột thừa viêm. Thầy thuốc ngoại khoa lợi dụng cuộc mổ này để thực hiện sự cắt bỏ ruột thừa lành mạnh.

Nhưng những sự cắt bỏ các ruột thừa lành mạnh để phòng ngừa phải chăng luôn luôn được biện minh ? Câu hỏi này đôi khi dấy lên những cuộc tranh luận lớn trong cộng đồng y khoa, là nơi những ưu điểm và những nguy cơ của những phẫu thuật như thế được tranh cãi.

Theo những người ủng hộ cắt bỏ ruột thừa với mục đích phòng ngừa, việc loại bỏ một cơ quan có khả năng gây nên những hệ lụy lớn về sức khỏe là điều được mong muốn. Ngoài ra, nhiều người trong số những người này cho rằng ruột thừa chỉ là một vết tích của quá trình tiến hoá (un vestige évolutif), đã từng đóng một vai trò nơi các tổ tiên xa xăm của chúng ta, nhưng vai trò này bây giờ không còn nữa. Mặt khác, người ta không còn thấy ruột thừa nữa nơi nhiều động vật có vú, ngoại trừ những động vật ăn cỏ. Một lý lẽ khác được đưa ra để nghi ngờ về tình hữu ích của ruột thừa là các tế bào lympho của nó không hiện diện suốt đời. Số lượng những tế bào lympho này cực đại vào tuổi trưởng thành, rồi chúng teo đi và biến mất sau 70 tuổi.

Đôi khi, người ta gợi ra khả năng cho rằng cục u nhỏ bé này có thể đóng một vai trò thiết yếu trong sự cân bằng sinh học của chúng ta. Những người chống lại việc cắt bỏ ruột thừa trắng (appendicectomie blanche) tố cáo tính cách dễ dàng mà người ta đôi khi thực hiện việc cắt bỏ ruột thừa nơi những người không cần phải làm như vậy. Dẫu sao, không có gì bảo chúng ta rằng việc can thiệp ngoại khoa này biết đâu lấy đi nơi chúng ta một cơ quan lành mạnh hữu ích !

Những công trình nghiên cứu mâu thuẫn nhau đều đặn trở lại ánh đèn sân khấu. Vào năm 1964, đã xuất hiện một công trình nghiên cứu thống kê trên một nhóm 914 người chết vì ung thư đại tràng, trong đó 18% chịu một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa, tỷ lệ cao hơn tỷ lệ của dân chúng nói chung (chỉ 10%). Từ đó người ta đã kết luận rằng ruột thừa có thể đóng một vai trò bảo vệ đối với ung thư này. Nhưng một công trình nghiên cứu về sau lại bác bỏ kết quả này.

Mới đây hơn, ở Hoa Kỳ, William Parkes, thuộc Đại học Duke, đã cho thấy rằng, thật ra ruột thừa là một bể chứa quý báu của vi khuẩn chí ruột (flore intestinale), có thể bảo vệ ruột trong trường hợp bị nhiễm trùng. Kết cục : những giả thuyết, những kết quả sơ khởi và không một chắc chắn nào về lợi ích buộc chúng ta phải bảo tồn càng lâu càng tốt cái khúc cơ quan bé nhỏ này.
(POUR LA SCIENCE 4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 151 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 7/12/2009 )

7/ RUỘT THỪA KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CỤC BƯỚU VÔ DỤNG.

Từ hàng triệu năm nay, ruột thừa chứa một quần thể vi khuẩn (flore bactérienne) trong trường hợp bệnh ruột.

Ruột thừa chẳng dùng vào việc gì cả. Nó chỉ mang lại những bất tiện mà thôi. Nó có thể bị viêm và bị nhiễm trùng, đó là điều mà người ta gọi là“ ruột thừa viêm ”. Khi đó người phẫu thuật phải lấy nó đi để tránh ruột thừa viêm, khi thủng, gây nên viêm phúc mạc, một biến chứng có ảnh hưởng xấu lên tiên lượng sinh tồn. Vậy ruột thừa chỉ là một vết tích bí hiểm của quá trình tiến hóa. Richard Darwin xem nó như là vết tích của một thời kỳ xa xăm, lúc đó tổ tiên của chúng ta sống trong các rừng cây và nuôi sống nhờ các lá cây. Darwin đặt nền móng giả thuyết này trên sự kiện là nhiều động vật ăn cỏ cũng có một ruột thừa, nhưng hình dạng rất khác.

Từ nhiều năm nay, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của Đại học Duke (Bắc Carolina) công kích kịch liệt điệp khúc về sự vô dụng của ruột thừa. Theo họ cái cục bướu khoảng 10 cm nằm ở đầu ruột già này có một vài trò thật sự. Ruột thừa dùng làm nơi trú ẩn đối với các “ vi khuẩn tốt ” (bonnes bactéries), nằm phủ kín các thành ruột của chúng ta. Khi ỉa chảy nặng, các vi khuẩn này được che chở trong chỗ trú ẩn tự nhiên này, rồi từ đó chúng có thể tăng sinh trở lại trong ruột. Nơi người và các động vật linh trưởng, sự thông thương giữa ruột và ruột thừa không diễn ra trực tiếp. Sự thông thương này được thực hiện qua một chỗ phình có vai trò như là một hàng rào chặn.

100.000 TỶ VI KHUẨN

Lời giải thích của các nhà nghiên cứu thật hấp dẫn và nhất là lời giải thích này đi theo chiều hướng của nhiều khám phá mới đây cho thấy vai trò thiết yếu của các vi khuẩn ruột trong sự tiêu hóa các thức ăn và sức khỏe của mỗi cá thể. Nơi một người trưởng thành, người ta ước tính rằng quần thể ruột được cấu tạo bởi 100.000 tỷ vi khuẩn, hoặc một trọng lượng toàn thể 1,5kg. Những vi khuẩn này nằm chất đống thành các lớp chồng lên nhau dọc theo ống tiêu hóa, tạo thành những biofilm bảo vệ ruột chống lại các vi khuẩn độc hại hay những tấn công bên ngoài. Một dự án châu Âu (MetaHIT) mới đây đã được phát động để séquencer toàn bộ các bộ gen (génome) vi khuẩn của ruột người. Những kết quả có thể làm biến đổi nhận thức của chúng ta về sức khoẻ con người.

Nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi William Parker tiếp tục công trình nghiên cứu của mình. Các nhà sinh học này vừa công bố một công trình nghiên cứu trong đó họ cho thấy rằng ruột thừa đã hiện hữu từ hơn 80 triệu năm, dưới các hình dạng khác nhau, nơi nhiều loài động vật có vú, trong đó có các linh trưởng và vài động vật gặm nhấm (Journal of Evolutionary Biology, 10/2009). Nếu ruột thừa đã tồn tại lâu như thế trong thế giới sinh vật, đó đúng là bởi vì nó có một ưu điểm tiến hóa, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy trong phần kết luận của họ. “ Trong những nước phát triển, chúng ta được bảo vệ. Chúng ta không uống nước bị ô nhiễm, Vậy chúng ta không cần ruột thừa, William Parker đã nhận xét như vậy. Trong những nước ở phía Nam với tình trạng y tế ít tốt hơn, những trường hợp ruột thừa viêm nhiều hơn.” nói một cách khác, chỉ chính nơi đó mà ruột thừa mới còn có lý do tồn tại.

“ Để kiểm tra tính chất có căn cứ của giả thuyết này, Dusko Ehrlich, nhà nghiên cứu ở Inra và điều phối viên của dự án MetaHIT đã xác nhận như vậy, cần phải so sánh sự tái định cư vi khuẩn sau một điều trị kháng sinh nơi những người có ruột thừa và nơi những người không còn có nó nữa.”
(LE FIGARO 6/12/2009)

6/ NHỮNG BIẾN DỊ LÀ NGUỒN GỐC CỦA TẬT NÓI LẮP.

Các biến dị là nguồn gốc của tật nói lắp (bégaiements), theo công trình phân tích của các gène của 123 người Pakistan nói lắp, trong số đó có 46 người có những mối liên hệ gia đình. Những biến dị này, nằm trên nhiễm sắc thế số 12, gây nên sự biến đổi của lysosome, một cơ quan tử tế bào (organite cellulaire), quan trọng trong sự điều hòa của chuyển hóa. Công trình nghiên cứu các người bị tật nói lắp sống ở Tây phương sau đó đã cho thấy rằng phần lớn họ đều mang cùng những biến dị như những người Pakistan. 9% cũng có những biến dị trên hai gène khác, cũng có liên quan trong sự điều hòa của chuyển hóa. Vấn đề còn lại đối với các nhà nghiên cứu của Viện quốc gia Hoa Kỳ về những rối loạn trao đổi (troubles de la communication), là làm sao hiểu được mối liên hệ giữa những bất thường chuyển hóa này và rối loạn của sự diễn đạt (trouble de l’élocution).
(SCIENCE ET VIE 4/2010)

7/ NGOẠI KHOA CỨU BỆNH ĐỘNG KINH.

NEUROLOGIE. 500.000 : đó là con số những người Pháp bị bệnh động kinh (épilepsie), nghĩa là các nạn nhân của các cơn bất ngờ do một sự loạn năng của hoạt động điện của não bộ. Vào lúc bắt đầu phóng điện (décharges électriques), vài bệnh nhân bất tỉnh và co giật, trong khi những người khác chỉ có các “ cơn vắng ” (absences) hay những rối loạn rất khu trú (các cơn bán phần, crises partielles). Thông thường nhất, động kinh xảy ra nhưng não bộ không bị thương tổn hay, ít nhất không có một thương tổn nào được nhận diện. Nhưng trong 1/3 các trường hợp, động kinh được liên kết với một dị tật (malformation) hay một thương tổn trong não bộ.
2/3 các bệnh nhân động kinh đáp ứng tốt với các thuốc chống động kinh và như thế hẳn phải có một cuộc sống bình thường, ngoại trừ là đối tượng của những phân biệt đối xử. “ Còn lại 1/3 các bệnh nhân động kinh mà khoảng 20 loại thuốc chống động kinh không ngăn cản được các cơn. Không cần phải thử tất cả các thuốc để tin chắc điều đó : 48% các bệnh nhân động kinh được kiểm soát ngay bởi vị thuốc đầu tiên, nếu được chọn lựa tốt. Nhưng trong trường hợp thất bại, chỉ 13% được kiểm soát với một thuốc chống động kinh khác. Và sau hai lần thất bại, các cơ may tìm được một điều trị thích hợp, rơi xuống còn 1%, GS Alexis Arzimanoglou, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh nhi đồng, trưởng đơn vị điều trị của Viện các bệnh động kinh của trẻ em và thiếu niên và chủ tịch của Liên đoàn chống bệnh động kinh của Pháp, đã xác nhận như vậy. Như thế, vào lúc đó đã đặt ra câu hỏi là không biết ta có thể mổ được hay không ”.
Ngày nay, ngoại khoa của bệnh động kinh là đối tượng của nhiều nghiên cứu. Thế mà không được mất một giây phút nào.Thật vậy, nơi những bệnh nhân đề kháng với các điều trị, tính chất không thể tiên đoán được của các cơn thường là nguồn gốc của phế tật, không kể đến một nguy cơ gia tăng bị các biến chứng trong khi các cơn co giật diễn ra. Do đó, các bệnh nhân động kinh đề kháng với các điều trị, hưởng được những tiến bộ mới nhất của ngoại khoa, nhưng họ còn phải là những bệnh nhân có thể mổ được. Vì ngoại khoa nhằm lấy đi phần não bộ bé xíu chịu các phóng điện, nên vùng bị thương tổn phải được nhận diện tốt và có thể tiếp cận mà không đụng phải những vùng quan trọng như các vùng của ngôn ngữ hay của những chức năng sinh tồn khác

CẤP CỨU ĐỐI VỚI CÁC TRẺ EM.

Trái với một định kiến, không phải phẫu thuật đặt ra vấn đề (các thầy thuốc ngoại thần kinh làm chủ được các kỹ thuật !) mà bilan trước khi mổ mới là vấn đề. Mặt khác, không phải là một sự tình cờ khi bilan thường cần đến 6 tháng và các danh sách chờ đợi có thể lên đến 18 tháng, nhất là nơi trẻ em. Vì phải đảm bảo rằng các cơn động kinh phát xuất từ một ổ duy nhất và phải xác định một cách rất chính xác vùng cần phải lấy đi, nên các xét nghiệm thông thường (điện não đồ với ghi các cơn, IRM…) là cần thiết, nhưng không phải luôn luôn đủ. Ngoài ra phải thường thực hiện một xét nghiệm được gọi là “ stéréo ECG ”. Thủ thuật này nhằm cắm các điện cực vào trong não bộ, ở mức hay chung quanh vùng bị nghi ngờ, rồi ghi hoạt động điện trong nhiều ngày hay nhiều tuần, trong khoa động kinh (service d’épileptologie). Sau đó, sự phân tích của các biểu đồ ghi này cho phép biết được, với độ chính xác từng millimètre, những vùng nào cần phải lấy đi, mà không được quên một vùng bị nghi ngờ nào cả, nếu không sẽ thất bại.

Thế mà, đó mới là điểm chính yếu bởi vì có nhiều bệnh nhân phải chờ xét nghiệm này và có ít chỗ có khả năng thực hiện nó : khoảng một chục nơi dành cho những người lớn, nhưng chỉ có hai nơi dành cho các trẻ em. Tuy vậy chính các trẻ em mới cần mổ cấp cứu hơn nếu ta muốn hy vọng cứu được sự phát triển tâm thần-vận động và sự học vấn của chúng.

Can thiệp phẫu thuật được thực hiện một cách cổ điển bằng cách cắt bỏ ngoại khoa ổ gây động kinh. Những thử nghiệm đang được tiến hành để phá hủy những thương tổn rất nhỏ với một liệu pháp phóng xạ rất khu trú, theo một thủ thuật được gọi là “ con dao gamma ” (gamma-knife).

Trong bối cảnh này, trên 3000 bệnh nhân động kinh là ứng viên của giải phẫu, chỉ có 400 là được mổ, trong đó chỉ có 100 trẻ em. Và mặc dầu tổn phí trung bình của bilan và phẫu thuật là cao ( gần 20.000 euro cho mỗi bệnh nhân), nhưng phí tổn này được giảm đi ngay năm thứ 8 và ngay cả sớm hơn nếu ta xét đến những phí tổn gián tiếp gây nên bởi một bệnh động kinh được kiểm soát kém (une épilepsie mal équilibrée) (thất nghiệp, tự tử, nghỉ học nghỉ việc của người bệnh hay nghỉ việc của bố mẹ.). Với một tỷ lệ chữa lành 40% nơi những người được mổ và hơn 50% sau cùng trở nên nhạy cảm với các loại thuốc chống động kinh, thì đó là một điều hứa hẹn cho một sự trở lại cuộc sống bình thường, với điều kiện là không được quá muộn.

(LE FIGARO 1/3/2010)

Đọc thêm : Cấp cứu nội thần kinh số 7: Co Giật (Seizures)

Quote

Thời Sự Y Học Số 116 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/3/2009 )

7/ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA CỦA BỆNH ĐỘNG KINH : THÊM MỘT CƠ MAY

B.S Francine Chassoux (thầy thuốc thần kinh) và G.S Bertrand Devaux (thầy thuốc ngoại thần kinh), bệnh viện Sainte-Anne, đã giải thích những lợi ích của phương pháp ngoại khoa, được công bố trong tạp chí “ Neurochirurgie ”.

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh động kinh ?
B.S Francine Chassoux : Bệnh lý này được thể hiện bởi các cơn lặp lại, có thể được biểu hiện bởi những triệu chứng gây bất hoạt khác nhau. Khi bệnh kéo dài, các bệnh nhân bị gây phế tật nghiêm trọng trong đời sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp của họ. Mỗi cơn động kinh tương ứng với một loại phóng điện quá mức, được phát ra trong não bộ bởi một nhóm neurone. Sự phóng điện này có thể vẫn khu trú (gây nên những rối loạn thần kinh xảy ra ngắn hạn và thay đổi), và khi đó người ta nói là động kinh bán phần (épilepsie partielle) (60% các trường hợp), hay lan ra toàn thể não bộ và khi đó gọi là động kinh toàn thể (épilepsie généralisée) (40% các trường hợp), được thể hiện một cách nghiêm trọng, thí dụ với các co giật, tăng tiết nước bọt và hôn mê kéo dài vài phút.

Hỏi : Thường thường làm sao điều trị hai dạng động kinh này ?
B.S Francine Chassoux : Đối với những bệnh nhân bị các cơn động kinh toàn thể, người ta kê đơn một điều trị chống động kinh bằng đường miệng.Với điều trị này, hiện nay người ta thu được 80% những kết quả tốt với sự biến mất của các cơn. Những bệnh nhân phát triển những cơn bán phần (crises partielles), có thể được điều trị với cùng những thứ thuốc hay những thuốc của một loại khác. Trong trường hợp này, những kết quả tốt thường không vượt quá 60%. Nơi những người động kinh đề kháng với điều trị, người ta thường khám phá thấy một thương tổn não bộ như là một bất thường bẩm sinh, một khối u hiền tính hay một vết sẹo

Hỏi : Thế thì trong trường hợp nào người ta có thể giải phẫu.
B.S Francine Chassoux : Người ta chỉ có thể mổ những bệnh nhân động kinh có những cơn bán phần (crises partielles). Và trước khi giải phẫu, cần thực hiện một bilan toàn bộ, gồm có điện não đồ kết hợp với vidéo, IRM, TEP (tomographie par émission de positons) để định vị vùng phát sinh động kinh khởi đầu các cơn. Để có thể lấy đi bằng phẫu thuật vùng gây động kinh này, phải có 3 tiêu chuẩn không thể thiếu được. 1. Sự hiện diện chỉ một ổ gây động kinh. 2. Một vùng vỏ não được khu trú và tuơng đối nhỏ. 3. một định vị có thể tiếp cận, được phân biệt với một vùng não bộ rất có chức năng.

Hỏi : Những kỹ thuật khác nhau nào được sử dụng đối với những bệnh nhân đề kháng với thuốc ?
B.S Francine Chassoux : Có 4 kỹ thuật chính. 1. Ngoại khoa cổ điển cắt bỏ bằng mở sọ (chirurgie de résection “à crâne ouvert”) (cortectomie), là thông thường nhất. 2. Ngoại khoa phá hủy nhắm đích (chirurgie de destruction ciblée) bằng ngoại quang tuyến (radiochirurgie) hay nhiệt đông (thermocoagulation), đối với những thương tổn nhỏ nằm ở trung tâm não bộ và đối với những bệnh nhân không muốn chịu ngoại khoa cổ điển. 3. Ngoại khoa tách nối (chirurgie de déconnection), nhằm cô lập vùng bị thương tổn với phần còn lại của não bộ. Phương pháp này được áp dụng cho các ổ gây động kinh quá rộng nên không thể lấy ra được. 4. Ngoại khoa điều biến (chirurgie de modulation), được thực hiện trong trường hợp chống chỉ định của những phương pháp trước. Phương pháp này nhằm chống lại sự phát sinh các phóng điện (décharges électriques) chịu trách nhiệm các cơn (bằng cách cắm một điện cực nơi cổ, nối với một bộ phận dẫn nhịp).

Hỏi: Những kết quả thu được với tất cả những kỹ thuật khác nhau này là những kết quả nào?
B.S Francine Chassoux : Những kết quả được đặt tương quan với các định vị và các nguyên nhân. Với kỹ thuật cắt bỏ cổ điển, người ta đã thành công hủy bỏ các cơn trong 60 đến 90% các trường hợp. Với sự phá hủy nhắm đích (destruction ciblée) bằng ngoại quang tuyến (radiochirurgie), những kết quả có vẻ tương đương. Kỹ thuật nhiệt đông (thermocoagulation) đang được đánh giá. Những kết quả của ngoại khoa tách nối (chirurgie de déconnection) thì thay đổi : nơi vài bệnh nhân người ta hủy bỏ được các cơn trong 70% các trường hợp. Kỹ thuật điều biến (technique de modulation) làm giảm 50-90% các triệu chứng nhưng không chữa lành bệnh.Theo ý tôi, còn quá ít các bệnh nhân được gởi đến các kíp chuyên môn ngoại khoa này, và nhất là quá chậm. Ở Pháp, trên 12.000 ứng viên lý thuyết, người ta chỉ mổ 400 trường hợp mỗi năm, trong đó khoảng 100 trẻ em !
(PARIS MATCH 19-25/2/2009)

Thời Sự Y Học Số 108 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2009 )

4/ ĐỘNG KINH : NGOẠI KHOA RẤT HIỆU QUẢ NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN NHIỀU

Neurologie : Trong các trường hợp mà thuốc men không hiệu quả, việc nhờ đến con dao mổ cho phép những tỷ lệ chữa lành quan trọng và những di chứng hiếm khi xảy ra.

Quá ít, quá muộn. Mặc dầu có thể cải thiện một cách đáng kể đời sống và ngay cả hy vọng sống thêm (espérance de vie) của một vài người bị bệnh động kinh, ngoại khoa vẫn ít được sử dụng và được thực hiện quá chậm, các thầy thuốc Hoa Kỳ trong ấn bản vừa qua của Jama, tờ báo của Hiệp hội y sĩ Hoa Kỳ, đã phàn nàn như vậy. Một điều chứng thực hoàn toàn được chia sẻ bởi các chuyên viên người Pháp. “Phải thôi cho rằng điều trị ngoại khoa bệnh động kinh là một điều trị của cơ may cuối cùng. Trái lại có thể đó là điều trị có khả năng tốt nhất không được bỏ qua”, G.S Bertrand Devaux, thầy thuốc ngoại thần kinh của bệnh viện Sainte-Anne (Paris) đã tóm tắt như vậy trong báo cáo mới đây về những điều trị ngoại khoa của bệnh động kinh ở Pháp.

Là bệnh mãn tính gây phế tật, có thể bắt đầu từ tuổi ấu thơ, động kinh có liên quan từ 0,5 đến 1% dân số thế giới, hoặc gần 500.000 người ở Pháp. Những nguyên nhân gây nên những phóng điện bất thường ở các tế bào thần kinh này rất là nhiều. Cũng như các triệu chứng của các cơn động kinh cũng vậy, tùy thuộc vào vị trí của các thương tổn.

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh được kiểm soát bởi một điều trị nội khoa, nhưng các loại thuốc vẫn không có hiệu quả nơi 20 đến 30% các bệnh nhân. Chính những người được gọi là “đề kháng với dược” (pharmaco-résistant) này, đôi khi rất tàn phế trong cuộc sống hàng ngày, là đối tượng mà phẫu thuật có khả năng nhằm đến. Tuy nhiên không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể mổ được. Phẫu thuật chỉ có thể được đề nghị khi thương tổn não, nguồn gốc của các cơn động kinh, được khu trú trong một vùng mà sự cắt bỏ ít có nguy cơ đưa đến các di chứng trên bình diện chức năng.

BILAN TIỀN PHẪU NẶNG NỀ

Công trình nghiên cứu được công bố trong Jama bởi B.S Hyunmi Choi (thầy thuốc thần kinh của Đại Học Columbia, Nữu Ước), được thực hiện trên bệnh động kinh của thùy thái dương (épilepsie du lobe temporal), thể thông thường nhất của bệnh nơi người trưởng thành, và là một trong những thể thường đề kháng nhất đối với các thuốc chống động kinh. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cho thấy rằng nơi những bệnh nhân ở lứa tuổi trung bình (35 tuổi), giải phẫu cho phép làm gia tăng 5 năm hy vọng sống thêm (espérance de vie) so với điều trị nội khoa. Thật vậy, BS Choi nhắc lại, bệnh động kinh đề kháng với thuốc làm gia tăng tỷ lệ tử vong do những tai nạn chết người xảy ra sau các cơn, do các cơn nặng (cơn động kinh liên tục), do tự tử hay chết đột ngột.

Còn các kết quả về chất lượng sống, theo cùng công trình nghiên cứu, chúng biện minh cho ưu thế của điều trị ngoại khoa nơi 96% các bệnh nhân. Những lợi ích của phẫu thuật (cải thiện rõ rệt các cơn, hoặc kể cả chữa lành) vượt xa hơn nhiều những nguy cơ của can thiệp ngoại khoa. Tuy vậy, như chủ bút của tờ Jama xác nhận, “ không những phần lớn các ứng viên của phẫu thuật đã không bao giờ được giới thiệu đến một phẫu thuật viên, mà những bệnh nhân được mổ thường quá chậm để có thể ngăn ngừa những phế tật sinh lý và xã hội của bệnh động kinh. ”

Trung bình, ở Hoa Kỳ, can thiệp ngoại khoa được thực hiện sau hơn 20 năm tiến triển của bệnh. Một tình trạng có thể được so sánh với Pháp. Khoảng 400 bệnh nhân bị động kinh (trong đó 100 là trẻ em) được mổ mỗi năm trong một trong 17 trung tâm của Pháp, hoặc khoảng một nửa của các nhu cầu. “Quá nhiều bệnh nhân vẫn được theo dõi rất lâu bởi những thầy thuốc không biết rõ ngoại khoa hoặc không có một cái nhìn dương tính về phẫu thuật”, G.S Devaux đã nhấn mạnh như thế.

Tính toàn bộ, từ lúc bắt đầu đến cuối những năm 1950, ở bệnh viện Sainte-Anne, phẫu thuật của bệnh động kinh đã được thực hiện nơi 5.000 bệnh nhân ở Pháp. Những kết quả, được phân tích nơi 2000 bệnh nhân được mổ trong số này, là một trong những kết quả tốt nhất, ở trình độ quốc tế. Trái với một thành kiến, những di chứng thần kinh là khá hiếm (2,5% các trường hợp), và tỷ lệ tử vong là ngoại lệ (0,15%). Tỷ lệ chữa lành là khoảng 80% trong trường hợp các động kinh vùng thái dương (épilepsie temporale). Những kết quả còn tốt hơn nhiều trong nhi khoa, đối với vài khối u bẩm sinh và những dị tật phát triển của não bộ. Theo GS Devaux, nhiên hậu, phẫu thuật này hẳn phải được thực hiện càng ngày càng nhiều nơi các trẻ em, và một phần trong số các trẻ em này có thể được mổ “để phòng ngừa”, ngay khi thương tổn gây động kinh được khám phá. Mới đây, nhóm phẫu thuật Sainte-Anne đã can thiệp để điều trị một dị tật não nơi một bé gái chỉ bị một cơn động kinh. Tuy vậy, bilan tiền phẫu là nặng nề đối với các bệnh nhân. Bilan có thể đặc biệt cần những xét nghiệm xâm nhập như SEEG (stéréoélectroencéphalographie), trong đó những điện cực được cắm trực tiếp trong não bộ để định vị thương tổn gây động kinh. Những phương pháp này càng ngày càng được thay thế bởi những kỹ thuật chụp hình hiện đại, thí dụ TEP (tomographie à émission de positons), kết hợp với IRM (imagerie par résonance magnétique). Sự kết hợp của hai xét nghiệm này cho phép chẩn đoán và do đó mổ các thương tổn, đặc biệt là những dị tật (malformations) trước đây không được phát hiện.

Về các kỹ thuật mổ, chúng hiện đang trên đà tiến triển. Cắt bỏ vùng bị bệnh vẫn là cổ điển nhất. Càng ngày càng có những phương pháp thay thế ít xâm nhập hơn : kích thích dây thần kinh phế vị, ngoại quang tuyến (radiochirurgie), đốt điện (electrocoagulation) hay déconnexion.
(LE JOURNAL DU FIGARO 8/12/2008)

Thời Sự Y Học Số 98 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/10/2008 )

3/ ĐỘNG KINH : NHỮNG PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI

Giáo sư Michel Baulac, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh của bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Paris, giải thích từ nay điều trị như thế nào 40% những bệnh nhân động kinh đề kháng với các liệu pháp cổ điển.

Hỏi : người ta thường che dấu là bị một bệnh động kinh, căn bệnh còn bị kiêng kỵ về mặt xã hội. Thật ra, định nghĩa của động kinh là thế nào ?
G.S Michel Baulac : Đó là một bệnh lý thường xảy ra, ở châu Âu cứ 1000 người thì có một người bị bệnh, trong đó cứ hai bệnh nhân thì một là trẻ em. Người ta chỉ thật sự chẩn đoán động kinh khi các cơn tái diễn. Các cơn này tương ứng với một đợt phóng điện (une décharge électrique) bất bình thường của các nơ ron nằm trên trên một bề mặt rộng ít hay nhiều của vỏ não. Các triệu chứng thay đổi tùy theo vị trí và mặt rộng của vùng bị ảnh hưởng. Nhiều nguyên nhân có thể là nguồn gốc của những cơn động kinh này : khối u, sẹo sau chấn thương, dị dạng đủ loại, nhưng cũng có tố bẩm di truyền.

Hỏi : Những dạng khác nhau của cơn động kinh là gì ?
G.S Michel Baulac : Vâng. Có hai dạng chính. 1. Cơn động kinh toàn thể (crise convulsive généralisée) trong đó sự phóng điện nơ ron tỏa lan. Cơn được phát khởi bằng một sự mất tri giác tức thời kéo dài vài phút, bệnh nhân té đột ngột, cứng toàn bộ thân thể, tăng tiết nước bọt và những rung giật ở các chi : cơn rất gây ấn tượng đối với những người chung quanh! Những cơn động kinh toàn thể khác, ít gây thương tổn hơn, chỉ đưa đến vắng ý thức (absence) vài giây hay những rung giật ngắn ngủi của các chi. 2. Những cơn động kinh cục bộ (crises partielles), có những triệu chứng tương ứng với vùng bị ảnh hưởng : những rối loạn thị giác, các ảo giác (hallucinations), những cử động không tự ý và vắng ý thức kéo dài vài phút đối với vài bệnh nhân, với mất toàn bộ sự làm chủ hành vi, do đó tình trạng mất năng lực quan trọng khi các cơn xảy ra thường xuyên.

Hỏi : Những người động kinh sống trong lo sợ sẽ xảy ra một cơn động kinh mới… Những dấu hiệu báo trước là những dấu hiệu nào ?
G.S M.B : Có khi vài người phát khởi một cơn nhỏ (minicrise) vài chốc lát trước khi cơn trở nên nghiêm trọng hơn. Nếu có đủ thời gian (khoảng 10 phút), một thuốc có tác dụng nhanh đôi khi có thể tránh được cơn xảy ra. Nhưng hầu hết các bệnh nhân không có một dấu hiệu báo trước nào, do đó cần có một điều trị thường trực.

Hỏi: Cho đến nay, những điều trị cổ điển là những điều trị nào, và những chỉ định của chúng?
G.S M.B: Một tiến bộ mới đây là khả năng điều trị các bệnh nhân “à la carte“. Có nhiều thuốc chống động kinh với cách tác dụng khác nhau nhưng mục đích đều giống nhau: ngăn cản sự biểu hiện các triệu chứng. Không có một loại thuốc nào có thể chữa lành được bệnh. Đối với các cơn động kinh toàn thể, valproate (Dépakine), lamotrigine (Lamictal) là được sử dụng nhiều nhất nhưng không phải là không có những tác dụng phụ, do đó cần theo dõi đều đặn. Đối với những cơn động kinh cục bộ, thuốc thường được cho là carbamazépine (Tégrétol) vẫn có thế cho những tác dụng phụ; lévétiracétam (Keppra) là một lựa chọn khác.

Hỏi : Với những phương thức điều trị thuốc bằng đường miệng, những kết quả thu được là những kết quả nào ?
G.S M.B : Chúng cho phép kiểm soát các cơn nơi 60% các bệnh nhân.

Hỏi : Như vậy đối với 40% những bệnh nhân còn lại, cần những điều trị hiệu quả hơn. Điều trị mới được hiệu chính gần đây đối với những bệnh nhân đề kháng này là gi ?
G.S M.B : Trước hết, vài bệnh nhân được gọi là đề kháng dược liệu (pharmacorésistant) có thể là những ứng viên của một can thiệp ngoại khoa, nhằm lấy đi vùng não bộ gây nên các cơn động kinh. Về mặt thuốc men, chúng ta có những thuốc mới chống động kinh, được cho bằng đường miệng. Trong số những thuốc mới nhất, zonisamide và lacosamide đã được trắc nghiệm trong nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, trong đó chúng đã chứng tỏ một hiệu quả thật sự trong việc làm giảm tần số xảy ra các cơn. Những thuốc này có ưu điểm là có hoạt tính nơi những bệnh nhân đề kháng nhất.

Hỏi : Người ta có nhận thấy những tác dụng phụ không ?
G.S M.B : Người ta đã ghi nhận những cảm giác chóng mặt, chứng ngủ gà, tình trạng dễ mệt mỏi và vài rối loạn tính khí.

Hỏi : Khi nào các bệnh nhân động kinh mới có thể hưởng liệu phát rất mới này ?
G.S M.B : Zonisamide đã được chấp thuận bởi các giới hữu trách Châu Âu và đã được thương mãi hóa ở Pháp từ nhiều tháng nay. Lacosamide vừa mới được sự chấp thuận của châu Âu và chẳng bao lâu sẽ có để sử dụng ở Pháp. Những điều trị các bệnh nhân đề kháng bằng những thuốc mới này là một bước tiến quan trọng.

Hỏi : Có chống chỉ định đối với những thuốc mới này không ?
G.S M.B : Mọi dự định thai nghén phải được chuẩn bị trước một cách cẩn thận và vài loại thuốc cần phải tránh. FDA, cơ quan y tế tối cao của Hoa Kỳ, vừa gợi ý rằng tất cả các thuốc chống động kinh mới có thể làm dễ các ý nghĩ tự tử (idées suicidaires). Do đó cần áp dụng mọi biện pháp thận trọng nơi những bệnh nhân trầm cảm có nguy cơ bị động kinh hơn.

Hỏi : Những thuốc mới này đã được thương mãi hóa trong các nước khác chưa ?
G.S M.B : zonisamide khởi đầu đã được phát triển ở Nhật Bản trong những năm 90, sau đó được đưa vào Hoa Kỳ năm 2000.Vậy chúng ta hưởng được một kinh nghiệm rộng rãi.Thời gian nhìn lại ngắn hơn đối với lacosamide.

Sau cùng, phải nhấn mạnh những tiến bộ mới đây đối với vài dạng động kinh tàn phá của trẻ em, với sự hiệu chính những thuốc rất trọng điểm, gọi là orphelins. Những tiến bộ này thể hiện đúng tất cả những cố gắng hiện nay của nghiên cứu chống lại bệnh động kinh trong tất cả các dạng thức.
(PARIS MATCH 25/9-1/10/2008)

8/ THỜI GIAN NGHIỆN THUỐC LÁ VÀ BỆNH PARKINSON.

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những người hút thuốc chịu nguy cơ phát triển bệnh Parkinson thấp hơn. Số các năm tháng hút thuốc quan trọng hơn là lượng các điếu thuốc được hút mỗi ngày.

Honglei Chen và các đồng nghiệp (National Institute of Environmental Health Sciences in Research Triangle Park, North Carolina) đã căn cứ trên các dữ kiện có liên quan đến 305.468 người đàn ông và đàn bà 50 tuổi hoặc hơn. Trong thời gian theo dõi kéo dài hơn 10 năm, 1.662 người tham dự đã phát triển bệnh Parkinson, hoặc 0,5 đến 1%. Các nhà nghiên cứu đã có thể thiết lập một mối quan hệ với hành vi hút thuốc. Như thế, những người trong quá khứ đã hút ít nhất 1 bao thuốc mỗi ngày trong dưới 10 năm, có 4% nguy cơ ít hơn phát triển bệnh so với những người đã không bao giờ hút thuốc. Nhưng những người đã hút trong 10 đến 19 năm thấy nguy cơ của mình giảm 22%. Nếu thời gian nghiện thuốc lá trải dài từ 20 đến 29 năm, nguy cơ được giảm đi 36%, và nếu nó kéo dài trong hơn 30 năm, nguy cơ được thu giảm 41%. Vậy nguy cơ dường như được liên kết với số năm trong đó những thói quen hút thuốc được duy trì. Các tác giả, mà công trình nghiên cứu được công bố hôm 10/3 trong Neurology, hy vọng rằng khám phá của họ sẽ cho phép làm sáng tỏ tốt hơn nhưng cơ chế giải thích sự xuất hiện của bệnh Parkinson.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/3/2010)

9/ CÁC CHẤT BỔ SUNG THỨC ĂN : TÍNH HIỆU QUẢ, TÍNH VÔ HẠI, CÁC NGUY CƠ.

Trong cuốn sách được viết bởi GS Luc Cynober “ La vérité sur les compléments alimentaires ”, BS Jacques Fricker, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng của bệnh viện Bichat, Paris, giải thích khi nào cần cho chất bổ sung thức ăn.

Hỏi : Sự khác nhau giữa một vị thuốc (médicament) và một chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) là gì ?
BS Jacques Fricker : Mục đích của một vị thuốc là để chữa lành bệnh(hay để ngăn ngừa) trong khi mục đích của một chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) là cải thiện sự vận hành chức năng của cơ thể hay của một cơ quan nhất định. Mọi loại thuốc phải được một giấy phép cho luu hành trên trường (AMM : autorisation de mise sur le marché), đây không phải là trường hợp đối với các chất bổ sung thức ăn. Những chất bổ sung thức ăn này chủ yếu phải chứng tỏ tính vô hại của chúng. Sự chuẩn y về tính hiệu quả ít đòi hỏi hơn.

Hỏi : Làm sao tìm kiếm được một sự thiếu (déficience) thật sự vitamine và các chất khoáng ?
BS Jacques Fricker : Để đánh giá một sự thiếu hụt (déficit) hay một sự thiếu (carence) một vài chất dinh dưỡng (nutriment), như vitamine D hay sắt, phải có những xét nghiệm máu cho phép chẩn đoán sự thiếu hụt này. Ngược lại, đối với những chất dinh dưỡng khác, không có phân tích đáng tin cậy ở quy mô cá nhân. Vậy phải dè chừng những lời đề nghị làm bilan này, tốn kém và vô ích.

Hỏi : Ở Pháp, tần số của những sự thiếu (déficience) này là gì ?
BS Jacques Fricker : Thiếu (carence) là một sự thiếu quan trọng của một hay nhiều chất dinh dưỡng, dẫn đến sự xuất hiện của một căn bệnh, ví dụ bệnh scorbut do thiếu vitamine C, hay bệnh còi xương (rachitisme) do thiếu vitamine D. Trong các đất nước phát triển của chúng ta, những sự thiếu (carence) này rất là hiếm. Sự thiếu hụt (déficit) tương ứng với một sự cung cấp hơi dưới các nhu cầu, có nguy cơ gây nên một sự mệt mỏi, một sự đề kháng kém hơn của cơ thể. Ở Pháp, những thiếu hụt thường gặp nhất là các thiếu hụt sắt (nơi các phụ nữ trẻ), vitamine D (nơi các thiếu niên và những người trên 50 tuổi), vitamine C và calcium (nơi những người ít tiêu thụ những sản phẩm sữa), vitmine B9 hay folate (nơi những người ăn ít rau xanh).

Hỏi : Những người có nguy cơ thiếu hụt mà ta khuyên cho bổ sung là những ai ?
BS Jacques Fricker : 1. Những người bị vài bệnh tiêu hóa gây nên một sự hấp thụ kém các vitamine và các chất khoáng. 2. Những người bị loét dạ dày hay u xơ tử cung gây nên một sự xuất huyết và một sự thiếu sắt (carence en fer). 3. Những người ăn toàn chay (végétaliens) không tiêu thụ một sản phẩm có nguồn gốc động vật, bị thiếu oméga 3, sắt, calcium, vitamine D và B 12, gây nên những rối loạn thần kinh. 4. Những người theo chế độ ăn uống làm gầy không thích hợp (do đó bị thiếu hụt toàn bộ các vitamine và các chất khoáng). Cũng có những giai đoạn trong cuộc sống mà việc cho bổ sung thức ăn là hữu ích : trong thời kỳ thai nghén, một sự cung cấp sắt và folates thường là cần thiết và vitamine D gần như luôn luôn được khuyến nghị vào tháng thứ 7. Đối với những bà mẹ tương lai tiêu thụ ít cá, một sự cho bổ sung iode thường được kê đơn. Sau thời kỳ mãn kinh, vitamine D được chỉ định để bảo vệ hệ xương. Trong thời kỳ hoạt động trí tuệ cật lực, việc sử dụng các viên thuốc oméga 3 có thể tỏ ra là một hỗ trợ quý giá. Các nữ vận động viên thể thao lớn thường thiếu sắt. Vào một lứa tuổi cao, lúc mà các nguy cơ thiếu vitamine D và B9 gia tăng, người ta thường khuyên cho bổ sung các vitamine này.

Hỏi : Thế thì những nguy cơ của một sự thặng dư của các chất bổ sung này là gì ?
BS Jacques Fricker : Một sự thặng dư sắt có một tác dụng làm dễ oxy hóa (effet pro-oxydatif), nghĩa là một sự oxy hóa (oxydation) của các tế bào (protéines, lipides, nhiễm sắc thể), sẽ làm biến hóa chúng, làm chúng dễ bị nhạy cảm hơn với quá trình lão hóa. Sắt được kê đơn với những liều lượng thấp nhưng mục đích là phòng ngừa (từ 15 đến 20 mcg mỗi ngày), và trong trường hợp thiếu hụt quan trọng, liều lượng sẽ chuyển lên khoảng 80 mcg. Vitamine A cho quá liều có thể gây nên một bệnh của gan, với nguy cơ thoái hóa thành xơ gan (liều lượng 80 mcg mỗi ngày không được vượt quá). Vitamine C hàm chứa một nguy cơ oxy hóa các tế bào bắt đầu từ 500mg mỗi ngày. Và chú ý đến các cocktail đa vitamine được đề nghị trên Internet ! Nếu chúng quá liều, chúng có thể gây nên một sự hạ của khả năng miễn dịch.
(PARIS MATCH 4/3[*] 10/3/2010)

10/ CHỐNG CHÍ RẬN, MỘT ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐƯỜNG MIỆNG

Hiệu quả của thuốc uống cao hơn hiệu quả của các thuốc thoa cổ điển.

DERMATOLOGIE. Tất cả mọi gia đình hay hầu như tất cả đã trải qua những giây phút trong đó mỗi người phải chịu xoa trên da đầu một thuốc chống ký sinh trùng và phải bắt đầu lại tất cả 15 ngày sau, vì lẽ điều trị không có hiệu quả. Ở Pháp, theo các công trình nghiên cứu, từ 2 đến 20% các trẻ em học tiểu học, vào một lúc nào đó, bị xâm nhập bởi các con chí (poux de tête). Các trẻ từ 3 đến 11 tuổi đặc biệt dễ bị thương tổn, do các hành vi xã hội của chúng (các trò chơi), làm dễ sự lan tràn của các ký sinh trùng.

Trong những năm 1990, giáo sư Olivier Chosidow, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc bệnh viện Henri-Mondor, Créteil (Val-de-Marne), và nhóm nghiên cứu của ông đã nhận thức được rằng các khả năng đề kháng chống lại các thuốc xức (lotions) cổ điển phát triển nhanh chóng, đặc biệt là do áp lực của sự chọn lọc liên kết với sự sử dụng gia tăng của chúng. Vài trong những ký sinh trùng này khi đó không nhạy cảm với các thuốc diệt côn trùng, malathion hay pyréthrine, được chứa trong những sản phẩm này.

Giáo sư Chosidow, cộng tác với Bruno Giraudeau, nhà nghiên cứu của trung tâm điều tra lâm sàng của Inserm, đã quyết định đánh giá, trong bối cảnh một nghiên cứu lâm sàng, tính hiệu quả chống chí của ivermectine, một thứ thuốc được cho bằng đường miệng (đã được sử dụng chống ghẻ) với liều lượng 400 mg mỗi kg thể trọng và ông đã so sánh điều trị bởi thứ thuốc này với một điều trị tại chỗ cổ điển (malathion, thuốc xức 0,5%). Tổng cộng, 812 người bị nhiễm chí xuất phát từ 376 gia đình (ở Pháp, Anh, Ái Nhĩ Lan, Israel) đã được điều trị hai lần cách nhau 7 ngày với một trong những thứ thuốc này. Những kết quả, được công bố hôm qua trong tạp chí có uy tín của Hoa Kỳ, The New England Journal of Medicine, hoàn toàn có sức thuyết phục : 95% trong số 398 người đã nhận ivermectine bằng đường miệng đã khử được các con chí 15 ngày sau khi bắt đầu điều trị, so với 86% của 414 bệnh nhân được điều trị với malathion.

CHƯA CÓ TRÊN THỊ TRƯỜNG.

Đối với giáo sư Olivier Chosidow, người điều hành công trình nghiên cứu này, không còn nghi ngờ gì nữa : “ Trong khi các điều trị cổ điển chống chí không có hiệu quả, việc sử dụng ivermectine hai lần cách nhau 7 ngày mang lại những kết quả rất tốt và là một thay thế thật sự đối với các thuốc thoa chống chí cổ điển.”. Hiện nay, thuốc này không có giấy phép cho lưu hành trên thị trường, mặc dầu hãng bào chế đã yêu cầu. “ Tuy nhiên, Olivier Chosidow nói thêm, thuốc này sẽ chỉ được sử dụng ưu tiên hai, thậm chí ưu tiên ba, nếu ta muốn tránh các con chí thích nghi và cũng trở nên đề kháng đối với ivermectine.”

Không có tác dụng phụ nào liên kết với thuốc đã được quan sát trong khung cảnh của thử nghiệm điều trị này. Nhưng số người được tuyển mộ vẫn còn thấp và cần những công trình khác để đảm bảo tính vô hại hoàn toàn của dược phẩm.
(LE FIGARO 12/3/2010)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (5/4/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#45 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 12 April 2010 - 10:08 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BỆNH PHONG THẤP : BỆNH THỐNG PHONG TRỞ LẠI.

RHUMATOLOGIE. Bệnh thống phong (goutte) hầu như đã bị lãng quên, được liệt vào hàng các bệnh lịch sử. Nhưng không hẳn đã biến mất, bệnh thống phong đang trở lại mạnh mẽ. Ngày xưa được mệnh danh là căn bệnh của những người giàu, thậm chí của các bậc vua chúa, bởi vì xuất hiện nơi những“ người thích vui chơi ” (bons vivants), bệnh thấp khớp viêm (rhumatisme inflammatoire) này hiện đang gia tăng trong hầu hết các nước trên thế giới. Và sau nhiều thập niên hững hờ, sự nghiên cứu giờ đây trở nên rất tích cực. 9 gène nhạy cảm vừa được nhận diện và, lần đầu tiên từ hơn 40 năm qua, một loại thuốc mới xuất hiện trên thị trường. Những loại thuốc khác đang được nghiên cứu. Trong các nước công nghiệp, bệnh thống phong là bệnh thấp khớp viêm thường xảy ra hơn cả : 1% đến 2% dân số bị liên quan bởi bệnh này, hơn 600.000 người ở Pháp. Những người đàn ông, nhất là lão niên, là những nạn nhân chính, trong khi các phụ nữ tương đối được bảo vệ bởi các oestrogène.

Tất cả các công trình nghiên cứu dịch tễ đều ăn khớp nhau, tần số của bệnh thống phong đang tăng vọt lên. Ở Anh Quốc, tỷ lệ này chuyển từ 0,3% lên 1% giữa năm 1970 và 1990. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này tăng gấp đôi (từ 2,1 lên 4,1%) trong vòng chưa được 10 năm nơi những người đàn ông trên 75 tuổi. Tân Tây Lan giữ kỷ lục thế giới, với gần 15% người bị bệnh thống phong trong số những người Maoris nam giới, hai lần cao hơn so với cuối những năm 1950. Một “ dịch bệnh ” do sự khiếm khuyết di truyền trong dân tộc thiểu số này, liên kết với sự tây phương hóa của chế độ ăn uống, GS Thomas Bardin, thầy thuốc chuyên khoa bệnh thấp khớp của bệnh viện Lariboisière (Paris) đã đảm bảo như vậy.“ Bệnh thống phong trở lại với sự mỹ hóa của chế độ ăn uống ”, ông đã nhấn mạnh như thế.

Người ta đã chứng minh rằng một sự tiêu thụ mạnh thịt, tôm ốc ngao sò (fruits de mer), soda giàu fructose, bia và những rượu nặng khác, những thức ăn giàu purine (một thành phần của ADN và của ARN), làm dễ sự tăng cao của acide urique trong máu. Điều này nhiên hậu dẫn đến các lắng đọng (dépôts) của các tinh thể urate de sodium trong các khớp. Khi các lắng đọng này bị vỡ và phóng thích các tinh thể của chúng vào trong xoang khớp, đó là cơn thống phong (crise de goutte). “ Cảm giác một chiếc đinh được ấn vào trong chỗ khớp ”, “ xé rách da thịt bởi các gọng kìm mạnh ”, sự đau đớn, thường ở ngón cái, với viêm và đôi khi sốt, là một trong những điều tệ hại nhất trong y khoa. Cơn đau thoái bộ một cách ngẫu nhiên trong vài ngày.

Tuy vậy, bệnh thống phong không hẳn là một bệnh hiền tính. GS Bardin nhấn mạnh những mối liên hệ nguy hiểm của nó với chứng béo phì, bệnh cao huyết áp và một cách tổng quát, những bệnh lý tim mạch. Ngay cả sau khi đã điều chỉnh những yếu tố nguy cơ khác, tần số mắc bệnh nhồi máu được nhân lên từ hai đến ba lần nơi những người bị bệnh thống phong. Mặt khác, căn bệnh hoàn toàn có thể chữa lành này, nếu bị lơ là, có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng của khớp và thận. Mục tiêu của điều trị là làm hạ nồng độ acide urique trong máu xuống dưới mức 60mg/l, để làm hòa tan các lắng đọng urate. Chế độ ăn uống cho phép hạ được 10mg/l.

THUYẾT PHỤC NHƯNG NGƯỜI BỊ BỆNH THÔNG PHONG.

Được thương mãi hóa từ những năm 1960, allopurinol (Zyloric) là điều trị chuẩn. Thuốc này có hiệu quả, nhưng trong những trường hợp hiếm hoi, có thể gây nên những phản ứng dị ứng da đôi khi rất nghiêm trọng. Ngoài ra, liều lượng phải được thích ứng trong trường hợp suy thận.

Một loại thuốc, có cách tác dụng tương tự nhưng không có những điều bất tiện này, vừa được thương mãi hóa : febuxostat (Adenuric, được bào chế bởi các hãng dược phẩm Menarini và Ipsen). “ Trong các thử nghiệm, thuốc này tỏ ra mạnh hơn allopurinol trong việc làm giảm nồng độ acide urique trong máu (uricémie), GS Gérard Chalès, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp (CHU de Rennes) mới đây đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên, thuốc mới này đã gây nên một sự gia tăng, không đáng kể, những biến cố tim mạch. Một nghiên cứu bổ sung được dự kiến để làm sáng tỏ vấn đề này ”.

Vấn đề còn lại là phải thuyết phục những người bị bệnh thống phong điều trị. Sau một năm, cứ hai người thì còn một người tiếp tục uống thuốc.“ Bệnh nhân phải được thông tin rằng sự tuân thủ điều trị (observance thérapeutique), một phần lớn, là điều kiện của sự thành công, và người bệnh phải biết rằng điều trị duy trì (traitement de fond) phải được kéo dài, thường là suốt đời, để tránh sự tái xuất hiện của các cơn đau đớn ”, BS Xavier Puéchal, thầy thuốc chuyên khoa khớp của Hôpital du Mans đã nhấn mạnh như thế.
(LE FIGARO 15/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 109 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/1/2009 )

2/ ACIDE URIQUE : XẤU HAY TỐT ?

Hầu hết tất cả các bệnh nhân bị bệnh thống phong (goutte) đều có acide urique tăng cao trong máu (hyperuricémie). Ngược lại, chỉ có 10% những người với tăng axit uric-huyết là bị bệnh thống phong mà thôi. Nhưng, điều đặc biệt là, vài tác giả đã khám phá ra rằng axit uric có thể có những tác dụng thuận lợi.

NHỮNG KẺ RANH MA

Vào khoảng giữa những năm 50, người ta đã nhận thức rằng axit uric có một cấu trúc tương tự với caféine, điều này đã làm khích động trí tưởng tượng. Suốt trong những năm 60 và 70, nhiều bài báo, báo cáo rằng những người có tăng axit uric-huyết (hyperuricémie) là thông minh hơn và nhìn toàn bộ có hiệu quả hơn. Nhưng nhiều trong số những công trình nghiên cứu này được tiến hành trên một số lượng nhỏ người tham dự và có thể có nhiều thiên lệch, như tình trạng xã hội-kinh tế.Tuy vậy, axit uric đã được xem như là một chất phần nào có tác dụng kích thích lên não bộ.

CHỐNG OXY HÓA (ANTIOXYDANT)

Axit uric cũng đã gợi sự tò mò do những tính chất chống oxy hóa của nó. Từ những công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng, những người có một nồng độ axit uric thấp, có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson và cả bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) được giảm. Những dữ kiện mới đây đã chỉ cho thấy rằng hiệu quả này là do axit uric làm chậm sự vượt qua hàng rào huyết-não (barrière hémato-encéphalique), hơn là do một tác dụng thật sự chống oxy hóa (action antioxydante). Chưa có một công trình nghiên cứu nào cho thấy tác dụng thuận lợi này của axit uric lên não bộ, những hướng nghiên cứu vẫn được tiếp tục theo đuổi.

NHỮNG Ý KIẾN ĐƯỢC CHIA SẺ

Tuy nhiên bệnh cảnh lâm sàng của tăng axit uric-huyết không phải là diễm tình. Từ giữa những năm 50 đã nổ ra một cuộc tranh cãi về một mối liên hệ khả dĩ giữa tăng axit uric-huyết với những bệnh tim mạch. Framingham Heart Stuydy group vào năm 1999 đã kết luận rằng tăng axit uric-huyết không phải là một yếu tố nguy cơ tim mạch. Một xác nhận phần nào được xét lại cuối tháng 10 năm 2008, bởi New England Journal Medicine, trong một bài báo kết luận về sự thiếu sót các dữ kiện để xác lập những khuyến nghị trong điều trị tăng axit uric -huyết. Và cho rằng có đủ lý lẽ để tiến hành những nghiên cứu lâm sàng mới về chủ đề này.

MỘT TÌNH HUỐNG PHỨC TẠP

Những công trình nghiên cứu dịch tễ học bị trở nên rắc rối bởi sự kiện là những người bị tăng axit uric-huyết thường có một loạt những yếu tố nguy cơ tim mạch được xác định rõ. Ví dụ, nơi các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, nồng độ axit uric gia tăng, nhưng có thể đó chỉ là một bằng chứng của sự giảm những nồng độ œstrogène (những hormone này làm dễ axit uric-niệu). Đối với nhiều tác giả, mối tương quan giữa tăng axit uric-huyết và các bệnh tim mạch một phần lớn có thể được gán cho những yếu tố khác như sự sử dụng các thuộc lợi tiểu, sự nhàn rổi không hoạt động hay uống quá nhiều rượu.

SỰ GIA TĂNG HUYẾT ÁP

Một giả thuyết có thể chấp nhận được là axit uric cũng can dự trong sự xuất hiện của cao huyết áp (vậy nó không phải là một yếu tố nguy cơ độc lập). Những công trình nghiên cứu khác nhau đã cho thấy rằng những người bị tăng axit uric-huyết có một nguy cơ gia tăng phát triển một cao huyết áp trong 5 năm. Dầu sao điều này chỉ cho thấy rằng tăng axit uric-huyết không phải là một hậu quả khả dĩ của cao huyết áp. Ngoài ra, tăng axit uric-huyết thường xảy ra trong cao huyết áp nguyên phát (hypertension essentielle) hơn là trong cao huyết áp thứ phát (hypertension secondaire). Ở loài chuột, người ta đã có thể cho thấy sự xuất hiện của cao huyết áp sau khi cản uricase, enzyme phá hủy axit uric.

MỘT CUỘC TRANH LUẬN CÒN LÂU MỚI KẾT THÚC.

Sự hiện diện của những thương tổn thận có thể là một yếu tố giải thích sự xuất hiện cao huyết áp trong trường hợp tăng axit uric-huyết. Cách nay ít lâu, người ta đã đính chính rằng một tình trạng tăng axit uric-huyết không triệu chứng (hyperuricémie asymptomatique) có thể gây nên những thương tổn thận, nhưng một công trình nghiên cứu mô học mới đây đã cho thấy rằng, ở loài chuột, những thương tổn thận có thể xuất hiện sau khi cho một chất cản uricase. Vậy những lời khuyến nghị về sự hữu ích của điều trị tăng axit uric-huyết còn có thể tiến triển nhiều trong tương lai.
(LE GENERALISTE 8/1/2009)

3/ CĂN BỆNH CỦA CÁC NHÀ VUA

Nếu hiện nay có những người ủng hộ sự hiện diện của một mức độ tăng axit uric-huyết (hyperuricémie) nào đó trong cơ thể, thì trước đây cũng có những người gán một ý nghĩa dương tính cho bệnh thống phong hay gút (goutte).Thật vậy, cùng với bệnh ưa chảy máu (hémophilie), bệnh này có một giá trị tượng trưng, điều này khiến cho bệnh thống phong còn được gọi là bệnh của các nhà vua (maladie des rois). Ngoài ra, giữa thế kỷ thứ 16 và 18, người ta đã nghĩ rằng bệnh thống phong cho phép chữa lành, hoặc ít nhất cũng ngăn ngừa được vài bệnh, điều này ăn khớp với ý nghĩ vào thời đó cho rằng một vài bệnh tật có thể loại bỏ lẫn nhau. Vào thế kỷ 18, những bệnh nhân bị bệnh sầu uất (mélancolie) được gởi vào trong những trung tâm điều trị với hy vọng rằng họ bị mắc bệnh thống phong ở đó và như thế những rối loạn tâm thần của họ có thể được loại bỏ. Sau cùng, người ta cũng nghĩ rằng bệnh thống phong có những đặc tính kích dục (vertus aphrodisiaques). Đã lưu hành những cố gắng giải thích vui nhất về chủ đề này. Montaigne nghĩ rằng những người đi cà nhắc là vì lượng máu đến cẳng chân ít hơn, và nếu vậy thì những cơ quan sinh dục có thể được tưới máu tốt hơn nữa. Những người khác nghĩ rằng, cũng như việc nằm liệt giường cho phép giữ ấm vùng thắt lưng, thì sự sản xuất tinh dịch cũng được làm dễ bởi điều đó. Bệnh gút chân (podagre), một thuật ngữ cổ xưa để chỉ cơn thống phong của ngón cái, tương ứng với tên của một nữ thần, được sinh ra do cuộc hôn nhân giữa Bacchus và Vénus. Thật vậy trong Rome cổ đại, người ta tin chắc rằng bệnh thống phong không những chỉ do ăn uống quá độ, mà còn do một sự ham thích rõ rệt những trò chơi tình ái. Kết cục, vậy thì bệnh thống phong không chỉ được xem như là thuận lợi cho hoạt động tình dục : những quá độ dục tình cũng là nguyên nhân của bệnh này.


2/ OXYTOCINE VÀ BỆNH TỰ KỶ.

Sự hít oxytocine, được gọi là kích thích tố của tình yêu và của sự quyến luyến (hormone de l’amour et de l’attachement), sẽ làm dễ mối tương tác xã hội (interaction sociale) của những bệnh nhân bị bệnh tự kỷ (autisme). Angela Sirigu và các đồng nghiệp của Centre de neuroscience cognitive de Lyon đã cấp oxytocine bằng đường mũi cho các bệnh nhân bị hội chứng Asperger, bệnh tự kỷ liên kết với những năng lực trí tuệ quan trọng. Sau đó họ quan sát hành vi của những bệnh nhân này. Trước hết, trong một trò chơi bóng (jeu de balle), những bệnh nhân này thắng được tiền mỗi lần một câu thủ chuyển cho họ một quả bóng. Rồi trong những trắc nghiệm quan sát các tấm hình, cho thấy những gương mặt biểu lộ những cảm xúc khác nhau. Dưới tác dụng của oxytocine, các bệnh nhân có khuynh hướng đưa bóng cho cầu thủ hợp tác với họ nhất và, khi được đặt đối mặt với các tấm hình, họ tập trung vào các đôi mắt chứ không phải vào cái miệng. Hai thái độ này không thường thấy đối với những người bị hội chứng Asperger. Thế thì, vào khi nào cho một điều trị với thuốc xịt oxytocine ? Chưa, Angela Sirigu đã báo trước như vậy. “ Phải trắc nghiệm liều lượng và tần số lần cho thuốc, bởi vì hiệu quả chỉ kéo dài 90 phút. Thế mà, hội chứng Asperger là một dạng rất đặc hiệu của bệnh tự kỷ. Công trình nghiên cứu của chúng tôi là một điểm khởi đầu. ”
(SCIENCE ET VIE 4/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về OCYTOCINE - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

3/ NGHIỆN RƯỢU : NHỮNG HƯỚNG MỚI.

Mặc dầu những thuốc mới đang được thử nghiệm, nhưng ta không thể không biết tầm quan trọng của hỗ trợ tâm lý (soutien psychologique).

DROGUE. Đối với 2 triệu người Pháp tiêu thụ quá nhiều rượu và đã bị phụ thuộc (dépendant), vấn đề không những là cai rượu (sevrage) mà còn là ngăn ngừa các tái phát. Các con số chứng tỏ điều đó : sau khi cai rượu, một năm sau, khoảng 1/3 đã không đụng trở lại một giọt rượu nào. 1/3 khác trải qua những giai đoạn kiêng khem và những thời kỳ tái phát. Sau cùng, 1/3 còn lại đã không bao giờ thành công cai được rượu. Đối với GS Patrice Couzigou (thay thuốc chuyên khoa gan-dạ dày-ruột, CHU de Bordeaux), điều đó không có gì là ngạc nhiên : “ Vấn đề không phải là có một cuộc sống không rượu (une vie sans alcool) mà là tìm ra một cân bằng mới trong cuộc sống, không có chất cồn. Thế mà chỉ với việc kê đơn thuốc mà thôi điều đó không có thể và sẽ không bao giờ có thể thực hiện được. Phải thay thế sự phụ thuộc rượu (dépendance à l’alcool), có hại, bằng những phụ thuộc khác dương tính hơn (thể thao, giải trí, âm nhạc...) tùy theo những quan tâm chính của mỗi người. Điều đó đòi hỏi một “ prise en soins ” sur mesure và đòi hỏi thời gian.” Về thuốc men, nó chỉ có thể mang lại một sự hỗ trợ bổ sung. Hiện nay nhiều thử nghiệm điều trị đang được tiến hành ở Pháp và Hoa Kỳ, với một thứ thuốc đầy hứa hẹn, baclofène (Loresal), được cho là làm giảm sự thèm rượu, nhưng không phải vì thế là một giải pháp nhiệm màu.

Một trong những vấn đề được đặt ra bởi sự lạm dụng rượu (abus d’alcool), đó là sự lạm dụng này bị che khuất quá thường và quá lâu. Khi người ta lo lắng thì thường đã quá muộn. Người ta thường có thói quen gợi ra một nguy cơ đối với sức khỏe khi uống trung bình trên 3 ly chuẩn mỗi ngày (như các ly rượu được phục vụ ở các bar) đối với những người đàn ông hay 2 ly mỗi ngày đối với các phụ nữ (hoặc 21 ly mỗi tuần đối với những người đàn ông và 14 ly đối với các phụ nữ) nhưng chúng ta không bình đẳng trước sự phụ thuộc (dépendance), vài người mẫn cảm hơn nhiều so với những người khác. “ Ngoài ra, việc không thể kiêng uống trong vài trường hợp, ví dụ mỗi lần ra đi vui chơi giữa các bạn bè, thì có lẽ đã là một dấu hiệu phụ thuộc tâm thần (dépendance psychique), mặc dầu khoảng 2 triệu người Pháp có liên hệ nghĩ là minh không bị như vậy, lấy cớ là họ có thể nhiều ngày không uống khi họ không ra khỏi nhà ”, BS Kiritzé-Topor, thầy thuốc chuyên khoa về rượu đã nhấn mạnh như thế.

Sau cùng, không cần phải là “ nô lệ ” của rượu mới khỏi trả giá cho các hậu quả : khoảng hai trường hợp tử vong sớm thì có một được liên kết với rượu, xảy ra noi những người tiêu thụ rượu nhưng không phụ thuộc. Như thế, để làm tốt, cần phải xét lại công tác phát hiện những người có nguy cơ.

“ Hiện nay, trên 5 triệu người Pháp lạm dụng rượu, rất ít được theo dõi bởi một thầy thuốc vì vấn đề này ”, BS Kiritzé-Topor đã xác nhận như vậy. Việc cai (sevrage) của những người phụ thuộc rượu (alcoolo-dépendant) tự nó không đặt vấn đề. Sự cai rượu này dựa trên một phác đồ (protocole) đã chứng tỏ có hiệu quả : 1,5 đến 2 lít nước uống mỗi ngày (không cồn, không đường và không caféine). Các benzodiazépine trong 48 giờ với liều mạnh, rồi giảm dần, không vượt quá 10 ngày. Vitamine B1 và acide folique. Và trong 3 đến 10 ngày, vụ việc được giải quết : ít mệt hơn, ít các thay đổi tính khí đột ngột hơn, nhưng ăn ngon hơn … ít nhất, cho đến các ly rượu sắp đến. Bởi vì các tái phát là rất (quá) thường xảy ra và đó mới đúng là vấn đề.

Để cố giải quyết điều này, khoảng 100.000 bệnh nhân nhận một trong hai điều trị hiện nay giúp duy trì sự cai rượu : naltrexone (Nalorex) và acamprosate (Campral), nhằm làm cho sự duy trì kiêng khem được dễ dàng hơn. Những loại thuốc này nhằm ức chế sự ham muốn liên kết với việc uống rượu. Tỷ lệ thấp các bệnh nhân được điều trị bởi những thuốc này nói lên sự ưa thích hơn của các chuyên gia đối với tâm lý liệu pháp (psychothérapie), đặc biệt là những liệu pháp hành vi và nhận thức (thérapie comportementale et cognitive).

Và không phải sự nghiên cứu hiện nay về baclofène (không được phép đưa ra thị trường trong chỉ định này) làm thay đổi cục diện. Chất giãn cơ (myorelaxant) này, bình thường được chỉ định để điều trị các co thắt (contracture spastique), lại làm bệnh nhân ít nhiều hờ hững với rượu khi thuốc được cho với liều rất cao (2 đến 4 lần liều lượng bình thường). Một công trình nghiên cứu của Ý, được công bố trên The Lancet năm 2007, đã cho thấy rằng có nhiều người kiêng rượu trong số những bệnh nhân được điều trị với baclofène hơn so với những người được cho placebo. Nhưng trong thời gian bao lâu ? Với những tác dụng phụ trước mắt và lâu dài nào ? Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành sẽ mang lại câu trả lời.
(LE FIGARO 22/3/2010)

4/ MỘT GÁO NƯỚC LẠNH ĐỐI VỚI VITAMINE B9 (ACID FOLIQUE).

Acide folique vẫn rất quý để chống lại các dị dạng của thai nhi. Nhưng sự sử dụng mạnh đặt vấn đề.

Vitamine B9 rất quý trong vài trường hợp, nhưng quá nhiều vitamine này có thể làm gia tăng nguy cơ bị ung thư.

Vitamine B9 hay acide folique có tên phát xuất từ những nguồn đầu tiên được nhận diện : các lá (folium) thực vật xanh. Epinard, chou vert, rau diếp (laitue)... giàu acide folique, cũng như cam quýt (agrumes) và các ngũ cốc hoàn toàn (céréales complètes). Mặc dầu chúng có những chức năng khác nhau, nhưng có một chức năng nổi trội hơn hết : khả năng của acide folique làm giảm nguy cơ bị vài dị dạng bẩm sinh.

Miễn là vitamine B9 được tiêu thụ với lượng đầy đủ và, nhất là đúng lúc, nghĩa là vào ngay lúc thụ thai.Thật vậy, chính vào 3 tuần lễ đầu sau khi thụ thai(nghĩa là trước khi biết là có thai), vitamine B9 mới có tác dụng bảo vệ. Nói vắn tắt, để việc cấp bổ sung vitamine B9 hữu ích, không nên chờ đợi xem để biết có thai hay không, như thế đã là quá muộn...

Để lấy đi chướng ngại vật này, các người Mỹ đã không bủn xỉn : họ đã quyết định, cách nay hơn 10 năm, làm phong phú với B9 các chất bột (farine) và những sản phẩm ngũ cốc khác, để cho mọi phụ nữ ở lứa tuổi có con hưởng được một bảo đảm tốt hơn acide folique. Và từ hơn 10 năm nay, các phân tích cho thấy rằng chiến lược tỏ ra có hiệu quả để làm giảm nguy cơ bị các dị tật bẩm sinh.

Hơn thế nữa, nhiều công trình nghiên cứu gợi ý rằng acide folique cũng có thể đóng một vai trò có lợi trong sự ngăn ngừa nhiều vấn đề, như các bệnh tim mạch, thậm chí trong sự lão hóa não bộ.

KHÔNG LỢI ÍCH CHO TẤT CẢ ?

Tiếc thay chỉ đến nay, không có gì như thế đã được kiểm tra. Về việc sử dụng các bổ sung B9, mặc dầu việc sử dụng này được biện minh trong trường hợp thai nghén, nhưng việc này không nhất thiết có lợi cho tất cả.

Dầu so đó là điều được rút ra từ các công trình nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở hai nghiên cứu bao gồm 6.800 người bị bệnh tim.

Một bộ phận của những người tham dự sử dụng đều đặn các bổ sung acide folique, có hay không có B12 và B6, được cho là tăng cường vài tác dụng có lợi của vitamine B9. Sau 39 tháng điều trị (hay kiểm chứng đối những người không được điều trị bằng vitamines) và rồi còn một thời kỳ theo dõi 38 tháng, đó là lúc tổng kết. Ít đáng phấn khởi, vì lẽ công trình nghiên cứu, được công bố mới đây trong tạp chí rất đứng đắn Journal of the American Association, sự sử dụng vitamine B9, nhất là lúc được phối hợp với vitamine B12, được liên kết với một sự gia tăng đáng kể số các trường hợp ung thư và cac nguy cơ bị ung thư (+21% đối với B9+B12), cũng như sự gia tăng tỷ lệ tử vong do ung thư (+38% đối với B9 phối hợp với B12).

Công trình nghiên cứu này mặc dầu không cho phép rút ra những kết luận lâu dài, nhưng nếu những kết quả này được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu khác được tiến hành với quy mô lớn hơn và trong những nhóm người khác, điều này có thể khiến phải xem lại việc cho bổ sung.
(LE SOIR 1/12/2009)

5/ BÂY GIỜ TA BIẾT TẠI SAO BỆNH DENGUE (SỐT XUẤT HUYẾT) TRỞ NẶNG HƠN KHI BỊ NHIỄM LẦN THỨ HAI.

Màn bí mật trùm lên từ khoảng 40 năm nay. Vài người bị nhiễm trùng một lần đầu bởi virus của bệnh sốt xuất huyết (virus de la dengue) sẽ bị bệnh nặng hơn khi bị nhiễm lần thứ hai. Lời giải thích vừa được tìm ra bởi các nhà sinh học của Viện La Jolla (Californie). Có 4 giống gốc của virus của bệnh dengue.

Trong những năm 1970, người ta đưa giả thuyết cho rằng một người bị nhiễm bởi một giống gốc (souche) của virus của bệnh sốt xuất huyết, chế tạo đồng thời các kháng thể bảo vệ mình chống lại giống gốc này, nhưng đồng thời cũng tạo nên những kháng thể chống lại 3 giống gốc kia. Thế mà, thay vì bảo vệ, 3 giống gốc này làm bộc phát sự nhiễm trùng. Giả thuyết ngày nay được kiểm chứng. Các nhà sinh học của Californie đã tiêm các con chuột với một trong những giống gốc của virus của bệnh sốt xuất huyết, rồi tiêm cho chúng các kháng thể nhận diện một trong 3 giống gốc kia. Vài con chuột đã bị chết vào ngày thứ tư sau khi tiêm. Nơi những con chuột này, những kháng thể đúng là làm dễ sự bội nhiễm những tế bào đặc hiệu của gan, gây nên những xuất huyết trầm trọng. Nếu những kết quả này được xác nhận, thông tin sẽ là quan trọng cho sự chế tạo một vaccin sau cùng có hiệu quả. Vaccin sẽ phải chứa nhiều họ kháng thể, nếu không sẽ có nguy cơ nguy hiểm hơn là có lợi.
(SCIENCE ET VIE 4/2010)

6/ LÀM SAO TÌM LẠI GIẤC NGỦ KHI TA MẤT NGỦ ?

Cứ 5 người Pháp thì có một than phiền về rối loạn này. Tuy nhiên hiện hữu những chiến lược mới.

MEDECINE. Trung bình chúng ta trải qua 1/3 cuộc đời của chúng ta để ngủ. Tuy vậy, một vài người ngủ ít hơn : “20% những người trưởng thành kêu mất ngủ theo ý nghĩa y học, nghĩa là từ một tháng hay hơn, họ khó thiu thiu ngủ hay vẫn thiu thiu ít nhất 3 đêm mỗi tuần, và rằng điều đó có ảnh hưởng đến ngày hôm sau. Trong số họ, một nửa phải nhờ đến các thuốc ngủ ”, GS Damien Léger, chuyên gia về giấc ngủ, bệnh viện Hotel-Dieu, đã chỉ rõ như vậy.

Sự tiêu thụ của những thứ thuốc này đã giảm, nhưng chúng vẫn còn quá thường được sử dụng như là giải pháp duy nhất cho vấn để mất ngủ, mặc dầu không phải là không có những tác dụng phụ : phụ thuộc, mất ngủ trở lại khi ngừng thuốc, các rối loạn trí nhớ...

Trong số những nguyên nhân chính của sự mất ngủ mãn tính có chứng trầm cảm (dépression) và lo âu (anxiété). “ Từ lâu người ta đã xem sự mất ngủ, hiện diện trong 80% các trường hợp trầm cảm, như là một dấu hiệu của chứng bệnh này. Thế mà chứng mất ngủ thường đi trước và có thể là một yếu tố nguy cơ của chứng trầm cảm ”, BS Carmen Schroder, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần của CHU de Strasbourg đã giải thích như vậy. “ Ngược lại, những người mất ngủ được điều trị có một nguy cơ bị bệnh trầm cảm 30 đên 40% thấp hơn so với những người khác ”, GS Léger đã chỉ rõ như vậy.

Việc điều trị chứng trầm cảm hay lo âu cải thiện và đôi khi hủy bỏ chứng mất ngủ. Nếu không, hiện nay các thầy thuốc đặt ưu tiên các liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapies cognitives et comportementales). Sự hạn chế thời gian ngủ là rất hiệu quả nơi những người bị bệnh trầm cảm, bởi vì nó làm gia tăng áp lực phải ngủ. Các người bị trầm cảm cũng phải tập lại, chỉ ngủ khi nào họ thật sự buồn ngủ và đứng dậy ngay khi thức dậy. Nếu cần, ta huấn luyện cho họ sự thư giãn (relaxation), bằng cách liên kết một trị liệu nhận thức (traitement cognitif) để chống lại chứng lo âu mất ngủ (angoisse de l’insommnie) ”, BS Schroder đã chỉ rõ như vậy.

Vệ sinh của giấc ngủ cũng là quan trọng : “ Hãy tôn trọng biểu thời gian đều đặn của giấc ngủ ; ngủ trên bộ đồ giường tốt, trong một gian phòng không có ordinateur lẫn máy truyền hình, chỉ dành để nghỉ ngơi, trong bóng đêm và trong im lặng, có nhiệt độ vừa phải ; tránh những giấc ngủ trưa, nhất và vào cuối ngày, và buổi chiều tránh caféine, rượu, nicotine, thể thao và những bữa ăn tối thịnh soạn hay giàu chất gluxit (bột, đường..) ; uống vào buổi sáng những thuốc làm rối loạn giấc ngủ như các betabloquant ; hãy tiếp xúc tốt với ảnh sáng của ban ngày ; hãy có một hoạt động vật lý đều đặn.”

Chứng trầm cảm được thể hiện bởi những lần thức giấc sớm, trong khi các rối loạn lo âu (troubles anxieux) được biểu lộ bởi những khó khăn đi vào giấc ngủ. Những sai biệt này, do một sự tiết quá sớm hay quá muộn của mélatonine, kích thích tố gây ngủ của não bộ, có thể được điều trị bằng những loại đèn đặc biệt. “ Khi mélatonine được tiết ra quá sớm, người ta cho các bệnh nhân tiếp xúc với một ánh sáng mạnh vào khoảng 21 giờ để làm chậm dần lại sự tiết này. Ngược lại, một liệu pháp ánh sáng vào ban mai (luminothérapie matinale matinale), vào khoảng 7 hay 8 giờ, sẽ cho phép làm cho sự tiết mélatonine xảy ra sớm hơn, BS Isabelle Arnulf, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh của CHU Pitié-Salpêtrière, Paris đã giải thích như vậy. Kỹ thuật này rất được sử dụng trong những chứng mất ngủ mãn tính do giai đoạn giấc ngủ xảy ra sớm hay chậm, do một sự chênh lệch của đồng hồ nội tại. Liệu pháp điều nhịp (chronothérapie) dành cho những tình trạng chênh lệch quan trọng, càng ngày càng thường thấy nơi các thiếu niên, buổi tối cắm đầu vào máy vi tính và không ngủ trước 3 giờ sáng.

Một nguyên nhân thực thể (đau đớn, tuyến tiền liệt, bệnh đái đường, hen phế quản, tuyến giáp trạng), mà trước hết phải nhận diện và điều trị, là nguyên nhân mất ngủ trong 30 đến 40% các trường hợp mất ngủ mãn tính. Thường xảy ra nơi người béo phì, các đợt ngừng thở (apnées) làm phân đoạn giấc ngủ và phải được điều trị nhất là vì những biến chứng tim-mạch. Hội chứng cẳng chân không yên (syndrome des jambes sans repos), chủ yếu nơi phụ nữ, được thể hiện bởi những bồn chồn không chịu nổi, chỉ xảy ra vào buổi chiều hay ban đêm và chỉ dịu đi khi bước. Từ nay hội chứng này được điều trị tốt hơn với sắt cho bổ sung và những liều lượng nhỏ dopamine.

Ngoài những nguyên nhân này, tiếng ồn, ánh sáng và những gò bó xã hội là những nguồn lớn của các rối loạn giấc ngủ. “ 6 triệu người, hoặc một người ăn lương trên bốn, có một công việc trực gác, chống lại các nhịp sinh lý ”, GS Léger đã nhắc lại như vậy.
(LE FIGARO 22/2/2010)

7/ KHUẨN CHÍ RUỘT (FLORE INTESTINALE) ĐƯỢC GIẢI MÃ.

Mỗi người trong chúng ta trung bình mang 170 loài vi khuẩn, mà chức năng phần lớn không được biết đến.

Chương trình Trung Hoa-Châu Âu Metahit vừa tiến hành séquençage đầu tiên lên toàn bộ các gène của nghìn loài vi khuẩn sống trong ruột người. Thiết yếu cho sự sinh tồn của chúng ta, những ký chủ vô hình này cân nặng 1,5 kg trong cơ thể của chúng ta. Chúng có một di sản 3,3 triệu gène, trong khi con người chỉ có 23.000. Khó khăn chính : những vi khuẩn này sống trong một môi trường là ruột và không thể tái tạo được trong phòng thí nghiệm. Do đó các nhà nghiên cứu đã phải trích lấy chúng trong phân của 124 người châu Âu đại biểu cho các dân vùng Bắc Âu và Địa Trung Hải . Nhờ các kỹ thuật séquençage nhanh, đã chỉ cần 2 năm để mô tả métagénome này. Kết quả : một trong chúng ta trung bình mang 170 loài, một vi khuẩn có một di sản 3.400 gène.“ Nhưng chỉ 1/3 trong số các loài này là được biết mà thôi, như Escherichia Coli, Dusko Ehrlich, giám đốc nghiên cứu ở Inra de Jouy-en-Josas (Yvelines) và là người điều hành chương trình Metahit, đã giải thích như vậy. Vậy còn nhiều công tác mô tả.”

Mặt khác, gần như toàn bộ 19 .000 chức năng của métagénome này đã được xác nhận, trong đó 6000 chung cho 124 cá thể : sự tổng hợp của các vitamine và của các acide aminé, sự hủy hoại của các đường phức hợp…Nhưng nhiều trong các chức năng này vẫn không được biết.

Người ta đã tưởng tượng ra những hậu quả của công trình này (đã được đăng trong trang đầu của Nature ngày 4/3) trên nông nghiệp và y khoa. Thật vậy giai đoạn thứ hai sẽ nhằm xác định các mất cân bằng và các thiếu hụt của khuẩn chí vi khuẩn (flore bactérienne) của những bệnh nhân bị bệnh béo phì, bệnh loét, các bệnh viêm ruột hay cả những bệnh tim mạch. Như vậy ta có thể sẽ điều trị bằng cách cấp cho các vi khuẩn những thức ăn mà chúng cần. Chẳng phải ngạc nhiên khi công ty nông thực phẩm Danone đã tài trợ chương trình Metahit.
(SCIENCE ET AVENIR 4/2010)

8/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT CÓ NGUY CƠ CAO : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MỘT PHÁC ĐỒ MỚI.

GS Karim Fizazi, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của Viện Gustave-Roussy de Villejuif, bình luận bước tiến này ở hội nghị của Asco-GU, ở San Francisco.

Hỏi : Hiện nay mức độ mắc bệnh của ung thư tuyến tiền liệt là gì ?
GS Karim Fizazi :Ở Pháp, người ta liệt kê khoảng 60.000 đến 70.000 trường hợp mới mỗi năm, trong đó 10.000 tử vong. Đó là ung thư thường xảy ra nhất (trước ung thư vú, gây bệnh hàng năm 40.000 phụ nữ).

Hỏi : Những giai đoạn khác nhau là gì ?
GS Karim Fizazi : Vào lúc chẩn đoán, 90% các ung thư tuyến tiền liệt này khu trú tại chỗ và 10% đã di căn. Các khối u khu trú được xếp loại thành các giai đoạn khác nhau. 1. Các ung thư có tiên lượng tốt. 2. Các ung thư có tiên lượng trung gian. 3. Các ung thư có nguy cơ cao. Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ trầm trọng là sự lan rộng của khối u (khối u đã vượt qua bao nang của tuyến tiền liệt hay không), mức độ hung dữ của các tế bào ung thư, được đánh giá dưới kính hiển vi bằng điểm số Gleason, 8 hoặc hơn, và nồng độ PSA (trên 20ng/ml), một chất chỉ dấu đặc hiệu (một protéine trong máu, tăng cao trong trường hợp tuyến bất thường). Một khối u được xếp là có nguy cơ cao nếu có ít nhất một trong 3 tiêu chuẩn này.

Hỏi : Có những người tố bẩm với ung thư tiền liệt tuyến hay không ?
GS Karim Fizazi : Có : những người đàn ông có những thành viên trong gia đình đã bị ung thư tiền liệt tuyến và những người da đen.

Hỏi : Đối với những ung thư khu trú được xếp loại nguy cơ cao, đến nay, điều trị quy ước là gì ?
GS Karim Fizazi : Điều trị chuẩn bao gồm phóng xạ liệu pháp ngoài (radiothérapie externe), phối hợp với kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie). Trong vài trường hợp, nếu có ít các yếu tố của nguy cơ cao, có thể dự kiến ngoại khoa.

Hỏi : Hiện nay, với điều trị cổ điển này, các kết quả như thế nào ?
GS Karim Fizazi : 30 đến 50% các bệnh nhân được điều trị bị tái phát. Thông thường nhất, một sự tăng cao nồng độ PSA có thể đi trước sự xuất hiện của các di căn.

Hỏi : Do vậy mà có sự nghiên cứu của một phương pháp điều trị mới... Phép điều trị của công trình nghiên cứu được trình bày ở hội nghị mới đây của Asco-GU là gì ?
GS Karim Fizazi : Đó là một công trình nghiên cứu của Pháp, được chỉ đạo bởi các chuyên gia về ung thư của nhóm Getug (Groupe d’étude des tumeurs uro-génitales), đã tuyển mộ 413 bệnh nhân từ năm 2002 đến 2006. Thử nghiệm này đã đánh giá một hóa học liệu pháp phối hợp hai loại thuốc : docétaxel (bằng tiêm truyền tĩnh mạch) và estramustine (bằng đường miệng), một điều trị đã được sử dụng và có hiệu quả nơi những bệnh nhân bị di căn. Đó là một công trình nghiên cứu so sánh, trong đó tất cả những người đàn ông đã nhận điều trị chuẩn và một nửa trong số những người này đã nhận, trong vòng 3 tháng, hóa học liệu pháp này.

Hỏi : Những kết quả dương tính của công trình nghiên cứu này là gì ?
GS Karim Fizazi : Hiện nay, kết quả chính nhắm vào sự đáp ứng chống ung thư : sự đáp ứng này đã được tăng gấp đôi nơi những bệnh nhân đã nhận phác đồ điều trị mới.

Hỏi : Hóa học liệu pháp này có gây nên những tác dụng phụ hay không ?
GS Karim Fizazi : Thường không có rụng tóc cũng như những vấn đề tiêu hóa quan trọng. Sự hạ các bạch cầu, gây nên một biến chứng nhiễm trùng, và những vấn để mạch máu đã là hiếm hoi. Người ta đã quan sát thấy rằng những bệnh nhân chịu liệu pháp hóa học này ít bị phừng mặt hơn, điều xảy ra với kích thích tố liệu pháp chuẩn.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu khác hiện nay có được tiến hành với phác đồ điều trị mới này hay không ?
GS Karim Fizazi : Sau công trình nghiên cứu của chúng tôi (đã là công trình đầu tiên trắc nghiệm điều trị đổi mới này), khoảng một chục công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành trên thế giới.

Hỏi : Sự phối hợp của một hóa học liệu pháp với điều trị chuẩn có sẽ cải thiện tỷ lệ sinh tồn hay không ?
GS Karim Fizazi : Các bệnh nhân trong công trình nghiên cứu của chúng tôi luôn luôn được quan sát và tiếp tục được theo dõi. Còn cần khoảng một năm nữa mới có thể phân tích một cách đáng tin cậy số các trường hợp tái phát. Những kết quả đầu tiên đã là rất là đáng phấn khởi.
(PARIS MATCH 1/4 -7/4/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Ung Thư Tiền Liệt Tuyến (Prostate Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

9/ NHỮNG CON CHÍ LÀ NGUỒN GỐC CỦA CÁC CON RẬN.

Các con rận (poux de vêtements), chịu trách nhiệm các trận dịch rất giết người (sốt các chiến hào, typhus, borréliose récurrente) khởi đầu là những con chí (poux de tête). Thật vậy, về phương diện di truyền chúng giống hệt nhau. Chính đó là điều mà một nhóm nghiên cứu Pháp-Mỹ vừa mới phát hiện (Đại học Địa trung hải, CNRS, Marseille và các đại học của Floride và Illinois, Hoa Kỳ).

Các con chí (Pediculus humanus capitis), nuôi sống nhờ da đầu và đẻ trứng trong các sợi tóc, và các con rận (Pediculus humanus humanus), dinh dưỡng trên phần còn lại của cơ thể và sống trong những nếp gấp của các quần áo bẩn, mãi đến nay được xem như những loài khác nhau. Bằng phân tích di truyền các chuỗi rất biến thiên của bộ gène (génome) của các con chí rận, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng không có thể phân biệt được con chí với con rận trên bình diện di truyền (ADN ty lạp thể và nhân).

Wenjun Li và các đồng nghiệp đưa ra giả thuyết cho rằng những khác nhau về sinh lý và kiểu hình (phenotype) giữa hai loại chí rận được kiểm soát bởi một số biến dị rất giới hạn. Trong những điều kiện vệ sinh kém, con chí có thể lan tràn nhanh chóng và vài trong số những con chí này có thể định cư trên quần áo và sinh ra một loại rận có khả năng làm nảy sinh một dịch bệnh nhiễm khuẩn.

Nếu giả thuyết này được kiểm chứng, nó sẽ cho phép giải thích tại sao khi những điều kiện vệ sinh suy thoái nhanh chóng, điều đó trùng hợp với những đợt dịch bệnh rận. “ Hơn nữa, nếu các con chí là những nơi tàng trữ cho các con rận và nếu mọi sự suy thoái của những điều kiện y tế và xã hội của các dân cư gây nên sự tạo thành những quần thể rận mới, khi đó các quần thể chí quả là một mối đe dọa tiềm tàng đối với con người lớn hơn điều mà tưởng hiện nay ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy.

Những kết quả này cho thấy rằng vậy các con chí ở trong một tình trạng thường trực gây dịch tại chỗ và rằng cần phải trừ khử chúng. Đáng tiếc thay, người ta biết rằng trong các nước phát triễn, các con chí càng ngày càng trở nên đề kháng với các thuốc diệt côn trùng..
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/4/2010)

10/ CÓ HAY KHÔNG CÓ AURA, CHỨNG THIÊN ĐẦU THỐNG LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM.

Cho mãi đến nay, sự gia tăng của nguy cơ nhồi máu cơ tim chỉ được liên kết với các cơn đau đầu thống với tiền triệu (aura) (các ánh chói sáng). Thế mà, theo Richard Lipton và các cộng sự viên của ông ở đại học Nữu Ước, những người bị bệnh thiên đầu thống mãn tính không có aura cũng thấy nguy cơ này bị gia tăng so với những người không có bệnh thiên đầu thống mãn tính. Một kết quả có được nhờ hỏi khoảng 1.000 người, trong đó một nửa bị bệnh thiên đầu thống mãn tính, có hay không có aura. 4,1% những người bị thiên đầu thống đã có một nhồi máu cơ tim so với 1,9% những người lành mạnh. Và nguy cơ được tăng gấp ba trong trường hợp thiên đầu thống với tiền triệu (aura). Những bệnh nhân bị thiên đầu thống cũng có nhiều nguy cơ hơn phát triển một sự tăng cao huyết áp, bệnh đái đường, và một sự tăng cao nồng độ cholestérol. Khoảng 10 triệu người Pháp bị bệnh thiên đầu thống
(SCIENCE ET VIE 4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 96 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 10/10/2008 )

9/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG : CHÚ Ý NHỮNG BÁO ĐỘNG THỊ GIÁC

Bệnh thiên đầu thống (migraine) được kèm theo bởi các dấu hiệu báo trước, nhất là thị giác, hay chứng thiên đầu thống với aura, gây bệnh cho khoảng 7% dân số, theo những thống kê mới nhất của Hoa Kỳ. Như những dữ kiện thu được trong công trình nghiên cứu nổi tiếng Women’s Health Study gợi ý, trong đó 26.000 phụ nữ đã tham dự và được theo dõi trong 11 năm, chẩn đoán thiên đầu thống với aura phải được theo sau bởi một bilan tim mạch chính xác. Thật vậy, sự hiện diện của một aura trong thiên đầu thống là một chỉ dấu tốt báo trước nguy cơ bị tai biến mạch máu não, ngay cả khi không có yếu tố nguy cơ huyết quản. Ngược lại, sự hiện hiện của một aura chỉ làm gia tăng khả năng xảy ra một nhồi máu cơ tim nếu đã có những yếu tố nguy cơ tim, và đặc biệt những nồng độ cao cholestérol. Về thiên đầu thống không có aura, trường hợp này dường như không làm gia tăng nguy cơ đột quỵ hay nhồi máu cơ tim.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/4/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#46 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 19 April 2010 - 08:00 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ LỊCH SỬ BỆNH HỦI VÀ NHỮNG NGƯỜI HỦI.

Lễ phong thánh của Cha Damien, đã đi săn sóc trong thế kỷ qua những bệnh nhân hủi, được nhốt trên một hòn đảo của Hawai, để rồi chính ông cũng phải ngã gục vì căn bệnh khủng khiếp này, nhắc nhở cho chúng ta rằng bệnh hủi đúng là đã hiện diện trong suốt nhiều thế kỷ ở Tây Phương. Bệnh hủi là một trong những vết thương bên cạnh những dịch bệnh khủng khiếp dịch hạch và dịch tả.

NGUỒN GỐC BỆNH HỦI.

Quả thật là bệnh hủi không gây cùng tác hại như bệnh dịch hạch, mặc dầu bệnh cũng có tính chất lây nhiễm, nhưng suốt trong sự tiến triển của thời gian, bệnh hủi, cũng như bệnh lao đã tham gia vào sự hình thành sinh học của nhân loại trong một bối cảnh xã hội và văn hóa, trong đó căn bệnh này đã chiếm một vị trí to lớn.

Bệnh hủi xưa như trái đất hay gần như vậy, vì lẽ nó đã ngự trị ở Ẩn Độ và có lẽ ở Trung Hoa ngay trước công nguyên của chúng ta. Dẫu sao bệnh này dường như đúng là đã hiện diện vào năm 600 trước Jésus-Christ trong một bản văn đích thị của Ẩn Độ, và những người lính của Alexandre le Grand và của Darius, sau khi đi viễn chinh quân sự tận những miền xa của Phương Đông, đã mang bệnh hủi về đến vùng Cận Đông (Proche-Orient), rồi từ đó những người Phénicien đã mang đến châu Âu hay ít nhất đến các bờ biển Địa Trung Hải. Các đoàn lính lê dương La Mã hoàn tất công việc còn lại khi mang bệnh này vào trung tâm của Cựu lục địa. Những cuộc viễn chinh thập tự và những cuộc xâm lăng của người Ả rập đã chỉ có thể làm tăng cường sự hiện diện của nó. Dẫu sao, bệnh hủi trở nên thông thường ở châu Âu từ thế kỷ thứ XII, nếu ta tin vào nhiều tư liệu hiện có về chủ đề này vào thời đó. Thật vậy, bệnh hủi thuộc về lãnh vực của tòa án vì lẽ bất kỳ ai chứng thực một căn bệnh ngoài da nơi một người láng giềng đều buộc phải tố cáo người này trước chính quyền dân sự hay tôn giáo. Trong thời kỳ đầu, người ta yêu cầu chính những người bị bệnh hủi phải nhận biết những triệu chứng của căn bệnh, nhưng sau đó, những người bị hủi phải đối diện với một bồi thẩm đoàn (jury) gồm những thầy thuốc hay những nhà phẫu thuật và một đại diện thế tục hay tôn giáo. Người bị tình nghi kém may mắn này có thể được bào chữa bởi một người bà con, thậm chí một luật sư nếu người này có phương tiện.

CẢ MỘT VỤ ÁN

Làm sao người ta đã có thể chẩn đoán bệnh một cách chắc chắn ? Người bị bệnh hủi hay được cho là như vậy phải trình diện mình trần như nhộng. Vào lúc đêm đến, người ta đặt gương mặt của bệnh nhân dưới sáng trăng và gương mặt của người bị bệnh hủi phô ra nhiều màu sắc, đó là dấu hiệu của bệnh bởi vì một gương mặt lành mạnh vẫn nhợt nhạt khi đứng trước vì tinh tú của ban đêm !“ Người bị bệnh hủi có một gương mặt đỏ, đôi mắt lờ đờ, chiếc mũi hẹp, các sợi tóc rất mảnh và thưa, đôi tai bé nhỏ. ” Một trắc nghiệm khác nhằm rải tro chì nấu chảy vào trong nuớc tiểu của một bệnh nhân hủi ; các tro này nổi lên trong khi bình thường chúng nằm ở đáy lọ. Nhưng người ta cũng có thể nhờ đến thí nghiệm lấy máu của bệnh nhân pha trộn với giấm. Sau đó nếu người ta xoa hỗn hợp này vào lòng của bàn tay, nó cho một cảm tưởng khô nơi người bị hủi. Chưa phải là hết, còn phải lọc nó xuyên qua một tấm vải mịn để quan sát các chất cặn giống như những hạt kê. Sau cùng, người ta có thể trộn hỗn hợp này với nước phát xuất từ một nguồn nào đó để xem nó đông lại ở nơi mà máu phát xuất từ một cơ thể lành mạnh vẫn tinh khiết. Có lẽ đơn giản hơn nhiều, sự kiện chích vào gót chân của bệnh nhân mà không phản ứng với đau đớn hay đặt bệnh nhân nằm dài trên một vật lạnh mà không khiến người bệnh phải lùi lại một chút nào vì đã đã trở nên không nhạy cảm, đó là những dấu hiệu không lầm lẩn được. Dĩ nhiên người bị nghi ngờ có thể chống án. Nhưng điều đáng ngạc nhiên nhất là một khi bệnh được phát hiện, người bệnh không quan tâm đến phương cách chữa nó. Bệnh nhân xem căn bệnh hủi như là một định mệnh và do đó dưới mắt người bị hủi là hoàn toàn không thể chữa lành được ! Như một nhà sử học tâm sự với chúng ta điều đó : “ Người ta có thể tắm họ thường xuyên, băng bó các vết thương của họ bằng vải đã sờn mòn, bôi các vết loét rỉ nước với thuốc bôi dẻo (onguent) và nhựa thơm (baume) có chất căn bản là hương liệu, phủ các chốc vảy (dartre) với các chất nghiền từ rắn lục, nuôi họ bằng thịt gà vỗ béo hay thịt ếch áp chảo, cho uống dâu tây ngâm cồn, nhung chẳng giúp ích được gì Người hủi vẫn như thế suốt cả cuộc đời, bởi vì “ những trường hợp miễn tố rất họa hoằn ”

Sau hết một phương thuốc tối hậu là thiến (castration). Phương pháp này trước hết tìm được một biện minh điều trị. Vì thể tạng của người hủi, bản văn nói với chúng ta như vậy, “ là sầu uất, nóng và khô, nên sự thiến làm thay đổi tính khí thành ôn hòa, bằng cách hủy bỏ các tinh hoàn, vốn làm gia tăng bệnh hủi do sự ảnh hưởng và sự khát khao của người bệnh. Những người hủi bị quấy rầy bởi một ham muốn đặc biệt của động tác giao cấu, họ luôn luôn có các chi cứng như các thần Dê (satyres), vậy ta phải thiến họ để chữa họ khỏi bị sự hành hạ quan trọng này.” Nhưng có lẽ đó chủ yếu là để tránh một sự thoái hóa của giống người.

MỘT THỂ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ LOẠI TRỪ.

Bản án một khi trở nên không vãn hồi được, người hủi sẽ bị loại trừ ra khỏi xã hội loài người bằng một sự chôn cất giả vờ ; trong vài ngôi làng người hủi buộc phải vào nằm trong một cái huyệt của nghĩa địa để vài lúc sau đó lại được đem ra. Vị linh mục ăn mặc đồ tang tiếp người bệnh đáng thương trên sân của nhà thờ để loan báo với người này những biện pháp trục xuất rồi dẫn vào nhà thờ, ở đó người ta đã chuẩn bị sẵn một nhà táng. Sau đó là bắt đầu lễ mai táng rồi một tấm vải trùm đen được ném lên người bị xua đuổi, được đặt nằm trên đất và còn phải chịu vài xẻng đá trước khi chấm dứt trò chết giả này. Phần còn lại của cuộc đời diễn ra xa thế giới trong một trại hủi (léproserie), thường lợi dụng sự hào phóng của các nhà vua và những người có quyền thế. Người ta sống ra sao trong những ngôi nhà đóng kín này ? Những người hủi làm việc theo khả năng nhưng cuộc sống gia đình bị cấm chỉ đối với họ. Đúng là đôi khi họ được phép đi ra ngoài nhưng với những nội quy rất nghiêm ngặt làm họ nản lòng. Đối với người hủi, không có vấn đề tắm trong một dòng sông, đi dạo với đôi chân trần hay ngỏ lời với ai ngoài cơn gió trước mặt. Người hủi cũng bị buộc chỉ được tham gia những buổi lễ tôn giáo từ xa, mặc những quần áo mà mọi người có thể thấy được và báo cho họ biết sự hiện diện bằng chiếc chuông nhỏ. Người hủi không còn có một quyền dân sự nào nữa và sự kết hôn trên thực tế bị bãi bỏ. Và một khi qua đời, hoài công khi nhờ đến những lễ tang thông thường và chỉ được chôn trong nghĩa địa dành cho người hủi mà thôi.

Nhưng dĩ nhiên chúng ta phải hơi tiết chế lại lời nói bởi vì các quy tắc mà chúng tôi vừa phát biểu đã không được áp dụng với cùng sự khô khan trong tất cả các giáo phận và các giáo khu. Tất cả các sự cưới hỏi đã không bị hủy bỏ và bệnh hủi không phải là lý do đủ để chấm dứt chúng. Tất cả những người hủi không bị tước mất đời sống xã hội. Vài người có thể đi hành hương, những người khác được phép đi ra ngoài để đi ăn xin và đảm bảo những lợi tức bổ sung nơi cộng đồng họ sinh sống, đến độ bắt đầu từ thế kỷ XV, không phải là hiếm khi phát hiện những tay chiếm đoạt sống rất sung sướng nhờ vào một trại hủi. Sau cùng, vài người hủi được phép sống tại nhà họ hay được tham gia vào những sinh hoạt tập thể của làng, để không chỉ canh tác đất đai mà còn chế tạo các thừng chảo của tàu bè (cordages des navires), đến độ danh từ “ người làm thừng chảo ” (cordier) đôi khi trở nên đồng nghĩa với người hủi.

BỆNH HỦI BIẾN MẤT KHỎI CHÂU ÂU.

Người ta có thể tự hỏi bệnh hủi đã có thể ảnh hưởng như thế nào lên sự phát triển của dân số ? Có lẽ không đáng kể, nhưng dầu sao đúng là chưa đến mức của những tàn phá gây nên bởi bệnh dịch hạch, trong thế kỷ XIV, đã tàn sát châu Âu đến độ giết chết 1/3 dân số. Nói chung ta chấp nhận rằng bệnh hủi hoành hành nơi vùng của chúng ta từ thế kỷ XII đến XIX và bệnh hẳn đã được thể hiện bởi những đợt kế tiếp nhau, trong vài vùng nghiêm trọng hơn những vùng khác, nhưng tha miễn hoàn toàn vài vùng mà chúng ta không có được một chút giải thích nào về những ngoại lệ này. Dẫu sao, vào đầu thế kỷ XV, các trại hủi trống dần và các giới hữu trách giáo hội thu hồi lại các tài sản và đưa chúng đến những bệnh viện khác. Ở Pháp, Louis XIV chính thức thanh lý các trại hủi và các gia sản của chúng. Vậy, bệnh hủi đã hầu như biến mất khỏi châu Âu, ngoại trừ, thật kỳ lạ, ở Na Uy, là nơi bệnh hủi vẫn còn tồn tại đến tận thời kỳ hiện đại. Mặt khác, chính Hansen, một nhà nghiên cứu người Na Uy, đã nhận diện vi trùng gây bệnh, khá tương cận với trực khuẩn Koch, nhưng trước sự khám phá của vi khuẩn lao này.

Những nguyên nhân của sự suy tàn của căn bệnh hủi là gì ? Sự cải thiện của trình độ vệ sinh ? Đó là điều ít có khả năng bởi vì sự sạch sẽ đã tiến triển rất ít từ thế kỷ XI đến XIV để ta có thể đưa ra lời giải thích. Phải chăng những người hủi đã biến mất như là nạn nhân của những dịch bệnh khác như bệnh dịch hạch hay dịch tả ? Các tu viện và các trại hủi có lẽ đã phải trả giá nặng nề cho những căn bệnh này nhưng, như chúng ta đã thấy, tất cả các người hủi không đều bị nhốt cả và vài người mang vi trùng gây bệnh đã sống sót và tiếp tục vai trò gây nhiễm của họ. Trên thực tế, mặc dầu thiếu các lời giải thích, tuy vậy có một tác dụng tương quan giữa sự phát triển của bệnh lao và sự biến mất của bệnh hủi. Nhưng sự quan sát của hiện tượng này, mặc dầu được chứng minh về mặt thứ tự niên đại, nhưng vẫn có thể bị tranh cãi về quan hệ nhân quả của nó. Trực khuẩn Hansen đối với bệnh hủi và trực khuẩn Koch đối với bệnh lao mặc dầu có những tính chất sinh kháng nguyên tương tự và thuộc gia đình của các vi khuẩn, nhưng sự giống nhau này dừng lại ở đó ! Không có những bằng cớ nào khác. Phải chăng thế kỷ XVII đã lẩn lộn bệnh hủi với những bệnh phong tình khác, vì lẽ, người ta tin như vậy, có khả năng lây truyền lúc giao hợp ?
(LA SEMAINE MEDICALE 24/12/2009)

2/ ĂN CHAY TỐT CHO XƯƠNG.

Người nào ăn chay có một nguy cơ bị mất canxi xương thấp hơn người ăn thịt. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Peter Deriemaeker của VUB (Belgique).

Nói chung, một thức ăn giàu chất đạm, như thịt và các sản phẩm sữa có một tác dụng axít hóa (effet acidifiant) lên cơ thể, trong khi một chế độ ăn uống gồm các trái cây và rau xanh có một tác dụng kiềm (effet alcalin). Các chất đạm do đó làm dễ sự làm mất canxi (décalcification) : người ta ước tính lượng canxi bị mất đối với mỗi gam đạm được ăn vào là 1 mg. Các công trình nghiên cứu đã phát hiện một mối liên hệ rõ rệt giữa, một bên, sự tiêu thụ tăng cao đạm động vật và bên kia, nguy cơ bị gãy xương háng hay có những triệu chứng đau lưng (lombalgie).

Một cách khá mâu thuẫn, các chất đạm cũng kích thích sự tạo xương. Sau hết, phải biết xem chúng đóng một vai trò dương tính hay âm tính phần lớn tùy thuộc vào chế độ ăn uống, nhưng cũng tùy thuộc vào thể trạng di truyền của con người, tuổi tác và giới tính của người đó.

Các chất thức ăn kiềm làm gia tăng trị số của pH của máu, điều này bảo vệ xương tốt hơn và dẫn đến sự phóng thích canxi ít hơn.

NHIỀU TRÁI CÂY VÀ RAU XANH HƠN.

Peter Deriemaeker và các cộng sự viên của VUB đã khảo sát sự khác nhau giữa hai cách ăn uống này : họ đã so sánh một nhóm những người ăn chay với một nhóm tương tự (về giới tính, tuổi tác và chỉ số khối lượng cơ thể) những người không ăn chay. Từ những phân tích, họ rút ra kết quả xác nhận ý tưởng được nghi ngờ từ lâu, rằng một chế độ ăn uống giàu chất thức ăn nguồn gốc thực vật có một tác dụng kiềm hóa hơn lên cơ thể so với chế độ ăn uống nhiều thịt và như thế bảo vệ họ chống lại một loạt các bệnh tật, như chứng loãng xương (ostéoporose).
(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/3/2010)

3/ CHOCOLAT TỐT CHO TIM VÀ CÁC MẠCH MÁU.

Các nhà nghiên cứu người Đức đã cho thấy rằng những lượng nhỏ chocolat được tiêu thụ mỗi ngày làm hạ huyết áp và làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nhóm nghiên cứu người Đức đã theo dõi trong khoảng 10 năm những thói quen ăn uống của 19.357 người, tuổi từ 25 đến 65 tuổi. Các tác giả đã có thể chứng thực rằn, những người ăn nhiều chocolat nhất (trung bình 7,5 g mỗi ngày) có một huyết áp thấp hơn và một nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não giảm 39%, so với những người chỉ tiêu thụ rất ít (1,7g mỗi ngày). Về mặt nguy cơ tuyệt đối, điều đó có nghĩa là sự việc ăn một miếng vuông nhỏ chocolat khoảng 6g cho phép tránh, nơi 10.000 người, 85 nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não trong một khoảng thời gian 10 năm, BS Brian Buijssen, nhà dịch tễ dinh dưỡng, người điều khiển công trình nghiên cứu này, đã giải thích như vậy.

Nhưng không nên vì thế mà suy diễn ra rằng ta có thể đồng thời tự cho phép mình gia tăng sự tiêu thụ toàn thể calorie và tiêu thụ ít hơn những thức ăn lành mạnh, nhà nghiên cứu cảnh cáo như vậy. “ Những lượng nhỏ chocolat giúp phòng ngừa sự xuất hiện các bệnh tim mạch, nhưng chỉ khi những lượng này thay thế một nguồn thức ăn giàu calorie khác, để trọng lượng có thể vẫn luôn luôn ổn định. ”

Mặc dầu sự tiếp tục của các nghiên cứu là tỏ ra cần thiết, nhưng nhóm nghiên cứu người Đức đã có thể xác nhận rằng tác dụng có lợi của chocolat được liên kết với sự hiện diện của flavonol trong cacao. Những chất này hiện diện chủ yếu trong chocolat đen. “ Các flavonol cải thiện biodisponibilité của monoxyde d’azote trong các huyết quản. Những chất này làm giãn các mạch máu hơn và điều này góp phần mang lại một huyết áp thấp hơn. Monoxyde d’azote cũng cải thiện chức năng của các tiểu cầu, làm cho máu ít dính hơn ”, Brian Buijsse nói tiếp như vậy.

TRÀ CŨNG THẾ.

Một công trình nghiên cứu mới đây của Hòa Lan cũng quan tâm đến những tác dụng có lợi của các flavonol. Peter Hollman của đại học Wageningen đã phân tích mối liên hệ giữa sự sử dụng các loại flavonoides khác nhau và sự xuất hiện của các tai biến mạch máu não. Trong một phân tích méta, ông đã xét đến hơn 100.000 người phát xuất từ 6 công trình nghiên cứu đã được công bố. Các flavonoides đặc hiệu như các flavonol, dường như có một tác dụng lên nguy cơ tai biến mạch máu não. “ Nếu người ta tiêu thụ một lượng flavonol tương ứng với lượng được tìm thấy trong 3 tách trà, người ta có thể làm giảm 20% nguy cơ

bị một tai biến mạch máu não ”, nhà nghiên cứu Hòa Lan đã bình luận như vậy.

Chúng ta hãy nhớ rằng các flavonols cũng hiện diện trong rau xanh và các trái cây.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 160 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 8/2/2010 )

3/ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA CÁC FLAVONOIDE CỦA RƯỢU VANG, TRÀ, CACAO.

Viện hàn lâm dược học quốc gia hôm qua đã thảo luận về những đóng góp có lợi lên tim và não bộ của những chất được chứa trong vài loại thức ăn.

PREVENTION. Rượu vang, trà, chocolat, là chủ yếu, và những thực phẩm khác chứa những chất flavonoides, có những tác dụng chống oxy hóa (antioxydant) và chống viêm, với một hiệu quả bảo vệ lên tim và não bộ. Từ 15 năm nay, các nghiên cứu gia tăng về những chất được chứa trong thực phẩm này. Hôm qua, Viện dược học quốc gia đã dành một trong những buổi họp để bàn về những tác dụng lên sức khỏe của những chất flavonoides đầy hứa hẹn này. Tuy nhiên, trong khi nhiều xí nghiệp dược phẩm đề nghị các viên thuốc mà chất căn bản là flavonoides, thì viện hàn lâm lại đánh giá rằng những dữ kiện hiện nay không cho phép khuyến khích các “ điều khẳng định sức khỏe ” (“ assertions santé ”) của các chất bổ trợ dinh dưỡng (adjuvants alimentaires).

Lịch sử của các flavonoides bắt đầu trong những năm 1990, với sự phát hiện của nghịch lý Pháp (paradoxe français) : các người Pháp, đặc biệt trong vùng Tây Nam, có một tỷ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nơi khác, mặc dầu một sự tiêu thụ cao các chất mỡ bảo hòa (một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng). Ngoại lệ này được quy cho sự tiêu thụ rượu vang đỏ, đặc biệt cao ở Pháp. Các flavonoides (các hợp chất polyphénol) của rượu đã được nhận diện như là các chất trung gian của tác dụng có lợi này. Và nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học đã cố gắng phân tích mối liên hệ giữa chế độ ăn uống giàu flavonoides và các bệnh tim mạch (đột qụy, nhồi máu) hay thoái hóa thần kinh (bệnh Alzheimer, Parkinson).

“ Toàn bộ các thông tin có được như thế cho thấy một khuynh hướng chung tán trợ cho việc liên kết giữa sự tiêu thụ rượu vang đỏ có mức độ (một hay hai ly mỗi ngày), (trên mức này, những tác dụng có hại của rượu làm đảo ngược khuynh hướng), của sự tiêu thụ trà xanh hay trà đen và cacao và tỷ lệ tử vong nguồn gốc tim mạch hay thoái hóa thần kinh, GS Jean-Claude Stoclet, ủy viên của Hội hàn lâm dược học (đại học Strasbourg) đã giải thích như vậy.

Vậy có vẻ hợp lý khi đưa ra giả thuyết, theo đó sự tiêu thụ đều đặn của vài loại trái cây giàu flavonoides hay những chế phẩm phát xuất từ đó, rượu vang đỏ, một vài nước nho vắt, trà xanh và đen (trong một chừng mực ít hơn), cacao, được liên kết với một sự giảm tỷ lệ tử vong… ”

SỰ ỨC CHẾ CỦA MỘT VÀI GENE .

Bằng cớ chính thức chỉ có thể được mang lại, sau những thử nghiệm lâm sàng so sánh một chế độ ăn uống giàu flavonoides với một chế độ ăn uống nghèo flavonoides. Chúng ta hãy ghi nhận rằng hầu hết các công trình nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu flavonoide và ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu thí nghiệm, trên cấy tế bào hay mô hình động vật, đã phát hiện một tác dụng của các flavonoides lên thành trong của các huyết quản, với một sự gia tăng của các yếu tố giãn mạch và chống tăng sinh (facteurs vasodilatateurs en antiprolifératifs). Những chất này cũng tác dụng bằng sự ức chế của vài loại gène, để dẫn đến một tác dụng kháng viêm.

Người ta tìm thấy ở đâu các flavonoides này ? Nhiều trăm flavonoides khác nhau đã được nhận diện. Mặc dầu có nhiều điều không chắc chắn, nhưng có vẻ như rằng các flavonoides có một tác dụng bảo vệ, thuộc về các lớp của các flavonols (rượu vang đỏ, trà, cacao) và của các chất anthocyanines (các trái cây đỏ, quả anh đào, cassis). “ Khi tính đến các dữ kiện mới đây về các hiệu quả và các cơ chế tác dụng của vài flavonoides, ta có thể dễ bị cám dỗ khi chủ trương ngay từ bây giờ một sự tăng cường flavonoides trong chế độ ăn uống, GS Stoplet đã đánh giá như vậy. Cần phải cưỡng lại sự cám dỗ này : ngoài những điều không chắc chắn về bản chất của các hợp chất hữu ích, về những lượng cần phải cho, không hoàn toàn loại bỏ sự hiện diện của những tác dụng phụ. ” Đối với GS François Chast, chủ tịch của Viện hàn lâm dược khoa, “ trên cơ sở của các dữ kiện hiện nay, một sự tăng cường các cố gắng nghiên cứu có vẻ được biện minh và khẩn cấp ”.
(LE FIGARO 28/1/2010)

4/ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC : NHỮNG PHƯƠNG TIỆN PHÒNG NGỪA BỆNH.

Tất cả chúng ta không bình đằng trước bệnh bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Một vài người có nguy cơ hơn phát triển bệnh này vì có những yếu tố tố bẩm (facteurs de prédisposition). Kiến thức chỉ có lợi ích nếu ta có thể tác động ở thượng nguồn và đây chính là trường hợp như vậy.

Có các gène tố bẩm của bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA), trong đó gène thứ ba vừa được nhận diện ở CHU de Créteil, và vài gia đình có nhiều thành viên bị bệnh. Có một người anh/em hay chị/em bị bệnh, nhân gấp 4 lần nguy cơ, một ngày nào đó, bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác này. Tuy vậy, sự phát triển các trắc nghiệm di truyền (test génétique) không là một ưu tiên, bởi vì các thầy thuốc nhãn khoa đã biết rằng một người sẽ có nguy cơ mắc phải bệnh DMLA, nếu người này có những tiền sử gia đình, một con mắt đầu tiên bị bệnh, nếu người này hút thuốc (nguy cơ được nhân lên gấp 4), nếu béo phì (nguy cơ nhân lên gấp đôi), hay lại nữa, nếu thăm khám đáy mắt vào lúc 55 tuổi đã cho phép phát hiện sự hiện diện của những dấu hiệu báo trước.

“ Như vậy, một hoàng điểm (macula) hoàn toàn bình thường ở lứa tuổi này được thể hiện bởi một nguy cơ rất thấp (0,5%) phát triển một DMLA trong 5 năm đến, trong khi nếu hoàng điểm đã có những dấu hiệu báo trước, nguy cơ sẽ chuyển lên 50% sau 5 năm và ngay cả 75% sau 10 năm, GS Souied đã xác nhận như vậy.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG.

Khi người ta có một profil nguy cơ, điều đó không muốn nói rằng nhất thiết là ta sẽ phát triển bệnh. Nhưng ta có thể làm giảm nguy cơ này nhờ những biện pháp phòng ngừa, bắt đầu bằng chào vĩnh biệt thuốc lá và sự làm mất các kilo bị dư thừa. “ Chế độ ăn uống của chúng ta cũng có ảnh hưởng nhiều. Như là một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng vài chất chống oxy hóa làm giảm 25% xác suất, đối với những người có nguy cơ cao, phát triển một DMLA trong 5 năm. Một ảnh hưởng không phải là nhỏ ”, BS Benzacken đã nhận xét như vậy. Đó chủ yếu là lutéine và zéaxanthine, hai caroténoide tập trung ở võng mạc để bảo vệ nó. Để có kết quả tốt, ta phải có 6mg mỗi ngày. Các nhu cầu hàng ngày của chúng ta có thể được đảm bảo bằng cách tiêu thụ 5 suất trái cây và rau xanh, nhưng với điều kiện lựa chọn chúng trong số những trái cây và rau xanh chứa nhiều các chất này nhất : các rau xanh có lá xanh đậm, chou hay épinard, nhưng cũng brocolis, các petits pois, các poivrons màu da cam, bắp, kiwis hay nho.

Chất dinh dưỡng khác hữu ích : các axít béo oméga 3, rất có can dự trong sự vận hành chức năng tốt của các tế bào của võng mạc. Người ta tìm thấy chúng trong các loài cá béo của những vùng biển lạnh : saumon, sardine, maquereaux, harengs. “ Tiêu thụ những con cá này 3 đến 4 lần mỗi tuần có thể làm giảm 1/3 nguy cơ bị DMLA ”, BS Benzacken đã nhấn mạnh như vậy.

Sau cùng, các chất chống oxy hóa (vitamine C, E, kẽm) cũng là những ứng viên tốt bởi vì chúng ngăn cản những phản ứng oxy hóa dẫn đến sự lão hóa sớm của những tế bào của võng mạc. Thế có nên sử dụng tất cả bằng cấp bổ sung ? Một câu hỏi hay. Một cõng trình nghiên cứu đang được tiến hành, nhưng kết quả sẽ chỉ được biết trong vài năm.
(LE FIGARO 8/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 82 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/6/2008 )

6/ SỰ TIÊU THỤ CÁ NGĂN NGỪA VÀI BỆNH MÙ LÒA.

Những người tiêu thụ các oméga-3 sẽ giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge)

Ở Pháp, sự thoái hóa điểm vàng do tuổi tác gây bệnh, ở những mức độ khác nhau, cho hơn 500.000 người. Sự thoái hóa của vùng trung tâm võng mạc này được thể hiện bởi một sự giảm thị lực trung tâm, có thể dẫn đến mù lòa sau nhiều năm tiến triển. Mặc dầu các nguyên nhân của căn bệnh nghiêm trọng và thường xảy ra này vẫn không được biết đến, nhưng rõ ràng rằng một vài yếu tố làm dễ căn bệnh này như tuổi tác và thuốc lá. Sự tiếp xúc quá mức với ánh sáng cũng được cho là có liên hệ, nhưng không có chứng cớ tuyệt đối.

Vậy người ta có thể bảo vệ chống lại căn bệnh này hay không ? Các nhà nghiên cứu Úc đại lợi vừa khảo sát vấn đề này, và kết luận trong một công trình nghiên cứu được công bố tuần này trong Archives of Ophtalmology, rằng những người có một chế độ ăn uống giàu cá hay ăn bổ sung những thức ăn có oméga 3 sẽ có một nguy cơ bị DMLA ít hơn.

Các oméga-3 là những chuỗi acide béo không bảo hoà mà người ta tìm thấy nhiều nhất trong cá mỡ : cá hồi (saumon), cá thu (maquereau), cá trích (hareng)…, trong cây cai dầu (colza), các quả hồ đào. Vào đầu những năm 1990, các chất mỡ này được gán cho nhiều tác dụng tốt, không phân biệt đúng hay giả.

Mặc dầu nhiều nghiên cứu đã phát hiện một nguy cơ bị tai biến tim mạch ít hơn nơi những người tiêu thụ nhiều cá, nhưng những thử nghiệm phòng ngừa cơn đau tim bằng oméga-3 đã hơi gây thất vọng hơn. Chính trong bối cảnh này mà các thầy thuốc Úc đại lợi ở Melbourne đã quyết định xem xét một cách hoàn toàn, mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu cá hay oméga-3 và nguy cơ bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Để thực hiện điều này, họ đã xem lại 9 công cuộc điều tra được công bố trong 20 năm qua về chủ đề này, và đã sưu tập thành một phân tích méta trên 88.974 người.

Những kết quả của công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng những người tiêu thụ nhiều oméga-3 nhất, dầu đó là cá hay các bổ sung thực phẩm, có 38% nguy cơ bị một thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) ít hơn, so sánh với những người tiêu thụ ít nhất. Như vậy, sự việc ăn cá hai lần mỗi tuần liên kết với một nguy cơ bị DMLA thấp hơn.

CẦN NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

“Phân tích của chúng tôi gợi ý rằng sự tiêu thụ cá và các thức ăn giàu oméga-3 được liên kết với một nguy cơ bị DMLA ít hơn”, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Như vậy có phải ăn cá hay dùng oméga-3, ngay cả khi chúng ta vẫn khỏe mạnh, để ngăn ngừa hoặc kềm hãm sự thoái hóa này hay không?

Các tác giả tỏ ra thận trọng không muốn bước thêm bước nữa, đánh giá rằng trước khi có những khuyến nghị chính thức, thì bây giờ phải thực hiện, không phải là những điều tra quan sát như đã làm cho từ trước cho đến nay, mà phải thực hiện những thử nghiệm điều trị quy mô lớn. Các thử nghiệm này nhằm so sánh tiến triển của thị lực của những người dùng oméga-3 so với những người không dùng chất bổ sung này.

Bằng cách nào các oméga-3 làm giảm nguy cơ bị DMLA? Theo Elaine Chong, tác giả chính của công trình nghiên cứu, các acides béo này là một thành phần sinh tử của võng mạc và một sự thiếu hụt có thể sẽ đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh này. Cũng phải biết rằng vào tháng 2 năm 2008, các thầy thuốc Úc Đại Lợi của đại học Sidney đã chứng tỏ rằng những người bị DMLA cũng có một nguy cơ tim mạch gia tăng. Điều này khiến các nhà nghiên cứu nghĩ rằng cùng những yếu tố ảnh hưởng lên tim (huyết áp cao, cholestérol máu cao, nghiện thuốc lá...) cũng gây thương tổn ở mắt và có liên hệ trong sự phát sinh bệnh DMLA. Như thế, tác dụng thuận lợi do oméga-3 lên tim cũng có thể được giải thích ở mắt.

Hiện nay, đó chỉ là một giả thuyết.Trong tất cả mọi trường hợp, không gì có thể ngăn cản chúng ta ăn cá hai lần mỗi tuần, hoặc nhiều hơn nếu trái tim của chúng ta muốn như vậy, ngoại trừ các phụ nữ có thai.
(LE FIGARO 11/6/2008)

Thời Sự Y Học Số 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/6/2009 )

10/ CÁ, HỒ ĐÀO VÀ OLIVE CHỐNG BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC (DMLA).

Việc gìn giữ một thị giác tốt cũng có thể phụ thuộc vào chế độ ăn uống. Trong les Archives d’Ophtalmologie, một tạp chí của Hoa Kỳ, được công bố hôm nay, các thầy thuốc người Úc của đại hoc Sidney cho thấy rằng một chế độ ăn uống giàu hồ đào (noix), cá hay dầu olive, làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Hiện nay, ở Pháp, sự biến đổi thị giác trung tâm này cùa võng mạc tác động lên 500.000 người, ở những mức độ khác nhau. Ngược lại, những axít béo được gọi là trans (những chất béo thực vật được bảo hòa bởi một phương thức công nghiệp để cải thiện sự tiêu thụ chúng) có một tác dụng có hại lên thị giác. Hiện nay, ở Pháp cũng như trong những nước kỹ nghệ hóa khác, DMLA là nguyên nhân chính của thị lực kém (malvoyance) nơi những người trên 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ dĩ nhiên là tuổi tác, cũng như tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và hút thuốc lá.

Để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và DMLA, các nhà nghiên cứu người Úc đã quan tâm đến chế độ ăn uống, và đặc biệt là sự tiêu thụ mỡ, của 2454 người tuổi hơn 65, từ năm 1992 đến 1994 và đã chụp hình võng mạc. 10 năm sau, các kết quả cho thấy rằng những người ăn cá, ít nhất một lần mỗi tuần (nhưng cũng ăn hồ đào và dầu olive) có tỷ lệ bị DMLA 30% thấp hơn. Sự tiêu thụ càng quan trọng thì nguy cơ càng ít cao.

Một công trình nghiên cứu thứ hai, được công bố trong cùng tạp chí, đã kết luận rằng một sự tiêu thụ quá mức axít trans (hiện diện trong viennoiserie công nghiệp, biscuit và vài món ăn tiền chế khác) làm gia tăng nguy cơ bị DMLA.

Những công trình nghiên cứu này, nếu được xác nhận, chứng tỏ một cách rõ ràng một mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sự biến đổi võng mạc do bệnh DMLA.
(LE FIGARO 12/5/2009)

Thời Sự Y Học Số 166 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/3/2010)

8/ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG : 3 GENES LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH.

Tiến bộ lớn và mới nhất trong bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan với tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge) là khám phá 3 gène có liên quan trong sự xuất hiện của bệnh này. “ Bây giờ chúng ta biết được vai trò quan trọng của tố bẩm di truyền (prédisposition génétique), GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Từ nay đến vài năm nữa, bằng một xét nghiệm máu ta sẽ có thể xác định một nguy cơ gia tăng, thiết đặt một sự theo dõi sớm và một biện pháp phòng ngừa bằng những quy tắc chế độ ăn uống. Nhất là, sự giáo dục bệnh nhân có nguy cơ sẽ tạo khả năng điều trị rất sớm ! ”. Bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) khởi đầu bằng một sự tích tụ các mảnh và những tế bào chết trong các cơ quan nhận cảm ánh sáng (photorécepteurs) của võng mạc và các mô nâng đỡ. Vào một giai đoạn tiến triển, sự đổi mới của những cơ quan cảm thụ ánh sáng không còn thực hiện được nữa và bệnh nhân mất thị giác trung ương (vision centrale). Ở Pháp, đó là một vấn đề y tế công cộng thật sự : 1,5 triệu người bị bệnh này và hơn 200.000 người bị tật nguyền nặng. Điều đáng sợ nhất của các bệnh nhân là tình trạng phụ thuộc (dépendance), bởi vì DMLA có thể xảy ra cả hai bên mắt. “ Chúng tôi trấn an các bệnh nhân của chúng tôi bằng cách nói với họ rằng họ sẽ luôn luôn vẫn còn thị giác ngoại biên (vision périphérique), mặc dầu trung tâm của võng mạc bị thương tổn, và rằng họ sẽ phải học sử dụng thị giác ngoại biên này để bù trừ phần nào phế tật ”, GS José-Alain Sahel đã giải thích như thế. Có hai dạng tiến triển : dạng ướt (forme humide), có thể xảy ra rất đột ngột, được đặc trưng bởi sự tạo thành những mạch máu mới (néovaisseaux), và dạng khô (forme sèche), trong đó những cơ quan nhận cảm ánh sáng bị teo di và biến mất dần dần. “ Tần số mắc bệnh trung bình là 1% vào lúc 55 tuổi, 10% vào lúc 65 tuổi, 25% vào lúc 75 tuổi và 60% vào lúc 90 tuổi, GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Với sự kéo dài tuổi thọ, người ta dự kiến tăng gấp đôi những con số này vào năm 2050. ” Những triệu chứng đầu tiên được biểu hiện bởi những vấn đề thích nghi đối với sự thay đổi ánh sáng. Hai dấu hiệu phải khiến đi thăm khám càng sớm càng tốt : một vết cố định (une tache fixe), ổn định trong thị trường, hay một sự biến dạng các hình ảnh.

MỘT THĂM KHÁM VÕNG MẠC, TỪNG TẾ BAO MỘT

Ở Quize-Vingts, nhóm của GS Sahel thuộc một trong những nhóm có hiệu năng nhất trong lãnh vực chẩn đoán DMLA : “ Từ tháng giêng năm 2009, chúng tôi sử dụng một kỹ thuật thiên văn (technique d’astronomie) cho phép nhìn thấy từng tế bào nhận cảm ánh sáng (cellule photoréceptrice) của võng mạc.Nhờ kỹ thuật này và nhờ những tiến bộ của các hệ thống như chụp lớp quang học (tomographie optique), các chuyên gia chẳng bao lâu nữa sẽ có thể quyết định điều trị theo các tiêu chuẩn khách quan và rất là chính xác. Những tiêu chuẩn này cũng sẽ cho phép họ đánh giá tính hiệu quả của điều trị với một chất lượng chưa từng có. Hãy tưởng tượng xem các thầy thuốc ngoại thần kinh sẽ hạnh phúc biết bao nếu họ có thể quan sát từng tế bào thần kinh một ! ”. Trước giai đoạn đặc biệt này, các kỹ thuật chẩn đoán đã hưởng rộng rãi các tiến bộ công nghệ học. Thí dụ từ 3 năm qua, các bệnh nhân có thể được phát hiện nhờ các hình chụp đơn giản của đáy mắt.

ĐIỀU TRỊ DẠNG ƯỚT (FORME HUMIDE) : MỘT SỰ CẢI THIỆN NGOẠN MỤC.

Một giai đoạn quan trọng đã được vượt qua trong những năm qua với sự xuất hiện của các anti-VEGF, các tác nhân chống sinh mạch (antiangiogénique), ngăn cản sự tạo thành các huyết quản mới trong võng mạc và giới hạn sự phù nề. Các loại thuốc này (mà đầu đàn là ranibizumab) là rất có hiệu quả khi chúng được tiêm sớm vào trong mắt mỗi tháng. “ Trong 90% các trường hợp, ta quan sát thấy một sự ổn định của căn bệnh, và trong hơn 10%, một sự cải thiện nhỏ, GS Sahel đã xác nhận như vậy. Kỹ thuật này đã là có tính cách mạng bởi vì, trước đây, với các kỹ thuật bằng laser và quang động (techniques au laser et photodynamiques), chỉ dưới 20% các bệnh nhân được ổn định mà thôi. Những bệnh nhân khác đánh mất thị giác trung ương. Không còn có thể đọc cũng như nhận diện các gương mặt nữa, bị cản trở không thể đi ra đường, họ chịu một phế tật khủng khiếp ! Sự thay đổi tiên lượng này tuyệt vời.” Những nghiên cứu đang được tiến hành để cải thiện thêm nữa chất lượng của các bệnh nhân : người ta đang nghiên cứu chế tạo các loại thuốc giọt có tác dụng kéo dài (được sử dụng mỗi 6 tháng).

NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐÁNG PHẤN KHỞI ĐỐI VỚI DẠNG KHÔ.

“ Tiến bộ lớn, GS Sahel đã giải thích như vậy, có liên quan đến các giai đoạn sớm mà ta có thể làm chậm tiến triển của bệnh lại nhờ một cocktail các chất chống oxy hóa (oxydants), làm tăng cường sự hóa sắc tố của võng mạc. Nhưng các nghiên cứu đang tiến triển : các nhóm nghiên cứu, trong đó có nhóm của chúng tôi, đang trắc nghiệm hai loại thuốc mới. Một vài loại thuốc nhằm giới hạn sự tích tụ của các chất đọng (dépôts) trong võng mạc (kháng vitamine A), những chất khác phong bế phản ứng viêm (các chất điều biến của các complément). Những thử nghiệm này, ở giai đoạn 2, là đáng phấn khởi. Sẽ còn phải chờ đợi những kết quả của giai đoạn 3 rồi mới phát biểu được.”

Đối với những người mà bệnh ở một giai đoạn tiến triển và rất bị trở ngại do mất thị giác trung ương, chúng tôi phát triển société Essilor des lunettes mang các caméra nhỏ xíu cho phép lúc nhìn chiếu các hình ảnh được phóng đại trong những vùng ngoại biên mà bệnh nhân còn thấy được. Những prototype đầu tiên đã gần như sẵn sàng. Các trung tâm cải tạo đã được thành lập để dạy cho những bệnh nhân phế tật sử dụng tốt hơn đôi mắt của họ. Ở Viện thị giác, chúng tôi đang hiệu chính đủ loại công nghệ học nhằm cải thiện chất lượng sống, ví dụ một GPS sẽ chỉ rõ rất chính xác cho người sử dụng vị trí, môi trường của mình.
(PARIS MATCH 5/1-1/1/2009).

5/ NHỮNG TRẺ SINH THIẾU THÁNG GIỮA 27 VA 32 TUẦN BỊ NHỮNG NGUY CƠ NÀO ?

Professeur Bernard Salle
Néonatologiste
Membre de l’Académie nationale de médecine.


Mỗi năm ở Pháp 8000 trẻ em thiếu tháng nặng (grand prématuré), giữa tuần lễ thứ 27 và 32 của thai nghén, được sinh ra đời, điều này có nghĩa là khoảng 1% số các sinh đẻ. Trọng lượng lúc sinh của chúng biến thiên giữa 1000 và 1600 g. Nhờ những tiến bộ của sơ sinh học (néontologie), hơn 90% các em bé này sống sót và các biến chứng đã có thể giảm đi. Tuy nhiên, làm thu giảm số các trẻ sơ sinh thiếu tháng được sinh ra đời vẫn là một thách thức quan trọng đối với sản khoa.

Những biến chứng có thể xảy ra ngay tuần lễ đầu tiên sau khi sinh, chủ yếu là hô hấp và thần kinh, với một nguy cơ bị các di chứng lâu dài. Các biến chứng hô hấp là rất thường thấy. Chúng xảy ra là do tình trạng chưa thành thục của sự phát triển phổi hay của hệ thần kinh trung ương chỉ huy sự hô hấp. Sự suy hô hấp (détresse respiratoire) (hơn 60% các trường hợp) hiện nay có thể được ngăn ngừa bằng cách kê toa cortisone cho người mẹ và được điều trị lúc sinh ra bằng sự thông khí hỗ trợ (ventilation assistée) và cho surfactan vào trong khí quản, điều này cho phép duy trì các phế nang phổi hoạt động. Kế đến, trẻ sinh non có thể bị những đợt ngừng hô hấp (apnée de prématuré), mà ta chỉ cần điều trị với céféine bằng đường miệng.

Các biến chứng thần kinh là do tính chất dễ vỡ của các mạch máu não và do tính chất dễ bị thương tổn của chất trắng bao quanh các não thất. Những biến chứng này thường thấy hơn nơi các trẻ sinh non nhỏ tuổi nhất và chịu trách nhiệm những di chứng lâu dài. Các biến chứng thần kinh chủ yếu là các xuất huyết não (5 đến 10% các trường hợp) và một sự hoại tử chất trắng nơi 2 đến 3% các trẻ em. Nhưng ta có thể theo dõi sự xuất hiện và tiến triển của các biến chứng này bằng siêu âm não và điện não đồ.

Những biến chứng có thể được ngăn ngừa hay điều trị : hoàng đảng sơ sinh (jaunisse) được điều trị bằng quang liệu pháp (photothérapie) và hiện nay không gây nên một di chứng nào. Sự thiếu máu, đặc biệt thường xảy ra, có thể được ngăn ngừa bằng cách hạn chế tần số và thể tích lấy máu và được điều trị bằng cách cho érythropoiétine (EPO), một hormone có tác dụng kích thích sự sản xuất các tế bào hồng cầu. Sau cùng, trẻ sinh non có thể được nuôi ăn bằng ống thông dạ dày với những lượng sữa rất nhỏ, tốt nhất là sữa mẹ, với một sự dinh dưỡng bổ sung bằng đường tĩnh mạch trong vài ngày.

CÁC RỐI LOẠN HỌC TẬP.

Những di chứng, khi chúng xuất hiện, ảnh hưởng lên sự phát triển của phổi và não bộ. Suy hô hấp mãn tính được thấy nơi 3 đến 5% các trẻ sinh non đã được hưởng một thông khí hỗ trợ. Trong đại đa số các trường hợp, di chứng hô hấp này được cải thiện trong những năm đầu của đời sống. Những rối loạn của sự phát triển não bộ được thể hiện bởi một sự suy yếu vận động não (infirmité motricee cérébrale), được liên kết hay không với một sự chậm phát triển tâm thần (retard mental). Những rối loạn này ảnh hưởng lên 3 đến 5% các trẻ sinh non, nhất là các trẻ mà tuổi thai nghén thấp và những trẻ đã có một biến chứng thần kinh trong thời kỳ sơ sinh. Sự mù lòa do thương tổn của võng mạc không được thấy trong nhóm trẻ sinh non này ; cũng vậy chứng điếc là ngoại lệ.

Tuy nhiên, những trẻ sinh non này, khi lớn lên, thường là nạn nhân của những rối loạn học tập, của một sự tăng hoạt động (hyperactivité), của một sự thiếu chú ý, nhất là ở nhà trường và những rối loạn động tác (désordres gestuels) ; 1/3 những trẻ sinh non bị liên hệ, nhất là các cháu trai và những em bé phát xuất từ một môi trường xã hội không được ưu đãi. Chúng phải được chăm sóc rất sớm. Nhưng những con số làm an lòng : đại đa số những trẻ này sau đó phát triển hoàn toàn bình thường. Nhưng nguy cơ bị các biến chứng không thể không được biết đến.
(LE FIGARO 22/2/2010)

6/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG : QUÁ NHIỀU MUỐI.

Vào năm 2008, Pierre Meneton, nhà nhiên cứu của Inserm, đánh giá rằng sự tiêu thụ muối ở Pháp (đạt 10 đến 12 g mỗi người và mỗi ngày) là 3 hay 4 lần cao hơn nhu cầu, và chịu trách nhiệm mỗi năm ít nhất 75.000 tai biến tim mạch. Theo ông, sự thặng dư chủ yếu được liên kết với muối được chứa trong các sản phẩm chế biến kỹ nghệ. New England Journal of Medicine vừa công bố những công trình của các nhà dịch tễ học thuộc 3 đại học lớn của Hoa Kỳ (San Francisco, Stanford và Columbia), đưa đến cùng kết luận. Các nhà nghiên cứu đã lấy lại một mô hình các tính toán thống kê, cho phép những dự đoán đáng tin cậy trong lãnh vực tim mạch. Nơi các người Mỹ, tiêu thụ cùng lượng muối như các người Pháp, một sự giảm bớt 3 g mỗi ngày cho phép mỗi năm làm giảm số các trường hợp mới các bệnh động mạch vành 60.000, các tai biến mạch máu não 120.000, các nhồi máu cơ tim từ 99.000 đến 54.000. Với mỗi gam muối bớt đi mỗi ngày, lợi ích được chia ba.
(PARIS MATCH 1/4-7/4/2010)

7/ UNG THƯ PHỔI : MỘT GENE TỔ BẨM.

BS MARTINE PEREZ Nằm trên nhiễm sắc thể số 6, gène này làm gia tăng nguy cơ, ngay cả trong trường hợp nghiện thuốc lá ở mức độ vừa phải.

PNEUMOLOGIE. Những người hút thuốc không bình đẳng trước nguy cơ mắc phải ung thư phổi. Vài người có thể đốt hai bao thuốc mỗi ngày và không bị mắc phải bệnh này sau một cuộc sống kéo dài. Những người khác có thể chỉ hút rất ít hoặc không hút gì cả và ở tuổi 40 có một khối u phổi nghiêm trọng. Mặc dầu cứ 16 người hút thuốc thì một ngày nào đó sẽ có một người bị bệnh này, nhưng con số này thể hiện những thực tế rất thay đổi, được giải thích, ngoài những yếu tố khác ra, bởi những thay đổi về các tố bẩm di truyền (prédispositions génétiques). Những nhà dịch tễ học Hoa Kỳ của Centre Anderson chống bệnh ung thư (Texas), vừa công bố những kết quả của họ trong tạp chí Cancer Research, đã khám phá một yếu tố di truyền mẫn cảm (gène de susceptibilité), có khả năng làm dễ ung thư phổi, ngay cả trong trường hợp nghiện thuốc lá rất ít.

Trong những năm 1960, hai thầy thuốc Hoa Kỳ đã mang lại, một cách rõ ràng, những bằng cớ về các trường hợp ung thư phổi xảy ra trong gia đình nơi những người hút thuốc, gợi ý những tương tác giữa vài đặc tính di truyền với thuốc lá trong sự phát sinh của bệnh này. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận khuynh hướng xảy ra trong gia đình này. Nguy cơ bị ung thư phổi được nhân lên gấp 3 lần khi ít nhất có 3 người trong cùng gia đình bị một khối u phổi và nhân lên gấp 4 khi ít nhất có 4 người bị bệnh, so với những người hút thuốc không có tiền sử gia đình.

Mới đây hơn, một vùng của nhiễm sắc thể số 6, được liên kết với một tố bẩm bị ung thư phế quản gia tăng nơi những người hút thuốc (và những người không hút thuốc), đã được nhận diện. Marshall Anderson và nhóm nghiên cứu của ông (Đại học Cincinnati) vừa đánh giá tác dụng của chứng nghiện thuốc lá lên nguy cơ bị ung thư phối tùy theo tính đặc hiệu di truyền này trên nhiễm sắc thể số 6. Trong các gia đình không có yếu tố nguy cơ di truyền này, nguy cơ phát triển một khối u phổi càng cao khi chứng nghiện thuốc lá càng quan trọng. Nhưng trong những gia đình, được truyền bởi gène tổ bẩm này, thì ngay cả một chứng nghiện thuốc lá thấp cũng gây nên một nguy cơ cao bị ung thư phổi. “ Khi anh có yếu tố di truyền nhạy cảm (gène de susceptibilité) và anh hút thuốc, thì không quan trọng là anh hút ít hay nhiều các điếu thuốc, anh vẫn có một nguy cơ phát triển ung thư phổi ”, Susan Pinney, một trong đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Marshall Anderson xác nhận rằng “ nếu anh có một bệnh sử gia đình ung thư phổi, có lẽ anh phải tránh ở trong một môi trường trong đó người ta hút thuốc ”.

Hiện nay, tố bẩm di truyền này làm gia tăng nguy cơ nơi những người không hút thuốc, và lại còn hơn trong trường hợp nghiện thuốc lá. Hiện nay, trên bình diện cá nhân, không có một xét nghiệm nào cho phép đánh giá tính nhạy cảm đối với ung thư phổi. Dầu sao, có hay không có tổ bẩm di truyền, thuốc lá vẫn tuyệt đối không thể được khuyến nghị vì lẽ một nguy cơ ung thư phổi rất cao hơn so với những người không hút thuốc, cũng như những loại ung thư khác, các bệnh tim, mạch máu và hô hấp.
(LE FIGARO 15/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 81 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 13/6/2008 )

10/ CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC UNG THƯ PHỔI

3 nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó : những biến dị di truyền trên nhiễm sắc thể 15 làm gia tăng đến 80% nguy cơ phát triển ung thư giết người này.

3 công trình nghiên cứu quốc tế độc lập vừa nhận diện trên nhiễm sắc thể 15 một chỉ dấu di truyền (marqueur génétique) liên kết với ung thư phổi, ung thư gây chết người nhất trên thế giới. Mỗi nhóm nghiên cứu đã sàng lọc toàn bộ bộ gène (génome) của những người lành mạnh hay bị một ung thư phổi. Kết quả : những người mang vài biến dị di truyền trên hai bản sao của nhiễm sắc thể 15, có một nguy cơ phát triển một ung thư phổi 80% cao hơn so với những người không có các biến dạng di truyền này. Những người chỉ mang biến dị di truyền trên một bản sao có nguy cơ phát triển ung thư phổi 30% cao hơn. “ Dĩ nhiên còn có nguy cơ do chứng nghiện thuốc lá nơi những người hút thuốc ”, Diana Zelenika, thuộc trung tâm génotypage quốc gia, đồng tác giả của một trong những công trình nghiên cứu đã phát biểu như vậy.Trong vùng bị biến dị của nhiễm sắc thể có nhiều gènes mã hóa các thụ thể đối với nicotine (récepteurs à la nicotine). Hai giả thuyết có thể giải thích sự liên hệ của chúng trong ung thư. “ Những thụ thể này có thể có một tác dụng gián tiếp bằng cách làm gia tăng sự phụ thuộc đối với nicotine, một cách trực tiếp, bằng cách gây nên sự ung thư hóa của biểu mô khí quản mang những tế bào này ” .
(SCIENCE ET AVENIR (6/2008))

8/ BALADEUR VÀ NHỮNG TIẾNG ỒN ĐÔ THỊ : NHỮNG HIỂM NGUY THẬT SỰ.

BS Gérald Fain, thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi Họng, giải thích những nguyên nhân của dịch bệnh các rối loạn thính giác, được phát hiện nhân Ngày thính giác toàn quốc.

Hỏi : Journée nationale de l’audition (Ngày toàn quốc của thính giác) vừa điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thiếu niên. Những kết luận được rút ra là gì ?
BS Gérald Fain : Người ta đã khám phá ra rằng các người trẻ tuổi, vẫn mắc vào máy baladeur trung bình một hay hai giờ mỗi ngày, thật là to lớn ! Phải biết rằng, trên ½ giờ tiếp xúc với những âm thanh có cường độ mạnh, tai cần một sự nghỉ ngơi âm thanh tối thiểu một giờ. Hành vi có hại này làm biến đổi sự vận hành chức năng của các tế bào thính giác. Thế mà thính giác là một trong những cơ quan quý báu nhất : 40% các thông tin từ môi trường của chúng ta đều đi qua tai ! Hiện nay các rối loạn của sự điếc tai tạo nên một phế tật xã hội hàng đầu : 7% dân chúng bị bệnh điếc.

Hỏi : Một tiếng ồn với cường độ quá mạnh có thể có hại đối với những tế bào nào của tai ?
BS Gérald Fain : Đối với 16.000 tế bào của tai trong (hay ốc tai : cochlée) ; 3.000 trong số những tế bào này cho phép nghe, còn những tế bào khác khuếch đại âm thanh và chọn lọc các tần số. Một sự vang âm (résonance) quá mạnh gây nên sự tăng tiết của glutamate, một chất, lúc thặng dư, trở nên độc hại bằng cách làm biến đổi sự sản xuất của dopamine (một chất dẫn truyền luồng thần kinh vào đến dây thần kinh thính giác). Các hậu quả : trước hết một sự mệt thính giác (fatigue auditive) với sự tăng nhạy cảm đối với tiếng ồn, một trạng thái bị kích thích (nervosité). Sau đó, điều trầm trọng hơn : một sự mất thính giác đối với những tần số cao (fréquence aigue).

Hỏi : Những nguy cơ này xuất hiện bắt đầu từ những mức độ tiếp xúc âm thanh quá mức nào ?
BS Gérald Fain : Người ta cho rằng tiếng ồn bắt đầu có hại khi nó đạt 70 đến 80 décibel (tiếng hú của xe cứu thương, của xe cứu hỏa, tiếng búa giã...). Trên mức 80 décibel (discothèque, tiếng máy hút, tiếng khoan răng của nha sĩ...), tiếng ồn lúc đó thật sự trở nên gây thương tổn và tấn công các tế bào, mà những tế bào yếu ớt nhất được dành cho những tần số cao. Thật vậy, có 3 loại nguy cơ : thời gian tiếp xúc với tiếng ồn (trên 30 décibel không được vượt quá 30 phút), cường độ và sự ở gần nó.

Hỏi : Đứng trước những yếu tố nguy hại này, có những người dễ bị thương tổn hơn không ?
BS Gérald Fain : Có, và nhìn toàn bộ có 4 lý do.
  • Một khuynh hướng tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) (các tế bào thính giác có thể ít hoặc nhiều đề kháng đối với tiếng ồn).
  • Sự hiện diện của những bệnh lý trước đây của tai, như các viêm tai.
  • Các thuốc độc hại cho thính giác, được dùng lâu dài (aspirine, quinine, vài thuốc kháng sinh…).
  • Tuổi tác : với tuổi càng cao, các tế bào chịu trách nhiệm các tần số cao bị thoái hóa, điều này làm gia tăng tính dễ bị thương tổn của chúng.

Hỏi : Trong cuộc sống hàng ngày, những lời khuyên của ông để bảo vệ là gì ?
BS Gérald Fain : Không nên do dự yêu cầu hạ cường độ của âm nhạc trong một cửa hàng ăn uống hay trong một discothèque, bịt tai lại nếu cần, với các bàn tay hay với các nút tai (bouchons d’oreille). Sau khi tiếp xúc với một chấn thương âm thanh, hãy nghỉ ngơi âm thanh một giờ. Những người lớn phải giải thích cho những người trẻ tuổi những mối hiểm nguy đang rình chờ họ, và khuyên họ hạ một nửa cường độ của baladeur. Trong những nghề nghiệp khác, như trong âm nhạc, ngày nay người ta ngăn ngừa những biến đổi thính giác nhờ những bộ phận lọc tần số (filtre fréquentiel). Những người đi săn và vài người lao động từ nay mang những mũ cát chống ồn (casque antibruit) vì ý thức được những nguy cơ.

Hỏi : Có phải theo dõi thính giác của mình như đối với thị giác hay không ?
BS Gérald Fain : Người ta chủ trương một sự kiểm tra các chức năng thính giác vào những thời điểm khác nhau của cuộc đời. Ví dụ, mọi trẻ sơ sinh đều phải được hưởng một thăm khám đầu tiên. Sau đó người ta khuyến nghị người mẹ cho các con mình được đánh giá về thính giác vào những lứa tuổi 3, 6 và 15. Bắt đầu từ 40 tuổi, đối với toàn dân, thính giác phải là một đối tượng của một thăm khám thường quy và nếu bình thường hãy dời lại lần thăm khám sắp đến vào 10 năm sau. Trong vài trường hợp, cần thăm khám cấp cứu : thí dụ trong trường hợp chấn thương âm thanh cấp tính, gây nên một sự điếc đột ngột, hay trong trường hợp sốc tình cảm (choc émotionnel), gây nên những rối loạn thính giác.
(PARIS MATCH 8/4-14/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 167 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (29/3/2010)

6/ CÁC BALADEUR LÀ NHỮNG MỐI NGUY THẬT SỰ CỦA THÍNH GIÁC.

Hôm qua, Ngày của thính giác (Journée de l’audition) điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thanh thiếu niên. Hơn 40% những người trẻ tuổi này đã bị chứng ù tai (acouphène).

SURDITE. Trong khi việc thăm khám các thầy thuốc nhãn khoa thường là một bộ phận của những thăm khám thường niên không tránh được đối với một đại đa số người Pháp, thì không phải vậy đối với việc thăm khám các thầy thuốc Tai Mũi Họng. “ Nếu võng mạc có 120 triệu tế bào, thì tai trong (oreille interne) chỉ đếm được 16.000 tế bào (13.000 khuếch đại các âm thanh và 3000 cho phép nghe chúng) ”, BS Gérald Fain, chuyên gia Tai Mũi Họng ở Paris đã nêu lên như vậy. Thế mà, việc kiểm tra đều đặn thính giác của mình cho phép có những điểm quy chiếu (points de répère).

Hôm qua, nhân Ngày của Thính giác (Journée de l’audition), hiệp hội tổ chức sự tập hợp này đã công bỏ một cuộc điều tra về chủ đề. Các kết quả rất bổ ích. Sự vấn chẩn (interrogatoire) đã được thực hiện trên 1.001 những người trẻ từ 12 đến 25 tuổi. Kết quả là những thanh thiếu niên này sử dụng baladeur trung bình một giờ rưởi mỗi ngày với một thời gian nghe liên tục một giờ. Những người sử dụng nhiều nhất là các thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi với thời gian nghe trung bình 2 giờ 5 phút. Mặt khác, 40% các thanh thiếu niên được hỏi tuyên bố đã cảm thấy các tiếng ù tai (acouphène) sau khi nghe baladeur và lúc ra khỏi discothèque.

Khi các thanh thiếu niên đi thăm khám, thường là quá muộn. Đó là trường hợp đối với chàng thanh niên 19 tuổi đã cảm thấy một tiếng rít trong tai sau một đêm dạ vũ ở discothèque. Anh ta chỉ đi khám một thầy thuốc 4 ngày sau và được chẩn đoán là bị chứng điếc vĩnh viễn (surdité définitive). Hiện nay, người thầy thuốc bất lực khi đứng trước sự phá hủy của những tế bào của tai trong này. Ngoài điều trị bằng corticoides thuốc uống dùng trong khoảng 8 ngày, các hướng điều trị là khả mong manh. Do đó cần phải tự bảo vệ. Một trong những giải pháp, dĩ nhiên, là mang các vật bảo vệ trong các lỗ tai của mình. “ Nghỉ ngơi âm thanh (repos sonore) cũng là một cách tự gìn giữ, GS Frachet, trưởng khoa Tai Mũi Họng thuộc bệnh viện Avicenne, Bobigny, đã phát biểu như vậy. Khi ta thỉnh thoảng đi ra ngoài lúc ở trong một hộp đêm, không sử dụng một baladeur một cách liên tục hay tránh xa các baffles lúc nghe hòa nhạc : xa 2 m ta chia nguy cơ cho 4.”

Trái với các định kiến, tất cả chúng ta không bình đẳng trước tiếng ồn.“ Nếu bạn ở trong một discothèque, và cường độ của tiếng nhạc quá mạnh, đừng an lòng khi người ở cạnh bạn nói với bạn rằng anh ta chịu được tốt cường độ đó, GS Bruno Frachet đã giải thích như vậy. Cũng vậy, vài người sẽ trở thành điếc ngay phát súng đầu tiên trong khi những kẻ khác lại sẽ chịu được nó rất tốt.”

Công trình nghiên cứu, được tiến hành nhân Ngày Thính Giác (Journée de l’audition) cũng nêu ra sự kiện là 75% trong số các thiếu niên 12-14 tuổi không biết decibels biểu hiện cái gì. Thế mà một iPod được mua ở Châu Âu được giới hạn ở mức 100dB, điều này tương đương với mức thính giác của một hộp đêm hay với một TGV phóng với vận tốc 300 km/ giờ ! Để so sánh, 75 dB tương ứng với một máy hút đang hoạt động và 15 dB tương ứng với một marteau-piqueur. “ Nghe baladeur với âm độ 100 dB, thật là quá lớn ! Pascal Petitpas, giám đốc của laboratoire d’essai của Fnac đã kêu lên như vậy, nguy cơ đối với tai đã được xác nhận ở âm lượng 80 dB. ” Một ý kiến được chia xẻ bởi BS Fain : “ Nghe iPod với âm lượng 100 dB, đó là tự tử vậy ! ”

Dẫu sao đi nữa, một vài người không thỏa mãn với âm lượng này, và tháo cương máy để gia tăng cường độ âm thanh. Đó là chưa kể ở Hoa Kỳ, những máy này được bán với một giới hạn 115 dB, hoặc một âm lượng cao hơn rõ rệt so với điều được thực hiện ở Châu Âu. Mặc cho “ trận dịch rối loạn đích giác ” (épidémie de troubles auditifs), theo lời diễn đạt của BS Fain, các thông điệp với mục đích phòng ngừa khó có thể đến với quần chúng, huống hồ là các thanh thiếu niên. “ Những lời khuyên thận trọng được đưa ra bởi những người đứng tuổi, lại không biết rằng âm nhạc phải được nghe với cường độ mạnh, GS Frachet đã phàn nàn như vậy. Thông điệp của họ được cảm nhận như là thiến hoạn (castrateur) trong khi giới trẻ không đánh giá tốt biên giới giữa lạc thú và sự nguy hiểm.” Cũng như đối với các bao thuốc lá, tại sao không viết trên các baladeur, “ tiếng ồn làm điếc tai ”, BS Fain đã yêu cầu như vậy ?
(LE FIGARO 12/3/2010)

Thời Sự Y Học Số 157 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/1/2010 )

3/ CỨ MƯỜI THIẾU NIÊN THÌ CÓ MỘT BẮT ĐẦU BỊ CHỨNG ĐIẾC.

Đó là một cấp cứu nội khoa rất thường không được hay biết. Sau khi xem xong một buổi hòa nhạc hay đi ra từ một hộp đêm, cảm giác như một lỗ tai “ bị bít lại ”, ù tai hay chóng mặt có thể là những biểu hiện cùa một chấn thương âm thanh cấp tính (TSA : traumatisme sonore aigu), đe dọa chức năng thính giác. “ Nhiều trong số những bệnh nhân này, nói chung là trẻ tuổi, không thăm khám hay thăm khám muộn khi những thương tổn đã trở thành vĩnh viễn, BS Jean-Michel Klein, tổng thư ký của Công đoàn quốc gia của các thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi họng, đã lấy làm tiếc như vậy. Tuy nhiên, theo ông một điều trị rất sớm bằng corticoides, sau một bilan với thính lực đồ (audiogramme), có thể giới hạn sự mất thính giác.

Trên bình diện cơ thể học, sự mất thích giác này được thể hiện bởi một sự biến đổi của những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) của tai trong (oreille interne). 15.000 tế bào này, rất quan trong đối với chức năng thính giác nhưng lại mỏng manh, có thể bị “ nổ tung ” dưới tác dụng của áp suất gây nên trong ốc tai (cochlée) do một sự tiếp xúc âm thanh ở những mức độ rất cao. Ngưỡng đau đớn (seuil douloureux) nằm ở 120 décibel, nhưng những chấn thương âm thanh (traumatisme sonore) cấp tính xuất hiện ở mức cao hơn nhiều so với ngưỡng này.

CÁC BALADEURS MP3 ĐƯỢC CHO LÀ THỦ PHẠM.

( Chú thích : Baladeur là máy điện tử nhỏ xíu tái tạo âm thanh và hình ảnh, được trang bị bởi các tai nghe (écouteurs), nhằm sử dụng cá nhân và thường người sử dụng di động. Các baladeur này rất được ưa thích bởi các thiếu niên ).

Trong thực tiễn, các triệu chứng có thể hồi phục được trong vài giờ, nhưng những bệnh cảnh “ mệt thính giác ” (fatigue auditive) này hẳn phải được xem như là một báo động, Jean-Michel Klein đã nhấn mạnh như thế. Trong vài trường hợp, các tế bào tiêm mao (cellules ciliées) bị phá hủy một cách không vãn hồi được, gây nên những rối loạn thường trực của thính giác, kèm theo tiếng ù tai hay không. Theo một điều tra cách nay vài năm, những chấn thương âm thanh cấp tính này không phải là ngoại lệ : chúng ảnh hưởng lên 1400 người mỗi năm ở Pháp. Các âm nhạc khuếch đại (hòa nhạc, discothèque..) là nguyên nhân đầu tiên, đứng trước tiếng súng bắn, tiếng nổ, pháo, còi báo động và ngay cả điện thoại cầm tay. Mặt khác, những tiếng động quá mạnh có thể gây nên thủng màng nhĩ hay sai khớp chuỗi các xương nhỏ do một hiện tượng sóng va chạm (onde de choc). Những thương tổn này của tai giữa (oreille moyenne), cổ điển trong những vụ nổ do khủng bố, có thể xảy ra, nhưng hiếm, trong các buổi hòa nhạc.

Nhưng ngoài những tai nạn cấp tính này, các thầy thuốc và giới hữu trách đặc biệt quan tâm đến các baladeur MP3, làm gia tốc quá trình lão hóa của tai trong. Theo một báo cáo châu Âu, 50 đến 100 triệu công dân của Liên Hiệp Châu Âu sử dụng hàng ngày những chiếc máy số (appareils numériques) này, và 10 triệu có nguy cơ trở nên điếc vì nghe chúng quá mạnh và quá thường xuyên. Mức âm thanh của các baladeur chẳng bao lâu sẽ được giới hạn bởi Uỷ Ban châu Âu.

MỘT PHẾ TẬT NẶNG.

Patrick Arthaud, chủ tịch công đoàn của các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (audioprothésiste) Pháp cũng ghi nhận rằng các môn đồ của MP3 đã trở thành quen (accoutoumance) với những cường độ âm thanh mạnh (qua trung gian của các chất dẫn truyền thần kinh), tạo nên một dạng phụ thuộc (dépendance). “ Thật là lệch lạc, ta đã thành công làm giảm các chứng điếc do nghề nghiệp bằng cách cải thiện biện pháp phòng ngừa, và rồi ta lại sẽ quan sát thấy một sự gia tăng của các chứng điếc, hậu quả của việc nghe nhạc giải trí ”, Patrick Arthaud nói tiếp như vậy, đồng thời nhấn mạnh đến sự phế tật nặng gây nên bởi chứng điếc trong cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp.

Những môn đồ đầu tiên của các baladeurs (các walkmans của những năm 1980) phải chăng đã trở thành điếc ? Khó mà biết được nếu không có gần như hoàn toàn những nghiên cứu dịch tễ học về vấn đề này. Các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (prothèse auditive) (audioprothésiste) có cảm giác đang đặt máy (appareiller) cho những người trẻ tuổi hơn, nhưng tiến triển này có thể do chiến dịch thông tin tốt hơn. Tuy nhiên, một điều tra trong giới học đường đã cho thấy rằng trước 17 tuổi, cứ 10 thiếu niên thì có 1 bị khởi đầu của chứng điếc với một sự mất thính lực hơn 20 dB. Trong những năm qua nhiều chiến dịch phòng ngừa đã được thực hiện nơi giới trẻ.
(LE FIGARO 11/1/2010)

9/ MỘT KEM CHỐNG NHĂN CÓ HOẠT CHẤT PHÁT XUẤT TỪ THAI NHI ĐƯỢC BÁN Ở HOA KỲ.

Một mỹ phẩm, chứa những protéine trích từ canh cấy các tế bào da phát xuất từ một thai nhi người, được thương mãi hóa cách nay vài tháng ở Hoa Kỳ. Chất kem chống già (crème anti-âge) này, trên nguyên tắc phải có toa thầy thuốc mới mua được, nhưng cũng có thể tìm trên internet, đang là tâm điểm của một cuộc luận chiến gay gắt. Kem chống nhăn da (crème anti-ride) này được sản xuất bởi một start-up, Neocutis, được thành lập vào năm 2003 ở Thụy Sĩ nhằm làm sinh lợi các văn bằng của phòng thí nghiệm y khoa thai nhi (médecine foetale) của CHU vaudois, Lausane.

Cha đẻ của dự án, Patrick Hohlfeld, trưởng khoa Phụ Khoa của CHU vaudois, trong những năm 1990, đã chứng thực rằng những can thiệp ngoại khoa trong tử cung đã không để lại một vết sẹo nào trên các trẻ sơ sinh. Do đó nhóm nghiên cứu của ông đã quan tâm đến các khả năng tái sinh của các tế bào da của thai nhi. Nhóm nghiên cứu đã được biếu 4cm2 da của một thai nhi sau một can thiệp làm gián đoạn thai nghén (interruption médicale de grossesse), với sự thỏa thuận của người mẹ, Neocutis đã giải thích như vậy. Các protéine được sử dụng trong kem của nhóm nghiên cứu phát xuất từ những tế bào được cấy trong một ngân hàng mô (banque de tissus).

Bị chỉ trích là đã sử dụng với mục đích thương mãi các tế bào người, Patrick Hohlfeld minh định rằng sản phẩm bán nhằm tài trợ cho sự hiệu chính các bông băng dùng cho những người bị bỏng nặng. Vào năm 2005, nhóm nghiên cứu của ông đã công bố trong tạp chí The Lancet những kết quả chữa lành ngoạn mục được quan sát thấy trên những trẻ em bị bỏng độ hai và ba. Sau khi đã nhờ đến một khuôn collagène có nguồn gốc ngựa, các nhà nghiên cứu đã hiệu chính một phương thức cấy cho phép họ có sử dụng nhiều triệu “ mảnh da ” (lambeau cutané), mỗi mảnh có bề rộng 100 cm. Các mảnh da này, được đổi mới mỗi 3 hay 4 ngày, đã kích thích sự tái tục của sự tăng sinh tự nhiên của các tế bào da.

Trong Le Parisien số ngày 16 tháng 4, nhà di truyền học Axel Kahl nhắc lại rằng, trước những năm 1990, công nghiệm mỹ phẩm sử dụng nhau người “ được xem như là một đồ phế thải phòng mổ ” (déchet opératoire). Sự lo ngại các lan truyền virus đã chấm dứt phương thức này. Ngoài ra, Axel Kakn phân biệt những tế bào thai nhi (cellules du fœtus) với những tế bào phôi thai (cellules embryonnaires) “ phát xuất từ một con người đang lớn mạnh, nằm trong tâm điểm của một vấn đề đạo lý, trái với những tế bào khác ”.
(LE MONDE 17/4/2010)

10/ MỘT DẠNG MAGNESIUM MỚI DÙNG CHO TRÍ NHỚ ?

Magnésium là một oligoélément thiết yếu cho sự vận hành chức năng của các tế bào thần kinh và của các dây thần kinh.

Cách nay vài năm, hai nhà nghiên cứu Gusong Liu và Inna Slutski, đã cho thấy, trên các canh cấy tế bào và in vivo nơi động vật, rằng magnésium kích thích sự tạo thành của các nối kết (các khớp thần kinh : synapses) giữa các neurone, nghĩa là tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale), nhất là trong thùy hải mã (hippocampe), là nơi tọa vị các vùng của trí nhớ. Nhưng sự đi qua trong não của magnésium, nguồn gốc thức ăn, hay được cung cấp bởi các chất bổ sung (compléments), là rất thấp, thậm chí là số không. Mới đây ở đại học Tsinghua (Bắc Kính), Gusong Liu đã hiệu chính một dạng magnésium, thréonate (MgT), được não bộ bắt giữ và có thể làm gia tăng 10% nồng độ của nó. Một công trình nghiên cứu đã được tiến hành trên chuột, trong đó một nhóm đã nhận MgT và một nhóm khác nhận magnésium bình thường. Những kết quả với MgT đã rất là ngoạn mục, với sự cải thiện trí nhớ trước mắt và lâu dài, ở nơi các con chuột già cũng như nơi những con chuột nhỏ nhất. Lúc giải phẫu tử thi, các con chuột được cho MgT có nhiều nối kết thần kinh hơn. Các thử nghiệm đang được dự kiến trên người.
(PARIS MATCH 8/4-14/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 165 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/3/2010)

3/ MAGNESIUM ĐỂ “KÍCH THÍCH ” CÁC TẾ BÀO THẦN KINH.

Chính một chất kích thích trí nhớ, ly kỳ, mà các nhà nghiên cứu của đại học Tsinghua ở Bắc Kinh (Trung Hoa) và của Massachusetts Institute of Technology ở Boston (Hoa Kỳ), loan báo đã khám khá trong tạp chí Neuron. Một loại thuốc hoàn toàn mới ? Không, đó là magnésium, nhưng dưới dạng hợp chất cho phép nó đi vào trong não bộ một cách dễ dàng hơn. Magnésium cần thiết cho sự chuyển hóa của các tế bào và đặc biệt là cho sự vận hành chức năng của các tế bào thần kinh. Mặc dầu rất hiện diện, thí dụ trong chocolat, chuối hay vài loại nước uống, nhưng đôi khi magnésium bị thiếu hụt trong chế độ ăn uống hiện đại. Bù lại, sự thặng dư của magnésium trong máu được loại bỏ rất nhanh, điều này khiến nồng độ của nó trong máu ít có khả năng tăng cao trong não bộ, mặc dầu có lợi. Nhóm nghiên cứu Trung quốc-Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng sự kết hợp của magnésium với một phân tử nhỏ, acide L-thréonique, làm dễ sự hấp thụ của nó bởi não bộ. Một tháng sử dụng thréonate de magnésium (MgT) cải thiện trí nhớ nơi chuột và dập tắc sự suy đồi của trí nhớ không gian (mémoire spatiale) nơi các động vật gậm nhấm lớn tuổi. Những hiệu năng tốt hơn này vẫn được duy trì chừng nào MgT được thêm vào nước uống của chúng. Những hiệu năng này cũng được thể hiện nơi chuột bởi một sự gia tăng số các nối kết thần kinh (connexions nerveuses) và sự ổn định của chúng trong một vùng não bộ quan trọng đối với trí nhớ và học tập, thùy hải mã (hippocampe). Được hấp thụ dễ dàng bởi cơ thể, vô hại, MgT có thể nhanh chóng thay thế các công thức pha chế Mg đang hiện diện trên thị trường.
(SCIENCE ET AVENIR 3/2010)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/4/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#47 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 26 April 2010 - 05:59 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ TỶ LỆ SINH TỒN SAU UNG THƯ ĐƯỢC CẢI THIỆN Ở PHÁP.

Hơn 50% các bệnh nhân bị một ung thư vẫn còn sống 5 năm sau. Một số quan trọng các bệnh nhân được xem là được chữa lành bệnh.

EPIDEMIOLOGIE. Cuộc đấu tranh chống lại ung thư đang tiến triển. Tuy không phải là cách mạng, nhưng những tiến bộ từng bước nhỏ về sự phát hiện, chẩn đoán sớm và các điều trị, sau cùng mang lại một sự cải thiện đáng kể của tỷ lệ sinh tồn sau ung thư, và ngay cả tỷ lệ chữa lành, một từ cho đến nay vẫn còn cấm kỵ đối với các thầy thuốc chuyên khoa ung thư, vốn từ chối tạo cho bệnh nhân những niềm hy vọng hão. Những bước tiến này có thể được đo bằng những dữ kiện thống kê, tính toán, với 10 năm nhìn lại, tỷ lệ sống sót sau một ung thư. Hôm nay, việc công bố của một báo cáo của Viện ung thư quốc gia (Inca : institut national du cancer) với nhan đề : “ Tỷ lệ sống sót được dự kiến nơi những bệnh nhân bị ung thư ở Pháp. Báo cáo tình hình ”, cho phép khám phá ra rằng, đối với hơn 40% các trường hợp ung thư xảy ra suốt trong thập nhiên qua, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là trên 80%. Với một tỷ lệ còn sống sau 10 năm cũng không kém phần quan trọng.

Những con số này được căn cứ trên những trường hợp ung thư đã cũ, vì lẽ phải có một thời gian nhìn lại quan trọng để phân tích tỷ lệ sống còn. Có thể là những kết quả này sẽ còn tốt hơn đối với những ung thư đang được điều trị. Việc loan báo của một ung thư trong một cuộc đời có tác dụng như sự nổ của một quả bom. Tuy vậy, ngày này ta có thể vẫn còn sống, sống và lành bệnh trong một số các trường hợp không phải nhỏ, sau khi mắc phải một ung thư.

Theo báo cáo của Inca, “ tất cả các dữ kiện đưa đến một sự nhất trí về tỷ lệ còn sống vào lúc 5 năm là trên 50% ”. Với những biến thiên tùy theo nguồn gốc của các con số, vì lẽ tỷ lệ còn sống vào lúc 5 năm là 53% đối với các dữ kiện của Pháp đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư giữa năm 1987 và 1997. Tỷ lệ này là 51,9% nếu ta tham chiếu những dữ kiện châu Âu và 66,1% theo những thống kê Hoa Kỳ được thực hiện trên những trường hợp ung thư được khám phá mới đây hơn giữa năm 1999 và 2005.

GIAI ĐOẠN VÀO LÚC CHẨN ĐOÁN.

Tỷ lệ còn sống (taux de survie) dĩ nhiên được liên kết với sự định vị của ung thư và giai đoạn vào lúc chẩn đoán của nó. Như thế, vài loại ung thư có thể được sắp xếp như là có tiên lượng tốt, như các ung thư của tuyến tiền liệt, của vú, của tuyến giáp, u hắc tố ác tính (mélanome), bệnh bạch cầu lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique), của tinh hoàn, bệnh Hodgkin, vì lẽ tỷ lệ còn sống của các bệnh nhân vào lúc 5 năm là trên 80%. Thế mà các ung thư này chiếm 42% các trường hợp được chẩn đoán mỗi năm. Mặt khác, trong loại trung gian (catégorie intermédiaire), thì ra rằng đối với hơn một nửa của những ung thư đại tràng, của miệng và của hầu, của bàng quang, của thận, của dạ dày,của tử cung, của thanh quản, của buồng trứng... tỷ lệ sống sót sau 5 năm hiện nay vượt quá 80%. Còn lại 17% các ung thư có tiên lượng tồi.

Nhưng sau đó điều gì xảy ra, giữa 5 và 10 năm sau khi chẩn đoán ung thư. “ Sự phân tích của tỷ lệ tử vong đối với những bệnh nhân bị ung thư thể hiện một sự sụt giảm nguy cơ sau 5 năm đối với đại đa số các ung thư, bảng báo cáo đã nói như vậy. Theo những dữ kiện của Hoa Kỳ, đối với những bệnh nhân được điều trị giữa năm 1988 và 2001, phần lớn các ung thư, có một tỷ lệ còn sống 80% vào lúc 5 năm, cũng đã có một tỷ lệ còn sống khoảng 80% vào lúc 10 năm hay hơn thế. ”

” NHỮNG DỮ KIỆN VỮNG CHẮC ”

Theo các tác giả của báo cáo, ở Pháp mỗi năm, trên 319.000 những bệnh nhân mới của ung thư, có ít nhất 123.000 trường hợp phải có thể được xem như là chữa lành vĩnh viễn. “ Những dữ kiện của Pháp được sử dụng dựa trên những nhóm bệnh nhân được điều trị trước năm 2000. Vậy đó là những dữ kiện vững vàng xác lập những tỷ lệ sống sót tối thiểu được dự kiến. Không phải là phi lý khi nghĩ rằng tỷ lệ sống sót vào lúc 5 năm của các bệnh nhân được chẩn đoán vào năm 2005, thậm chí vào năm 2010, là hoặc sẽ là tốt hơn, các tác giả của bảng báo cáo đã tin chắc như vậy.

Công trình gom góp các dữ kiện này cho thấy một cách chắc chắn sự cải thiện của các tỷ lệ còn sống sau khi bị ung thư. “ Chúng ta chứng kiến một quá trình cải thiện của tỷ lệ sống sót sau ung thư khoảng 10% mỗi thập niên, nếu ta tham chiếu các công trình điều tra trước đây ”, GS Dominique Maraninchi, tổng giám đốc của Viện ung thư quốc gia đã xác nhận như thế.
(LE FIGARO 23/4/2010)

2/ CHỐNG UNG THU TIỀN LIỆT TUYỂN, MỘT VIRUS HIỀN TÍNH VÀ RẤT PHỔ BIẾN, TỎ RA CÓ HIỆU QUẢ.

Sử dụng một virus nhắm đích một cách đặc hiệu các tế bào ung thư của tuyến tiền liệt trước khi tiêu diệt chúng, đó là ý tưởng của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Calgary, ở Canada. Các réovirus (Respiratory Enteric Orphan Virus) là những tác nhân nhiễm trùng rất phổ biến, làm nhiễm trùng

không nghiêm trọng các hệ hô hấp và tiêu hóa, gây nên vài triệu chứng hiền tính trong trường hợp tệ hại nhất. Thí nghiệm nhằm tiêm một réovirus vào trong những tế bào ung thư in vitro, và cũng vào nơi 6 bệnh nhân bị một ung thư của tuyến tiền liệt, trước khi rút chúng ra khỏi tuyến này. Các kết quả là đáng phấn khởi : in vitro, virus đã gây nên sự chết của hầu như toàn bộ các tế bào ung thư ; in vivo, virus tiêu hủy các tế bào ung thư rồi đã ngừng tăng sinh, như thế tha miễn các tế bào lành mạnh. Tác dụng vô cùng đặc hiệu và vô hại này làm quan tâm nhiều các nhà khoa học, đã dự kiến mở rộng các dữ kiện lâm sàng nhằm trắc nghiện tính hiệu quả của điều trị này, phối hợp với những liệu pháp khác.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

3/ SỰ MÙ LÒA : HƯỚNG VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI CHỐNG SỰ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG.

Các loại thuốc dễ sử dụng hơn được dự kiến từ nay đến dưới 5 năm.

OPHTALMOLOGIE. Là nguyên nhân dẫn đầu của kém thị lực (malvoyance) của các lão niên, bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégérérescence maculaire liée à l’âge) gây bệnh cho hơn 1 triệu người Pháp. Và con số này sẽ tăng gấp đôi từ nay đến 2030. Trong căn bệnh này, vùng trung tâm của võng mạc (macula : hoàng điểm) là nơi của một quá trình viêm, với những phản ứng nối tiếp nhau (réaction en cascade). Có bao nhiêu phân tử khác nhau liên hệ vào trong căn bệnh này, thì có bấy nhiêu mục tiêu tiềm tàng cho những điều trị của ngày mai.

Có thể có hai loại tiến triển. Loại tiến triển đầu tiên dẫn đến một sự phá hủy rất chậm của những tế bào võng mạc (thể khô của bệnh, thường gặp nhất). Và loại tiến triển thứ hai, dẫn đến sự tăng sinh hỗn loạn của các mạch máu mới (néovaisseaux) (thể ướt), do sự sản xuất của các yếu tố tăng trưởng (VEGF). Khi những tân huyết quản này phát triển ngay trước hoàng điểm, sự đánh mất thị lực trung tâm (vision centrale) có thể xảy ra nhanh chóng. Vậy đó là một cấp cứu nhãn khoa. Vấn đề : DMLA vẫn không có triệu chứng trong một thời gian lâu và khi những triệu chứng điển hình của bệnh xuất hiện (các đường thẳng dường như lượn sóng) thì các tân huyết quản đã thắng thế.

“ Chính vì thế mà người ta khuyên thăm khám thầy thuốc nhãn khoa ngay ở tuổi 50 để thực hiện một thăm khám đáy mắt phát hiện bệnh (un fond’oeil de dépistage), GS Eric Souied (trưởng khoa mắt, CHI Créteil) và BS Laurent Benzacken (trưởng khoa mắt, CHU Aulnay-sous-Bois) đã nhấn mạnh như vậy. Trong trường hợp có những dấu hiệu thương tổn ở hoàng điểm, khám đáy mắt được bổ sung bởi chụp mạch (angiographie) để xem các tân mạch máu có thể xảy ra và nhất là bởi một tomographie par cohérence optique (OCT). Thăm khám này, vì cho phép thấy tất cả các lớp của võng mạc, nên có thể phát hiện những thương tổn sớm. Như thế có thể hành động trước khi thị giác bị ảnh hưởng.”

Những điều trị hiện nay (anti-VEGF) ức chế sự tiết của các yếu tố tăng trưởng (VEGF) và do đó ức chế sự tăng sinh của các tân mạch máu không được mong muốn. Các thuốc này rất có hiệu quả với điều kiện can thiệp trước khi các tế bào võng mạc bị chết. Dầu chúng có tính chất cách mạng như thế nào đi nữa, tuy nhiên các anti-VEGF đặt ra hai vấn đề. Một mặt, chúng phải được tiêm vào bên trong nhãn cầu, với một nguy cơ nhiễm trùng nặng nhưng hiếm xảy ra. Và, mặt khác, chúng rất đắc (1290 Euro đối với mũi tiêm Lucentis, thuốc điều trị chuẩn). Thế mà, cần phải tiêm nhiều lần mỗi năm.

Để làm giảm phí tổn mà không đánh mất tính hiệu quả, khuynh hướng hiện nay là gia tăng các kiểm tra (một lần mỗi tháng) nhằm chỉ tiêm thuốc khi điều đó tỏ ra cần thiết. Phương thức này đã cho phép làm giảm số các mũi tiêm toàn bộ được thực hiện đồng thời giữ một tính hiệu quả rất tốt của điều trị. Mặt khác, theo yêu cầu của Bộ y tế và Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé), nhóm nghiên cứu của GS Souied tham gia vào một công trình nghiên cứu so sánh tính hiệu quả của Avastin với tính hiệu quả của Lucentis. Bình thường, Avastin là một thuốc để điều trị ung thư đại tràng, nhưng người ta nhận thấy rằng nó cũng cho những kết quả tốt trong DMLA : vả lại, chinh trong lúc điều trị các bệnh nhân bị đồng thời hai bệnh lý này mà các thầy thuốc đã nhận thấy như vậy. Thế mà phí tổn của Avastin chỉ khoảng 30 Euro một mũi tiêm. Tuy nhiên hiện nay Aventis không có được giấy phép bán ra thị trường đối với chỉ định này, vì vậy công trình nghiên cứu đang được thực hiện mà những kết quả sẽ được biết trong 3 năm nữa.

Tất cả đầu tư hiện nay là tìm thêm những loại thuốc khác có khả năng tác dụng ở những mức khác và dễ cho thuốc hơn. Khoảng gần một chục loại thuốc hiện được đưa vào trong các công trình nghiên cứu. Vậy từ nay đến năm 2015, sẽ xuất hiện nhiều loại thuốc, trước hết dưới dạng tiêm, rồi có lẽ dưới dạng thuốc nhỏ mắt hay implant nhãn cầu, có khả năng cấp chừng ít một liều lượng của hoạt chất. Những thuốc này có thể được liên kết với các anti-VRGF đã hiện hữu và như thế tăng gấp mười tính hiệu quả của chúng. “ Chúng ta cũng đã tìm thấy những chất chỉ dấu di truyền (marqueurs génétiques) tiên đoán mức độ nghiêm trọng của bệnh. Vậy, trước mắt, chúng ta sẽ có khả năng nói trước bệnh nhân nào sẽ là những người đáp ứng tốt hay xấu đối với các điều trị và do đó thích ứng thái độ điều trị của chúng ta ”, BS Souied đã xác nhận như vậy.

Còn lại dạng khô (forme sèche) của bệnh này, mãi đến nay là người bà con nghèo của DMLA vì lẽ vào lúc này không có một điều trị nào để ngăn chặn nó. Lại nữa, các loại thuốc còn đang được đánh giá. Nhằm mục đích ngăn cản sự chết sớm của các tế bào võng mạc, các thuốc loại này là một đường hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn, với những thuốc đầu tiên sẽ xuất hiện trong khoảng một chục năm nữa.
(LE FIGARO 8/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 15 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/02/2007 )

1/ CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC DƯỢC PHẨM CHỐNG MÙ LÒA

2 dược phẩm tương tự nhau có tác dụng cải thiện thị lực trong bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA=dégénérescence maculaire liée à l’age). AVASTIN giá 30 euros mỗi liều. LUCENTIS (thuốc duy nhất được cho phép sử dụng) giá 1200 Euro mỗi liều.

Các nhà nhãn khoa trên toàn thế giới đang đương đầu với một nghịch lý khó tin,đặt ra những vấn để về đạo đức,kinh tế,khoa học trong điều trị bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác này.

Hãng bào chế Novartis đã sáng chế một dược phẩm, LUCENTIS,được phép lưu hành ở Pháp từ tháng giêng vừa qua.Thuốc này có khả năng cải thiện thị lực nơi những người bi bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác dạng « ướt »(forme « humide »).Thuốc giá 1200 Euros mỗi liều, cứ mỗi 6 tuần tiêm thuốc vào trong nhãn cầu một lần.AVASTIN ,một dược phẩm của hãng bào chế Roche,lúc đầu được sử dụng cho ung thư đại tràng và được các y sĩ Hoa Kỳ thử nghiệm trong bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác và thuốc được nhận thấy có cùng hiệu quả trong điều trị DMLA lúc được tiêm vào trong nhãn cầu.Từ vài tháng nay Avastin đã được sử dụng rất rộng rãi bởi các nhà nhãn khoa trên toàn thế giới để điều trị bệnh thoái hoá điểm vàng,với giá 30 Euros mỗi liều mặc dầu thuốc không được giấy phép lưu hành để điều trị bệnh này và có thể sẽ không bao giờ được phép cả.

Phải chăng là đạo đức khi phải kê toa một thuốc rất tốn kém trong khi đã có sẵn một thuốc khác 40 lần giá rẽ hơn nhưng lại không được cho phép lưu hành? Phải chăng là đúng luật khi phải cấp một thuốc giá rẻ nhưng không được phép lưu hành trong khi thuốc kia lại được phép bán ra thị trường nhưng giá lại rất mắc ? Ở Pháp, Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế vừa nhóm họp một nhóm công tác về chủ đề này, được chủ trì bởi giáo sư Bahram Bodaghi (Pitié-Salpetrière, Paris). Ở Hoa Kỳ, Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm cũng đã phát động một công trinh nghiên cứu để so sanh 2 dược phẩm này.

Ở Pháp,bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác gây bệnh cho một triệu người với những mức độ nặng nhẹ khác nhau.Người ta phân biệt hai dạng : dạng teo (forme atrophique) không điều trị được và dạng ướt (forme humide) với đặc điểm tăng sinh các tân huyết quản sau võng mạc,là nguyên nhân của xuất huyết và mù loà.Dạng này gây bệnh cho 30.000 đến 50.000 người.

Để chống lại sự tăng sinh các tấn huyết quản,cách nay vài năm,hai phương pháp điều trị đã được sử dụng để điều trị bệnh DMLA, đặc biệt là bởi nhóm của G.S Gabriel Coscas (Centre Hospitalier intercommunal de Créteil) : photocoagulation các huyết quản bởi laserrồi photothérapie dynamique với Visudyne, cho phép ổn định thị giác hơn .

CẤU TRÚC TƯƠNG TỰ :

Trong những năm 1990,một nhà nghiên cứu Hoa kỳ Judah Folkman đã đưa ra ý tưởng rằng bằng cách tấn công vào các VEGF( các yếu tố tăng trưởng kích thích các huyết quản),có thể phá hủy sự phân bố mạch (vascularisation) của một khối u và do đó phá hủy ngay chính khối u đó. Khi đó Hãng Bào Chế Genetech hiệu chính các kháng thể chống VEGF và bán 2 bằng sáng chế.Một cho Hãng Roche sản xuất Avastin, một phân tử chống sinh mạch máu (molécule antiangiogénique) chống ung thư ruột già,còn bằng kia thì bán cho Hãng Novartis thương mãi hoá cho châu Âu dược phẩm Lucentis, một phân tử chống sinh mạch máu chống DMLA. Cả hai thuốc đều có cấu trúc tương tự.

Vào tháng 10 năm 2006,một thử nghiệm trên 500 bệnh nhân được công bố trong New England Journal of Medicine đã kết luận rằng Lucentis,tiêm vào trong nhãn cầu cứ mỗi 6 tuần sẽ ngăn cản sự hủy hoại thị giác và cải thiện thị lực.Năm ngoái thuốc này đã được cho phép sử dụng ở Hoa Kỳ với giá 2000 dollars mỗi liều lượng,rồi ở Châu Âu tháng giêng 2007 với giá 1200 Euro.Một thuốc thứ ba,Macugen (Fitzer),một thuốc chống sinh mạch máu khác xuất hiện trên thị trường Pháp tự 2006 với giá 687 Euro.

Cách nay hai năm, một nhà nhãn khoa Hoa Kỳ bị bệnh DMLA đã nhận thấy sự cải thiện rất rõ thị giác của mình sau khi điều trị ung thư trực tràng với Avastin bằng đường tĩnh mạch.Thông tin này được lưu hành mau chóng và Avastin chich vào nhãn cầu tức thời được sử dụng một cách “ hoang dã ” tại Hoa Kỳ trên những bệnh nhân đang bị mất thị giác,vào luc đó Lucentis chưa được lưu hành.Hàng chục nghiên cứu tiền phong thực hiện trên hàng trăm bệnh nhận đã được công bố với những kết quả đáng phấn khởi như đối với Lucentis..


4/ KHI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĂN NHỊP VỚI CƠN ĐAU TIM.

CARDIOLOGIE. Chắc chắn là số nạn nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế không ngừng gia tăng. Điều chứng thực sau cùng : các biến động của tỷ giá của các cổ phần ảnh hưởng trực tiếp lên số các trường hợp các cơn đau tim (crises cardiques) ! Đó là điều đã được chứng thực bởi các nhà nghiên cứu của Duke University Medical Center, Hoa Kỳ, trong lúc phân tích các trường hợp nhập viện vì cơn đau tim được đăng ký ở bệnh vien Duke giữa tháng giêng 2006 và tháng 7/2009. Bảng tổng kết : “ Khi thị trường chứng khoáng sụt xuống, tỷ lệ cơn đau tim gia tăng. Tỷ lệ này giảm xuống khi các giá trị chứng khoáng tăng lên trở lại, Mona Fiuzat, người đã thực hiện công trình nghiên cứu, giải thích như vậy. Những dữ kiện này xác nhận ảnh hưởng của các biến cố gây căng thẳng (événements stressants) lên sức khỏe của nhân dân. Cũng vậy, một sự gia tăng tỷ lệ cơn đau tim đã được quan sát trong những ngày theo sau biến có 11/9. Cũng vậy lúc trận bão Katrina đi qua.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

5/ NGUỒN GỐC CỦA CHỨNG HÓI ĐẦU : MỘT SỰ BIẾN DỊ TRÊN NHIỄM SẮC THỂ SỐ 18 ĐƯỢC NHẬN DIỆN.

Rất bị ghê sợ bởi các người đàn ông lớn tuổi, chứng rụng tóc hùng sinh (alopécie androgénique), thường được gọi là chứng hói đầu (calvitie), đang chờ đón một người đàn ông trên ba ở tuổi 30 và một người đàn ông trên hai ở tuổi 50.

Mặc dầu mỗi ngày chúng ta đánh mất từ 50 đến 100 sợi tóc trong số khoảng 100.000 sợi che phủ mái đầu của chúng ta, nhưng những sợi tóc này bình thường được thay thế bởi những sợi tóc mới, mọc ở chỗ của những sợi tóc đã rụng đi. Chính vào khi nhịp độ rụng của tóc gia tốc, và không có sợi tóc kế vị nào mọc ra thì khi đó chứng hói đầu mới xuất hiện.

Trong một công trình được công bố tuần này trong Nature, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ tiết lộ sự khám phá của một gène mới có can dự trong sự tăng trưởng của các sợi tóc. Để tìm ra một gène như thế, các nhà khoa học đã dò xét bộ gène (génome) của các thành viên của những gia đình Pakistan và Ý, bị mắc phải một dạng di truyền hiếm của bệnh rụng tóc : chứng ít lông di truyền đơn thuần (hypotrichose héréditaire simple). Bệnh này, do một thiều sót di truyền, được đặc trưng bởi hệ lông (pilosité) bị giảm trên cơ thể và da đầu, và tình trạng này xảy ra ngay từ tuổi ấu thơ.

Những phân tích di truyền đã cho phép phát hiện nơi những người này một sự biến dị chung nơi gène APCDD1. Gène này nằm trên một vùng đặc hiệu của nhiễm sắc thể 18, có can dự trong những dạng khác của bệnh rụng tóc như chứng rụng tóc hùng sinh (alopécie androgénique) hay chứng trụi tóc (pelade).

Không những đã khám phá ra gène liên kết với sự rụng tóc, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nhận thức rằng rằng gène này ức chế một đường mang tín hiệu (voie de signalisation), được biết nhằm kiểm soát sự tăng trưởng của các sợi lông nơi chuột. “ Đây là lần đầu tiên mà người ta chứng tỏ rằng con đường mang tín hiệu này, được gọi là Wnt, đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của các sợi tóc nơi người ”, Angela Christiano, giáo sư của Đại học Columbia và là tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ như vậy. Vậy người và chuột đã chia sẻ nhiều điểm tương tự hơn về các cơ chế điều hòa sự xuất hiện của “ mái tóc ” (toison) hơn là điều được nghĩ bởi các nhà khoa học cho đến nay.

“ Những khám phá này gợi ý rằng nếu ta tác động lên con đường mang tín hiệu này, điều đó có thể có một ảnh hưởng lên sự tăng trưởng của các sợi tóc nơi người ”, Angela Christiano nói tiếp. Theo bà, những điều trị nhằm ngăn cản đường mang tín hiệu Wnt hơn là các đường kích thích tố (voies hormonales), như được thực hiện bởi những điều trị hiện nay, có thể được áp dụng rộng rãi hơn nơi những người bị rụng tóc quan trọng.
(LE SOIR 15/4/2010)

6/ CÁC NỐT RUỒI PHẢI CHĂNG LÀ CƠ SỞ CỦA CÁC U HẮC TỐ ÁC TÍNH ?

Được các thầy thuốc bệnh ngoài da gọi là naevus, các nốt ruồi (grains de beauté) là những khối u hiền tính của da (một khối u là một đám bất thường những tế bào, dẫu chúng hiền tính hay ung thư). Hiếm khi thấy một cá nhân không có một nốt ruồi nào cả. Nói chung các nốt ruồi xuất hiện bắt đầu năm 3 tuổi (các nốt ruồi hiện hữu vào lúc sinh là hiếm, chúng có tính chất khác với những nốt ruồi được phát triển sau khi sinh) và tiếp tục xuất hiện cho đến tuổi trưởng thành. Nhưng sự xuất hiện của chúng sau 50 tuổi là hiếm.

Các u hắc tố (mélanome) là những ung thư da, nghĩa là những khối u ác tính. Đó là những ung thư da nghiêm trọng nhất, khả dĩ cho các di căn và gây nên tử vong của bệnh nhân. Các tế bào cấu tạo một u hắc tố, cũng như các nốt ruồi, là những mélanocyte. Trong trường hợp u hắc tố, những tế bào này đã chịu một sự biến hóa ác tính và đã trở thành những tế bào ung thư.

Vì lẽ các nốt ruồi và các u hắc tố ác tính đều được cấu tạo bởi cùng các loại tế bào, nên có vẻ hợp lý khi đặt câu hỏi phải chăng các nốt ruồi là nguồn gốc của những u hắc tố ác tính : nói một cách khác, các nốt ruồi có phải là những tác nhân báo trước (précurseurs) của các u hắc tố ác tính hay không,

Câu trả lời cho câu hỏi này được mang lại cho chúng ta bởi những công trình nghiên cứu dịch tễ học. Phần lớn các u hắc tố ác tính không được phát triển bắt đầu từ một nốt ruồi có trước. Chúng xuất hiện trên da ở một nơi đã không hiện hữu một cấu tạo đặc biệt nào, nghĩa là trên da lành mạnh. Một số lớn các u hắc tố ác tính bắt đầu bằng sự xuất hiện của một vết (tache) giống như một naevus mới. Chỉ 15 đến 30% các u hắc tố ác tính có thể được phát triển từ một nốt ruồi đã có trước.

Như thế ở nơi vài người, các naevus có thể là những chỉ dấu nguy cơ để phát triển một u hắc tố ác tính. Một chỉ dấu nguy cơ (marqueur du risque) là một yếu tố lâm sàng (có thể được phát hiện bằng một thăm khám bệnh nhân) hay sinh học (có thể được phát hiện bằng một thăm khám sinh học như xét nghiệm máu) chỉ rõ rằng bệnh nhân mang chỉ dấu này có một nguy cơ tương đối gia tăng (risque relatif augmenté) phát triển một bệnh nào đó. Nguy cơ tương đối gia tăng là một sự gia tăng nguy cơ phát triển một bệnh so với một người bình thường. Ví dụ, đi bộ xuyên qua đường bao hàm một nguy cơ có thể tính được về mặt thống kê bị làm té ngã bởi một chiếc xe hơi. Đi xuyên qua đường đôi mắt bị bịt lại tạo một nguy cơ tương đối gia tăng bị quật ngã bởi một chiếc xe hơi.

Những người mang nhiều nốt ruồi (hơn 15 đến 20) có kích thựớc lớn (đường kính trên 4 hay 5 mm) có một nguy cơ tương đối gia tăng phát triển một u hắc tố ác tính. Nguy cơ này cũng được liên kết với những yếu tố di truyền (màu da, sự phát triển của một u hắc tố ác tính nơi cha mẹ hay con cái) và những yếu tố môi trường (thói quen sưởi nắng, trúng nắng nặng trong thời kỳ thơ ấu hay thiếu niên).

Những người này tạo nên một nhóm người có nguy cơ và họ phải là đối tượng của một sự theo dõi bởi một thầy thuốc chuyên khoa da một lần mỗi năm và học cách tự khám lấy mình đều đặn để có thể đi thăm khám nhanh chóng trong trường hợp một nốt ruồi bị biến đổi hay nếu một yếu tố khác xuất hiện. Vậy các nốt ruồi không phải là những dấu hiệu báo trước của các u hắc tố ác tính.
(LE FIGARO 22/3/2010)

7/ SỐ TRƯỜNG HỢP CÁC UNG THƯ DA GIA TĂNG.

Sự phơi nắng và sự lão hóa giải thích tiến triển này.

DERMATOLOGIE. Nếu như các u hắc tố ác tính (mélanome malin), các ung thư da rất nghiêm trọng, đã được quảng bá khá rộng rãi trong những năm qua, những khối u da khác (cancers baso[*] hay spino-cellulaires) lại không được biết nhiều bởi dân chúng, mặc dầu tần số của những ung thư này đang gia tăng trong một số lớn các nước phương tây. Hôm nay, một bài báo được công bố trong Archives of Dermatology, lo ngại về sự gia tăng số các trường hợp ở Hoa Kỳ. Nước Pháp cũng bị ảnh hưởng bởi một tiến triển tương tự. Mặc dầu tỷ lệ tử vong liên kết với những ung thư này vẫn thấp, nhưng chúng có thể dẫn đến những hủy hoại mô quan trọng nếu chúng không được điều trị kịp thời. Một lý do gây lo ngại khác của giới hữu trách y tế Hoa Kỳ là tổn phí sinh ra bởi những khối u này, đôi khi cần những can thiệp nhiều lần.

“Các cancer baso-cellulaire xuất hiện thường nhất ở mặt hay trên những vùng hở của cơ thể, cũng ở trên lưng, và tần số của nó gia tăng rõ rệt với tuổi tác, BS Claudine Blanchet-Bardon, phó chủ tịch của Syndicat national des dermatologues-vénérologues đã xác nhận như thế. Hình thái của cancer baso-cellulaire là đa dạng, cũng như màu sắc của nó. Mặc dầu ung thư da này không bao giờ gây nên di căn, nhưng nó có thể tăng trưởng theo chiều rộng và bề sâu và gây nên những tàn phá không sửa chữa được. Về ung thư được gọi là spino-cellulaire, dầu ít gặp hơn, nhưng tiên lượng của nó hơi it tốt hơn, bởi vì loại ung thư này có thể gây nên các di căn. ” Không có sổ ghi các ung thư ở Pháp theo dõi tần số xuất hiện của các cancer baso[*] và spinocellulaire, vài dữ kiện đưa ra con số khoảng 100.000 trường hợp mỗi năm. Để có một sự đánh giá chính xác, một thầy thuốc Hoa Kỳ, khảo sát từ một mô hình toán học (modèle mathématique), đã ước tính rằng, đối với năm 2007 không thôi, 13 triệu người Mỹ (không kể đến những người nguồn gốc châu Phi hay hispanique) đã bị một lần trong cuộc đời mình, ít nhất một ung thư da khác với u hắc tố ác tính.Khoảng một người trên 70 tuổi trên năm đã bị một cancer baso[*] hay spinocellulaire. “ Tần số cùa ung thư da cao hơn nhiều so với tần số của bất cứ ung thư nào khác ”, GS Robert Stern (Havard Medical School, Boston) đã giải thích như vậy.

“CÓ MỘT DỊCH BỆNH”

Tỷ lệ điều trị toàn bộ đối với những ung thư này đã gia tăng 77% từ năm 1992 đến 2006, số các thủ thuật điều trị đã chuyển từ 1,6 triệu vào năm 1992 lên 2 triệu năm 2006 ở Hoa Kỳ. “ Có một dịch bệnh ung thư da khác với các u hắc tố ác tính, các tác giả đã xác nhận như vậy, với một sự gia tăng hàng năm 4,2% số các trường hợp, theo các cơ sở dữ kiện của Medicare. Những chương trình bảo vệ chồng nắng đã gây thất vọng vì không kềm hãm được tỷ lệ ung thư gia tăng. Cần những công trình nghiên cứu bổ sung để tối ưu hoà những chiến dịch giáo dục, ngăn ngừa.”

Trên bình diện điều trị, sự xử trí trước hết là ngoại khoa. “ Điều trị ưu tiên một, đó là ngoại khoa ở phòng mạch của thầy thuốc bệnh ngoài da. Khi người ta đã có một lần cancer baso-cellulaire, cần phải được tái khám mỗi năm, bởi vì nguy cơ mắc phải một ung thư khác là tăng cao ”, BS Blanchet-Bardon đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 16/3/2010)

8/ NHỮNG ĐƯỜNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CHƯA TỪNG CÓ CHỒNG BỆNH HEN PHẾ QUẢN THỂ NẶNG.

Những hướng mới được thăm dò để trả lời tốt hơn căn bệnh vẫn còn khó hiểu này.

RESPIRATION. “ Hen phế quản là một bệnh vừa dễ lại vừa khó điều trị : dễ đối với đại đa số các bệnh nhân chỉ cần một điều trị nhẹ, và khó đối với những bệnh nhân mà điều trị đầu tiên không kiểm soát được bệnh tức thời.” New England Journal of Medicine đã trình bày như thế một công trình nghiên cứu mới đây về sự điều trị của các trẻ em bị hen quản quản nặng. Đối với các trẻ em này, chỉ một quy tắc : một điều trị tùy theo từng cá thể (un traitement sur mesure), được đánh giá đều đặn. Bằng không, căn bệnh viêm mãn tính này, gồm các cơn, trong đó sự hẹp của các khí quản hạn chế sự hô hấp, có nguy cơ trầm trọng thêm.

3 triệu người Pháp bị hen phế quản, và 350 triệu người bị ảnh hưởng trên thế giới. “ Căn bệnh đã tiến triển nhiều trong vòng 40 năm trong các nước công nghiệp hóa, với, dường như, một mức bình nguyên (plateau) từ ba năm nay nơi người trưởng thành, trong khi bệnh tiếp tục gia tăng nơi trẻ em. Trong các nước mới phát khởi theo lối sống phương Tây, sự gia tăng nhanh như chớp ”, GS Michel Aubier, trưởng khoa phổi của CHU Bichat (Paris) đã chỉ rõ như vậy. Có nhiều lý do. “ Để phát triển một bệnh hen phế quản, phải có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và những yếu tố môi trường. Sự ô nhiễm không khí đóng một vài trò, nhưng môi trường nội thất cũng vậy bởi vì 90% thời gian của cuộc sống của chúng ta được trải qua trong các gian phòng ít thoáng khí, nhiều các dị ứng nguyên đủ loại. Chế độ ăn uống của chúng ta đã bị biến đổi. Chúng ta tiêu thụ ít các sản phẩm tươi hơn, do đó ít các chất chống oxy hóa (antioxydants) có tác dụng bảo vệ hơn, và nhiều thức ăn công nghiệp hơn, chứa nhiều dị ứng nguyên : các dầu lạc (huiles d’archide), các chất nhuộm màu, các chất bảo quản. Sau cùng, việc làm giảm các nhiễm trùng của thời thơ ấu, do một trình độ vệ sinh tốt hơn, hướng sự phát triển của hệ miễn dịch về một profil dị ứng hơn là nhiễm trùng.” Ở Pháp, một sự xử trí điều trị tốt hơn đã làm thu giảm các tử vong do hen phế quản của năm 2000 xuống dưới 1500 trường hợp mỗi năm, nhưng số các trường hợp nặng dường như gia tăng.

Hen phế quản là do một loạn năng miễn dịch (dysfonctionnement immunitaire), gây nên một sự bất dung nạp của các phế quản đối với vài kháng nguyên (antigène) hay các dị ứng nguyên (allergène) của môi trường. Sự hiện diện của chúng làm phát khởi một chuỗi nối tiếp nhau các phản ứng “ thù địch ” , được chỉ đạo bởi các tế bào miễn dịch, nhiều loại tế bào lympho T, như những tế bào hoạt hóa sự sản xuất các chất trung gian của phản ứng dị ứng hay những tế bào trung gian có nhiệm vụ “ giám sát ” toàn bộ sự thiết đặt của các phòng vệ.

Nhưng đặc biệt là bệnh hen phế quản càng ngày xuất hiện như là một bệnh của biểu mô (maladie de l’épithélium), lớp phủ của các phế quản. “ Có những trao đổi giữa lớp biểu mô phế quản này với các tổ chức mô bên dưới, G.S Aubier đã giải thích như vậy. Trong vài hen phế quản thể nặng (asthme sévère), lớp biểu mô có một sự vận hành chức năng bất bình thường, đôi khi ngay từ tuổi bé thơ, gây nên một quá trình tạo dáng lại (remodelage) dần dần của các phế quản, trở nên bị xơ hóa đi, và một sự phì đại của các cơ trơn phế quản, chúng cũng bất bình thường. Sự tạo dáng lại (remodelage) này, mà ta không biết làm thoái triển như thế nào, là nguồn gốc của sự tắc phế quản (obstruction bronchiqu). Hiểu điều đó tốt hơn để tìm ra những mục tiêu điều trị là một thách thức quan trọng. Do đó, ta bắt đầu tự hỏi bệnh hen phế quản có phải là một bệnh duy nhất và đơn độc hay không. “ 80% các hen phế quản thể nhẹ đến trung bình được kiểm soát dễ dàng với các bêta-mimétiques, làm giãn các cơ trơn và các corticoides, ức chế phản ứng viêm. Với điều kiện theo dõi tốt sự điều trị, GS Aubier lấy làm tiếc, vì điều này chỉ đúng đối với 30% các bệnh nhân, có nghĩa là có 60% các hen phế quản không được kiểm soát tốt ”

1,5 TỶ EURO MỖI NĂM.

Còn lại là 20% các phế quản thể nặng, chiếm 80% phí tổn gây nên bởi hen phế quản, 1,5 tỷ euro mỗi năm. “ Những bệnh nhân hen phế quản có thành phản dị ứng mạnh (asthme à forte composante allergique) được cái thiện rõ rệt nhờ một thứ thuốc tiêm mới anti-IgE, Xolair. Những bệnh nhân khác có tăng bạch cầu ưa éosine cao (asthme à forte éosinophilie) có thể được điều trị bằng những kháng thể anti-IL5. Nhưng vài hen phế quản thể nặng không đáp ứng với corticoides vẫn không có phương pháp điều trị mới. Chúng ta đã chứng tỏ rằng endothéline 1, một yếu tố làm dễ xơ hóa và tăng sinh (facteur profibrosant et proliférant) của cơ trơn, là rất được qua biểu hiện trong biểu mô của những bệnh nhân không đáp ứng. Một công trình nghiên cứu đang tiến hành đánh giá lợi ích của một kháng thụ thể (antirécepteur) của endothéline 1 ”, GS Aubier nói rõ như vậy.

Người ta thử chia cắt hen phế quản thể nặng thành những nhóm đồng nhất các bệnh nhân để nhận diện những chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) thích ứng và để hiệu chính những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) đối với những nhóm khác nhau này. Những đường hướng mới, với những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) khác đang là đối tượng của các nghiên cứu. Một hướng khác, thermoplsatie, nhằm phá hủy một phần cơ trơn bằng tần số phóng xạ (radiofréquence) để làm giảm khối cơ trơn này. Được trắc nghiệm ở Hoa Kỳ, phương pháp này dường như làm giảm tần số của các cơn.
(LE FIGARO 6/4/2010)

9/ CANNABIS CÓ THỂ LÀ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ?

Những cuộc luận chiến và tranh luận không còn có lý do để tồn tại nữa : không những cannabis không phải là một điều trị trong trường hợp những rối loạn tâm thần, mà đúng chính cannabis, trong 15% đến 20% các trường hợp, tác dụng như là yếu tố khởi phát trên những người dễ bị thương tổn này.

Cannabis đúng là có liên hệ với một sự phát triển gia tăng của các bệnh tâm thần (psychose), trong đó có bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie). Mối liên hệ rõ ràng đầu tiên giữa cannabis và bệnh tâm thần đã được phát hiện ở Thụy Điển vào năm 1988. Một cuộc điều tra, đã kéo dài 15 năm, trên một quần thể hơn 45.000 tân binh trẻ nhập ngũ dưới 20 tuổi, đã chứng minh một mối liên hệ giữa sự tiêu thụ cannabis và sự phát triển của bệnh tâm thần phân liệt. Ngay cả nguy cơ đã được định lượng : nguy cơ này được nhân lên 6 lần.

NHỮNG TÁC DỤNG CÓ HẠI LÊN SỨC KHOẺ TÂM THẦN.

Vào năm 2002, giả thuyết này đã được xác nhận : sự chẩn đoán của bệnh tâm thần phân liệt và của những bệnh tâm thần khác đã được liên kết về lượng với sự tiêu thụ của cannabis : 50 “ joints ” nhân nguy cơ tâm thần lên 6,7 và sự chứng minh trở nên rõ ràng khi tiêu thụ 10 joints trước 18 tuổi. Vào năm 2007, sự chứng minh được khẳng định sau khi so sánh và phân tích các kết quả phát xuất từ gần 5.000 công trình nghiên cứu. Khi đó người ta chứng tỏ rằng số các trường hợp các bệnh tâm thần (psychose) gia tăng khoảng 40% nơi những người tiêu thụ cannabis, và rằng vì mối liên hệ này phụ thuộc liều lượng, nên sự gia tăng này có thể quan trọng hơn nhiều nơi những người tiêu thụ thường xuyên nhất.

Ngay năm 1845, thầy thuốc tâm thần người Pháp Jacques-Joseph Moreau de Tours đã mô tả những tác dụng có hại của cannabis lên sức khỏe tâm thần. Nhưng vào thời kỳ đó, sự tiêu thụ cannabis không có tính chất đại trà, chỉ xảy ra nơi vài người, nên cannabis không đặt ra một vấn đề y tế công cộng, như từ vài năm qua. Theo các cuộc điều tra dịch tễ học, cannabis đúng là được liên kết với sự xuất hiện của những triệu chứng tâm thần : lo âu, chứng trầm cảm, các rối loạn về trí nhớ, sự mất thích thú đối với môi trường gia đình, học đường, tình cảm, nhưng cả bệnh tâm thần phân liệt nữa. Là một căn bệnh nói riêng, bệnh tâm thần phân liệt thể hiện một rối loạn quan trọng của nhân cách, một bệnh trầm trọng ảnh hưởng một người Pháp trên 100 mà sự điều trị vẫn không được đầy đủ. Những người bị bệnh tâm thần phân liệt có những triệu chứng loạn tâm thần, được biểu hiện, ngoài những triệu chứng khác ra, bởi những ảo giác (hallucination), những mê sảng (délires) và những rối loạn tư duy và của hành vi, có thể kèm theo những lo âu dữ dội với những hậu quả không thể tiên đoán được.

Nguy cơ phát triển các rối loạn tâm thần phân liệt tỷ lệ với cường độ của sự tiêu thụ và nhất là với tuổi lúc tiêu thụ lần đầu. Khi sự tiêu thụ cannabis bắt đầu lúc 15 tuổi, nguy cơ cao hơn khi bắt đầu lúc 18 tuổi. Nguy cơ gia tăng 40% nơi những người trẻ hút joints, so với những người đã không bao giờ hút thuốc. Thế mà cannabis là thuốc ma túy bất hợp pháp được tiêu thụ nhất bởi những người trẻ tuổi. Trên toàn thể những người tiêu thụ đều đặn, 20% các thiếu nữ và 30% các thanh niên 17 tuổi tuyên bố đã tiêu thụ cannabis trong tháng vừa qua.

Và, mặc dầu bệnh tâm thần phân liệt hẳn còn có những nguyên nhân khác ngoài cannabis không thôi, nhưng cannabis có lẽ là nguồn gốc của 15% những trường hợp được chẩn đoán ở Pháp. Cannabis tác động như là một yếu tố phát khởi nơi những bệnh nhân yếu ớt, trẻ tuổi và tiêu thụ mạnh. Nhưng cannabis không chỉ có những hậu quả tâm thần, nó cũng là nguồn gốc của những nguy cơ khác được biết và không phải là kém nghiêm trọng, từ các ung thư (phổi, tai mũi họng, bàng quang, tuyến tiền liệt), các rối loạn mạch máu (viêm động mạch) và sự sinh sản, ở phụ nữ cũng như các đàn ông, tần số của các tai nạn lưu thông, ở nhà, ở nơi làm việc.
(LE FIGARO 19/4/2010)

10/ NHỮNG THUỐC CỦA THẾ KỶ XXI : NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA (TRAITEMENTS À LA CARTE).

Trong cuốn sách của mình “ Médicament, enjeu du XXI siècle ”, Christian Lajoux, chủ tịch của Liên đoàn công nghiệp y tế Pháp, giải thích làm sao, nhờ những kỹ thuật mới, các bệnh nhân sẽ hưởng được một điều trị cá thể hóa (prise en charge sur mesure).

Hỏi : Từ năm 2000, một trong những tiến bộ của nghiên cứu trong công nghiệp dược phẩm là gì ?
Christian Lajoux : Kỹ thuật sinh vật (biotechnique hay biotechnologie) đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong việc chế tạo thuốc men ! Nhất là đối với các thuốc chống ung thư. Ngược lại với phần lớn các dược phẩm cổ điển được tạo ra từ những nguyên tố hóa học, những loại thuốc phát xuất từ kỹ thuật sinh vật được cấu tạo từ những hoạt chất trích ra từ người, thực vật hay siêu vi trùng (được tái sản xuất với số lượng lớn bằng cấy trong phòng thí nghiệm). Nguyên tắc của “ biotech ” là thay thế trong cơ thể một yếu tố “ không chạy ” bằng một yếu tố khác phát xuất từ người sống. Để đơn giản hóa, tôi sẽ nói rằng đó là những loại thuốc tạo lại những tác dụng của các phân tử trong chính cơ thể của chúng ta. Giai đoạn mới này thể hiện một sự thay đổi quyết định trong nghiên cứu. Quá trình được phát động với một quy mô lớn : nếu hôm nay 20% các loại thuốc phát xuất từ kỹ thuật sinh vật (biotechnologies) và 80% từ hóa học, thì ngày mai, 40 đến 50% sẽ phát xuất từ kỹ thuật sinh vật.

Hỏi : Phải chăng chúng ta sẽ tiến về một nền y khoa cá thể hóa (médecine individualisée) ?
Christian Lajoux : Vâng, bởi vì với những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) này, bệnh nhân được xem như là một cá thế, hơn là như là một yếu tố của một quần thể rộng lớn. Người ta điều trị một bệnh nhân hơn là điều trị một căn bệnh. Căn bệnh này từ lâu đã được xử trí theo một phương pháp đại trà (une approche de masse), trong đó chúng ta điều trị hầu như tất cả các bệnh nhân bị cùng một bệnh lý, theo một cách giống hệt nhau, dầu trọng lượng, tuổi tác..của bệnh nhân như thế nào. Đối với ung thư, chúng ta đã có những kỹ thuật nhắm đích (techniques ciblées) cho phép vài điều trị tùy theo cá thể (traitements sur mesure).

Hỏi : Những công trình nghiên cứu về các biotechnologies này được thực hiện với mức độ an toàn nào ?
Christian Lajoux : Vào đầu thế kỷ này đã có một sự thay đổi thật sự : những thí nghiệm lâm sàng của các loại thuốc từ nay diễn ra trong một môi trường đúng quy cách, quan tâm bảo vệ các bệnh nhân được đưa vào trong các công trình nghiên cứu hơn. Các protocole được tiến hành dưới sự kiểm soát của một comité d’éthique được gọi là “ comité de protection des personnes ”. Từ nay bệnh nhân nằm trong tâm điểm của thử nghiệm, tham gia vào sự đánh giá điều trị của mình và có quyền ngưng bất cứ lúc nào.

Hỏi : Để có một phương cách điều trị các bệnh nhân cá thể hóa hơn, những tiến bộ mà ta chờ đợi là gì ?
Christian Lajoux : Với sự kéo dài tuổi thọ, chúng ta sẽ điều trị càng ngày càng nhiều những bệnh nhân già. Thế mà, mãi đến nay, các hiệu quả của phần lớn các loại thuốc đã không được đánh giá nơi những người 80 tuổi hoặc hơn. Cũng sẽ phải kiểm tra những tương tác khả dĩ của những phối hợp thuốc rất thường được kê toa nơi những người già. Tất cả những kết quả nghiên cứu này sẽ cho phép thích ứng các liều lượng theo trọng lượng, tình trạng sức khỏe tổng quát...cho phép thực hiện một y khoa theo từng trường hợp (une médecine au cas par cas). Ngày hôm nay, về quần thể người già này, chúng ta ở trong cùng tình huống mà ta đã gặp cách nay 10 năm đối với sự cho thuốc của các trẻ em ! Chúng ta đã bằng lòng việc cắt một viên thuốc thành hai hoặc ba : một phương pháp rất là thường nghiệm (une approche très empirique).

Hỏi : Vào thế kỷ thứ XXI này, đâu là những hy vọng lớn nhất của sự nghiên cứu ?
Christian Lajoux : Nhờ một sự tiến triển nhanh của các kiến thức về bộ gène (génome), những hy vọng lớn nhất được đặt vào các bệnh di truyền (maladies génétiques). Đó là can thiệp vào các gène bị thiếu. Một thử nghiệm đang được tiến hành đối với các trẻ em bị bệnh adrénoleucodystrophie (có thể phá hủy não bộ trong vài tháng). Đối với bệnh sclérose latérale amyotrophique, một bệnh lý trầm trọng dẫn đến tử vong, những công trình nghiên cứu giai đoạn III đã cho phép nhận diện nguồn gốc di truyền của căn bệnh này. Trong tương lai, chúng ta hy vọng hưởng được một y khoa sẽ điều trị những cái đích mới của cơ thể, mà các loại thuốc hiện nay không thể đến được : nanotechnologies. Đó là sử dụng những hạt (particules) có kích thước một phần triệu của milimet.
(PARIS MATCH 25/3-31/3/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/4/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#48 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 03 May 2010 - 09:12 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT THẤU KÍNH (LENTILLE) ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME).

Tăng nhãn áp (hypertension oculaire), nguyên nhân quan trọng của mù lòa, có thể được phát hiện tốt hơn nhờ đeo liên tục trong 24 giờ, một “ thấu kính thông minh ” (lentille intelligente).

Chậm chạp, âm ỉ và không đau đớn. Đó là những đặc điểm của bệnh tăng nhãn áp, nguyên nhân thứ hai gây mù lòa trên thế giới, mà người ta ước tính rằng cứ hai người bệnh thì có một người không hay biết là mình bị bệnh. May mắn thay, bệnh này từ nay có thể được phát hiện rất sớm nhờ đeo một thấu kính tiếp xúc (lentille de contact) “ thông minh ”, được hiệu chính bởi công ty quốc tế STMicroelectronics. Được đặt bởi thầy thuốc và được đeo trong 24 giờ, thấu kính này ghi liên tục nhưng trị số của nhãn áp. Hãy nhắc lại rằng bệnh glaucome được gây nên bởi sự đóng lại dần dần của trabeculum, bộ phận lọc có nhiệm vụ bài xuất thủy dịch (humeur aqueuse), được sản xuất bởi mắt. Sự tích tụ của chất dịch này gây nên một sự gia tăng áp lực, đè ép động mạch của mắt và gây nên sự teo của các sợi của dây thần kinh thị giác với hậu quả thu hẹp thị trường và gây mù lòa.

Hôm nay, việc phát hiện dựa trên sự đo áp lực nhãn cầu, được thực hiện bởi thầy thuốc nhãn khoa với một nhãn áp kế (tonomètre). Thế mà, như GS Philippe Denis, trưởng khoa mắt của bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) và là hội viên của Hiệp hội của bệnh glaucome ở Pháp, đã giải thích, “ Áp lực nội nhãn thường chịu những thay đối sinh lý trong ngày, do đó sự tăng nhãn áp có thể không được phát hiện bởi một lần đo duy nhất ”. Được đặt tên là Sensimed, lăng kính mới cho phép truyền một cách liên tục những trị số được đo nhờ một thiết bị được nối với một máy thu (récepteur) mà bệnh nhân đeo quanh cổ. Nếu được phát hiện kịp thời, bệnh tăng nhãn áp có thể được điều trị bằng thuốc nhỏ mắt, các buổi laser hay ngoại khoa. Được trắc nghiệm ở Thụy Sĩ và ở Đức, các thử nghiệm đang được tiếp tục và sự thương mãi hóa ở châu Âu được dự kiến vào tam cá nguyệt thứ hai của năm nay.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2010)

2/ MỘT CÁI ĐÍCH MỚI ĐỂ KIỂM SOÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN.

Bernard Jégou, điều khiển unité Inserm “ groupe d’étude de la reproduction chez l’homme et les mammifères ” ở Univerité de Rennes-I, trả lời các câu hỏi.

Hỏi : Các nhà sinh học đã khám phá ra cơ chế cho phép các tinh trùng người di chuyển đến tận các noãn (ovules). Cơ chế này là thế nào ?
Bernard Jégou : Để di chuyển đến tận noãn, và làm thụ tinh, các tinh trùng người phải được hoạt hóa trong bộ máy sinh dục nữ. Để có được sự hoạt hóa này, cần phải làm hạ nồng độ axít nội tại bằng cách tống các ion xuyên qua màng tế bào của chúng. Mãi đến nay, cơ chế phân tử giải thích sự tống xuất này vẫn còn bí ẩn. Nhưng Yuriy Kirichok và nhóm nghiên cứu của ông của đại học Californie vừa nhận diện một kênh màng (canal membranaire) chuyên về công tác này. Được mệnh danh là Hv1, kênh này có nhiều trên đoạn chính của roi (flagelle) của các tinh trùng.

Hỏi : Các nhà khoa học đã tiến hành như thế nào ?
Bernard Jégou : Họ đã khám phá vai trò của kênh Hv1 nhờ sự thích ứng kỹ thuật “ patch clamp ” vào các tinh trùng người. Phương pháp này cho phép ghi những dòng ion vận chuyển qua các màng tế bào. Đó là một thành tích bởi vì các tinh trùng người có kích thước rất nhỏ, với một thể tích bên trong cực kỳ nhỏ.

Hỏi : Những yếu tố nào ảnh hưởng lên sự mở của kênh này ?
Bernard Jégou : Các nhà sinh học đã nhận diện nhiều yếu tố. Theo các kết quả của họ, sự mở của kênh Hv1 được làm dễ nếu các tinh trùng tắm trong một môi trường kiềm, điều này xảy ra trong bộ máy sinh dục nữ, trong khi môi trường là axít trong các tinh hoàn. Một chất endocannabinoide, anandamide, cũng có một tác dụng dương tính. Chất này thuộc cùng họ với hợp chất hoạt tính của marijuana. Điều này giải thích tại sao sự tiêu thụ chất ma túy này làm giảm khả năng sinh sản nam giới : nó hoạt hóa sớm các tinh trùng. Nó cũng làm giảm khả năng sinh sản nữ giới, do làm biến đổi nồng độ của các endocannabinoide trong đường sinh dục. Nhưng điều đó cần phải được chứng minh. Ngược lại, kẽm, nguyên tố hiện diện với những nồng độ trong bộ máy sinh dục nam cao hơn trong bộ máy sinh dục nữ, ức chế sự vận hành chức năng của kênh tế bào. Đây là lần đầu tiên mà người ta xác định được các cơ chế phân tử, qua đó nhiều yếu tố khác nhau tác động.

Hỏi : Từ khám phá này, những áp dụng điều trị là gì ?
Bernard Jégou : Ta có thể tưởng tượng sự phát triển của các kháng thể có khả năng ức chế sự vận hành chức năng của kênh tế bào, hay phát triển những loại thuốc khả dĩ tác động lên những yếu tố kiểm soát sự mở của kênh này. Được đưa vào trong gel được đặt trong âm đạo, các loại thuốc này có thể có một tác dụng ngừa thai. Ngược lại, người ta phát triển các chất hoạt hóa Hv1 để thử điều trị những trường hợp vô sinh nam giới mà người ta không biết được nguyên nhân. Chúng có thể được sử dụng in vivo hay bằng thụ tinh in vitro.

Nhưng trong tất cả các trường hợp, những thứ thuốc điều trị này sẽ chỉ được nhắm vào các kênh Hv1 hiện diện trên các tinh trùng, để không làm xáo trộn những kênh hiện diện trên những tế bào khác của cơ thể.
(LA RECHERCHE 4/2010)

3/ VAI TRÒ CỦA NGỪA THAI CẤP CỨU ?

Mặc dầu có một sự bảo vệ ngừa thai (couverture contraceptive) rất tốt, nước Pháp mỗi năm vẫn còn ghi nhận 350.000 trường hợp có thai ngoài ý muốn, trong đó 200.000 trường hợp nhiên hậu phải gián đoạn tự ý thai nghén (IVG : interruption volontaire de grossesse). 72% những trường hợp IVG này có liên quan đến những phụ nữ sử dụng phương pháp ngừa thai, trong đó 2/3 uống thuốc ngừa thai. Một điều tra đã cho thấy rằng 54,9% những người sử dụng thuốc ngừa thai đã quên uống từ 1 đến 5 lần trong 6 tháng trước… điều đó nói lên tầm quan trọng của ngừa thai cấp cứu (contraception d’urgence), trong tình huống này và trong trường hợp giao hợp không được bảo vệ.

Được thương mãi hóa từ năm 2000, Norlevo (levonorgestrel) được bán tự do trong các hiệu thuốc và có thể được cấp miễn phí cho các thiếu nữ, ở trường học hay theo kế hoạch gia đình. Nhưng hiệu quả của nó chỉ kéo dài 72 giờ, và thuốc phải được uống càng sớm càng tốt. “ Từ đó nảy ra ý tưởng kéo dài tính hiệu quả ít nhất đến 5 ngày, như vòng ngừa thai (stérilet) được đặt để ngừa thai cấp cứu. Đó là điều EllaOne cho phép, thuốc ngừa thai cấp cứu mới đã có từ vài tháng nay, BS Nathalie Chabbert-Buffet, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết ở bệnh viện Tenon (Paris) đã giải thích như vậy. Người ta còn chưa biết rõ lý do của tác dụng kéo dài này, có thể là do một tác động khác lên nội mạc tử cung. ” EllaOne chỉ có thể được cấp theo toa và không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế, do đó giá rõ rệt đắc hơn (30 euro đối với EllaOne trong khi 7,5 euro đối với Norlevo).

Tuy vậy, một cách đáng ngạc nhiên, sự ngừa thai cấp cứu không làm giảm tỷ lệ IVG. “ Dường như vài phụ nữ không áp dụng biện pháp ngừa thai cấp cứu bởi vì họ nghĩ là không ở trong một tình huống có liên quan đến họ, người thầy thuốc giải thích như vậy. Những lời khuyến nghị trong trường hợp quên viên thuốc ngừa thai cũng quá ư là phức tạp. Trong trường hợp này phải luôn luôn áp dụng biện pháp ngừa thai cấp cứu. Và cũng thông tin tốt hơn các thiếu nữ để làm giảm những hành vi có nguy cơ. ”

QUÊN UỐNG THUỐC.

Theo GS Quéreux, “ viên ngừa thai (pilule) không phải là phương tiện ngừa thai tốt. Thất bại của của sự ngừa thai, trước hết là quên viên thuốc ngừa thai. Càng ngày càng có nhiều thầy thuốc phụ khoa ủng hộ vòng tránh thai, áp đặt hiệu quả ngừa thai lên các phụ nữ ”. Là nhà xã hội học của Inserm và chuyên viên về những vấn đề này, Nathalie Bajos chứng thực sự tiến triển theo chiều hướng này của một bộ phận y sĩ đoàn về vòng tránh thai. “ Vậy ta dự kiến sẽ có nhiều phụ nữ trẻ hơn nhờ đến phương pháp ngừa thai này. Nhưng tôi tin rằng không nên chờ đợi những sự đảo lộn quan trọng chừng nào các thầy thuốc không được đào tạo để đặt vòng tránh thai.
(LE FIGARO 26/4/2010)

Đọc thêm :

4/ SỰ NGƯỢC ĐÃI TRẺ EM TRONG THỜI THƠ ẤU LÓT ĐƯỜNG CHO BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG (MIGRAINE).

Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, sự ngược đãi trong thời thơ ấu, nhất là sự lạm dụng (abus) và sự lơ là về mặt tình cảm, là thường xảy ra nơi các bệnh nhân bị bệnh thiên đầu thống. Ngoài ra, nơi các bệnh nhân này, sự ngược đãi có thể là một yếu tố nguy cơ của các bệnh xảy ra đồng thời (comorbidités).

Các công trình nghiên cứu đã chứng minh sự liên kết giữa các lạm dụng (abus) trong thời thơ ấu và các cơn thiên đầu thống ở tuổi trưởng thành. Các nhà nghiên cứu của American Headache Society Gretchen Tiejen và các cộng sự viên, đã nghiên cứu mối liên hệ này. Các bệnh nhân đến 11 trung tâm điều trị bệnh thiên đầu thống (centre de la migraine) ở Hoa Kỳ và Canada, đã trả lời các bảng điều tra có liên quan đến các chẩn đoán thiên đầu thống và chứng trầm cảm, các dữ kiện dân số cũng như các dữ kiện có liên quan đến các tiền sử và mức độ nghiêm trọng của các lạm dụng (tình dục, tình cảm và vật lý) và các sao lãng (tình cảm và vật lý) bị chịu đựng trong thời thơ ấu. Các bệnh xảy ra đồng thời (comorbidités) như các hội chứng đại tràng dễ kích thích (syndrome du colon irritable) và mỏi mệt kinh niên, fibromyalgie, viêm bàng quang kẽ (cystite interstitielle) và viêm khớp, cũng đã được ghi nhận.

Toàn bộ, 1348 người bị bệnh thiên đầu thống (88% phụ nữ) đã được đưa vào công trình nghiên cứu (tuổi trung bình 41), 40% đã báo cáo những cơn thiên đầu thống với tiền triệu (aura) và 34% báo cáo đau đầu kinh niên ( > 15 ngày mỗi tháng).

Những sự ngược đãi (maltraitance) được nói đến là gì ? Trong nhóm người được khảo sát này, 38% đã bị lạm dụng (abus) và lơ là (négligence) tình cảm, 25% bị lạm dụng tình dục, 22% bị lơ là thể chất và 21% bị lạm dụng vật lý (abus physique). 9% báo cáo 3 loại lạm dụng (vật lý, tình dục và tình cảm) và 17% kêu ca các lơ là vật lý và tình cảm (négligences physiques et émotionnelles). Tỷ lệ bị tái diễn (revictimisation) ở tuổi trưởng thành không phải là ít (43%). Sau hết, những người đau thiên đầu thống báo cáo ít nhất 3 loại chấn thương trong thời thơ ấu, có nhiều nguy cơ hơn nhận chẩn đoán bệnh trầm cảm và lo âu.

Ngoài ra công trình nghiên cứu này đã chứng minh rằng loại ngược đãi này có thể là một yếu tố nguy cơ phát triển các chứng đau đầu mãn tính, trong đó có bệnh thiên đầu thống. Sự liên kết của sự ngược đãi và của tần số các cơn đau đầu dường như độc lập với chứng trầm cảm và chứng lo âu. Việc khám phá sự kiện rằng sự lạm dụng tình cảm (abus émotionnel) được liên kết với một khởi đầu sớm hơn của bệnh thiên đầu thống có thể có những hàm ý trong vai trò của đáp ứng đối với stress trong sinh lý bệnh của bệnh thiên đầu thống.

NHỮNG BỆNH LIÊN KẾT.

Những người đau thiên đầu thống đã bị lạm dụng tình cảm hay bị lơ là vật lý trong thời thơ ấu có một tỷ lệ các bệnh cùng xảy ra tăng cao hơn một cách đáng kể, so với những người trưởng thành không có những tiền sử như thế. 31% bi hội chứng đại tràng dễ kích thích (syndrome du côlon irritable), 1% bị mệt mỏi kinh niên, 10% bị fibromyalgie, 6,5% bị viêm bàng quan kẽ, 25% bị viêm khớp, ngoài ra các phụ nữ báo cáo lạc nội mạc tử cung (15%) và các u xơ tử cung (14%).

61% các bệnh nhân có ít nhất một bệnh cùng xảy ra, 18% có hai bệnh và 13% ba hay nhiều hơn. 58% các bệnh nhân cũng đã tuyên bố bị ngược đãi trong thời thơ ấu. Số các ngược đãi mà người bệnh đầu thống đã chịu đựng trong thời thơ ấu tương quan với số các bệnh cùng xảy ra vào tuổi trưởng thành. Đặc biệt hơn, sự lạm dụng vật lý (abus physique) được liên kết với một tỷ lệ bị viêm khớp lớn hơn, sự làm dụng tình cảm (abus émotionnel) được liên kết với một tỷ lệ bị hội chứng đại tràng dễ bị kích thích, mệt mỏi mãn tính, fibromyalgie và viêm khớp lớn hơn ; và sự lơ là vật lý (négligence physique) được liên kết nhiều hơn với hội chứng đại tràng dễ bị kích thích, mệt mỏi mãn tính, viêm bàng quan kẽ và viêm khớp. Nơi các phụ nữ, sự lạm dụng và lơ là vật lý được liên kết với lạc nội mạc tử cung và các u xơ tử cung.

Những dữ kiện này gợi ý rằng, nơi những người đau thiên đầu thống, sự ngược đãi trong thời kỳ thơ ấu có thể là một yếu tố nguy cơ phát triển các bệnh cùng xảy ra (comorbidités). “ Nếu sự xuất hiện của một bệnh thiên đầu thống đi trước sự xuất hiện của các bệnh xảy ra đồng thời, thì những chiến lược điều trị như các liệu pháp hành vi nhận thức (thérapies comportementales cognitives) sẽ được đặc biệt thích ứng ”, BS Tietjen đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/1/2010).

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152 - Đề Mục : 9/ MIGRAINE : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẺ CÓ MỘT HIỆU QUẢ NHANH HƠN.

5/ MỘT HORMONE TĂNG CƯỜNG LÒNG TIN CẬY CỦA CÁC BỆNH NHÂN TỰ KỶ (AUTISTE).

Việc cho một hormone, oxytoxin, bằng đường mũi, đã cho phép cải thiện hành vi xã hội (comportement social) của những bệnh nhân mắc bệnh tự kỷ (autistes). Đó là kết quả đáng phấn khởi thu được bởi một nhóm nghiên cứu Pháp, được lãnh đạo bởi Marion Leboyer (Inserm, Créteil) và Angela Sirigu (CNRS, Bron). Được tổng hợp bởi vùng dưới đồi (hypothalamus), oxytoxine đặc biệt làm dễ sự điều hoàn các cảm xúc, làm dễ sự quyến luyến hay sự nhận biết các khuôn mặt.

Tài liệu khoa học đã gợi ý rằng bệnh tự kỷ (autisme) có thể là do những bất thường trong sự tổng hợp của kích thích tố chủ chốt này. Dựa trên tất cả các dữ kiện này, các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm sau đây : 13 bệnh nhân bị bệnh tự kỷ mức độ cao (hay hội chứng Asperger : có trí năng được bảo tồn nhưng khó khăn trong giao tiếp xã hội) đã chơi bóng (ballon). Cách chơi : bệnh nhân được tiền mỗi lần nhận được bóng. Trước mỗi bệnh nhân là 3 cầu thủ mà hành vi khác nhau : cầu thủ thứ nhất dội lại bóng 7 lần trên 10, cầu thủ thứ hai, 3 lần trên 10 và cầu thủ thứ ba chỉ 1 lần trên 10. Nhận xét : với placebo, bệnh nhân tự kỷ chuyển bóng một cách không phân biệt cho 3 ba cầu thủ đối diện, không tỏ một ưu tiên nào đối với một trong những người này. Với oxytoxine, bệnh nhân tự kỷ nhiên hậu chuyển bóng cho cầu thủ có tinh thần hợp tác nhất. “ Ngoài ra, sau cuộc chơi, bệnh nhân cho cầu thủ được ưa thích này điểm tốt nhất trên một thang đánh giá, Angela Sirigu đã ghi nhận như vậy. Vậy bệnh nhân đã cải thiện khả năng phân biệt và năng lực tin cậy. ” Oxytocine, điều trị tương lai của bệnh tự kỷ ? Hiện nay thì không, bởi vì tác dụng của nó lên não bộ chỉ khoảng 90 phút mà thôi, nhà nghiên cứu nói tiếp như vậy. Phải sản xuất một chất tương tự nhưng có thời gian tác dụng dài hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về OCYTOCINE - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

6/ DẬY THÌ SỚM : HƯỚNG BỊ TRANH CÃI CỦA CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM.

Nhân một cuộc hội thảo, được tổ chức về các chất gây rối loạn nội tiết (perturbateurs endocriniens), các nhà nghiên cứu Pháp đã bày tỏ nỗi băn khoăn của họ.

TOXICOLOGIE. Từ năm 1850 đến 1950, ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ, tuổi dậy thì của các cô con gái trung bình sớm 3 năm, chuyển từ 17 tuổi xuống còn 14 tuổi. Sự tiến triển này ngày nay dường như được ổn định, nhưng ngược lại, người ta gặp ngày càng nhiều những trường hợp dậy thì cực sớm, được đặc trưng chủ yếu bởi sự xuất hiện vú trước 8 tuổi hay kinh nguyệt trước 10 tuổi.

Nguồn gốc của những xáo trộn của sự phát triển sinh dục này là gì ? Mặt khác những xáo trộn này cũng ảnh hưởng các cậu con trai với những bất thường tinh hoàn hay những dị tật niệu quản.Từ những năm 1980-1990, một bộ phận của các chuyên gia độc chất học (toxicologue) quy trách nhiệm vào các chất hoá học, được biết hơn dưới tên các chất gây xáo trộn nội tiết (perturbateurs endocriniens) bởi vì chúng có khả năng biến đổi những chức năng hormone. Những chất gây rối loạn nội tiết này hiện diện khắp nơi trong môi trường (các thuốc trừ sâu), nhưng cũng trong nhiều sản phẩm mà chúng ta sử dụng trong đời sống hàng ngày (plastiques, các mỹ phẩm, đồ bao bì, nước hoa…)

LIỀU LƯỢNG KHÔNG TẠO NÊN ĐỘC CHẤT.

Tuy nhiên hướng này không mang lại sự nhất trí trong giới nghiên cứu. Một colloque được tổ chức ở Rennes để trình bày những kết quả của các công trình nghiên cứu, được tài trợ trong bối cảnh của của chương trình nghiên cứu về các chất gây rối loạn nội tiết, được phát động ở Pháp bởi bộ trưởng môi trường năm 2005.

Có những chỉ dấu, nhưng dưới mắt của các nhà nghiên cứu thì chúng không đủ để xác lập một mối liên hệ nhân quả trực tiếp. Vài yếu tố vững chắc đã hiện hữu trong lãnh vực kích thích tố : cửa sổ tiếp xúc (fenêtre d’exposition) (thai nghén và những tháng đầu tiên của thai nhi) có một vai trò chủ yếu và mặt khác, chính không phải liều lượng gây độc, điều này làm phức tạp tất cả. Các nhà nghiên cũng đã khám phá rằng các phản ứng đối với các chất gây rối loạn nội tiết có thể thay đổi tùy theo cá thể.

3 LỚP SẢN PHẨM.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ mới đây đã cho thấy rằng, trong số một nhóm hơn 1000 thiếu nữ, mà ¼ đã bắt đầu tuổi dậy thì vào năm 8 tuổi và ½ vào năm 9 tuổi, các nồng độ đáng kể của các chất gây rối loạn nội tiết đã được ghi nhận trong nước tiểu của chúng. 3 lớp sản phẩm đã được phát hiện : các phénol, trong đó có biphénol nổi tiếng, hiện diện trong các bình sữa, các phtalate và các phyto-œstrogène, mà các tính chất thơm rất được ưa chuộng bởi công nghiệp.

Phản ứng lại công trình nghiên cứu này trong le Quotidien du médecin, GS Charles Sultan, CHU de Montpellier, đánh giá rằng công trình nghiên cứu mang lại những lý lẽ để “ đề nghị giảm bớt, nếu không thì cấm chỉ các chất gây ô nhiễm nói chung và các thuốc trừ sâu nói riêng, mà ảnh hưởng lên sự cân bằng nội tiết vẫn đáng quan ngại ”.

Ở Rennes, ý kiến được đưa ra lại khác hẳn. “ Nguồn gốc của những trường hợp dậy thì rất sớm có lẽ do nhiều yếu tố ”, Jean-Paul Bourguignon, thầy thuốc chuyên khoa nhi nội tiết của đại học Liège (Bỉ) đã đánh giá như vậy. Đối với ông ta phải tính đến nhiều yếu tố khác như chế độ ăn uống hay stress của người mẹ trong thời kỳ thai nghén
(LE FIGARO 14/4/2010)

7/ NÃO BỘ KHÔNG NGỦ CÙNG MỘT LẦN.

Các bạn nghĩ là các bạn bắt đầu ngủ đùng một cái chăng ? Các bạn đừng lầm nhé : não bộ không ngủ toàn bộ cùng một lúc. Nó “ lịm dần đi ” vùng này qua vùng khác. Đó là điều được khám phá bởi Michel Magnin và nhóm nghiên cứu của ông ở Inserm (Lyon), trong lúc nghiên cứu lần đầu tiên hoạt động điện của não bộ khi não đi từ trạng thái thức tỉnh (éveil) sang trạng thái ngủ (sommeil). Để đạt được điều đó, các nhà nghiên cứu đã khai thác các dữ kiện ghi được bởi các điện cực cắm vào bên trong não bộ của các bệnh nhân bị bệnh động kinh. Nơi những bệnh nhân này, các điện cực cho phép định vị trí vùng phát khởi các cơn động kinh trước khi thực hiện một điều trị ngoại khoa. Nhưng các điện cực cũng đã cho phép phát hiện điều gì xảy ra lúc bắt đầu vào giấc ngủ (endormissement) : đồi thị (thalamus), nhận những thông tin cảm giác (informations sensorielles), ngủ trước tiên. Vỏ não (cortex), phân tích những thông tin này, ngủ 10 đến 15 phút sau đó ! “ Thật đáng ngạc nhiên, bởi vì vỏ não và đồi thị vốn rất liên hệ mật thiết với nhau, Michel Magnin đã giải thích như vậy. Lúc ngủ, đồi thị (thalamus) cắt đứt chúng ta ra khỏi thế giới bên ngoài, trong khi vỏ não tiếp tục hoạt động, điều này giải thích những ảo giác (hallucinations) xảy ra khi ta ngủ. “ Nhưng những nghiên cứu này cho thấy nhất là vai trò quan trọng sủa đồi thị khi bắt đầu vào giấc ngủ, và có thể giúp hiểu hơn chứng mất ngủ không tránh được có tính chất gia đình (insomnie fatale familiale), một sự mất ngủ mãn tính được liên kết với những thương tổn của đồi thị.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

8/ TIẾN VỀ MỘT SỰ PHÁT HIỆN SỚM CỦA BỆNH XƠ GAN.

Trong trường hợp ngộ độc rượu mãn tính (alcoolisation chronique), gan trước hết trải qua một giai đoạn gan mỡ (stéatose), rồi trở thành nơi của một quá trình viêm nhiễm mãn tính (hépatite chronique), rồi xơ hóa (fibrose). Tình trạng xơ hóa vẫn có thể đảo ngược được, với điều kiện từ bỏ rượu. Nếu không, sẽ xuất hiện một xơ gan (cirrhose du foie), là biểu hiện một yếu tố nguy cơ của ung thư gan. Do đó lợi ích của một phát hiện sớm…

“ Mọi người Pháp có nguy cơ xơ hóa gan phải được đề nghị phát hiện. Đặc biệt có liên quan là những người tiêu thụ quá nhiều rượu (khoảng 8% các người Pháp), nhưng cũng những người trưởng thành tăng thể trọng (15%) và, dĩ nhiên những nạn nhân của một nhiễm trùng mãn tính bởi một virus của viêm gan B hay C (1,5%), GS Stanislas Pol, trưởng khoa gan của bệnh viện Cochin (Paris) đã giải thích như vậy.

Tin vui, đó là để phát hiện một xơ hóa gan, không còn cần phải thực hiện một sinh thiết nữa. Có hai thăm khám không xâm nhập : xét nghiệm máu đo những chất chỉ dấu khác nhau và Fibroscan tính tốc độ di chuyển của một làn sóng từ da đến gan (làn sóng đi càng nhanh khi gan càng bị xơ).

“ Khi một sự xơ hóa được khám phá, sự kiểm soát lâu dài của tất cả các yếu tố nguy cơ (rượu, tăng thể trọng, virus) đã chứng tỏ kết quả : bệnh khi đó có thể đảo ngược 100%. Sự trở lại bình thường này đã khó đạt được vào giai đoạn xơ gan, nhưng chúng tôi hy vọng có khả năng tạo lại dáng (remodeler) hoàn toàn gan trong 5 đến 10 năm đến ”, GS Pol nói tiếp như vậy.

Đối với 250.000 người Pháp có một xơ gan, cần phải phát hiện sớm ung thư. Mọi người có một xơ gan được biết phải được hưởng một siêu âm gan một cách hệ thống mỗi 6 tháng. Biện pháp duy nhất này đã cho phép gia tăng hơn 20% số các khối u được nhận diện ở một giai đoạn có thể mổ được. Đó cũng là số người mà ta sẽ chữa lành bệnh ung thư của họ.

Bên cạnh phẫu thuật cổ điển (cắt bỏ khối u), cắt bỏ bằng nhiệt (thermo-ablation) bùng nổ. Phương pháp này nhằm cắm một chiếc kim vào trong khối u, dưới sự kiểm soát của siêu âm, và đốt bằng những micro-ondes. Một kỹ thuật mới, chimio-embolisation artérielle hépatique, nhằm bít các huyết quản nuôi dưỡng khối u, cho phép phá hủy nó hơn 95%. Hiện nay phương pháp này đặc biệt dành cho những bệnh nhân chờ đợi một ghép gan hay như điều trị chữa tạm (traitement palliatif).

“ Người ta chữa lành khối u nhưng không chữa lành xơ gan. Vậy, những nguy cơ tái phát khởi khối u là luôn luôn có thể. Đó là lý đó tại sao, khi có thể thực hiện được, ghép gan vẫn là giải pháp làm thỏa mãn nhất ”, GS Stanislas Pol đã kết luận như vậy. Mỗi năm, 125 trường hợp ghép gan được thực hiện nơi những bệnh nhân bị xơ gan do rượu, nhưng đã vĩnh viễn từ bỏ rượu.
(LE FIGARO 22/3/2010)

Đọc thêm :

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - Đề Mục : 8/ XƠ GAN : NGỪNG UỐNG KHÔNG BAO GIỜ LÀ QUÁ MUỘN.

9/ THALIDOMIDE TÌM RA NHỮNG ÁP DỤNG MỚI.

Bị cấm chỉ từ 50 năm nay, thalidomide chữa lành bệnh Rendu-Osler và có hiệu quả chống lại các ung thư.

MEDECINE. Thalidomide là một loại thuốc nổi tiếng chẳng hay ho gì nhưng chẳng bao lâu nữa có thể được nhắc lại về nó trong điều trị vài bệnh ung thư và các bệnh xuất huyết. Đó là một sự phục quyền khó có thể tin được. Được kê toa trong những năm 1950-1960 cho các phụ nữ có thai để chống lại nôn mửa, thalidomide là nguồn gốc của một trong những vụ tai tiếng lớn nhất về y tế cộng đồng trong 50 năm qua. Thật vậy, các thầy thuốc đã khám phá, sau khi thuốc xuất hiện trên thị trường rằng, thalidomide gây nên những dị dạng rất nghiêm trọng nơi thai nhi. Người ta ước tính rằng gần 12.000 trẻ em đã là nạn nhân của thuốc này trong khoảng 40 nước, trong đó 4000 đã không sống sót.

Mặt khác, sự vụ đã dẫn đến một sự tăng cường các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá tốt hơn những tác dụng phụ của các loại thuốc lên các phụ nữ có thai và phôi thai (effets tératogènes).

Ngày nay, thalidomide tái xuất hiện trong một bối cảnh khác. Một nhóm nghiên cứu được lèo lái bởi Franck Lebrin, nhà nghiên cứu của Inserm và Collège de France, vừa cho thấy rằng loại thuốc này rất có hiệu quả chống lại bệnh Rendu-Osler, một bệnh lý xuất huyết gây bệnh một trên 10.000 người và không có một loại thuốc nào để điều trị nó cả.

Nguồn gốc di truyền, bệnh Rendu-Osler được gây nên bởi một sự thiếu ổn định của các huyết quản. Bệnh được đặc trưng bởi 3 triệu chứng : những xuất huyết ruột và mũi nghiêm trọng cũng như nhiều courts-circuits động-tĩnh mạch. Chảy máu mũi có thể xảy ra hơn 30 lần mỗi ngày và kéo dài một giờ.

Thalidomide đã được thử nghiệm thành công ở Hoà Lan trên 7 bệnh nhân tuổi từ 48 đến 75 và bị những thể nặng. Uống mỗi ngày 100 mg thalidomide đã đủ để làm giảm bớt một cách đáng kể tần số và thời gian chảy máu. Điều trị trong thời gian 6 tháng đến 5 năm đã cho phép tránh các truyền máu, đặc biệt cần thiết nhất là khi chảy máu đường tiêu hóa, để chữa tạm sự thiếu máu. Các tác dụng phụ của thalidomide, ngoài những tác dụng sinh quái thai, là những nguy cơ gây huyết khối (thrombose). Chính vì vậy những người cảm thấy triệu chứng kiến bò sau khi uống một viên thuốc đầu tiên đã bị loại khỏi các cuộc thử nghiệm.

CÁC CƠ CHẾ PHỤC HỒI.

“ Tác dụng có lợi của thuốc có thể đo lường được một tháng sau khi sử dụng thuốc. Nếu bệnh nhân ngừng điều trị, các xuất huyết cũng bắt đầu lại một tháng sau ”, Franck Lebrin đã đảm bảo như vậy. Một thử nghiệm quy mô lớn hơn có thể được tổ chức trên 32 bệnh nhân ở bệnh viện Tenon (Paris).

Bằng cách hiểu được các cơ chế tác dụng của thalidomide chống lại bệnh Rendu-Osler, các nhà nghiên cứu sẽ mở ra những hướng điều trị mới. Thật vậy, trong khi cho đến nay thuốc này có tiếng là ức chế sự tăng trưởng của các huyết quản, thì các phân tích đã cho thấy rằng nó có tác dụng ngược lại. Thalidomide khôi phục các huyết quản bằng cách làm gia tăng số các tế bào được gọi là thành, che phủ thành ngoài và cần thiết cho sự sống còn của chúng.“ Điều trị cho phép thu hồi lại một lớp phủ binh thường của các huyết quản ”, Franck Lebrin đã nhấn mạnh như vậy.

Cơ chế phục hồi này, theo nhà nghiên cứu, chẳng bao lâu nữa sẽ được trắc nghiệm chống lại các khối u. Một sự phân bố mạch (vascularisation) tốt hơn có thể cho phép mang các thuốc chống ung thư đến trung tâm của khối u để hủy diệt nó. Vì thalidomide cũng có tính chất hoạt hóa các tế bào lympho T (mà một vài tế bào thuộc loại này cũng tấn công các tế bào ung thư), nên thalidomide có thể tỏ ra có hiệu quả trong khung cảnh của một hóa học liệu pháp cổ điển.

Nhóm nghiên cứu Pháp không phải là nhóm duy nhất theo hướng điều trị này. Khoảng 50 thử nghiệm đang được tiến hành trên thế giới. Thalidomide đã được sử dụng trong điều trị bệnh hủi (lèpre) và vài loại myélome. “ Thalidomide đã được hiệu chính trong những năm đầu tiên của hóa học và ta còn lâu mới biết được tất cả các cơ chế tác dụng của nó, Franck Lebrin đã ghi nhận như vậy.
(LE FIGARO 7/4/2010)

10/ BỆNH THỐNG PHONG : SAU CÙNG MỘT ĐIỀU TRỊ MẠNH !

GS Thomas Bardin, trưởng khoa khoa thấp khớp của bệnh viện Lariboisière, giải thích tiến bộ điều trị được thực hiện đối với bệnh thống phong (gây bệnh cho 600.000 người Pháp).

Hỏi : Bệnh thống phong nghĩa là gì ?
GS Thomas Bardin : Đó là những cơn cực kỳ đau đớn (liên kết với một viêm khớp rất cấp tính xuất hiện đột ngột), được gây nên bởi các tinh thể dẫn xuất từ axít uric hiện diện trong dịch khớp. Viêm khớp của bệnh thống phong thường nhất là gây bệnh nơi đàn ông. Vào lúc bắt đầu bệnh, cái đích đầu tiên là khớp của ngón cái, bị sưng tấy lên, trở nên đỏ, nóng (với các chỗ sưng khó chịu dưới da), tạo nên một phế tật lúc bước. Không điều trị, trong 10 năm sau, các cơn sẽ trở nên thường xuyên hơn và lan rộng qua các khớp khác. Ở một giai đoạn rất nghiêm trọng, các chất lắng của các tinh thể hủy hoại dần dần xương và sụn, gây nên một tàn tật vĩnh viễn.

Hỏi : Xin ông hãy nhắc lại cho chúng tôi nguyên nhân của bệnh viêm khớp đau đớn này.
GS Thomas Bardin : Bệnh thống phong là do một sự thặng dư axít uric trong máu vì nhiều nguyên nhân. 1. Một sự khiếm khuyết di truyền của chức năng thận liên kết với một chế độ ăn uống giàu các tiền chất (précurseur) của axít uric (thí dụ : thịt ...). 2. Việc sử dụng lâu dài vài loại thuốc ngăn cản sự loại bỏ của axít uric bởi thận, như các chất lợi tiểu. 3. một suy thận mãn tính.

Hỏi : Cho mãi đến nay, điều trị cổ điển của bệnh thống phong là gì ?
GS Thomas Bardin : Protocole gồm hai liệu pháp bổ sung nhau. 1. Chống lại viêm với colchicine hay các chất kháng viêm không phải stéroide. 2. Một điều trị chữa lành với các thuốc làm giảm sự sản xuất axít uric hay loại bỏ nó. Trong loại này, thuốc được dùng nhất từ 30 năm nay là allopurinol. Nơi rất nhiều bệnh nhân, điều trị này đã cho phép làm hạ một cách đáng kể nồng độ axít uric trong máu. Nhưng trong khoảng một trường hợp trên năm, có một thất bại điều trị.

Hỏi : Những thất bại này là do gì ?
GS Thomas Bardin : Các đề kháng với điều trị xảy ra hoặc là do một sự bất dung nạp (với các ban da đôi khi nghiêm trọng), hoặc do một sự suy thận ngăn cản gia tăng liều lượng để chữa lành bệnh, hoặc do sự không tuân thủ điều trị.

Hỏi : Tác dụng của thuốc mới vừa được thương mãi hóa là gì ?
GS Thomas Bardin : Đó là một loại thuốc mới, febuxostat, tạo nên một bước tiến quan trọng đối với tất cả các bệnh nhân đề kháng với điều trị quy ước. Thuốc này luôn luôn được sử dụng để làm hạ nồng độ axít uric, nhưng có một thành phần rất khác với allopurinol. Ngoài tác dụng mạnh hơn, febuxostat có một ưu điểm khác : sự sử dụng của nó không bị hạn chế bởi suy thận hay những loạn năng khác của thận.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ hiệu quả lớn hơn của febuxostat ?
GS Thomas Bardin : 3 công trình nghiên cứu so sánh quốc tế lớn đã được thực hiện trên khoảng 3.000 bệnh nhân. Tôi nêu lên các kết quả của một trong những công trình này, được chia thành 3 nhóm. Trong nhóm đầu tiên, các bệnh nhân được điều trị với allopurinol, nhóm thứ hai, với febuxostat và, trong nhóm thứ ba, các bệnh nhân đã nhận một placebo. Kết luận : điều trị mới (với febuxostat) cho phép thu được một nồng độ axít uric bình thường trong 50 đến 65% các trường hợp, so với 20 đến 30% với điều trị quy ước (allopurinol). Những công trình nghiên cứu đầu tiên bây giờ có một thời gian nhìn lại 5 năm. Febuxostat, được thương mãi hóa cách nay một năm ở Hoa Kỳ và ở Pháp từ một tháng nay.

Hỏi : Thuốc mới này có gây nên những tác dụng phụ hay không ?
GS Thomas Bardin : Người ta đã ghi nhận vài trường hợp nổi ban da nhẹ, một sự gia tăng của các men gan (enzymes hépatiques), và sự xuất hiện của các cơn thống phong tạm thời vào lúc bắt đầu điều trị (được tránh bởi colchicine). Có hai loại chống chỉ định : các suy gan và suy thận nặng và sự sử dụng vài loại thuốc làm suy giảm miễn dịch nơi những bệnh nhân được ghép. Cũng phải thận trọng đối với những người bị bệnh tim.
(PARIS MATCH 15/4[*] 21/4/2010)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132 - Đề Mục : 6/ GENE GÂY BỆNH THỐNG PHONG (GOUTTE) ĐƯỢC KHÁM PHÁ.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (3/5/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#49 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 10 May 2010 - 03:54 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CHẲNG BAO LÂU NỮA CHÚNG TA CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ CÁC DI CHỨNG CỦA NHỒI MÁU CƠ TIM BẰNG NHỮNG TẾ BÀO GỐC ?

Nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) được đặc trưng bởi một sự mất trong chốc lát oxy đến cơ tim (myocarde), do sự tắc của một động mạch vành nuôi dưỡng. Hậu quả là một sự hoại tử của mô ở vùng hạ lưu của chỗ tắc này. Sự mất tổ chức mô sẽ được đi kèm theo bởi một sự mất tính co bóp của cơ tim, vài tháng sau khi bị nhồi máu, sau khi mô lành mạnh chung quanh đã cạn kiệt các năng lực bù trừ. Khi đó một sự suy của cơ tim sẽ dần dần được thiết lập. Chắc hẳn là điều trị nhồi máu ở giai đoạn cấp tính đã đạt được những tiến bộ đáng kể nhờ sự “ mở lại ” sớm của động mạch bị tắc, nhờ các loại thuốc làm tan cục máu đông hoặc là, thường hơn, nhờ sự tái thông dòng huyết quản bằng dụng cụ (recanalisation instrumentale) (đặt stent). Tuy nhiên, mặc dầu tỷ lệ tử vong đã giảm một cách đáng kể nhờ những biện pháp này, vài bệnh nhân vẫn tiếp tục một cách không cưỡng được về hướng suy tim thứ phát.

Điều trị thuốc làm giới hạn các triệu chứng suy tim nhưng không chữa lành được nó. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, chỉ có thể ghép tim mới có thể cứu sống, nhưng những trường hợp ghép tim này ngày nay rất bị giới hạn. Do đó, từ nhiều thập niên qua các nhà nghiên cứu và lâm sàng đã thử thay thế, nơi động vật, không phải toàn bộ cơ quan mà một phần của mô tạo nên cơ quan đó, bằng cách cấp những tế bào mới. Những công trình nghiên cứu khác nhau đã đưa đến kết luận rằng sự thay thế của mô bị hoại tử đòi hỏi được cung cấp bởi những tế bào tim thật sự để có thể phục hồi một chức năng. Chính như thế mà ngay từ năm 1998, các tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires), được gọi là “ đa năng ” (pluripotentes), có khả năng sinh ra tất cả các mô cùa cơ thể của chúng ta, đã tức thời tỏ ra mang nhiều hy vọng. Thật vậy, trái với những mô khác như da và cơ có những năng lực tái sinh, tim lại không có khả năng này. Việc nhờ đến các tế bào gốc phôi thai để tái tạo lại mô tim dường như được chỉ định.

Y KHOA TÁI SINH (MEDECINE REGENERATIVE).

Cách nay vài năm, những chướng ngại (khó sinh sản mô tim in vitro, nguy cơ bị khối u, sự bất tương hợp miễn dịch) trong sự sử dụng lâm sàng những tế bào này hay những tế bào con được biệt hóa thành những tế bào tiền cơ tim (cellules précurseurs cardiaques) của chúng, dường như khó vượt qua. Tuy vậy ngày nay các nhà nghiên cứu đã học được cách chế ngự sự tăng sinh của các tế bào và hướng chúng để sử dụng cho tim. Nhiều thí nghiệm nơi động vật, được thực hiện bởi nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới, đã thành công ghép những tế bào được sản sinh từ các tế bào gốc phôi thai. Những ghép này kèm theo một sự cải thiện của chức năng của cơ tim, nơi động vật nhỏ phòng thí nghiệm. Ở Pháp, chúng ta đã thực hiện những thử nghiệm nơi động vật linh trưởng bằng cách ghép những tế bào tiền cơ tim được sản sinh từ những tế bào gốc phôi thai. Trong những công trình này, các tế bào tiền cơ tim đã tiếp tục hành trình của chúng, cũng như suốt trong thời kỳ phát triển phôi thai và đã trở nên những tế bào tim mà không tạo nên khối u.

Thật là nghịch lý, vết sẹo của nhồi máu cơ tim, trong đó các tế bào được ghép, góp phần làm chúng thành thục thành những tế bào tim, bằng cách sản xuất những yếu tố cần thiết cho sự biệt hóa này. Ngoài ra, những tế bào được ghép trở thành những tế bào tim này dường như nối kết với những tế bào nội tại, điều này cho phép nghĩ rằng luồng điện vào (influx électrique) sẽ được truyền xuyên qua vùng được ghép và do đó nhịp tim sẽ không bị rối loạn.

Còn lại là trở ngại của bản chất lạ mặt của những tế bào này và do đó gây nên sự thải bỏ (rejet) chúng bởi cơ quan trưởng thành. Các nhà nghiên cứu đang làm việc theo các hướng đầy hứa hẹn này (tiêm đồng thời những tế bào autologue làm dễ sự dung nạp, chế độ làm suy giảm miễn dịch thấp...)

Trong tương lai, những tế bào gốc đa năng được chương trình hóa lại (cellules souches polypotentes reprogrammées) có thể giải quyết vấn đề miễn dịch vì lẽ tế bào được chương trình hóa lại sẽ là tế bào của bệnh nhân (một fibroblaste của da hay một sợi tóc). Còn quá sớm để dự kiến sự sử dụng những tế bào này trên lâm sàng nhưng hy vọng đang vương lên. Tế bào gốc phôi thai, và nhất là các tế bào con tiền cơ tim của nó (cellules filles précurseurs cardiaques) đã gần có thể được sử dụng trên người và có lẽ sẽ mở đường tiến về một nền y khoa tái sinh (médecine régénérative).
(LE FIGARO 3/5/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 53 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/12/2007 )

7/ GHÉP CÁC TẾ BÀO GỐC LÀM HỒI PHỤC TỐT TRÁI TIM BỊ THƯƠNG TỔN

Được ghép vào trong tim, các tế bào gốc (cellules souches) xuất phát từ tủy xương có được biến đổi thành những tế bào cơ tim hay không? Từ giữa những năm 1990, vài chục bệnh nhân trên thế giới đã thấy tình trạng sức khỏe của họ được cải thiện nhờ những ghép tiền phong này… mặc dầu cơ chế vận hành hoàn toàn không được làm sáng tỏ một cách rõ ràng. Nhưng những công trình của Piero Anversa của Viện bệnh học tim phân tử ở Louisville (Hoa Kỳ) chứng tỏ rằng việc ghép các tế bào gốc đúng là đã sửa chữa thành của các trái tim bị thương tổn, thí dụ bởi các nhồi máu cơ tim xảy ra nhiều lần. Cùng với nhóm nghiên cứu, thầy thuốc khoa tim đã theo dõi hàng giờ số phận của các tế bào gốc được ghép trong một trái tim bị hư hỏng của chuột. Bằng cách sử dụng những chỉ dấu tế bào (marqueurs cellulaires ) (một loại « thẻ căn cước « phân tử), ông đã có thể thấy sự biến đổi diễn ra thật sự. Những tế bào được ghép đã bắt đầu mất những đặc điểm của tế bào gốc của chúng trong 24 đến 36 giờ sau phẫu thuật. Sau 36 giờ, những vùng rộng lớn của tim đã được sửa chữa nhờ sự xuất hiện của những tế bào cơ tìm mới !
(SCIENCE ET VIE 12/2007)

2/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG : ÁNH SÁNG ĐÚNG LÀ NGUỒN GỐC CỦA SỰ ĐAU ĐỚN.

Ngay thế kỷ thứ IV trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả cơn đau của bệnh thiên đầu thống, kèm theo nôn, mửa và sợ sáng (photophobie). Từ ít lâu nay, các nhà nghiên cứu đã được biết rằng đó là một bệnh thần kinh. Nhưng họ vẫn còn tự hỏi không biết tại sao sự đau đớn trong bệnh này lại bị làm gia trọng của bởi ánh sáng, trong khi, họ đã nghĩ như vậy, những đường vòng tế bào thần kinh (circuits neuronaux) của thị giác và của cảm giác đau đớn lại độc lập với nhau. Bí mật này vừa được giải quyết.

Các bệnh nhân đau thiên đầu thông (migraineux) biết rõ điều đó : khi một cơn đau bắt đầu, tốt nhất là họ tách mình vào nơi yên tĩnh và đặc biệt là trong một phòng tối. Bởi vì tiếng ồn và ánh sáng trở nên không chịu đựng nổi, làm gia trọng sự đau đầu vốn đã mãnh liệt. Nhưng, dầu cho hiển nhiên như thế nào đi nữa, đối với những bệnh nhân đau thiên đầu thống, mối liên hệ giữa đau đầu và ánh sáng từ lâu vẫn là một bí ẩn đối với khoa học.

Đó là vì những vùng của não bộ quản lý thị giác và những vùng não bộ cảm nhận sự đau đớn là độc lập với nhau ; vậy chúng không có khả năng tương tác với nhau một cách trực tiếp. Thế thì, tác dụng làm dịu của bóng tối có thể là một định kiến. Tuy vậy, các đôi mắt, bằng cách này hay cách khác, đúng là liên hệ với các cơn đau đầu thống. Trước hết bởi vì chứng “ sợ ánh sáng ” (photophobie) này ảnh hưởng gần 90% các bệnh nhân đau đầu thống. Kế đó, bởi vì, nơi những bệnh nhân hoàn toàn mù lòa, ánh sáng không có một ảnh hưởng nào lên bệnh thiên đầu thống cả.

VAI TRÒ CỦA DÂY THẦN KINH THỊ GIÁC.

Thế mà đúng như vậy ! Chính trong lúc quan sát 20 bệnh nhân mù bị bệnh thiên đầu thống mà nhóm nghiên cứu của GS Burstein, thầy thuốc gây mê của Centre Beth Israel Deaconess d’Harvard (Boston) đã chọc thủng màn bí mật của mối liên hệ giữa đau đầu và ánh sáng. “ Nơi những người đã mất thị giác nhưng vẫn còn khả năng cảm nhận những biến thiên cường độ ánh sáng, ánh sáng làm gia trọng bệnh thiên đầu thống, Rami Burstein đã giải thích như vậy. Vậy rõ ràng là cơ chế gây triệu chứng sợ ánh sáng (photophobie) hàm ý dây thần kinh thị giác, vốn bị phá hủy nơi những bệnh nhân hoàn toàn bị mù lòa, nhưng vẫn hoạt động nơi những người còn cảm nhận được ánh sáng.” Thế mà dây thần kinh thị giác bình thường nhận từ võng mạc những thông tin được truyền bởi những thể nón (cône) và thể gậy (batonnet), những tế bào này bắt ánh sáng và cho phép nhìn thấy. Nơi những người mù, những tế bào thị giác này bị hỏng.“ Những tế bào bắt ánh sáng (capteur) duy nhất còn hoạt động trong võng mạc của các bệnh nhân cảm nhận những biến thiên cường độ ánh sáng là những tế bào hạch (cellules ganglionnaires) : do đó người ta đã giả sử rằng chúng có quan hệ trong triệu chứng sợ ánh sáng ”, Rami Burnstein đã kể lại như vậy. Được khám phá nơi người vào năm 2000, những tế bào hạch sản xuất một sắc tố nhạy cảm với ánh sáng, mélanopsine, không có một vai trò thị giác nào, nhưng điều hòa đồng hồ sinh học ngày đêm (horloge circadienne) (hệ thống, qua nhiều tế bào cảm nhận ánh sáng, cho phép có thể, phân biệt ngày và đêm) và tham gia vào các phản xạ của đồng tử.

MỘT VÒNG THẦN KINH CHƯA TỪNG CÓ.

Vấn đề còn lại là cần phải chứng tỏ mối liên hệ giữa các tế bào nhạy cảm với ánh sáng này và cơn đau đầu thống. Để đạt được điều đó, các nhà nghiên cứu đã tiêm một chất huỳnh quang vào trong các tế bào hạch võng mạc của các con chuột. Lan truyền từ neurone này qua neurone, chất đánh dấu huỳnh quang (“ traceur ” fluorescent) này hẳn phải theo cùng lộ trình của tín hiệu thần kinh (messager nerveux), cho phép vạch lại đường đi một cách chính xác. Kết quả ? Chất đánh dấu đã “ thắp sáng ” một đường vòng tế bào thần kinh (un circuit neuronal) chưa từng bao giờ được mô tả trước đây, nối trực tiếp võng mạc với đồi thị (thalamus), một vùng của não bộ có liên hệ trong sự cảm nhận đau đớn, và các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng đường vòng tế bào thần kinh này được hoạt hóa lên trong cơn đau đầu thống. Bằng cớ cho thấy rằng đúng là có một mối liên hệ vật lý giữa đau đầu và ánh sáng, nhưng liên hệ đến những tế bào khác với những tế bào của thị giác !

“ Ánh sáng kích thích các tế bào hạch, những tế bào này truyền tín hiệu thần kinh đến tận một nhóm các neurone của đồi thị, những tế bào thần kinh này đã được hoạt hóa trong trường hợp đau đầu thống.Và khi tín hiệu này đạt đến các tế bào thần kinh “ đau đầu thống ” (neurones migraineux), hoạt tính của chúng gia tăng, do đó một cảm nhận đau đớn gia tăng ”, Rodrigo Noseda, người điều khiển công trình nghiên cứu đã mô tả như vậy. Thật vậy, lúc đưa các điện cực vào trong các neurone của đồi thị, các nhà nghiên cứu có thể kiểm chứng thấy rằng những tế bào thần kinh này “ hăng tiết lên ” dưới tác dụng của ánh sáng. Hoạt động điện của chúng, vốn tương quan với cường độ của sự đau đớn được cảm nhận, được nhân lên hai lần khi tiếp xúc với một ánh sáng dịu và gấp lên 4 lần nếu ánh sáng mạnh ! Và sự “ hưng phấn ” này không biến mất tức thời khi ta đắm mình trong bóng tối. “ Nơi phần lớn những người đau đầu thống sợ ánh sáng , ánh sáng làm gia tăng cường độ của đau đầu trong vài giây đồng hồ và tác dụng này kéo dài 20 phút, đôi khi hơn, sau khi bệnh nhân đã đi vào trong một buồng tối, nhà sinh thần kinh (neurobiologiste) đã xác nhận như vậy.

Những công trình nghiên cứu này, được chào đón bởi toàn thể các nhà nghiên cứu đang làm việc về bệnh thiên đầu thống, mở ra con đường cho những điều trị mới chống lại chứng sợ ánh sáng, cũng xảy ra trong những bệnh khác của não bộ, như bệnh viêm màng nào. “ Vào lúc này, chúng tôi tìm cách nhận diện những phân tử hóa học có liên quan trong sự vận hành chức năng của vòng các neurone này ”, Rodrigo Noseda đã chỉ rõ như vậy. Nhưng sự khám phá mối liên hệ của những tế bào hạch của võng mạc trong sự làm gia trọng của các cơn đau đầu thống đã mang lại một phương tiện làm thuyên giảm. “ Người ta biết rằng những tế bào này là đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng xanh. Vậy ta có thể khuyên những người sợ ánh sáng đang lên cơn, mang các kính nhuộm màu (lunettes teintées) (màu da cam) nhằm ức chế ánh sáng xanh ”, Ana Recober, nhà sinh thần kinh chuyên viên về bệnh thiên đầu thống của đại học Iowa (Hoa Kỳ) đã giải thích như vậy. Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của khám phá. “ Biết được cơ chế sợ ánh sáng cho phép biết được hơn về bệnh thiên đầu thống nói chung, bà đã nói thêm như vậy. Phải nói rằng những cơ chế của bệnh này còn lâu mới được làm sáng tỏ. Người ta không biết được tại sao vài bệnh nhân bị các cơn đau đầu thống còn những bệnh nhân khác thì không.” Và người ta cũng chẳng biết tại sao đường vòng tế bào thần kinh thần kinh (circuit neuronal) nối võng mạc với đồi thị này lại là cội nguồn của sự đau đớn, chỉ trong trường hợp đau đầu thống mà thôi... “ Câu hỏi là phúc tạp, Rodrigo Noseda đã công nhận như thế. Trong cơn đau đầu thống, các neurone cảm thụ đau đớn bị hưng phấn và chúng trở nên tiếp nhận hơn các tín hiệu thần kinh.” Điều này có nghĩa rằng ánh sáng, bình thường không gây đau đớn, trở nên một tín hiệu khá mạnh để làm hoạt hóa quá mức các neurone đã ở trong cơn. “ Để so sánh, khi ta tắm nước nóng, thì thật là dễ chịu. Nhưng nếu ta bị trúng nắng, điều đó trở nên đau đớn : nhiệt lượng trở nên đủ để làm hưng phấn các neurone và gây nên một sự đau đớn ”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Một điều chắc chắn : nếu 7 đến 10 triệu người Pháp đang bị chứng đau đầu thống, đã biết rằng cần phải ở trong bóng tối, thế thì khoa học vừa giải thích cho họ tại sao. Và khuyên họ tránh ánh sáng xanh…
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

3/ MẸ CÀNG CAO LỚN THÌ CON CÀNG CÓ SỨC KHOẺ HƠN ?

Các nhà nghiên cứu của Havard School of Public Health (Boston) đã tìm thấy một mối liên hệ nghịch giữa tầm vóc của người mẹ và tỷ lệ tử vong, sự giảm thể trọng (sous-poids) cũng như sự chậm tăng trưởng nơi các đứa con của họ, ít nhất xảy ra trong những nước có lợi tức từ thấp đến trung bình.

Các công trình nghiên cứu trước đây đã nêu lên một mối liên hệ giữa tầm vóc của người mẹ và sức khỏe cũng như nguy cơ tử vong của các người con. Nhưng ta không thể nói mối liên hệ này có hiện diện khắp mọi nơi trong các nước đang phát triển hay không. Emile Ozaltin và các cộng sự viên đã nghiên cứu các dữ kiện được cung cấp bởi 109 công trình nghiên cứu dân số học và những công trình khác liên quan đến sức khỏe, được thực hiện giữa năm 1998 và 2008, trong 54 nước, trong đó các lợi tức mỗi người dân từ thấp đến trung bình.

Đặc biệt hơn khi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đánh giá mức độ sức khỏe và nguy cơ tử vong nơi các trẻ em nhỏ tuổi (0 đến 59 tháng) tùy theo kích thước của cơ thể của người mẹ, họ đã quan sát thấy rằng một sự gia tăng 1cm kích thước của người mẹ được liên kết với một sự giảm nguy cơ tử vong, nguy cơ giảm thể trọng và nguy cơ chậm tăng tưởng của trẻ em. Nguy cơ tử vong tuyệt đối nơi các trẻ em mà người mẹ có tầm vóc cao lớn nhất ( > 160 cm) lên đến 7,3% so với 12,8% nơi những trẻ em có mẹ với kích thước bé nhỏ nhất ( <145 cm).
(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2010).

4/ LÀM SAO TRÁNH KHỎI BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ?

BS MARTINE PEREZ.

Neurologie. Bà X, 70 tuổi, được điều trị cao huyết áp mãn tính, đang ngồi xem TV vào một buổi tối nào đó thì bị qụy xuống dưới mắt của chồng mình, nạn nhân của một bại liệt bên phải của cơ thể. Người chồng giúp bà nằm xuống và chờ đợi hơn hai giờ với hy vọng rằng điều đó sẽ qua đi mà không cần gọi cấp cứu. Sai lầm. Đã là quá muộn khi bà đến bệnh viện để được điều trị tan huyết khối cấp cứu (thrombolyse en urgence) khi IRM cho thấy một thiếu máu cục bộ não (ischémie cérébrale). 6 tháng sau, bà bị bại liệt nửa người và cấm khẩu, nghĩa là bà không thể bước hay nói.

Những bệnh sử bi thảm như thế, các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đều thấy mỗi ngày. Và thật đáng buồn. Bởi vì tai biến mạch máu não không phải là một định mệnh. Mặc dầu mỗi năm tai biến mạch máu não gây bệnh cho 130.000 người ở Pháp, là nguyên nhân gây tử vong thứ ba đối với đàn ông, nguyên nhân gây tử vong thứ hai đối với phụ nữ, nguyên nhân thứ nhất gây phế tật mắc phải của người trưởng thành, nguyên nhân thứ hai của chứng sa sút trí tuệ sau bệnh Alzheimer, tuy vậy tai biến mạch máu não vẫn không được nhận rõ bởi các người Pháp, thật là không thể tin được. Một sự không nhận biết lại càng gây tổn hại nhất là khi các chiến lược phòng ngừa và điều trị đang hiện hữu.

Tai biến mạch máu nào được thể hiện bởi sự xuất hiện đột ngột những bại liệt gây nên bởi sự ngừng tưới máu của một vùng của não bộ. Hơn 80% các tai biến này có nguồn gốc thiếu máu cục bộ (ischémique) : một huyết quản bị tắc (dưới tác dụng của một mảng xơ mỡ, như trong nhồi màu cơ tim). Gần 20% có nguồn gốc xuất huyết, một huyết quản bị vỡ. Sự gián đoạn của vận chuyển máu đến một phần của não bộ gây nên một sự thoái hóa của vùng bị liên hệ nếu không gì được thực hiện cấp cứu, với trong vài trường hợp một sự phục hồi ngẫu nhiên khó tiên đoán được.

“ Cách hay nhất để dự phòng tai biến mạch máu não, đó là làm hạ huyết áp xuống dưới 140/90 mmHg và dưới 130/80 đối với những bệnh nhân đái đường, GS Pierre Amarenco, trưởng khoa thần kinh và của trung tâm tiếp đón và điều trị tai biến mạch máu não (bệnh viện Bichat, Paris) đã giải thích như vậy. Mỗi khi ta giảm huyết áp 10 mmHg, ta hạ 20% nguy cơ bị tai biến mạch máu não.” Cũng vậy, điều trị bởi statines làm giảm nguy cơ 50% nơi những bệnh nhân đái đường hay nơi những người có một nồng độ cholestérol tăng cao hay ngay cả ở mức trung gian. Tập thể dục, chế độ ăn uống không quá nhiều muối, đường, mỡ, sự việc không hút thuốc, là những yếu tố bảo vệ.

Sự xuất hiện đột ngột một sự yếu đi một bên cơ thể, những khó khăn đột ngột trong diễn đạt hay trong sự thông hiểu, nhưng rối loạn thị giác hay không có cảm giác phải được báo động. Ngay những triệu chứng đầu tiên, phải gọi cấp cứu số 15 để được đưa đến một khoa chuyên môn. Mỗi giây phút trôi qua là rất quan trọng.

Khi tai biến mạch máu não có nguồn gốc do thiếu máu cục bộ (ischémique), một điều trị để làm tan cực huyết đông (thrombolyse) có thể được thực hiện, nhưng chỉ trong 3 giờ sau những triệu chứng đầu tiên. “ Những công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng ta có thể chậm đến 4 giờ30, nhưng thời hạn càng dài, thì điều trị càng kém hiệu quả, G Hugues Chabriat (trưởng khoa thần kinh, bệnh viện Lariboisière, Paris) đã đảm bảo như vậy. Phải dạy cho dân chúng nhận biết những dấu hiệu sớm của tai biến mạch máu não để họ có thể được tiếp cận tốt hơn với những điều trị cấp cứu.” Hiện nay, khoảng 1% các bệnh nhân được hưởng một điều trị tan huyết khối (thrombolyse) (làm giảm 40% phế tật), trong khi 10% bệnh nhân có thể cần đến điều trị này.

Kế hoạch quốc gia hành động chống tai biến mạch máu não của Pháp dự kiến phát triển các đơn vị thần kinh-mạch máu (unité neuro-vasculaire) để đạt 140 đơn vị từ nay đến cuối 2010, thay vì 87 như hiện nay. “ Nếu ta thật sự muốn cho mình các phương tiện để chống lại tai biến mạch máu não, thì ưu tiên đầu tiên là nên có các IRM (appareils d’imagerie par résonance magnétique nucléaire) trong tất cả các bệnh viện của Pháp. Khi đó ta có thể thực hiện chẩn đoán khắp nơi và nhờ một console de télémédecine, truyền các hình ảnh đến một đơn vị chuyên về mạch máu-thần kinh (neuro-vasculaire). Đơn vị này sẽ hướng dẫn sự thực hiện của liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse), nếu cần thiết ”, GS Aramengo đã phàn nàn như vậy.

Những kỹ thuật nội huyết quản (techniques endovasculaires) khác đang được đánh giá, như lấy bỏ huyết khối (thrombectomie) nhằm loại bỏ cục máu đông, với những kết quả ngoạn mục đầu tiên. Những thuốc bảo vệ thần kinh (médicaments neuroprotecteurs) cũng đang được thử nghiệm.
(LE FIGARO 26/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 71 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/4/2008 )

1/ LÀM GIẢM TÀN TẬT DO MỘT CƠN ĐỘT QỤY

Sự nhanh chóng xử lý điều trị tai biến mạch máu não ở mỗi giai đoạn có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và nguy cơ bị tàn tật. CHU Dijon vừa chứng minh điều đó.

Trong vòng 2 năm, Trung tâm bệnh viện đại học này đã có khả năng làm giảm tỷ lệ tử vong và số những người bị tàn tật sau một tai biến mạch máu não, bằng cách xử lý từng giai đoạn, từ khâu bác sĩ gia đình đến khâu nhân viên khiêng cáng, nhằm cải thiện sự nhanh chóng trong điều trị. Kinh nghiệm này là một đối tượng của một bài báo khoa học, được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ Stroke.

Mỗi năm, ở Pháp có 150.000 người bị tai biến mạch máu não, với các yếu tố làm dễ như tuổi tác, bệnh cao huyết áp, chứng nghiện thuốc lá, tăng cholestérol huyết và bệnh đái đường. Tai biến mạch máu não là nguyên nhân đứng đầu gây tàn tật mắc phải. Trong 80% các trường hợp, tai biến mạch máu não là do một động mạch của não bộ bị bít tắc bởi một huyết khối (thrombose) (một cục máu đông). Vào cuối những năm 1990, một thuốc làm tan sợi huyết (médicament fibrinolytique) đã được hiệu chính.Thuốc này, lúc cho bằng đường tĩnh mạch, có thể góp phần làm tan cục máu đông.

CUỘC CHẠY ĐUA VỚI THỜI GIAN

Những thử nghiệm lâm sàng đã phát hiện tính hiệu quả không thể tranh cãi được trong sự giảm tỷ lệ tử vong và mức độ tàn tật, với điều kiện là thuốc làm tan sợi huyết được cho dưới 3 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên. Bệnh nhân phải dưới 80 tuổi, không ở trong tình trạng hôn mê và dĩ nhiên sự thiếu máu cục bộ não (ischémie cérébrale) phải được xác nhận bằng chụp X quang. Số bệnh nhân được hưởng một phép điều trị tiên tiến như thế vẫn còn ít ở Pháp, vì lẽ thời hạn thuốc có thể được cho là quá ngắn.

Tháng giêng 2006, giáo sư Maurice Giroud, trưởng khoa bệnh lý mạch máu-thần kinh, đi từ điều chứng thực rằng số những trường hợp dùng liệu pháp làm tan sợi huyết (fibrinolyse) để điều trị tai biến mạch máu não là quá thấp, do sự chậm trễ trong xử trí điều trị, nên đã tổ chức một khóa đào tạo trong 3 tháng nhằm vào các đối tượng là các người chủ chốt có liên quan, như các bác sĩ gia đình, các nhân viên điều phối của Samu, các nhân viên khiêng cáng, các y tá làm việc ở phòng cấp cứu, các nhân viên phòng xét nghiệm, các thầy thuốc quang tuyến…Mục tiêu là, ngay sau khi nhận cú điện thoại của một người bị một tai biến mạch máu não đột ngột, các khâu vận chuyển, chẩn đoán và điều trị phải được thiết lập không được làm mất một giây phút nào.

“Thí dụ chúng tôi phải hiểu các danh từ được sử dụng bởi các bệnh nhân hay các người thân của họ để mô tả bệnh tai biến mạch máu não (ông ta không có thể nói nữa, ông ta bại liệt, ông ta kêu van đau đầu) để cho nhân viên y tá phòng cấp cứu đôi khi tiếp nhận trực tiếp bệnh nhân mà không phải qua khâu vận chuyển y tế, hoặc có khả năng nghi ngờ một tai biến mạch máu não và hành động nhanh chóng, giáo sư Maurice Giroud đã giải thích như vậy. Chúng tôi đã gặp gỡ các nhân viên khiêng cáng, một trong những mắc xích có thể làm chậm trễ trong việc mang các bệnh nhân đến những đơn vị điều trị mạch máu[*] thần kinh (unités de soins neuro-vasculaires), để giải thích cho họ tầm quan trọng của một thái độ xử trí điều trị nhanh chóng”.

Cuối năm 2007, sự đánh giá một hành động xử trí như thế đã được thực hiện và cho thấy rằng các thời hạn can thiệp cho một bệnh nhân bị tai biến mạch máu não đã giảm đi đáng kể. Tỷ lệ chụp scanner được thực hiện trong 3 giờ đầu sau những triệu chứng đầu tiên đã gia tăng từ 46% lên 83%, thời hạn từ khi bệnh nhân đến phòng cấp cứu đến khi được chụp X quang đã giảm từ 87 phút xuống còn 37 phút, thời hạn từ khi bệnh nhân đến cho đến lúc có được kết quả xét nghiệm đã giảm từ 70 phút xuống còn 32 phút. Số bệnh nhân được nhận liệu pháp tan sợi huyết (fibrinolyse) tăng lên gấp 3. Tỷ lệ tử vong ở bệnh viện đã giảm từ 12% năm 2006 xuống còn 9% năm 2007 và nhất là tỷ lệ bệnh nhân bị tàn tật sau một tai biến mạch máu não đã giảm từ 60% năm 2006 xuống còn 40% năm 2007. “Hai yếu tố quan trọng trong trường hợp tai biến mạch máu não là sự can thiệp nhanh chóng và sự nhập viện trong một đơn vị mạch máu-thần kinh cho phép làm giảm tỷ lệ tử vong và nguy cơ bị tàn tật”, giáo sư Giroud đã nói thêm như thế.

Vào tháng 3 năm 2007, một bản thông tri buộc tất cả các trung tâm bệnh viện, thành lập một đơn vị điều trị mạch máu-thần kinh (unité de soins neurovasculaires). Từ nay, tất cả các Trung tâm bệnh viện đại học (CHU) đều có những đơn vị này, nhưng còn cần phải thực hiện nhiều điều để cho tất cả các bệnh viện toàn khoa cũng sẽ có những đơn vị điều trị như thế bởi vì các bệnh viện toàn khoa là nơi tiếp nhận bộ phận quan trọng nhất các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Thí dụ của Dijon chứng tỏ rằng chỉ cần một ít thiện chí, chúng ta có thể thắng được cuộc chạy đua với thời gian đôi khi được diễn ra trong trường hợp tai biến mạch máu não.
(LE FIGARO 26/3/2008)



5/ CUỘC CHẠY ĐUA THUA CUỘC CỦA TINH TRÙNG BẤT LỰC.

Dầu nguyên nhân là gì đi nữa, nhưng vấn đề vô sinh đang gia tăng : 15 đến 20% các cặp vợ cồng ngày nay kinh qua mối lo âu thuộc loại này. May mắn thay, các kỹ thuật thụ thai nhân tạo (procréation assistée) đã được hiệu chính, mang lại một giải pháp phần nào, vì lẽ 2% các trẻ em ngày nay là kết quả của những kỹ thuật như thế. Như là, sự thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro), làm thụ tinh ngoài tử cung, các noãn bào (ovules) và các tinh trùng rồi sau đó đưa vào trở lại để được định sào trong tử cung. Hoặc là thụ thai bằng tiêm dưới hiển vi (fécondation par micro-injection), trong đó người ta tiêm một cách trực tiếp, nhờ một micro-pipette, tinh trùng vào trong noãn bào. Kỹ thuật này được đặc biệt sử dụng đối với những trường hợp vô sinh nam, khi có số lượng tinh trùng quá ít.

Nhưng điều gì đã khiến cho vài tinh trùng thắng cuộc chạy đua ? Làm sao tái tạo sự chọn lọc này ? Các nhóm nghiên cứu người Pháp có lẽ đã tìm ra chìa khóa : họ vừa cho thấy, nơi các con chuột, sự hiện hữu của một cơ chế cho phép loại bỏ một nhóm quần thể các con tinh trùng có những bất thường trên các lipides cấu tạo màng tế bào plasmique của chúng. Thật vậy, sau khi đi vào trong đường sinh dục nữ, vài tinh trùng sẽ thả ra, trong qua trình thành thục của chúng, một enzyme, được gọi là “ phospholipase A2 ”. Men này phá hủy cái mũ trùm (capuchon), được gọi là thể ngọn (acrosome), bao quanh đầu tinh trùng, khi các tinh trùng bị hỏng. Thế mà, không có thể ngọn này, không thể có sự phóng thích các men cho phép kết hợp tinh trùng với noãn bào. Các tinh trùng bất lực do đó bị làm trở thành vô sinh và bị tách khỏi “ cuộc đua đến sự thụ tinh ”
(la course à la fécondation).

MỘT SỰ CHỌN LỌC “ TỰ NHIÊN ” ĐƯỢC TÁI TẠO.

Các nhà nghiên cứu, công bố các kết quả trong Journal of clinical investigation, đã thực hiện những thí nghiệm cho thấy rằng sự vắng mặt của phospholipase làm giảm tỷ lệ thụ tinh và làm biến đổi sự phát triển của phôi thai. Ngược lại, nếu ta thêm một nồng độ mạnh men tổng hợp cho một quần thể các tinh trùng, ta quan sát thấy một sự gia tăng tỷ lệ thụ tinh 30 đến 100%. Vậy enzyme này cho phép loại bỏ một phần lớn các tinh trùng bị hỏng. Nếu những công trình này được tiến hành nơi người với những kết quả tương tự, sự khám phá này có thể cho phép cải thiện kỹ thuật thụ thái nhân tạo (procréation médicalement assistée) bằng cách chọn lọc tốt hơn những tình trùng cho cuộc chạy đua cho khả năng sinh sản (la course à la fécondité).
(LE SOIR 27/4/2010)

6/ CÁC NANOPARTICULE TẤN CÔNG UNG THƯ NƠI NGƯỜI.

Lần đầu tiên, các nanoparticule đã có thể mang một loại thuốc trực tiếp đến tận các khối u, nơi người, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã loan báo như vậy trong tạp chí Nature. Nhiều bệnh nhân bị một u hắc tố ác tính (mélanome) không chữa được, đã nhận những mũi tiêm tĩnh mạch các phần tử bé xíu đường kính 70 nanomètre, được cấu tạo từ một loại đường, cyclodextrine. Những nanoparticule này mang và bảo vệ thuốc, một ARN interférent. Trên bề mặt của chúng cũng có một protéine mà các tế bào ung thư rất thèm muốn, transferrine. Các nhà nghiên cứu, được điều khiển bởi Mark E.Davis của Caltech (Pasadena), đã chứng thực rằng các nanoparticule đúng là đã được hấp thụ bởi các tế bào ung thư và đã có thể phóng thích ADN interférent bé nhỏ của chúng. Khi đó ADN interférent đã phá hủy đích mà nó nhắm đến, ADN messager của một enzyme sinh tử đối với các tế bào ung thư, ribonucléotide réductase. Những công trình này, cũng là lần đầu tiên, mang lại bằng cớ rằng một ADN interférent có thể hiệu quả nơi người, như vậy mở ra một thế giới trị liệu mới đối với các nhà nghiên cứu.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2010)

7/ BỆNH HƯ KHỚP HÁNG: NHỮNG BƯỚC TIẾN VỀ MẶT NGHIÊN CỨU.

BS NATHALIE SZAPIRO-MANOUKIAN

Bệnh hư khớp (arthrose) không phải chỉ đặc hiệu cho khớp háng(hư khớp háng : coxarthrose). Tất cả các khớp đều có thể bị liên hệ, bắt đầu bằng những khớp đã bị đòi hỏi sử dụng nhiều, trong công việc hay trong đời sống hàng ngày : các khớp gối (gonarthrose : hư khớp gối), các ngón tay (hư khớp ngón tay) và ngón cái (rhizarthrose), cũng như cột sống và đặc biệt hơn là thắt lưng (lombaire). 6 triệu người Pháp bị bệnh hư khớp. “ Từ lâu người ta đã xem bệnh hư khớp như là một định mệnh liên kết với tuổi tác, trong khi đó là một bệnh nói riêng, GS Francis Berenbaum, trưởng khoa khoa khớp (bệnh viện Saint-Antoine, Paris) đã giải thích như vậy. Nói một cách khác, tất cả các lão niên không phải ai cũng bị hư khớp. Bởi vì, để một hư khớp phát triển, sụn phải bị thoái biến. Điều đó xảy ra dưới tác dụng của các men phá hủy (enzymes destructrices) được sản xuất bởi chính sụn, nhưng không phải chỉ có vậy mà thôi. Các tế bào xương và màng hoạt dịch (membrane synoviale) (bao phủ khớp) tham gia một cách gián tiếp vào sự thoái biến này. Ngoài ra chính theo hướng này mà sự nghiên cứu phát triển. ”

Một hư khớp háng (coxarthrose) bắt đầu bằng đau đớn khi cử động, đôi khi đến độ bệnh nhân phải đi cà nhắc, đó là một dấu hiệu cần xem trọng. Bởi vì nếu ta không làm gì hết và để cho tình hình thoái biến đi, ta sẽ phải thu giảm hoạt động vật lý của mình. Ta sẽ mất cơ. Và như thế lại càng làm cho tình hình trở thành khó khăn hơn. Chỉ cần thăm khám thầy thuốc là có thể cho phép chẩn đoán. Về chụp X quang hai khớp háng (để so sánh), hình ảnh không nhất thiết tương ứng với lâm sàng. Như thế, ta có thể rất là đau đớn và có một hình chụp quang tuyến gần như bình thường, hay, ngược lại, không đau đớn gì cả mặc dầu một hư khớp trên hình quang tuyến rất là tiến triển.

Vì lẽ người thầy thuốc điều trị một bệnh nhân chứ không phải điều trị một phim chụp X quang, nên trước hết triệu chứng của bệnh nhân mới là đáng kể. “ Người thầy thuốc bắt đầu bằng cách cho những điều trị toàn thân có tác dụng nhanh : chủ yếu là paracétamol và các thuốc kháng viêm không phải stéroide. Khi những thuốc này không chịu được, hoặc khi tác dụng không được đầy đủ, ta có thể ghi toa những điều trị có tác dụng chậm : diacéréine, glucosamine, chondroitine sulfate, insaponifiables d’avocat et de soja, tất cả được dung nạp rất tốt. Sau hết có thể nhờ đến các mũi tiêm tại chỗ (tiêm ngấm : infiltrations). Vấn đề duy nhất, đối với các tiêm ngấm này, đó là chúng phải được thực hiện dưới sự kiểm soát quang tuyến. Chính vì thế không có thể đề nghị hơn hai mũi corticoides mỗi năm. Còn về các mũi tiêm acide hyaluronique, vốn cho những kết quả tốt đối với hư khớp gối, nhưng chúng không được cho phép đưa ra thị trường trong chỉ định này ”, GS Berenbaum đã giải thích như vậy.

Từ chủ nghĩa định mệnh của những năm 1980, chúng ta đã chuyển qua thời đại của các liệu pháp nhắm đích (thérapies ciblées). “ Vì lẽ rối loạn của các tế bào xương xảy ra do sự gia tốc của quá trình thoái hóa của sụn, nên vài người đã có ý nghĩ thử nghiệm những tác dụng của một loại thuốc dùng cho bệnh loãng xương (ranélate de strontium) tvào bệnh hư khớp. Hiện nay, công trình nghiên cứu tiến bước nhất nhằm vào những bệnh nhân bị hư khớp gối, thường xảy ra nhất, với những kết quả được dự kiến vào năm 2011, nhưng hiển nhiên là nếu ta chứng tỏ được rằng điều trị này cho phép vô hiệu hóa sự thoái hóa của sụn, thì những công trình nghiên cứu khác sẽ được khởi động để kiểm chứng lợi ích của nó trong hư khớp háng ”, GS Berenbaum đã nói tiếp như vậy.

SỤN NHÂN TẠO.

Những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành mà những kết quả rất được chờ đợi : tiêm vào trong khớp một yếu tố tăng trưởng với hy vọng làm ngưng quá trình thoái hóa sụn. Hay lại nữa, sự nhờ đến các chất anti-TNF, các thuốc kháng viêm mạnh đã được kê toa trong viêm đa khớp dạng thấp. Sự làm giảm đau đớn cũng không kém phần quan trọng, với một loại thuốc mới rất mạnh, tanezumab, đang trong giai đoạn thử nghiệm (sẽ có mặt trên thị trường từ nay đến 2013).

Về lâu dài hơn, luôn luôn có hy vọng thay thế sụn già nua nhưng còn tốt bị hao mòn của mình bằng một khớp mới nhưng không phải là một khớp giả. Chính vì thế vài nhà nghiên cứu đang làm việc cật lực cho một sụn nhân tạo (cartilage artificiel). Chúng ta sẽ có được sụn nhân tạo này bằng cách đặt các tế bào gốc vào trong một cái khuôn nhân tạo (matrice artificielle) 3 kích thước, hoặc bằng cách lấy những tế bào của sụn trong một khớp ít bị sức ép của trọng lượng, để cấy chúng trong một gel trước khi đưa chúng vào lại nơi cần điều trị.

Vậy có thể rằng, nhờ liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire), một ngày nào đó, ta có khả năng thay thế một sụn bị hỏng trước khi nó bị hủy hoại. Nhưng nếu có ai đó phải được hưởng sụn nhân tạo này, thì đó có lẽ là những người trong lứa tuổi 40 hôm nay...nghĩa là từ nay đến khoảng 15 năm nữa.
(LE FIGARO 19/4/2010)

8/ CHỤP HÌNH ẢNH VÀ BỆNH TỰ KỶ.

Nơi những trẻ bị bệnh tự kỷ (autisme), các âm thanh được não bộ xử lý chậm 11 giây. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi magnéto-encéphalographie, so sánh 25 đứa bé bị bệnh tự kỷ với 17 đứa bé có sự phát triển bình thường. Sự chậm này là do một khiếm khuyết trong vỏ bọc chất trắng bảo vệ các neurone. Các tác giả hy vọng rằng loại đo lường này sẽ được sử dụng trong tương lai để chẩn đoán bệnh tự kỷ.
(LA RECHERCHE 5/2010)

9/ HEN PHẾ QUẢN TRẺ EM NHỎ : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI.

GS Brigitte Fauroux, thầy thuốc chuyên khoa Phổi nhi đồng của bệnh viện Trousseau, giải thích tiến bộ do việc xuất hiện một thuốc kháng viêm không phải corticoides và được dung nạp tốt.

Hỏi : Hen phế quân nơi trẻ em nhỏ có thường xảy ra không ?
GS Brigitte Fauroux : Khoảng 30% các nhũ nhi đã có ít nhất một đợt khó thở với ho và thở rít trước năm 3 tuổi. Nhưng ta chỉ nói là hen phế quản (asthme) khi những em bé này đã kinh qua ít nhất 3 đợt của các cơn này (trung bình nơi 10% các nhũ nhi). Kịch bản quen thuộc : sau một nhiễm trùng virus của phạm vi tai mũi họng (cảm cúm), đứa trẻ phát triển một viêm tiểu phế quản (bronchiolite) ; chứng viêm tiểu phế quản này có thể vẫn đơn độc (chỉ xảy ra một lần)...hay tái phát. Do đó đôi khi có vài sự khó khăn trong việc xác lập chẩn đoán. Cũng không nên quên rằng những bệnh khác cũng có thể gây nên cùng những triệu chứng này (dị dạng của khí quản hay của những phế quản). Một phim X quang phổi là cần thiết nơi mọi nhũ nhi “ thở rít ”(sifflements).

Hỏi : Trong trường hợp sai lầm chẩn đoán, những nguy cơ là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Đứa trẻ có thể phát triển một cơn hen phế quản đôi khi nghiêm trọng mỗi lần bị cảm cúm. Trong vài trường hợp, một sự nhập viện có thể là cần thiết để cho oxy. May mắn thay, hai phần ba trong số những em bé nhỏ này lành bệnh giữa 2 và 5 tuổi bởi vì bệnh hen phế quản của chúng chủ yếu gây nên bởi virus ” (viro-induit), nghĩa là được làm phát khởi bởi các nhiễm trung do siêu vi gây nên. 1/3 còn lại, nói chung có một thể địa gia đình dị ứng và/hoặc hen phế quản (một cách di truyền), nguy cơ bị các cơn có thể tồn tại mãi đến tuổi trưởng thành.

Hỏi : Đến nay, điều trị cổ điển của hen phế quả là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Ta bắt đầu điều trị cơn hen phế quản với các thuốc dưới dạng spray, được gọi là “ những thuốc giãn phế quản ” (bronchodilatateur), có tác dụng làm giãn cơ phế quản. Nếu các cơn lặp đi lặp lại, khi đó ta thực hiện một điều trị duy trì trên cơ sở corticoides, nhằm làm giảm dần dần sự phản ứng quá mức của các phế quản. Các spray được cho nhờ một máy hít (inhalateur), đôi khi khó sử dụng nơi các em bé. Đó là một điều trị hàng ngày và dài lâu.

Hỏi : Những kết quả thu được với những điều trị này là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Trong những trường hợp các cơn nghiêm trọng và thường xuyên, ta làm giảm được tính phản ứng của các phế quản, điều này được thể hiện bởi một sự giảm tần số và cường độ của các triệu chứng. Những điều trị duy trì không cho phép kiểm soát được bệnh 100%. Mặt khác, sự hấp thụ corticoides (ngay cả được thu giảm bằng đường phổi) có nguy cơ, nơi vài trẻ em, gây nên những tác dụng phụ. Thường xảy ra nhất là một sự chậm tăng trưởng.

Hỏi : Điều trị mới nhất không có những tác dụng có hại này là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Đó là một loại thuốc kháng viêm mới không phải corticoide, và tác dụng bằng cách phong bế tác dụng của các leucotriène(thuốc có một vai trò được chứng minh trong hen phế quản và không nhạy cảm với các corticoides ). Thuốc này được cho một lần mỗi ngày, bằng đường miệng, dưới dạng các granulé nhỏ. Người ta kê toa nó trong hai chỉ định. 1. Nơi những trẻ từ 6 tháng đến 2 năm mà ta không kiểm soát đầy đủ được căn bệnh với những liều lượng cổ điển corticoides. “ Antileucotriènes ” khi đó được thêm bổ sung vào điều trị thông thường để làm gia tăng tính hiệu quả của nó. 2. Nơi các trẻ từ 2 đến 5 tuổi, không chịu được điều trị quy ước bằng corticoides, đặc biệt là khi có một sự chậm tăng trưởng.

Hỏi : Những ưu điểm của những antileucotriène này là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Đây là lần đầu tiên chúng ta hưởng được điều trị kháng viêm không có corticoides đối với hen phế quản của các em bé xíu. Hiệu quả của nó đã được chứng mình bởi nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, trong đó có công trình Previa được thực hiện trên 549 trẻ em hen phế quản từ 2 đến 5 tuổi. Các kết quả thật hùng hồn vì lẽ số các cơn trung bình được chuyển từ 3 còn 2 mỗi năm đối với mỗi em bé. Ưu điểm khác : đường cho thuốc dễ thực hiện và thuốc được dung nạp tốt.
(PARIS MATCH 6/5-12/5/2010)

10/ CÁC THÓI QUEN XẤU LÀM MAU CHẾT SỚM.

Hút thuốc, uống quá nhiều rượu, không tập thể dục và không ăn khá đủ trái cây và rau xanh làm rút ngắn cuộc đời 12 năm.

Người ta biết rằng hoạt động vật lý, chế độ ăn uống, nghiện thuốc lá và sự tiêu thụ rượu được liên kết với tỷ lệ tử vong. Các nhà nghiên cứu Na Uy và Anh đã phân tích ảnh hưởng riêng rẻ và phối hợp của những yếu tố nguy cơ này lên tỷ lệ tử vong.

Elisabeth Kvaavik (khoa dinh dưỡng, bệnh viện Oslo) và các đồng nghiệp đã thực hiện một nghiên cứu bao gồm 4.886 người Anh hơn 18 tuổi (tuổi trung bình 44), được hỏi giữa năm 1984 và 1985. Đối với mỗi người được hỏi, người ta đã tính một điểm số hành vi sức khoẻ (score de comportement de santé) bằng cách cho 1 điểm đối với mọi thói quen xấu : hút thuốc, tiêu thụ trái cây và rau xanh dưới 3 lần mỗi ngày, tập thể đục dưới 2 giờ mỗi tuần, và tiêu thụ mỗi tuần hơn 14 đơn vị alcool (hoặc 2 ly mỗi ngày, đối với phụ nữ) và hơn 21 đơn vị (hoặc 3 ly mỗi ngày đối với đàn ông). Các điểm số do đó biến thiên từ 0 đến 4.

Suốt trong thời gian theo dõi 20 năm, 1.080 người tham dự bị chết, 431 người bị các bệnh tim mạch, 318 bị ung thư và 331 bị những nguyên nhân khác. Các điểm số (score) biến thiên từ 1 đến 4, được thể hiện bởi một sự gia tăng nguy cơ tử vong toàn bộ. Hiệu quả của một sự phối hợp của những thói quen xấu của đời sống là mạnh hơn đối với tỷ lệ tử vong vì ung thư. Như thế, hút thuốc, uống quá nhiều rượu, không tập thể dục đầy đủ và ăn không đủ trái cây và rau xanh nhân lên gấp ba nguy cơ tử vong vì một bệnh tim mạch hay một bệnh ung thư. Một sự phối hợp tai hại nhân gấp 4 xác suất chết vì những nguyên nhân khác.

Nói một cách khác, nguy cơ chung tử vong đối với những người tích tụ tất cả những thói quen xấu này tương đương với 12 năm già hơn so với những người cùng lứa tuổi nhưng không có một yếu tố nguy cơ nào trong số những yếu tố này.

Đối với các tác giả, tác dụng phối hợp của những thói quen xấu trong đời sống lên tỷ lệ tử vong là quan trọng và cho thấy rằng những sự cải thiện khiêm tốn, nhưng liên tục của chế độ ăn uống và của lối sống có thể có những lợi ích đáng kể lên sức khoẻ cộng đồng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (10/5/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#50 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 17 May 2010 - 07:23 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ ALZHEIMER : MỘT THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI Y KHOA.

135,6 triệu người bệnh trên thế giới, trong đó 1 triệu ở Pháp.

NEUROLOGIE. Nguyên nhân đầu tiên gây lệ thuộc và nguyên nhân đầu tiên của chi phí y tế của các lão niên, bệnh Alzheimer, dầu có thường xảy ra như thế nào đi nữa, không có liên hệ gì với sự lão hóa bình thường của não bộ. Mặc dầu bệnh ảnh hưởng lên khoảng 20% những người trên 80 tuổi, nhưng hơn ¾ những người trên 80 tuổi không có một triệu chứng nào, GS Bruno Dubois, giám đốc của Viện trí nhớ và bệnh Alzheimer (hopital La Pitié-Salpetrière, Paris) tương lai đã nhắc lại như vậy. Vậy đó là một bằng chứng rằng bệnh Alzheimer là một bệnh riêng biệt. Một căn bệnh xóa đi những kỹ niệm mới và làm biến đổi sự phán đoán. Do đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng khả năng tự trị và làm phức tạp đời sống của gia đình.”

Ngoại trừ 0,3% các bệnh nhân có một thể sớm của bệnh do một biến dị di truyền, ta vẫn luôn luôn không biết tại sao bệnh Alzheimer xảy ra. Nhưng ít nhất người ta biết rằng sự tích tụ các protéine bất thường trong não bộ là cơ sở của bệnh này. Một vài trong những protéine này, được gọi là “ bêta-amyloides ”, tích tụ dưới dạng các mảng (plaques) giữa các tế bào của não bộ, ngăn cản các neurone, đặc biệt là các neurone có can dự trong trí nhớ, liên lạc bình thường với nhau. Những protéine khác (các protéine tau), ở bên trong các tế bào, hiện diện dưới dạng các sợi (filaments) dẫn đến sự ngạt của các neurone.

“ Chính vì thế, mọi công cuộc nghiên cứu hiện nay đều tập trung vào những phương tiện nhằm phá hủy các mảng này : trong số khoảng 20 loại thuốc hiện đang được trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm có lẽ sẽ xuất hiện trên thị trường những loại thuốc của ngày mai. Chúng ta cũng tiến hành một công trình nghiên cứu nhằm chống lại các chất ứ đọng này. Những kết quả sẽ được biết trong 3 năm nữa ”, GS Dubois đã nêu lên nhận xét như vậy. Sự nghiên cứu cũng quan tâm đến phương tiện để loại bỏ các sợi của protéine tau : đó là một hướng mới được thăm dò, đặc biệt (nhưng không chỉ) bởi GS Braulieu và nhóm nghiên cứu của ông (Inserm). Mục tiêu chung của những thuốc của tương lai này : ngăn cản sự chết của những neurone quý báu.

CÁC NĂNG LƯỢNG ĐƯỢC HUY ĐỘNG.

Đó là tất cả sự nghịch lý của bệnh Alzheimer : mặc dầu cuộc chạy đua tìm những điều trị mới có tiến bộ tốt, nhưng người ta không biết chẩn đoán tốt bệnh này, ngoại trừ sau khi chết, nhưng dĩ nhiên đó không phải là giải pháp. Người ta cũng không biết làm sao phòng ngừa nó, Cũng không biết ngay cả làm sao giải thích nó !

Thật vậy, vì thiếu nghiên cứu được tổ chức tốt cho đến nay, nên người ta thiếu những dữ kiện đáng tin cậy, và do đó không có những câu trả lời cho những câu hỏi này : có những dấu hiệu báo trước của căn bệnh hay không(trước khi xuất hiện những rối loạn về trí nhớ gây trở ngại) và vào lứa tuổi nào chúng xuất hiện ? Có một sự phù hợp giữa các triệu chứng được mô tả bởi các bệnh nhân và những thương tổn được quan sát trong não bộ của chúng ?

Những câu hỏi chủ yếu nếu ta muốn một ngày nào đó thắng căn bệnh này. Điểm dương tính : tất cả các năng lượng sau cùng được huy động. “ Đất nước chúng ta mong muốn trở thành một pôle d’excellence trong lãnh vực nghiên cứu bệnh Alzheimer. Chính vì thế, Tổ chức hợp tác khoa học kế hoạch Alzheimer đã được thành lập trong bối cảnh kế hoạch chính phủ Alzheimer 2008-2012. Tổ chức này đóng một vai trò “ siêu điều hành ” (supercoordinateur), bằng cách kết hợp tất cả các tác nhân của nghiên cứu này, dầu công hay tư ”, GS Alexis Brice, giám đốc của Viện thần kinh-khoa học (Institut de neurosciences), phụ trách những đường hướng chiến lược quốc gia, đã giải thích như vậy.
(LE FIGARO 3/5/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ CÀ PHÊ VÀ THAI NGHÉN

Uống caféine trong lúc có thai có ảnh hưởng lên sự tăng trưởng thai nhi và sự phát triển hay không ? Rachel Bakker và các đồng nghiệp của ông ở Erasmus Medical Center ở Rotterdam (Hòa Lan) đã đánh giá sự tiêu thụ caféine (có trong cà phê và trà) của các bà mẹ và đã đo lường sự tăng trưởng thai nhi ở mỗi tam cá nguyệt của thai nghén. 7.346 phụ nữ có thai tham gia vào một công trình nghiên cứu ở Hòa Lan giữa năm 2001 và 2005.

Các tác giả đã không quan sát thấy một mối liên kết nào giữa việc hấp thụ caféine và chu vi sọ thai nhi (périmètre cranien fœtal) hay trọng lượng thai nhi được ước tính theo mỗi tam cá nguyệt thai kỳ. Một sự tiêu thụ mạnh caféine được liên kết, vào tam các nguyệt đầu tiên, với một chiều dài đỉnh đầu- xương cụt (vertex-coccyx) nhỏ hơn, vào tam cả nguyệt thứ hai và thứ ba, một chiều dài của xương đùi bé hơn và vào lúc sinh, một tầm vóc thấp hơn. Các đứa bé có mẹ uống 6 đơn vị caféine hay nhiều hơn mỗi ngày có một nguy cơ gia tăng sinh ra đời nhỏ con so với tuổi thai nghén.

“ Những kết quả của chúng tôi gợi ý rằng sự tiêu thụ mỗi ngày 6 đơn vị caféine hay nhiều hơn trong thai kỳ được liên kết với những rối loạn tăng trưởng về kích thước của thai nhi. Sự tiếp xúc với caféine có thể làm hại ưu tiên sự tăng trưởng của khung xương thai nhi. Những công trình nghiên cứu khác, trong dân chúng không phải châu Âu, sẽ là cần thiết để đánh giá mối liên kết này cũng như những hậu quả sau khi sinh ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 7/5/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 61 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/1/2008 )

7/ CAFFEINE CÓ LIÊN HỆ TRONG VIỆC LÀM SẨY THAI

Uống quá nhiều cà phê trong thời kỳ thai nghén có thể làm gia tăng nguy cơ sẩy thai, một công trình nghiên cứu mới đã phát biểu như vậy, và các tác giả gợi ý rằng các phụ nữ có thai có thể cần giảm bớt lượng cà phê uống vào hoặc phải từ bỏ toàn bộ.

Nhiều Bác sĩ chuyên khoa Sản đã khuyên các phụ nữ hạn chế caffeine, mặc dầu vấn đề này đã gây nhiều tranh cãi, với các công trình nghiên cứu mâu thuẫn nhau, các dữ kiện không rõ ràng và những lời khuyến nghị khác nhau trong nhiều năm qua.

Công trình nghiên cứu mới, được công bố hôm thứ hai trên tờ Journal of Obstetrics and Gynecology, nhận thấy rằng các phụ nữ có thai uống 200 mg caffeine hoặc hơn mỗi ngày (lượng được chứa trong 10 ounces cà phê hoặc 25 ounces trà), có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ sẩy thai của họ. 10 ounces tương đương với khoảng 300 ml.

Các phụ nữ có thai nên từ bỏ caffeine trong ít nhất 3-4 tháng đầu của thời kỳ thai nghén, BS De-Kun Li, tác giả lãnh đạo công trình, một nhà dịch tễ học về sinh sản thuộc Kaiser Permanente Division of Research, ở Oakland, California, đã phát biểu như vậy. “Nếu vì bất cứ lý do nào đó, họ thật sự không thể từ bỏ được, thì nên cắt giảm chỉ còn một tách hoặc chuyển sang decaf (cà phê không có caffeine)”, BS Li nói như vậy. “Ngừng uống caffeine thật sự không có một tác dụng âm tính nào”

Các nhóm chuyên môn nghề nghiệp như American College of Obstetricians and Gynecologists và American Society for Reproductive Medicine đã không có lập trường chính thức về caffeine, các đại diện đã nói như vậy.

Hôm thứ sáu, Website của March of Dimes đã nói rằng hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng lượng caffeine được chứa trong 8-16 ounces cà phê uống mỗi ngày là an toàn. Website ghi nhận rằng vài công trình nghiên cứu đã liên kết việc tiêu thụ caffeine với liều lượng cao hơn với sự sẩy thai và với trọng lượng lúc sinh thấp, nhưng web site phát biểu: “Tuy nhiên không có bằng cớ vững chắc cho rằng caffeine gây nên những vấn đề này. Cho đến khi được biết rõ nhiều hơn, các phụ nữ tốt hơn nên giới hạn lượng caffeine uống vào trong thời kỳ thai nghén”. Bây giờ đây, sau khi đã duyệt lại công trình nghiên cứu mới, March of Dimes dự kiến thay đổi thông điệp của mình, khuyên các phụ nữ đang có thai hoặc đang cố thụ thai, giới hạn việc tiêu thụ caffeine hàng ngày còn 200 mg hoặc ít hơn, Janis Biermann đã nói như vậy.

Công trình nghiên cứu của Li bao gồm 1.063 phụ nữ có thai được phỏng vấn một lần về lượng caffeine được tiêu thụ. Vào lúc phỏng vấn, thời gian thai nghén trung bình là 71 ngày. Nhưng 102 người đã sẩy thai (không đáng ngạc nhiên vì hầu hết các trường hợp sẩy thai xảy ra rất sớm trong thời kỳ thai nghén). Sau đó thêm 70 phụ nữ nữa bị sẩy thai. Như vậy tỷ lệ sẩy thai toàn thể là 16%.

Trong số 264 phụ nữ nói là họ đã không dùng caffeine, 12,5% bị sẩy thai. Nhưng tỷ lệ sẩy thai là 24,5 % nơi 164 phụ nữ đã tiêu thụ 200mg caffeine hoặc hơn mỗi ngày. Nguy cơ sẩy thai gia tăng được liên kết với chính caffeine chứ không phải với các yếu tố nguy cơ đã được biết như tuổi của người mẹ hoặc thói quen hút thuốc, các nhà nghiên cứu đã nói như vậy.

Li nói rằng công trình nghiên cứu đã trả lời một câu hỏi quan trọng mà nghiên cứu trước đây vẫn để bỏ ngõ. Các phụ nữ bị chứng nôn mửa vào buổi sáng (morning sickness) ít bị sẩy thai hơn là những phụ nữ không có chứng khó ở này, có lẽ bởi vì những thay đổi về hormone là nguyên nhân của chứng nôn mửa này, đã góp phần cho sự phát triển của một thai nghén lành mạnh. Nhưng các nhà nghiên cứu đã nói rằng chứng nôn mửa vào buổi sáng có thể dẫn đến những kết quả làm sai lạc trong công trình nghiên cứu caffeine.

Những nhà nghiên cứu này lý luận rằng bởi vì cảm thấy khó ở, vài phụ nữ có thể đã uống ít caffeine. Khuynh hướng này có thể làm cho có cảm tưởng rằng sự việc các phụ nữ có vẻ ít bị sẩy thai hơn là bởi vì họ đã tránh tiêu thụ caffeine.

Li nói rằng ông ta và các đồng nghiệp đã cẩn thận phân tích các dữ kiện và đã xác định rằng nguy cơ làm sẩy thai do caffeine là thật sự và không thể được giải thích bởi các tỷ lệ khác nhau trong chứng nôn mửa buổi sáng.

BS Carolyn Westhoff, một giáo sư sản phụ khoa và dịch tể học, thuộc Columbia University Medical Center, Nữu Ước, đã tỏ ra dè dặt về công trình nghiên cứu. Bà ghi nhận rằng nghiên cứu hoặc giải thích sự sẩy thai là việc khó làm. Bà nói rằng hầu hết các trường hợp sẩy thai đều là do bất thường về nhiễm sắc thể, và không có bằng chứng cho rằng caffeine có thể gây nên những vấn đề đó.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 21/1/2008)


3/ CHÍNH TRONG LÚC HÁT NHỮNG NGƯỜI CÂM ĐÃ TÌM LẠI ĐƯỢC SỰ SỬ DỤNG LỜI NÓI.

Một đột qụy xảy ra ở bán cầu đại não trái có thể ảnh hưởng lên khả năng nói, nhưng không ảnh hưởng … lên khả năng hát ! Đó là thí nghiệm gây ngạc nhiên được tiến hành bởi Gottfried Schlaug, giáo sư thần kinh học của phân khoa y khoa của đại học Havard. Không thể đọc những lời của bài ca Happy Birthday to You, một trong những bệnh nhân bị câm sau một cơn đột qụy đã có thể hát lời một cách rõ ràng ngay khi một người nào đó vừa cầm tay bệnh nhân vừa đánh nhịp. “ Hiện tượng này gợi ý rằng trong não bộ có hai đường khả dĩ để phát âm các chữ : một, cổ điển, đi qua bán cầu đại não trái, tại đây là nơi của trung khu của lời nói, đường kia, căn cứ trên âm điệu của giai điệu (intonation mélodique), đi qua hoặc là hai bán cầu đại não, hoặc là bán cầu đại não phải ”, Gottfried Schlaug đã giải thích như vậy. Theo nhà thần kinh học, liệu pháp bằng âm nhạc có thể cho phép nhiều bệnh nhân bị tai biến mạch máu não phục hồi lại lời nói.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 66 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 29/2/2008 )

4/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : ÂM NHẠC CHỮA BỆNH

Âm nhạc cho phép phục hồi các năng lực sau một tai biến mạch máu não. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong báo y học Brain. Các nhà nghiên cứu của Phần Lan đã thí nghiệm những lợi ích của vài giờ âm nhạc mỗi ngày lên sự phục hồi trí nhớ ngôn từ (mémoire verbale) và sự chú ý của các bệnh nhân, nạn nhân của tai biến mạch máu não. Các bệnh nhân này đã cho thấy sự hồi phục của não bộ diễn ra tốt hơn. Khám phá này có thể có những ý nghĩa quan trọng trên thực hành lâm sàng.

« Các kết quả của chúng tôi chứng tỏ rằng việc nghe nhạc ngay trong những ngày đầu của quá trình hồi phục sau tai biến mạch máu não, mang lại một giá trị quý báu thêm vào trong sự săn sóc bệnh nhân, Teppo Sarkamo, tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy, nhất là khi những hình thức phục hồi chức năng khác thường không thể thực hiện được ở một giai đoạn hồi phục sớm như vậy ».Teppo Sarkamo đã tập trung nghiên cứu vào những bệnh nhân đã bị một cơn đột quỵ ở động mạch não trung (artère cérébrale moyenne) của bán cầu não bộ trái hoặc phải. Để thực hiện thí nghiệm, từ tháng 3 năm 2004 và tháng 5 năm 2006, Teppo Sarkamo đã làm việc với các bệnh nhân ngay lúc họ được nhập viện. « Chúng tôi nghĩ rằng điều quan trọng là bệnh nhân phải bắt đầu nghe càng nhanh càng tốt trong giai đoạn sau đột quỵ, bởi vì não bộ chịu những thay đổi rõ rệt trong những tuần và tháng đầu của thời kỳ bình phục và chúng ta biết rằng những thay đổi này có thể được khuếch đại bằng sự kích thích của môi trường ».

Hầu hết các bệnh nhân bị những vấn đề về vận động và nhận thức như là sự chú ý và trí nhớ. Các nhà nghiên cứu đã phân chia các bệnh nhân thành ba nhóm : nhóm thứ nhất nghe nhạc mỗi ngày, nhóm thứ hai nghe các chuyện kể và nhóm thứ ba không nghe gì hết .

CÁC BỆNH NHÂN MÊ NHẠC PHỤC HỒI.

3 tháng sau khi bị tai biến mạch máu não, trí nhớ ngôn từ (mémoire verbale) và khả năng thực hiện những động tác tinh thần tốt hơn nhiều nơi những bệnh nhân « mê nhạc ». Ngoài ra tinh thần của nhóm này dường như cũng được cải thiện.Theo các nhà nghiên cứu, những công trình này là đầy hứa hẹn, nhưng cần phải có những nghiên cứu khác để hiểu các cơ chế thần kinh can dự vào.

Khoảng 80% các tai biến mạch máu não xảy ra do thiếu máu cục bộ (ischémie) hoặc do giảm đột ngột tiếp vận máu vì các cục máu đông. Nếu như âm nhạc có thể giúp hồi phục, một nghiên cứu của Canada cho thấy rằng loại tai biến mạch máu não này có thể gây nên những thương tổn nghiêm trọng và thường trực trong não bộ chỉ trong vòng 3 phút.

Được công bố trong Neuroscience, các công trình này gợi ý rằng sự phòng vệ tốt nhất chống căn bệnh này, một trong những bệnh gây tử vong nhất trên thế giới, vẫn là sự phòng ngừa. Điều này nói lên tầm quan trọng của việc thay đổi lối sống bằng cách tránh thuốc lá, tránh tăng thể trọng, nghiện rượu, stress và các yếu tố nguy cơ khác.
(LE SOIR 20/2/2008)


4/ VÀO LỨA TUỔI NÀO CẦN PHẢI ĐỊNH LƯỢNG CHOLESTEROL ?

Chính vào cuối thế kỷ XIX mà các nhà bảo hiểm Hoa Kỳ đã phát minh ra y khoa tiên liệu (médecine prédictive). Trong lúc gom góp những dữ kiện của những người được bảo hiểm, các nhà dịch tễ học và các nhà thống kê của các công ty bảo hiểm lớn này đã xác lập những mô hình tiên đoán tử vong (modèle de prédiction du décès). Những mô hình tiên đoán này nhanh chóng trở nên tinh tế hơn để được áp dụng cho bệnh tim mạch. Chính như thế mà ý niệm về yếu tố nguy cơ (facteur de risque) của bệnh tim mạch đã được tạo ra.

Ở Pháp cũng như ở những nơi khác, chính 4 yếu tố nguy cơ chủ yếu giải thích hơn ¾ các biến cố động mạch vành cấp tính ; đó là thuốc lá, các dyslipidémie, cao huyết áp và bệnh đái đường. Sự tăng cholestérol-huyết thường xảy ra vì lẽ khoảng ¾ các bệnh nhân được nhập viện vì hội chứng động mạch vành cấp tính ở Pháp có một sự gia tăng của cholestérol xấu của họ.

HAI TÌNH HUỐNG PHÁT HIỆN

Vấn đề phát hiện những yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là xưa rồi và bình thường phải được áp dụng cho toàn thể những yếu tố nguy cơ có một mối liên hệ nhân quả với chứng xơ mỡ động mạch huyết quản. Sự định lượng của cholestérol và các fractions của nó được căn cứ trên một kỹ thuật sinh học đơn giản để thực hiện trên một mẫu nghiệm máu được lấy lúc nhịn đói. Hai tình huống quan trọng phát hiện cholestérol được thực hiện ở Pháp. Một mặt, thầy thuốc có thể gặp một bệnh nhiễm sắc thể thường tính trội (maladie autosomique dominante), bệnh tăng cholestérol-huyết gia đình dị hợp tử (hypercholestérolémie familiale hétérozygote). Bất thường sinh học lipit này hiện diện nơi một trên 500 trường hợp sinh ở Pháp. Sự gia tăng cholestérol-huyết hiện diện ngay lúc sinh và các trị số của cholestérol-huyết tăng cao dần dần với tuổi tác của các bệnh nhân. Đó là một bệnh di truyền hung dữ đối với các động mạch và điều trị vệ sinh-ăn uống và/hoặc thuốc men phải bắt đầu càng sớm càng tốt. Do đó, trong bệnh tăng cholestérol-huyết gia đình, sự định lượng phải được thực hiện càng sớm càng tốt nơi trẻ em, ngay khi có một cơ hội để thực hiện sự lấy máu. Việc tìm kiếm những bệnh nhân trẻ này trong dân chúng là dễ dàng vì lẽ đó là những gia đình đã có những tai biến tim mạch xảy ra sớm và có những tăng cao quan trọng của cholestérol trong huyết tương. Những trị số cholestérol toàn thể 1,80 g/l nơi trẻ em 10 tuổi được xem như là bệnh lý. Nơi những gia đình này, sự định lượng của cholestérol sẽ được thực hiện đều đặn và sự theo dõi sẽ chú y tìm kiếm một sự gia trọng của các trị số và những định vị của bệnh tim mạch.

Cũng như đối với những yếu tố nguy cơ khác, sự xác định của cholestérol nơi người trưởng thành là một bộ phận cơ bản của sự phòng ngừa tim mạch. Mỗi người trưởng thành hơn 18 tuổi phải được hưởng vào một lúc nào đó một bilan sinh học lipit toàn bộ. Xét nghiệm máu này sẽ gồm có cholestérol xấu, cholestérol tốt và các triglycéride. Sự định lượng này sẽ được lập lại mỗi năm năm nếu không có một bất thường hay nhanh hơn nếu những yếu tố nguy cơ khác xuất hiện hay nếu một bệnh đến làm phức tạp sự điều trị. Những trị số cholestérol toàn thể 2,20g/l nơi người trưởng thành buộc phải theo dõi đều đặn nơi thầy thuốc gia đình. Nơi bệnh nhân đã có một biến cố tim mạch, chính thường trong lúc nhập viện mà chẩn đoán tăng cholestérol-huyết được thực hiện. Đó là một tình huống rất tai hại đối với tiên lượng vì lẽ sự điều trị tăng cholestérol-huyết vài năm trước có lẽ đã cho phép tránh được biến cố tim mạch cấp tính này.

Những bệnh nhân người Pháp có được may mắn được tiếp cận tương đối dễ dàng với những thầy thuốc gia đình và với các dịch vụ phòng ngừa trong khung cảnh y khoa lao động hay chiến dịch phát hiện đại chúng. Tai biến tim mạch không phải là một định mệnh an bài và toàn bộ những người can thiệp y và cận y sẵn sàng phục vụ cho các công dân đề phòng ngừa, phát hiện và điều trị các yếu tố nguy cơ để tránh một cách tối đa các biến có tim mạch.
(LE FIGARO 26/4/2010)

5/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ NƯỚC MẮT.

Sự phân tích nước mắt có thể cho phép chẩn đoán sớm bệnh xơ cứng rải rác. Đó là điều vừa được chứng minh bởi một nhóm nghiên cứu của Lille (Pháp), được điều khiển bởi Gauthier Calais, bằng cách tìm kiếm trong nước mắt những bất thường miễn dịch học, đặc biệt là vài protéine, những “ bandes oligoclonales ” của immunoglobulines (IgG). Mãi đến nay người ta chủ yếu nhờ đến chụp hình ảnh bằng IRM và phân tích nước não tủy. Kỹ thuật mới này cho phép tránh phải nhờ đến chọc dò tủy sống trong 40% các trường hợp. Và thật vậy theo những kết quả thu được nơi 70 bệnh nhân, có một sự tương hợp thỏa mãn giữa électrophorèse của nước mắt và électrophorèse của dịch tủy sống, có lẽ bởi vì các nang lympho (follicules lymphoides) của các tuyến nước mắt gần giống với các nang lympho của hệ thần kinh trung ương, hay bởi vì các tế bào lympho hay các IgG có khả năng di chuyển xuyên qua hàng rào huyết-màng não (barrière hématoméningée).
(SCIENCES ET AVENIR 5/2010)

Đọc thêm : Tổng Hợp Thông tin về Bệnh Xơ Cứng Rải Rác

6/ TUYẾN TIỀN LIỆT : CÓ PHẢI ĐỊNH LƯỢNG PSA SAU 50 TUỔI ?

PROFESSEUR GUY VALLANCIEN
Urologue (Paris)
Membre correspondant de l’ Académie de médecine


Mọi người đàn ông 50 tuổi muốn được thông tin về tình trạng của tuyến tiền liệt của mình phải có thể được tiếp cận hai xét nghiệm đơn giản : định lượng PSA (antigène spécifique de la prostate) khi lấy máu, và thăm khám trực tràng để tìm kiếm một bất thường về thể chất của tuyến tiền liệt.

Tại sao tìm kiếm một ung thư tuyến tiền liệt ? Không phải để “ phòng ngừa ”, như người ta thường nghe nói mà để phát hiện nó ngay từ đầu, khi còn có thể chữa lành được. Chúng ta biết rằng ung thư này phát triển khá chậm, nhưng chúng ta cũng biết rằng các người đàn ông sống càng ngày càng thọ hơn. Vào năm 2009, 70.000 ung thư của tuyến tiền liệt đã được phát hiện ở Pháp, nhưng tỷ lệ tử vong hàng năm (8600 tử vong năm 2008) đang giảm xuống nhờ sự kiện là những người đàn ông được điều trị kịp thời. Việc cãi cọ về sự hữu ích của sự điều tra phát hiện một ung thư không nguy hiểm không có một ý nghĩa nào. Biết xem ta có bị một ung thư hay không thuộc về một phương pháp tiến hành logic mà các thầy thuốc không thể từ chối đối với những kẻ quan tâm đến sức khỏe của mình.

Vấn đề thật sự là vấn đề biết xem có cần phải điều trị nó hay không, với những vũ khí nào ? Ta có thể thật sự chữa lành một ung thư khởi đầu trong khi điều trị của một ung thư tiến triển chỉ là điều trị chữa tạm (traitement palliatif). Hiện nay, 80% các bệnh nhân mà ta điều trị vì các ung thư của tuyến tiền liệt ở giai đoạn khởi đầu, lành bệnh hoàn toàn.

Nếu nồng độ của PSA thấp (dưới 2,5 nanogramme mỗi ml máu) đối với một tuyến tiền liệt bình thường hay gia tăng một cách vừa phải (20 đến 30 g), được tính từ hình ảnh của tuyến bằng siêu âm, thì không có gì khác phải làm ngoài việc dự kiến một định lượng mới vào một năm sau. Nếu nồng độ của chất chỉ dấu vẫn không thay đổi, ta có thể cách quảng các kiểm tra mỗi 2 năm. Trong trường hợp PSA tăng cao liên tục, khôn ngoan là thăm khám một thầy thuốc niệu khoa sẽ phân tích tình hình. Tuy nhiên, nồng độ PSA không liên hệ một cách đặc hiệu với ung thư. Adénome (u hiền tính, rất thường gặp nơi những người đàn ông trên 50 tuổi) và nhiễm trùng tuyến tiền liệt (viêm tiền liệt tuyến) cũng làm tăng cao nồng độ của chất chỉ dấu PSA.

Nơi những người đàn ông có những tiền sử gia đình ung thư tuyến tiền liệt (anh em, cha, ông nội ông ngoại), cũng như những người da đen (nguy cơ mắc phải ung thư rất cao đối với những đối tượng này), người ta khuyến nghị thực hiện bilan ngay ở lứa tuổi 45.

Khi ung thư được nghi ngờ, thầy thuốc niệu khoa thực hiện những “sinh thiết ” của tuyến tiền liệt, nghĩa là lấy những mảnh mô của tuyến để phân tích dưới kính hiển vi. Nếu kết quả bình thường, chỉ cần theo dõi nồng độ PSA. Nếu, ngược lại, các tế bào ung thư được phát hiện, khi đó đặt ra vấn đề thái độ điều trị là thái độ nào. Việc quyết định phải theo không bao giờ khẩn cấp cả. Phải tìm hiểu và đánh giá những hậu quả lên các chức năng tiết niệu và sinh dục của những điều trị được đề nghị. Việc lựa chọn tùy thuộc tuổi tác, tình trạng chung của bệnh nhân, tính hung dữ của ung thư và thể tích của nó. Có tất cả các giải pháp, từ việc theo dõi đơn thuần cho đến phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn, nhằm giúp các bệnh nhân bị bệnh.
(LE FIGARO 15/3/2010)

7/ CÁC ROBOT PHẪU THUẬT CỦA TUYẾN TIỀN LIỆT.

Điều trị chuẩn của ung thư khu trú của tuyến tiền liệt là sự cắt bỏ toàn bộ tuyến và các lớp vỏ bọc của nó. Nhưng với biến chứng chính là nguy cơ xuất huyết. Như một công trình nghiên cứu xác nhận, ta có thể thu giảm nguy cơ này bằng cách nhờ đến một giải phẫu được điều khiển bởi robot (opération robotisée), được thực hiện bằng nội soi (laparoscopie). Ngồi trước một bàn quỳ (console) cách xa bệnh nhân, thầy thuốc ngoại khoa mổ trên một màn ảnh một cách an toàn với một cái nhìn hoàn hảo theo 3 chiều không gian. Nguy cơ chảy máu và giảm tỷ lệ hồng cầu trong máu (huyết cầu tố : hématocrite) trong lúc mổ ít hơn so với ngoại khoa cổ điển, cũng như việc phải nhờ đến truyền máu.
(SCIENCE ET AVENIR 5/2010)

8/ CÁC UNG THƯ : NHỮNG TRƯỜNG HỢP CHỮA LÀNH TĂNG CAO !

GS Dominique Maraninchi, chủ tịch của Viện ung thư quốc gia (Inca : Institut national de cancer), nêu lên những kết quả của báo cáo mới đây, cho thấy một sự cải thiện rõ rệt.

Hỏi : Mục tiêu của bản báo cáo vừa rồi của Inca (Institut national du cancer) là gì ?
GS Dominique Maraninchi : Báo cáo này tương ứng với một trong những giai đoạn đầu tiên của kế hoạch ung thư mới. Đó là kiểm điểm tình hình hiện nay về tỷ lệ chữa lành và thuyên giảm. Mục đích : làm cho nhận thức rằng hàng trăm ngàn người sẽ vẫn tiếp tục sống sau khi ung thư được chẩn đoán và rằng phải cho phép họ tiếp tục lại một cuộc sống bình thường.

Hỏi : Ông đã tiến hành như thế nào để thực hiện công tác này ?
GS Dominique Maraninchi : Chúng tôi đã bắt đầu bằng cách thiết lập một sưu tập các dữ kiện đã có trên 6 triệu bệnh nhân (Hoa Kỳ và Châu Âu) bị ung thư thuộc đủ loại. Rồi chúng tôi đã khảo sát rất nghiêm chỉnh, đối với mỗi loại khối u, những kết quả thu được về sinh tồn và chữa lành với những điều trị đã được sử dụng vào cuối những năm 1990. Sau đó chúng tôi đã chuyển tất cả những dữ kiện này lên tình hình của các bệnh nhân hiện đang bị một ung thư ở Pháp, đồng thời chúng tôi biết rằng ta có thể tối ưu hóa những tiên đoán này nhờ những tiến bộ điều trị mới nhất. Chúng tôi đã nhận thức rằng 42% các bệnh nhân được điều trị hôm nay có hơn 80% các may mắn lành bệnh hay sống sót, điều này thể hiện 135.000 bệnh nhân mỗi năm !

Hỏi : Trong số những ung thư thường xảy ra nhất, những ung thư nào có tiên lượng tốt ?
GS Dominique Maraninchi : 4 loại khác nhau tạo thành, do tần số của chúng, một nửa của các ung thư có tiên lượng tốt : các ung thư của vú, của tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng và ung thư phổi. Nếu chúng được khám phá sớm, những ung thư này có 90% cơ may được chữa lành, điều này nói lên tầm quan trọng chủ yếu của sự phát hiện. Đó là những con số để chứng minh rằng phần lớn có thể chữa lành : 85% các ung thư vú, 80% các ung thư tuyến tiền liệt và khoảng 50% những ung thư đại tràng và trực tràng được chữa lành. Ung thư phổi, bất hạnh thay, là ung thư thường nhất được khám phá ở một giai đoạn muộn, điều này giải thích một tỷ lệ chữa lành thấp hơn : khoảng 15%.

Hỏi : Nhờ những tiến bộ nào ta có được sự tăng cao tỷ lệ chữa lành hay thuyên giảm này ?
GS Dominique Maraninchi :Các ung thư được chẩn đoán sớm hơn. Một mặt, nhờ sự phổ biến của các công tác phát hiện và, mặt khác, nhờ vào những tiến bộ của các kỹ thuật chụp hình ảnh cho một cartographie của một khối u chính xác hơn nhiều. Tiến bộ khác : sự thực hiện, nhờ các chất chỉ dấu phân tử (marqueurs moléculaires), các điều trị nhắm đích (traitements ciblés), tác dụng trực tiếp lên các tế bào ung thư, bằng cách ức chế cơ chế có hại của chúng. Khoảng 40 thuốc cho điều trị nhắm đích đang được bào chế. Những liệu pháp“ theo từng cá thể ” (thérapies sur mesure) này tạo nên một niềm hy vọng tuyệt vời !

Hỏi : Theo báo cáo này, có phải tỷ lệ của các ung thư đang gia tăng ?
GS Dominique Maraninchi : Vài ung thư trở nên thường xảy ra hơn, còn những ung thư khác thì lại đang giảm xuống. Hiện nay ở Pháp, người ta thống kê 60.000 trường hợp ung thư tuyến tiền liệt mỗi năm, một con số tăng hơn gấp đôi trong vòng 10 năm ! (nhưng với một tỷ lệ tử vong đã sụt xuống trong cùng những tỷ lệ). Những ung thư khác đang gia tăng : ung thư vú với 50.000 trường hợp mới mỗi năm vào năm 2005, so sánh với 35.000 vào năm 1995. May mắn thay, tần số của các loại ung thư khác rất là hạ : như các ung thư của dạ dày, của họng...

Hỏi : Những biện pháp cụ thể nào sẽ được thực hiện sau báo cáo này ?
GS Dominique Maraninchi : Ưu tiên của “ kế hoạch ung thư ” này là cho phép tất cả những người đã được điều trị tiếp tục trở lại một cuộc sống bình thường : làm việc, đầu tư,..mà không bị phát lại bệnh. Chúng ta đã có khá đủ thời gian nhìn lại để xác nhận rằng nhiều người bệnh được chữa lành.Và vài ung thư, trước đây có tiên lượng xấu, ngày này đã trở nên những bệnh lý mãn tính, cho phép, nhờ những tiến bộ điều trị, một chất lượng cuộc sống tốt. Chúng tôi sẽ thiết lập vào cuối lúc điều trị một “ dispositif de sortie ” bao gồm một chương trình thích ứng cho mỗi bệnh nhân. Người thầy thuốc chuyên khoa ung thư và thầy thuốc gia đình sẽ chuẩn bị thời kỳ “ sau ung thư ”(apres-cancer) bằng cách đánh giá những nhu cầu, như là một sự hỗ trợ tâm lý hay xã hội.
(PARIS MATCH 22/4-28/4/2010)

9/ CHOCOLAT, NGUYÊN NHÂN HAY PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ CHỨNG TRẦM CẢM ?

Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, những người tiêu thụ nhiều chocolat có nguy cơ nhiều hơn bị chứng trầm cảm. Vậy đúng là có một sự liên kết giữa chứng trầm cảm và chocolat, nhưng theo chiều hướng nào ?

Người ta nói nhiều về sự liên kết chocolat/ khí chất, nhưng ít công trình nghiên cứu mô tả một cách chính xác bản chất của mối liên hệ này. Natalie Rose ( Đại học californie, San Diego) và các cộng sự viên đã tập hợp 1.018 người trưởng thành (694 đàn ông và 324 phụ nữ) không bị đái đường lẫn bệnh động mạch vành. Các nhà nghiên cứu tập trung vào 931 người không dùng thuốc chống trầm cảm và được biết là có tiêu thụ chocolat. Khí chất của họ được đánh giá theo thang CES-D (Centre for Epidemiologic Studies Depression Scale). Một tình trạng trầm cảm được định nghĩa bởi một điểm số (score) CED-D > hoặc = 16 và một hội chứng trầm cảm quan trọng bởi một điểm số > hoặc = 22.

Những kết quả cho thấy rằng những người bị trầm cảm (CES-D > hoặc =16) tiêu thụ nhiều hơn một cách đáng kể (8,4 suất mỗi tháng) so với những người không bị trầm cảm (5,4 suất/tháng). Những người hội đủ những tiêu chuẩn của một hội chứng trầm cảm quan trọng (CES-D > hoac =22) ăn chocolat còn nhiều hơn (1,8 suất mỗi tháng). Một suất (portion) tương ứng với 28 g chocolat.

Sự liên kết này liên hệ đến các phụ nữ và các đàn ông và nó không được giải thích bởi một sự gia tăng chung của các cung cấp mỡ, hydrate de carbone, caféine hay calorie. “ Điều này gợi ý rằng những kết quả của chúng tôi là đặc hiệu đối với chocolat ”, các nhà nghiên cứu đã nói thêm như vậy ; họ không phân biệt giữa chocolat đen và chocolat sữa. Cũng không có sự khác nhau giữa những người trầm cảm và không trầm cảm trong sự tiêu thụ những thức ăn khác giàu các chất kháng oxy hóa khác như cá, cà phê, trá cây và rau xanh.

“ Những điểm số trầm cảm (CES-D) tăng cao được liên kết với một sự tiêu thụ chocolat lớn hơn. Tuy nhiên chúng tôi sẽ phải xem có một sự liên hệ nhân quả hay không và nếu có, theo chiều hướng nào : chocolat làm giảm hay tăng cường những triệu chứng trầm cảm ? ”, các tác giả kết luận như vậy. Tuy nhiên họ đưa ra vài giả thuyết. Chứng trầm cảm có thể kích thích khẩu vị đối với chocolat, hoặc bằng sự tự cho thuốc lấy vì những tính chất được cho là chống trầm cảm của chocolat, hoặc vì một lý lẽ không liên kết với một lợi ích điều trị. Nhưng, các tác giả của công trình nghiên cứu đã nhắc lại như vậy, ta không biết chocolat có làm dễ sự trầm cảm hay không. Những công trình tương lai sẽ phải làm sáng tỏ về sự liên kết này, chắc chắn là rất phức tạp ...
(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2010)

10/ HIỆN TƯỢNG ARTHUS.

Sinh năm 1862 ở Angers, Nicolas Maurice Arthus học y khoa ở Paris. Ông chỉ vừa tốt nghiệp được 5 năm thì được bổ nhiệm làm giáo sư sinh lý học ở đại học Friburg. Ông trở lại Pháp năm 1900 ở viện Pasteur rồi ở Ecole de Médecine de Marseille, trước khi được bổ nhiệm ở đại học Lausane (Thụy Sĩ), mà cuối cùng ông sẽ qua đời ở đó vào năm tuổi 83.

Vào năm 1890, ông bắt đầu nghiên cứu về sự đông của sữa, dĩ nhiên đưa ông đến sau đó sự đông của máu. Ông khám phá ra một chất kháng đông (anticoagulant), hiệu quả lên sữa và máu : oxalate de sodium. Hiện tượng phản vệ (anaphylaxie) bắt đầu làm ông quan tâm vào đầu thế kỷ XX, sau khi một đồng nghiệp đã chứng minh trên chó được tiêm chủng với những trích chất của động vật biển. Arthus quyết định thí nghiệm tác dụng gây dị ứng của huyết thanh ngựa được tiêm ngấm nông vào các con thỏ. Sau mũi tiêm thứ 4, một phản ứng phù nề tại chỗ xuất hiện. Ở mũi tiêm thứ 5, vùng tiêm trở nên nung mủ ; vùng này gần như hoại tử ở mũi tiêm thứ 7. Còn khi tiêm vào tĩnh mạch, mũi tiêm gây nên thở nhanh, hạ huyết áp, máu không đông và, nếu như liều lượng đầy đủ, con thỏ chết vì suy tim-hô hấp.

TỪ THỎ ĐẾN RẮN MANG BÀNH (COBRA).

Nicolas Maurice Arthus cũng khảo sát tác dụng của các nọc độc rắn : nọc độc của rắn mang bành (cobra), gây chết người do ngưng hô hấp, nọc độc của rắn lục (vipère), phát khởi một sự đông máu ồ ạt và nọc độc của rắn chuông (crotale), gây chết người do choáng xảy ra nhanh. Ông cũng nhận xét rằng những liều lượng rất nhỏ của nọc độc rắn mang bành làm cho động vật được chủng trở nên được miễn dịch chống lại sự bại liệt, nhưng con vật này cũng vẫn bị chết trong tình trạng choáng. Nhờ cái gì cũng đụng vào, nhà khoa học như thế đã đi từ những ý niệm tiêm chủng (vaccination) sang ý niệm phản vệ (anaphylaxie). Ông cũng phát triển một chất đối kháng (antidote) của nọc độc bằng cách xử lý bằng formaline. Chính một cuốn sách nhỏ được xuất bản vào năm 1903 làm ông trở thành nổi tiếng : “ Những mũi tiêm được lập lại của huyết thanh ngựa vào thỏ ”. Trong sách này ông mô tả hiện tượng mà, chỉ bắt đầu từ năm 1966, mới sẽ mang tên ông : hiện tượng Arthus.
(GENERALISTE 6/5/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (17/5/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#51 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 23 May 2010 - 10:01 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NGỪA THAI NAM GIỚI : HƯỚNG CỦA CÁC SIÊU ÂM.

Cơ quan Bill Gates vừa tài trợ cho những công trình của các nhà nghiên cứu phát triển kỹ thuật có thể đảo ngược này.

PROCREATION. Thách thức thật sự của khoa học, sự ngừa thai nam giới đã lâu lắm rồi là một chủ đề cấm kỵ. Hôm nay, viên thuốc ngừa thai cho đàn ông vẫn còn thuộc về khoa học viễn tưởng. Cơ quan Bill và Melinda Gates, mà mục đích là mang lại những đổi mới về sức khỏe và thụ đắc các kiến thức, vừa đóng 100.000 dollars cho đại học Caroline du Nord ở Hoa Kỳ.

Tiền trợ cấp này sẽ cho phép James Tsuruta và Paul Dayton theo đuổi những công trình nghiên cứu của họ về sự ngừa thai nam giới bằng siêu âm. Họ cho rằng có thể làm vô sinh một người đàn ông, một cách có thể hồi phục được trong 6 tháng, nhờ một điều trị bằng siêu âm, không đau đớn, nơi các tinh hoàn. Theo họ, khả năng sinh sản của người đàn ông sẽ tuyệt đối không bị ảnh hưởng sau khi ngừng điều trị. “ Mục tiêu dài hạn của chúng tôi là sử dụng kỹ thuật rẻ tiền của các siêu âm, rất phổ biến trong y khoa thể thao, để sử dụng nó trong một sự ngừa thai có thể đảo ngược được ”, BS Tsuruta đã giải thích như vậy. Những nhà nghiên cứu này, đã thành công làm nghèo tinh dịch bằng cách sử dụng kỹ thuật của các siêu âm, bây giờ phải ra sức phát triển tính hiệu quả và tính vô hại của điều trị.

Đối với BS Pierre Jouannet, chuyên viên về sinh học của sự sinh sản ở bệnh viện Cochin, vấn đề chủ yếu là biết xem sự vô sinh có thể đảo ngược hay không. Những tài liệu được xuất bản của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong những năm 1970 cũng như một bài báo được viết bởi các người Ý năm qua có bàn về vấn đề ngừa thai bằng các siêu âm này. Nhưng các công trình chỉ liên hệ đến các động vật (chuột và chó). “ Ý tưởng đáng quan tâm, Pierre Jouannet đã tóm tắt như vậy, nhưng phải có các nghiên cứu thí nghiệm hơn trên các động vật trước khi bắt đầu trên người. Mặt khác, vấn đề của các tác dụng phụ khả dĩ trên các tế bào khác của các tinh hoàn cũng phải được đặt ra. ”

“ NHỮNG KỸ NIỆM XẤU ”.

Nhà sinh học Bernard Jegou, giám đốc của đơn vị Inserm 625,“ nhóm nghiên cứu về sự sinh sản nơi người và các động vật có vú ” tỏ ra rất dè dặt. Trước hết trên quan điểm nghĩa vụ luận, bởi vì kỹ thuật này “ nhắc lại nơi ông những kỷ niệm xấu, đó là những bức xạ các tinh hoàn được tiến hành trong các nhà tù Hoa Kỳ trong những năm 1970 để đổi lấy các giảm án tù ”. Sau đó, ông cho rằng nếu kỹ thuật này có thể tỏ ra có hiệu quả, thì nó có thể là như vậy đối với một số rất nhỏ các người đàn ông, phần lớn sẽ không muốn chịu nhận các siêu âm. Sau cùng, ông phàn nàn rằng các nghiên cứu rất nghiêm chỉnh về viên thuốc ngừa thai nam bị thiếu rất nghiêm trọng những phương tiện tài chánh, lại càng đáng tiếc khi “ công nghiệp dược phẩm không quan tâm đến vấn đề này ”, ông đã lấy làm tiếc như vậy.

Kỹ thuật ngừa thai, nếu một ngày nào đó xuất hiện trên thị trường, nhất thiết dựa vào một mối quan hệ tin cậy nơi đôi lứa. Chính vì vậy phương pháp này sẽ không liên hệ đến tất cả các đôi lứa mà chỉ những cặp nào đã “ an bề gia thất ”.
(LE FIGARO 13/5/2010)

2/ CHỨNG NÔN THAI NGHÉN ĐƯỢC TRUYỀN TỪ MẸ ĐẾN CON.

Các phụ nữ, mà mẹ đã bị chứng nôn mửa thai nghén (hyperémèse) trong lúc mang thai, đến lượt mình có nguy cơ 3 lần nhiều hơn cũng bị chứng nôn mửa thai nghén này trong lúc chính mình mang thai. Đó là điều được giải thích bởi các nhà nghiên cứu Na Uy trong BMJ.

Gần một nửa các phụ nữ có thai bị nôn và mửa. Nhưng có những phụ nữ mà các triệu chứng nghiêm trọng và kéo dài đến độ họ bị mất cân và mất nước và nhiễm xeton (cétose). Tình trạng này, được gọi là nôn mửa thai nghén (hyperémèse gravidique), hay chứng mửa không cưỡng được (vomissements incoercibles), ảnh hưởng lên 0,5 đến 2% các thai nghén và có thể được liên kết với một trọng lượng thấp lúc sinh và một sự sinh non tháng. Đó là nguyên nhân thông thường nhất khiến phải nhập viện trong những thời kỳ đầu của thai nghén. Chứng nôn mửa thai nghén này chịu trách nhiệm một sự khủng hoảng tâm lý (détresse psychologique) và được liên kết với một sự gia tăng tỷ lệ bệnh của mẹ và thai nhi, với nguy cơ tử vong.

Căn nguyên của rối loạn này không được biết đến. Vào năm 2005, một công trình nghiên cứu của Na Uy đã cho thấy rằng các phụ nữ bị chứng nôn mửa thai nghén vào lúc có thai lần đầu, có một nguy cơ cao tái phát (15,2%) và rằng sự thay đổi người sinh làm giảm nguy cơ này (10,9% so với 16% nếu cùng một người sinh), gợi ý vai trò của các gène thai nhi.

GENOTYPE NGƯỜI MẸ.

Cùng nhóm nghiên cứu, luôn luôn được chỉ đạo bởi GS Per Magnus (đại học Oslo), đã muốn xác định rõ hơn căn nguyên của rối loạn này. Bằng cách căn cứ vào một ngân hàng các dữ kiện quốc gia, Ase Vikanes và các cộng sự viên đã nghiên cứu sự tái diễn của chứng nôn mửa thai nghén xuyên qua các thế hệ. Trong sổ khai sinh Na Uy, các nhà nghiên cứu đã giữ 544.087 đơn vị mẹ-con gái và 399.777 đơi vị mẹ-con trai và họ đã đánh giá nguy cơ bị nôn mửa không cưỡng được nơi các con gái của những đơn vị thứ nhất và nơi các người vợ của những người con trai của những đơn vị thứ hai.

Theo các kết quả, các con gái, được sinh sau một thai nghén có biến chứng nôn mửa thai nghén, có một nguy cơ 3% bị nôn mửa thai nghén một khi mang thai, trong khi nơi các con gái sinh sau một thai nghén không có gì âu lo, nguy cơ này chỉ lên đến 1,1%. Nơi những người vợ của các người con trai sinh sau một thai nghén có biến chứng nôn mửa, tỷ lệ này lên đến 1,2%.

Những con gái được sinh sau một thai nghén không có biến chứng nôn mửa thai nghén có một nguy cơ gia tăng bị chứng nôn mửa này nếu mẹ họ trong lần thai trước đó hay sau này đã bi nôn mửa thai nghén.

Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng các gène nơi người mẹ là quan trọng hơn các gène thai nhi trong căn nguyên của chứng nôn mửa thai nghén, mặc dầu ta không loại bỏ ảnh hưởng của những yếu tố môi trường. Ngược lại, sự việc có một người chồng mà người mẹ của người này vốn đã bị chứng nôn mửa thai nghén, không làm gia tăng nguy cơ đối với người mẹ tương lai.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 7/5/2010)

4/ SIROP CHỐNG HO BỊ CẤM DÙNG NƠI TRẺ EM DƯỚI HAI TUỔI.

Ít hiệu quả, các sirop làm long đờm này có thể làm gia trọng các rối loạn hô hấp.

PEDIATRIE. Đối với nhiều bậc bố mẹ, đó là một phản xạ trong trường hợp ho hay ứ tiết phế quản nơi một em bé. Nhưng nhiều thầy thuốc nhăn nhó không muốn kê toa vì ít tin vào tính hiệu quả của nó. Từ vài tuần nay, các sirop mà chất cơ bản là các chất làm loãng niêm dịch (mucofluidifiant) hay làm tan niêm dịch (mucolytique) bị cấm chỉ định nơi các nhũ nhi, nghĩa là những trẻ dưới hai tuổi. Ngoài những dược phẩm làm biến đổi các chất tiết phế quản, sự hạn chế sử dụng cũng liên quan đến hélicidine, một thuốc chống ho với chất cơ bản là nước dãi ốc sên (bave d’escargot). Carbocistéine (Balsoclase Mucolyticum, Siroxyl...), Fluimucil, Rhinathiol…Tổng cộng hơn 20 đặc chế nhi đồng, phần lớn đã được bán ra thị trường từ nhiều năm nay và có thể mua không cần toa bác sĩ, đều bị liên hệ bởi quyết định này của Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé). Và ba dược phẩm, chỉ được dùng cho các nhũ nhi, đã được rút ra khỏi thị trường.

Theo các chuyên gia, sự cấm chỉ này được biện minh bởi những kết quả không thuận lợi của một điều tra cảnh giác dược (pharmacovigilance), được thực hiện sau sự khai báo những tác dụng phụ nơi các nhũ nhi. Tổng cộng, cuộc điều tra này, được tiến hành ở mức quốc gia và quốc tế, đã liệt kê gần 150 trường hợp có những tác dụng phụ không được mong muốn, phần lớn với carbocistéine và acétylcystéine. Trong 70 trường hợp, đó là những sự trở nặng thương tổn hô hấp, được ghi nhận chủ yếu nơi những trẻ dưới 1 tuổi. Các trung tâm cảnh giác dược cũng đã đếm được 64 trường hợp các phản ứng dị ứng hay giả dị ứng (trong đó 13 trường hợp nặng), và 6 trường hợp chết đột ngột “ khó kết luận được ”, Afssaps đã xác nhận như thế.

TÔN TRỌNG CÁC CƠ CHẾ PHÒNG VỆ.

Từ nhiều năm nay, nhiều thầy thuốc đã không còn kê toa bao nhiêu những dược phẩm này, vả lại được đánh giá là ít có hiệu quả, nơi những trẻ em nhỏ. “ Hiệu quả của các chất làm loãng dịch tiết phế quản (fluidifiants bronchiques) đã không bao giờ được chứng minh, ở trẻ em cũng như ở người lớn ”, GS Jean-Paul Giroud, dược sĩ, đã nhấn mạnh như vậy.

Lý lẽ khác được đưa ra bởi các thầy thuốc nhi đồng, ho thường là một phương tiện có hiệu quả để loại bỏ các dịch tiết khí và phế quản, đó là một cơ chế phòng vệ cần được tôn trọng. “ Nơi các trẻ em dưới 2 tuổi, nguyên nhân thường xảy ra nhất của ho là viêm mũi-họng (rhinopharyngite), GS Amain Chantepie, chủ tịch của Hiệp hội nhi khoa Pháp, đã nói thêm như vậy. Nhiễm trùng này chủ yếu làm ho vào ban đêm do các dịch tiết chảy vào trong đáy họng, nhưng không có thương tổn phế quản, vậy các thuốc làm loãng không có một ích lợi nào. ” Đối với những viêm mũi-họng thông thường này, điều trị nhằm, theo ông ta, rửa đều đặn mũi với dịch sinh lý hay một dung dịch muối khác.

Trong một tài liệu dành cho các bố mẹ, Afssaps cũng chủ trương đặt nằm ngửa mọi trẻ em bị ho, đồng thời nâng nệm ở đầu lên. Cũng khuyên cho trẻ uống đều đặn ; chú ý giữ phòng trẻ nằm trong một bầu không khí mát mẻ (10 đến 20 độ C) và làm thoáng khí đều đặn căn phòng. “ Một sự loại bỏ tiếp xúc với thuốc lá (không hút thuốc ở nhà, kể cả trong một căn phòng khác với căn phòng trong đó nhũ nhi ngủ) ” cũng được mong muốn, theo báo cáo. Việc nhờ đến thầy thuốc chỉ được biện minh nếu ho kéo dài hơn 4 hay 5 ngày mà không có cải thiện, hoặc nếu sốt kéo dài hơn 3 ngày hoặc không chịu được. Về vai trò của vật lý liệu pháp hô hấp (kinésithérapie respiratoire), được kê đơn trong trường hợp ứ tiết phế quản và trong những viêm tiểu phế quản, phương thức này ngày càng bị tranh cãi. “ Một công trình nghiên cứu mới đây ở Pháp cho thấy rằng vật lý liệu pháp không cho phép làm thu giảm thời gian tiến triển của một viêm tiểu phế quản cũng như số các biến chứng và những trường hợp nhập viện, GS Chantepie đã xác nhận như vậy. Vậy một đứa trẻ khỏe mạnh với viêm tiểu phế quản lần đầu không cần phải nhận vật lý liệu pháp một cách có hệ thống. ”
(LE FIGARO 19/5/2010)


5/ BỆNH PARKINSON : HƯỚNG VỀ MỘT PHƯƠNG THUỐC THẬT SỰ.

Run rẩy, cứng đờ, tăng tính xúc cảm...bệnh Parkinson, ảnh hưởng lên gần 150.000 người ở Pháp, có lẽ đã tìm ra một phương thuốc đầu tiên. Ít nhất, sau cùng có được một điều trị dập tắc được sự tiến triển của căn bệnh. Bệnh Parkinson được gây nên bởi sự thoái hóa của các neurone sản xuất dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteurs) đặc biệt có liên hệ trong các hoạt động vận động.

Mặc dầu hiện nay nhiều chất được gọi là “ dopaminergique ” thay thế sự sản xuất dopamine bị suy giảm, nhưng chưa có một chất nào tác dụng lên chính căn bệnh cả. Mãi cho đến khi Olivier Rascol, neuropharmacologue ở CHU de Toulouse, và Warren Olanow, thuộc bệnh viện Mount-Sinai ở Nữu Uớc, khám phá khả năng lạ kỳ của rasagiline, một thuốc chống bệnh Parkinson đã được biết đến. Trong một công trình nghiên cứu trong 18 tháng trên 1200 bệnh nhân châu Âu và Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu đã phân chia bệnh nhân thành những nhóm khác nhau, vài bệnh nhân được điều trị ngay từ đầu thử nghiệm, những bệnh nhân khác chỉ được điều trị trong 9 tháng cuối. Sau 18 tháng theo dõi, những người đầu tiên có một sự gia trọng các triệu chứng thấp hơn so với những người thuộc nhóm thứ hai. “ Đó là lần đầu tiên mà người ta cho thấy rằng một thuốc chống bệnh Parkinson có thể đồng thời giới hạn các triệu chứng và làm chậm lại sự tiến triển của bệnh ”, Olivier Rascol đã nhấn mạnh như vậy.

Là chất ức chế monoamine oxidase B, chất men có trong thiên nhiên có nhiệm vụ làm thoái hóa dopamine, rasagiline được sử dụng vì khả năng duy trì nồng độ dopamine trong não bộ. Nhưng cơ chế tác dụng của nó lên căn bệnh vẫn khó hiểu. Nó có phải là chất bảo vệ thần kinh (neuroprotecteur) ? Nó có kích thích những cơ chế của não bộ nhằm bù sự thiếu hụt dopamine ? Những chuyên gia vẫn luôn tự hỏi. “ Nhưng những kết quả này làm tăng thêm ý tưởng cho rằng các bệnh nhân sẽ có lợi nếu được điều trị ngay khi được chẩn đoán, để cải thiện sự thành công của điều trị ”, nhà nghiên cứu nói thêm như vậy. Thế mà những lời khuyến nghị chính thức chỉ thúc đẩy điều trị các bệnh nhân khi các triệu chứng trở nên quá gây khó chịu. Những khuyến nghị mới, xét đến khám phá này, sẽ được đưa ra vào năm 2010. “ Nhiều chuyên gia đã bắt đầu các điều trị sớm hơn so với quá khứ ”, Olivier Rascol đã xác nhận như vậy.

LIỆU PHÁP GENE.

Không phải là tất cả. Bởi vì một hy vọng khác cũng có thể được xác nhận vào khoảng cuối năm nay : trithérapie génique được hiệu chính bởi các nhóm nghiên cứu Pháp-Anh. Liệu pháp này đã cho phép 18 macaque bị bệnh parkinson phục hồi 80% khả năng vận động của chúng. Một lợi ích được duy trì trong 44 tháng, không có tác dụng phụ. Nguyên tắc là gì ? “ Nhờ một vecteur virus, tiêm 3 gène cần thiết cho sự tổng hợp của dopamine vào trong striatum, vùng của não bộ bị thương tổn bởi bệnh Parkinson, Stéphane Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh của bệnh viện Henri-Mondor (Créteil), người đã tham gia vào công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Điều trị này là đổi mới bởi vì nó gây nên một sự tiết tự nhiên và liên tục của dopamine, trái với những điều trị dopaminergique, mà ta nghĩ rằng những cử động không thể kiểm soát được (dyskinésie) mà chúng gây nên là do sự cung cấp không liên tục của dopamine.” Hôm nay, trong bối cảnh của một thử nghiệm giai đoạn I (trắc nghiệm tính dung nạp) sẽ kéo dài một năm, 6 bệnh nhân đã nhận điều trị này. “ Chúng ta còn phải xác nhận liều lượng tối ưu và chứng tỏ tính vô hại của nó trên người ”, Stéphane Palfi đã xác nhận như vậy. Đó là mục đích của những thử nghiệm cổ điển của giai đoạn II, được dự kiến trong vòng năm 2010, sẽ được thực hiện trên 12 bệnh nhân, trước khi được triển khai trên quy mô lớn hơn.
(SCIENCE ET VIE 1/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Parkinson

6/ TAI BIẾN ĐỘNG MẠCH VÀNH NƠI CÁC PHỤ NỮ : CHÚ Ý ĐƯỜNG.

Một công trình nghiên cứu của Ý về những hậu quả của một sự tiêu thụ nhiều đường đã bao gồm hơn 32.500 phụ nữ và 15.171 đàn ông. Trong 8 năm, các nhà nghiên cứu đã liệt kê các thói quen ăn uống của các người tham dự, đường cong đường huyết (courbe glycémique) của họ (trước và sau một bữa ăn) và những chỉ dấu khác của chuyển hóa liên kết với đường. Kết luận : một sự tiêu thụ nhiều glucide làm nhân lên gấp đôi nguy cơ tai biến động mạch vành nơi các phụ nữ, nhưng không nơi các đàn ông.
(PARIS MATCH20/5-26/5/2010)

7/ NHỮNG RỐI LOẠN TRÍ NHỚ CÓ NHẤT THIẾT BÁO HIỆU MỘT BỆNH ALZHEIMER ?

Professeur Jean-Jacques Hauw.
Neuropathologiste


Không. Các rối loạn trí nhớ (troubles de la mémoire) có rất nhiều các nguyên nhân. Chúng ta đã từng bị rối loạn trí nhớ sau một bữa chè chén say sưa hay trong một đợt mệt nhọc, và những rối loạn này thoái lui sau một đêm nghỉ ngơi hay sau vài ngày nghỉ công tác. Cũng có thể xảy ra một sự mất đột ngột các ký ức về một thời kỳ ngắn ngủi, xảy ra không có dấu hiệu báo trước và không có một nguyên nhân rõ ràng, kéo dài vài giờ và không để lại một di chứng nào khác ngoài sự quên các sự kiện xảy ra trong thời kỳ này.

Tuy vậy đôi khi, người, thường là già cả, kêu bị những rối loạn trí nhớ dai dẳng, làm sợ mắc phải bệnh Alzheimer. Đó là nguyên nhân của 50% đến 70% chứng sa sút trí tuệ (démence), mà con số được ước tính là 5% nơi những người từ 70 đến 80 tuổi, gia tăng cho đến 20% nơi những người từ 85 đến 90 tuổi. Ngoài những rối loạn trí nhớ, đôi khi còn có những biểu hiện khác : bệnh nhân đi lạc hay tự cô lập. Vì lẽ người này không mắc bệnh Alzheimer, và do đó thầy thuốc điều trị đôi khi có thể làm biến mất một cách nhanh chóng các rối loạn.

Lú lẫn tâm thần (confusion mentale) thường xảy ra nơi những người già. Những người già, thường âu lo, bị mất định hướng trong thời gian và không gian (họ đã quên ngày tháng, tin là mình đang ở nơi một ngôi nhà khác..). Những nguyên nhân thường rất nhiều, đặc biệt là sự dùng thuốc quá liều lượng ; người thầy thuốc chỉ cần hạn chế các đơn thuốc vào cái cần thiết tối thiểu và sự lú lẩn thoái lui trong vài ngày. Trong những trường hợp khác, ông ta đòi những xét nghiệm bổ sung hay nhờ đến thầy thuốc chuyên khoa thần kinh.

Chứng trầm cảm là một nguyên nhân khác của các rối loạn trí nhớ giống với bệnh Alzheimer. Người bệnh cảm thấy mệt mỏi tinh thần, không thể nào tập trung tâm trí được. Các tư duy bị trì chậm, buồn bã. Trong trường hợp này, cần phải nhờ đến thầy thuốc chuyên khoa tâm thần. Ông ta có những điều trị hiệu quả một cách nhanh chóng. Tuy nhiên không phải luôn luôn đơn giản như vậy : một sự lú lẫn tâm thần hay một sự trầm cảm thật ra có thể phát hiện một bệnh Alzheimer. Sự theo dõi bệnh nhân sẽ cho phép xác định rõ.
(LE FIGARO 10/5/2010)

Đọc thêm: Tổng Hợp Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer)

8/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CHOCOLAT ĐEN.

Nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý sự hiện hữu của một tác dụng có lợi của chocolat đen.

Một trong những công trình nghiên cứu này, được tiến hành ở Zutphen, ở Hòa Lan, trên 470 bệnh nhân (từ 65 đến 84 tuổi) kéo dài 15 năm, đã cho thấy rằng huyết áp tối đa và tối thiểu đối với những người tiêu thụ 10 g chocolat đen mỗi ngày được hạ xuống lần lượt 3,7 và 2,1 mmHg, so với những người không tiêu thụ. Mới đây hơn, một thử nghiệm quy mô lớn, được tiến hành bởi hai nhà dịch tễ học thuộc Institut germanique de nutrition (Brian Buijsse et Heiner Boeing), cho thấy rằng ăn chocolat đều đặn với lượng thấp tương ứng với một sự giảm của tỷ lệ tử vong tim-mạch. Hơn 19.000 người sống trong vùng Potsdam ở Đức (không có tiền sử tuần hoàn) đã được theo dõi trong 8 năm. Kết luận : nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột qụy giảm 39% nơi những người tiêu thụ 6 g chocolat mỗi ngày. Các flavonoides, các chất kháng oxy hóa mạnh được chứa trong cacao, mà nồng độ mạnh hơn trong chocolat đen, là nguồn gốc của những lợi ích này.
(PARIS MATCH 22/4-28/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 29/4/2007 )

7/ CHOCOLAT LÀM GIẢM HUYẾT ÁP

Ăn chocolat đen có thể có hiệu quả trong việc hạ huyết áp như các thuốc giảm áp thông thường. Một xem xét lại các công trình nghiên cứu đã nhận thấy như vậy.

Mặt khác, trà có vẻ không có hiệu quả trong tác dụng này. Bài báo nói rằng một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh có lợi cho sức khỏe một phần là do thực vật chứa những chất hoá học được gọi là polyphenols giúp kiểm soát huyết áp.

Từ hơn 3000 bài báo, các nhà nghiên cứu đã chọn những công trình nghiên cứu rộng rải nhất và sử dụng các kỹ thuật thống kê để phối hợp các dữ kiện.

4 trong 5 nghiên cứu về chocolate đã nhận thấy huyết áp bị giảm lúc ăn chocolat đen.

Bài báo này được công bố vào số tháng 4 của The Archives of Internal Medicine.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 26/4/2007)

Thời Sự Y Học Số 109 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/1/2009 )

5/ RƯỢU VANG, TRÀ VÀ CHOCOLAT ĐỐI VỚI NÃO BỘ ?

Các ông và các bà lớn tuổi, tiêu thụ rượu vang giàu flavonoide, trà và chocolat, có những hiệu năng tốt hơn lúc thực hiện những trắc nghiệm về khả năng nhận thức (tests cognitifs). Đó là điều đã được chứng minh bởi một nhóm nghiên cứu Anh-Na Uy. Nhóm nghiên cứu này đã khảo sát mối liên hệ giữa sự tiêu thụ 3 thức ăn thức uống chứa flavonoides (chocolat, rượu vang và trà) và những hiệu năng nhận thức (performances cognitives). 2.031 người tham dự (70-74 tuổi, 55% là phụ nữ) đã được tuyển mộ và đã chịu những trắc nghiệm về khả năng nhận thức.

Các kết quả cho thấy rằng, so sánh với những người không ăn chocolat, không uống rượu vang hay trà, những người tiêu thụ chúng có những điểm số tốt hơn một cách đáng kể lúc làm những trắc nghiệm nhận thức và có tỷ lệ hiệu năng nhận thức kém thấp hơn.

Những người tiêu thụ ba loại thức ăn nước uống này có những điểm số tốt hơn và nguy cơ có những hiệu năng kém lúc làm trắc nghiệm thấp nhất. Những mối liên kết giữa sự tiêu thụ các thức ăn nước uống này và khả năng nhận thức (cognition) tùy thuộc vào liều lượng (dose-dépendante), với một hiệu quả tối đa đối với những tiêu thụ khoảng 10g chocolat mỗi ngày và khoảng 75-100 ml rượu vang mỗi ngày, nhưng theo đường thẳng đối với trà. Phần lớn những chức năng nhận thức được trắc nghiệm bị ảnh hưởng bởi 3 thức ăn thức uống này. Hiệu quả rõ rệt hơn đối với rượu vang và hơi thấp hơn đối với chocolat.

Do đó, trong tuổi già, một chế độ thức ăn thức uống nhiều flavonoides được liên kết với những hiệu năng tốt hơn đối với vài năng lực nhận thức và điều này tùy thuộc vào liều lượng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/1/2009)


9/ KHÔNG CÓ NGUY CƠ GIA TĂNG BỊ UNG THƯ VỚI CÁC ĐIỆN THOẠI CẦM TAY, THEO CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU INTERPHONE.

Công cuộc điều tra, được thực hiện trên hơn 6.500 người bị các khối u trong 13 nước làm yên lòng. Cần có nhiều công trình nghiên cứu khác.

SANTE PUBLIQUE. Người ta chờ đợi hau háu điều đó từ gần 3 năm nay. Người ta trông đợi kết quả điều tra để nó nói với chúng ta là có hay không, điện thoại cầm tay là nguy hiểm và làm gia tăng các nguy cơ mắc phải ung thư của não bộ, của tuyến mang tai hay của tai trong. Công trình nghiên cứu Interphone, mà sự công bố các kết quả đã nhiều lần bị hoãn lại, sau cùng xuất hiện hôm nay trong International Journal of Epidemiology. Mặc dầu kết quả điều tra đã kết luận một cách làm an lòng, về sự vắng mặt nguy cơ gia tăng bị ung thư đối với những người sử dụng các điện thoại cầm tay. Nhưng như thể cuộc bàn cãi sẽ không bao giờ được kết thúc, cuộc điều tra này sau cùng đánh giá rằng các nghiên cứu cần phải được theo đuổi, rằng cuộc điều tra Interphone không phải là không có những lệch lạc về phương pháp, rằng những cách sử dụng của các điện thoại cầm tay đã thay đổi cũng như công suất của chúng …do đó mới có những lời tuyên bố mập mờ cửa BS Elisabeth Cardis, người điều hành chính của công trình nghiên cứu, với AFP : “ Công trình nghiên cứu không phát hiện một nguy cơ gia tăng, nhưng chúng ta không thể kết luận rằng không có nguy cơ bởi vì có đầy đủ các kết quả gợi ý một nguy cơ khả dĩ. ”

Được phát động bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu ung thư (CIRC : Centre international de recherche sur le cancer), vào năm 2000 trong 13 nước (Đức, Úc, Canada, Đan Mạch, Phần lan, Pháp, Israel, Ý, Nhật bản, Na Uy, Tân tây lan, Vương Quốc Anh, Thụy điển), công cuộc điều tra này nhằm tìm một mối liên hệ khả dĩ giữa việc sử dụng điện thoại cầm tay trong thời gian 10 năm và những khối u của não (gliome, ménigiome), của dây thần kinh thính giác (neurinome de l’acoustique) và của tuyến mang tai (nước bọt). Trên thực tiễn, đó là hỏi các bệnh nhân bị các ung thư này về thời gian sử dụng điện thoại cầm tay của họ và so sánh những câu trả lời của họ với những câu trả lời của những người chứng khỏe mạnh. Cuộc điều tra đã được thực hiện trên 2708 trường hợp gliome và 2409 trường hợp méningiome, 1100 neurinome de l’acoustique và 400 khối u của tuyến mang tai, được so sánh với những người chứng lành mạnh, từ 30 đến 59 tuổi.

Nhìn toàn bộ, Interphone cho thấy một nguy cơ bị gliome 40% nhiều hơn và một nguy cơ bị neurinome 15% nhiều hơn đối với những người tuyên bố sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên, do những khó khăn về phương pháp học, các tác giả đánh giá rằng ngay cả nguy cơ tương đối thấp này không hẳn đã là chắc chắn. “ Những thiên lệch và sai lầm làm giới hạn sức mạnh của các kết luận và ngăn cản thiết lập một sự giải thích nhân quả ”, ta có thể đọc như thế trong các kết luận của công trình nghiên cứu. Thủ thuật này, được gọi là điều tra trường hợp - chứng (enquête cas-témoin) thường có một thiên lệch không thể tránh được và khó khắc phục được : những người bệnh có khuynh hướng muốn nhớ lại trong chi tiết về hành vi trong quá khứ của họ (ở đây là sự sử dụng điện thoại cầm tay) để cố hiểu căn bệnh của mình.

Interphone đã được tiến hành trong 13 nước khác nhau, với những kết quả dị biệt tùy theo các nước. Ví dụ, nguy cơ gia tăng bị gliome không được quan sát khắp nơi. Những kết quả ở Israel cho thấy một sự gia tăng nguy cơ đối với các khối u của tuyến mang tai, nhưng không nhất thiết phải được tìm thấy nơi những nước khác. Đối với BS Christopher Wild, giám đốc của CIRC, "những dữ kiện của Interphone không cho phép phát hiện một nguy cơ gia tăng bị ung thư não. Tuy nhiên, tiến triển của cách sử dụng của các điện thoại cầm tay từ thời kỳ được nghiên cứu bởi Interphone nhất là nơi những người trẻ, cho thấy rằng nên theo đuổi sự nghiên cứu về việc sử dụng của điện thoại cầm tay và về nguy cơ của ung thư não." Tuy nhiên, sự bùng nổ của các sử dụng điện thoại cầm tay được tiết chế bởi một sự giảm các bức xạ điện từ.

GS Elisabeth Cardis trong một thông báo nhắc lại rằng Interphone không điều tra nơi những nguời dùng trẻ, và rằng một dự án mới, Mobikids, đang được tiến hành để nghiên cứu nguy cơ bị những ung thư não của các trẻ em và các thiếu niên.
(LE FIGARO 18/5/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 12 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 2/2/2007 )

2/ MÁY ĐIỆN THOẠI CẦM TAY KHÔNG GÂY UNG THƯ.

Đó là kết luận của một trong những nghiên cứu dịch tễ rộng rãi nhất về các nguy cơ ung thư gây nên do sử dụng điện thoại cầm tay.

Một nghiên cứu dịch tễ đã theo dõi trong 10 năm hơn 420.000 người Đan Mạch ở tuổi trưởng thành sử dụng điện thoại cầm tay từ năm 1982 đến 1995.Trong số các người sử dụng điện thoại cầm tay này, có 14.249 người đã phát sinh một bệnh ung thư, con số hơi dưới 15.001 trường hợp được dự kiến, được tính trên cơ sở các thông kê trong nước. Kết luận : điện thoại cầm tay không làm gia tăng nguy cơ ung thư. Các nhà khoa học đã so sánh nhóm này với dân Đan mạch ở tuổi trưởng thành, về tỷ lệ các loại ung thư bị nghi là có liên quan với việc sử dụng điện thoại cầm tay. Các nhà nghiên cứu đã không tìm thấy một sự gia tăng nào về nguy cơ u não, ung thư máu, u của dây thần kinh thính giác (neurinome acoustique), u các tuyến nước bọt hoặc nhãn cầu. « Bởi vì các tỷ lệ này giống hệt nhau, do đó chúng tôi đã kết luận rằng không có mối liên hệ giữa việc sử dụng điện thoại cầm tay và nguy cơ phát sinh ung thư ". Joachim Shuz thuốc Viện Dịch Tễ Ung Thư Copenhague, Đan Mạch, đã giải thích như thế. Nghiên cứu này không đề cập đến bệnh ung thư của trẻ em, về ảnh hưởng của sự kiện sử dụng liên tục điện thoại cầm tay, về sự phát sinh các bệnh khác. Song hành, OMS sẽ công bố vào giữa năm 2007 một loạt các nghiên cứu về cùng chủ đề được tiến hành trong 14 quốc gia. Nhưng ở đây, phương pháp có khác : nghiên cứu sẽ so sánh việc sử dụng điện thoại cầm tay đối với những người ung thư cũng như đối với sự kiện sử dụng của những người lành mạnh.
(SCIENCE ET VIE 2/2007)

Thời Sự Y Học Số 47 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (18/10/2007 )

7/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY LÀM DỄ SỰ PHÁT SINH NHỮNG KHỐI U NÃO BỘ

Việc sử dụng điện thoại cầm tay là có hại đối với sức khỏe, và không chỉ vào lúc cầm lái không thôi. Một phân tích trên 18 công trình nghiên cứu đã kết luận rằng với điện thoại cầm tay được sử dụng trên 10 năm, nguy cơ phát triển một khối u não bộ ác tính (gliome) về phía mà điện thoại được đặt vào tai, sẽ nhân lên gấp hai. Mỗi năm bệnh này xảy ra theo tỷ lệ khoảng 6 người trên 100.000. Về các thương tổn dây thần kinh thính giác (neurome), nguy cơ sẽ 2 lần rưỡi cao hơn, trong cùng điều kiện.

Được công bố on line bởi tạp chí Occupational and Environmental Medicine (OEM), công trình phân tích này, được lãnh đạo bởi các nhà nghiên cứu Thụy Điển Lennart Hardell (đại học Orebro) và Kjell Hansson (đại học Umea) đã nói ngược lại một nghiên cứu được công bố vào tháng 9 ở Anh, theo đó sự việc các điện thoại cầm tay được liên kết với các tác dụng sinh học hoặc hại sức khỏe là điều đã không được chứng minh ».

Nhưng nhật báo The Independence báo cáo rằng Lawrie Challis, người lãnh đạo công trình nghiên cứu của Anh, công nhận rằng vì lý do số bệnh nhân đã sử dụng một điện thoại di động từ hơn 10 năm nay thấp, nên « vào giai đoạn này không thể loại bỏ khả năng là các ung thư có thể xuất hiện trong những năm sắp đến. ». Việc không chắc chắn liên quan đến thời gian tiềm tàng giữa lúc tiếp xúc với điện từ trường và lúc phát triển một khối u vẫn là một trong những trở ngại chính trong việc tiến hành nghiên cứu dịch tễ « mang tính chất kết luận ».

« CÁC NHÀ ĐẠI TIÊU THỤ »

Ở Pháp, nơi điện thoại cầm tay phát triển từ năm 1992 và là nơi hiện nay có hơn 52 triệu người đăng ký sử dụng, nghiên cứu mới đây nhất , được công bố vào tháng 9 trong Revue d’épidémiologie et de santé publique, cũng bị cùng những hạn chế. Nghiên cứu này nhằm vào những bệnh nhân bị các u não từ năm 2001 và 2003.

« Việc sử dụng đều đặn điện thoại di động không liên kết với một sự gia tăng nguy cơ u thần kinh đệm ngoại biên (neurinome), u màng não (méningiome) hoặc u thần kinh đệm (gliome). Mặc dầu các kết quả này không đáng kể, nhưng tuồng như có một khuynh hướng chung gia tăng nguy cơ u thần kinh đệm nơi những « người tiêu thụ lớn nhất » điện thoại di động : những người sử dụng với thời gian dài, với thời gian liên lạc bằng dây nói cao và đã sử dụng một số lượng lớn nhất các máy điện thoại »

Vì sức mạnh về mặt thống kê của công trình nghiên cứu Pháp không đủ để quyết định, các tác giả nhờ đến công trình nghiên cứu quốc tế, được tiến hành năm 1999. Elisabeth Cardis, người điều hành Interphone ở Trung tâm quốc tế nghiên cứu ung thư (CIRC) ở Lyon, không ngạc nhiên bởi những kết quả của công trình nghiên cứu của Lennart Hardell và Kjell Hansson. « Họ dựa trên nhiều nghiên cứu gồm trong Interphone. Thật vậy các nghiên cứu này đã ghi nhận một gia tăng, có ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa, của các u thần kinh đệm nơi những người sử dụng điện thoại cầm tay », bà chấp nhận như vậy. « Tất cả khó khăn là ở chỗ lý giải các kết quả », bà nói thêm như vậy.

Nghiên cứu Interphone cũng sẽ cố gắng xác định vị trí của các khối u. Nếu 20 đến 30% liều lượng điện từ được phát ra bởi điện thoại được hấp thụ bởi não bộ, « sự tiếp xúc phóng xạ này rất là khu trú », Elisabeth Cardis đã chỉ rõ như vậy. Do đó ít có khả năng một khối u trong vùng trán hoặc chẩm có thể được quy cho các tần số phóng xạ.
(LE MONDE 13/10/2007)

10/ ÁNH NẮNG MẶT TRỜI, TẠI SAO, ĐÚNG LIỀU LƯỢNG, LÀ CẦN THIẾT !

BS Brigitte Houssin, chuyên gia vi dinh dưỡng (micronutrition), tác giả của “ Soleil, mensonges et propagande ” và GS Henri Joyeux, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của CHU de Montpellier, trình bày những lợi ích của sưởi nắng.

Hỏi : Tại sao ông khuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ?
BS B-Houssin : Trước hết, bởi vì nhờ tác dụng của các tia tử ngoại B trên da mà chúng ta có thể chế tạo sinh tố D với nhiều tính chất. Hai phần ba của các dự trữ vitamine D của chúng ta phải được tạo nên bởi ánh nắng mặt trời. 1/3 còn lại được mang lại bởi thức ăn.

Hỏi : Những tính chất nào của vitamine D làm cho nó trở nên cần thiết ?
BS B-Houssin : Vitamine này, cùng với calcium, tham gia vào cấu trúc và sự khoáng hóa xương, làm gia tăng các phòng ngự miễn dịch và có một tác dụng có lợi lên hệ tim-mạch. Và theo những công trình nghiên cứu mới đây, vitamine D làm giảm nguy cơ bị cao huyết áp nhờ một tác dụng khả dĩ lên vài hormone có liên hệ trong sự điều hòa huyết áp. Lợi ích khác của vitamine này : nó cải thiện các bệnh ngoài da tự miễn dịch, như chàm (eczéma) và bệnh vẩy nến (psoriasis). Vitamine D có những tính chất khác, như làm dễ sự thải bỏ vài chất gây ô nhiễm (polluants).

Hỏi : Ta phải có nồng độ vitamine D trong máu bao nhiêu ?
BS B-Houssin : Nồng độ được khuyến nghị nằm giữa 100 và 120 nanomole mỗi lít nhưng, trong đất nước chúng ta và nhất là vào mùa đông, dân chúng thiếu vitamine này. Nồng độ tối thiểu không được duới 75 nanomoles.

Hỏi : Ta phải tiêu thụ thức ăn giàu vitamine D nào ?
BS B-Houssin : Ta tìm thấy vitamine D chủ yếu trong các cá mỡ (poissons gras), những thức ăn nguồn gốc động vật, nhưng rất thường, sau một thăm khám cho thấy một sự thiếu hụt, các thầy thuốc kê đơn một chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) với những liều lượng mạnh ít hay nhiều. Sự cho bổ sung này có vẻ thiết yếu nơi các người già, nhất là sau một gãy cổ xương đùi. Trong trường hợp này khi đó phải khuyên một liều lượng hàng ngày 2.000 đơn vị, theo một công trình nghiên cứu mới đây của Hoa Kỳ.

Hỏi : Những công trình nào đã đưa ra giả thuyết, theo đó vitamine D là một yếu tố chống ung thư ?
GS Henri Joyeux : Mối quan tâm đối với vitamine D chống lại quá trình ung thư hóa tiếp theo sau nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học. Một trong những công trình này, có tính chất so sánh và được tiến hành ở Scandinave nơi các phụ nữ mãn kinh, đã cho phép quan sát rằng những phụ nữ bị ung thư vú có một nồng độ vitamine D đặc biệt thấp. Những công trình nghiên cứu khác nơi động vật (chuột) đã cho thấy rằng một sự cung cấp với những liều lượng mạnh của vitamine này làm giảm kích thước của các khối u vú. Một thử nghiêm khác, nơi các con chuột bị một ung thư tuyến tiền liệt cũng đã được thực hiện. Tiến triển của các khối u của các con chuột nhận những liều lượng mạnh vitamine D đã được làm chậm lại. Những công trình nghiên cứu khác hiện dang được tiến hành ở Canada nơi những phụ nữ mãn kinh.

Hỏi : Những lợi ích của mặt trời lên khí chất được liên kết với vitamine D ?
BS B-Houssin : Những công trình nghiên cứu đã chứng minh ở mức độ nào, bằng một tác dụng lên các neurone dẫn truyền, ánh sáng mặt trời có lợi trong việc ngăn ngừa và điều trị vài chứng trầm cảm. Người ta đã quan sát rằng nồng độ vitamine D thấp hơn nhiều nơi những người bị trầm cảm so với những người không bị chứng bệnh này. Nơi những Úc trẻ khỏe mạnh, một sự cho bổ sung vào cuối đông , 400 hay 800 đơn vị vitamine D mỗi ngày, đã cho phép cải thiện tính khí !

Hỏi : Ánh nắng mặt trời với cường độ mạnh là có hại : nhiều thông điệp khuyên bảo vệ chống lại.
BS B-Houssin : Quả thật là một sự tiếp xúc quá mức với ánh sáng mặt trời làm dễ ung thư da, ta biết điều đó. Đó là mối nguy hiểm số 1. Mối nguy hiểm thứ hai là một sự gia tốc của quá trình lão hóa da, ta cũng biết điều đó. Nhưng chống lại những nguy cơ này, nhiều chiến dịch phòng ngừa giải thích rất rõ làm sao bảo vệ . Những thông điệp khuyến khích chạy trốn hoàn toàn ánh nắng chỉ tạo điều xấu hơn là điều tốt.
(PARIS MATCH 13/5-19/5/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Vitamin D

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/5/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#52 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 31 May 2010 - 03:27 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG TIẾN BỘ CỦA NGOẠI KHOA CỦA ĐỤC THỦY TINH THỂ.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

BỆNH ĐỤC THỦY TINH THẾ (CATARACTE) : Sự giảm dần thị lực, cảm giác nhìn trong xương mù, những rối loạn của thị giác màu sắc, là những triệu chứng cổ điển nhất. Đó là sự làm mờ đục của thủy tinh thể, một thấu kính (lentille) bình thường trong suốt nằm sau mống mắt, cơ quan này cho phép điều tiết mắt.

CÁC NGUYÊN NHÂN. Trong những nước phát triển, bệnh đục thủy tinh thể thường nhất là do sự lão hóa của thủy tinh thể. Bệnh này cũng được làm dễ bởi sự nhiễm độc thuốc lá (tabagisme) hay một bệnh đái đường, và bệnh có thể thứ phát sau một chấn thương nhãn cầu. Có những dạng bẩm sinh. Một sự tiếp xúc quá mức với các tia tử ngoại là nguyên nhân trong một trường hợp trên năm, theo Tổ Chức Y Tế thế giới. OMS ước tính rằng 20 triệu người trên thế giới bị mù lòa do đục thủy tinh thể, nguyên nhân dẫn đầu trên thế giới của chứng mù.

NGOẠI KHOA. Ở Pháp, 600.000 phẫu thuật được thực hiện mỗi năm, đây là can thiệp ngoại khoa thường xảy ra nhất. Phẫu thuật nhằm lấy đi thủy tinh thể bị hỏng và thay thế nó bằng một implant bằng acrylique (trở nên ngày càng hiệu năng). Nói chung chỉ cần gây tê tại chỗ bằng một loại gel là đủ. Đường xẻ tối thiểu (đôi khi dưới 2mm) và phần lớn các bệnh nhân chỉ được nhập viện nửa ngày. Giải phẫu được thực hiện trong khu vực tư nhân trong 70% các trường hợp. “ Từ 15 năm nay, có một sự bùng nổ của các kỹ thuật ”, GS Béatrice Cochemer, chủ tịch của Hiệp hội nhãn khoa Pháp đã nhấn mạnh như thế.

CÁC KẾT QUẢ. Sự phục hồi thị giác nhanh chóng, đôi khi ngay ngày hôm sau. Vài bệnh nhân có thể không cần đeo kính. Các biến chứng là hiếm hoi, ít nhất nơi các nhóm phẫu thuật có kinh nghiệm. Phải tránh những gắng sức vật lý trong những ngày sau mổ, và tránh thể thao trong ít nhất 15 ngày.


Sự ra đời của các implant còn hiệu năng hơn hẳn sẽ còn cải thiện các kết quả của các phẫu thuật.

VISION. Trong những năm 1950, những can thiệp ngoại khoa thường được thực hiện nhất, viêm ruột thừa và các amygdales, liên hệ chủ yếu đến các trẻ em. Ngày nay, đó chính là ngoại khoa của bệnh đục thủy tinh thể, hiếm khi gây bệnh cho những người dưới 60 tuổi … Với gần 600.000 phẫu thuật mỗi năm ở Pháp, phẫu thuật này cũng là một minh họa đẹp của những bất bình đẳng xã hội-địa dư về sức khỏe.

Không ai thoát khỏi sự giảm thị giác này, do, khi lớn tuổi, một sự làm đục dần dần của thủy tinh thể, được giải thích bởi cấu trúc của nó : “ Thủy tinh thể được bao quanh bởi một bao nang (capsule) mà chỉ có phần trước là sản xuất các tế bào ; những tế bào này sau đó mất nhân và trở thành những tế bào sợi, chồng chất như vỏ của các quả hành, GS Francine Behar-Cohen, thầy thuốc nhãn khoa thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu de Paris đã giải thích như vậy. Những tế bào này tồn tại suốt đời, nhưng chỉ nhờ những chất dinh dưỡng được mang lại bởi các kênh màng tế bào (canaux membranaires). Thế mà, với sự lão hóa, số những kênh này bị giảm, các sản phẩm thoái hóa tích tụ và làm biến đổi cấu trúc của các sợi của thủy tinh thể, làm thủy tinh thể mất sự trong suốt, cứng lên và vàng đi. ”

Cơ chế này được khơi mào ngay năm 30 tuổi mặc dầu một sự giảm thị lực chỉ được cảm thấy sau 60 hay 70 tuổi. Bị ảnh hưởng bởi những yếu tố di truyền, sự giảm thị lực này có thể xuất hiện sớm hơn trong vài gia đình mà không có lý do đặc biệt. Một chấn thương của mắt cũng có thể gây nên đục thủy tinh thể. Tác dụng của ánh sáng đang còn được bàn cãi, nhưng bệnh đái đường, có thể coi như là một sự lão hóa gia tốc, và chứng nghiện thuốc lá, làm dễ chứng bệnh này. Những bệnh đục thủy tinh thể xuất hiện rất sớm, hiếm khi xảy ra, nơi trẻ em có thể kèm theo những bệnh di truyền khác như trisomie 21. Những bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh (cataractes congénitales) này phải được chẩn đoán càng sớm càng tốt.

Ngoài những trường hợp đặc biệt này, đục thủy tinh thể chỉ là một dấu hiệu làm bực mình của tuổi già. “ Mức độ của những biến đổi, vị trí và sự lan rộng của các vết mờ đục làm bệnh thủy tinh thể gây khó chịu ít hay nhiều. Ngày xưa, nhìn kém vào tuổi 60 là chuyện bình thường. Ngày nay ta còn có thể hoạt động hơn, lái xe ở tuổi 80-90, và mỗi người muốn bảo tồn một thị lực tối ưu ”, GS Behar-Cohen đã nói thêm vào như vậy.

Giải pháp duy nhất, phẫu thuật lấy đi thủy tinh thể bị hỏng, được thay thế bằng một implant bằng acrylique, đặt trong nhãn cầu. “ Không có chống chỉ định, ngoài sự nhiễm trùng. Trong khoa của chúng tôi, tuổi trung bình được mổ là 73 tuổi ”, GS Antoine Brézin, người điều khiển trung tâm nhãn khoa của bệnh viện Cochin, Paris (ở đây 2000 trường hợp mổ đục tinh thể mỗi năm) đã nhấn mạnh như vậy. Trong phần lớn các trường hợp, chỉ cần vài giờ là đủ.

15 PHÚT GIẢI PHẪU.

Vào lúc thăm khám trước khi mổ, sự đo cực kỳ chính xác các tham số của mắt cho phép xác định loại thấu kính (lentille) cần thiết. Thường nhất, một gây mê tại chỗ bằng một gel là đủ cho phẫu thuật kéo dài khoảng 15 phút và được thực hiện dưới kính hiển vi. Tiêm một chất nhớt đàn hồi (produit viscoélastique) dưới giác mạc tạo phẫu trường cần thiết cho thầy thuốc ngoại khoa để đưa dụng cụ vào nhờ hai đường xẻ nhỏ. Ông ta cắt một cửa sổ nhỏ tròn trong bao nang của thủy tinh thể, rồi tiêm một chất làm cho thủy tinh thể tách ra khỏi bao nang của nó. Thủy tinh thể, sau khi đã trở nên di động, nhờ một ống thăm dò siêu âm (sonde à ultrasonde), được nhũ hóa thành những mảnh nhỏ, được hút đi một cách cẩn thận : đó là phacoémulsification. Implant, được quấn tròn trong cartouche của nó, khi đó được đưa vào trong bao nang, ở đấy nó được triển khai ra.

“ Tất cả sự khó khăn là ở chỗ tạo những đường xẻ càng nhỏ càng tốt(dưới 2mm) đối với những phẫu thuật viên giỏi nhất, để không tạo nên chứng loạn thị làm biến dạng thị giác. Và cũng làm sao đừng làm vỡ bao nang thủy tinh thể, chỉ dày một phần nghìn của milimet, bằng không thì không thể đặt lentille vào trong vị trí cơ thể học của nó, thầy thuốc nhãn khoa đã giải thích như vậy.

Nhưng những biến chứng như những biến chứng này hay một sự bong võng mạc vẫn khá hiếm hoi (dưới 1%), cũng như những nhiễm trùng (dưới 1%). Tuy nhiên, vì lý do an toàn, phần lớn các nhóm phẫu thuật ưa mổ một con mắt này cách xa con mắt kia một khoảng thời gian. Một đục thủy tinh thể thứ phát do sự làm đục của bao nang có thể xảy ra, nhất là nơi những người được mổ trẻ. Do sự di chuyển của các tế bào từ bao nang, bao nang được điều trị bằng laser.

Sự lựa chọn implant là một sự thỏa hiệp giữa các ước muốn của bệnh nhân và những bức thiết của sự điều chỉnh quang học. Nếu không có vấn đề mắt nào khác, kết quả có thể là rất tốt và nhiều bệnh nhân sau khi mổ có một thị lực tuyệt vời, mà đôi khi họ đã không bao giờ có được. Sự xuất hiện sắp đến đây những implant thật sự có khả năng điều tiết, như thủy tinh thể tự nhiên, hẳn phải còn cải thiện những hiệu năng của phẫu thuật.
(LE FIGARO 17/5/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 156 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2010 )

6/ NGOẠI KHOA CỦA BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ (CHIRURGIE DE LA CATARACTE) : ĐỪNG DO DỰ NỮA !

Người ta thống kê khoảng 500.000 phẫu thuật được tiến hành mỗi năm ở Pháp. Những triệu chứng đầu tiên là một sự biến đổi của các màu sắc, sự lòa mắt và một cảm giác khó chịu thị giác. Sau đó dần dần được xác lập một sự giảm thị lực : người ta thấy mờ rồi rất mờ. “ Không được điều trị, BS Catherine Albou-Ganem đã xác nhận như vậy, ta có thể đánh mất thị giác, điều này gần như không còn là trường hợp trong đất nước của chúng ta nữa. Chẩn đoán được xác lập bằng một thăm khám đơn giản bởi kính hiển vi sinh học (biomicroscope). Mục đích của can thiệp ngoại khoa là để thay thế thủy tinh thể bị biến đổi bằng một thủy tình thể khác, bằng plastique mềm. Sự gây mê từ nay được thực hiện với các giọt của thuốc nhỏ mắt, được dung nạp rất tốt. Ngày nay, những đường xẻ bé tí (micro-incisions) được thực hiện ở ngoại vi của giác mạc (cornée) khoảng 2mm (thay vì 12 mm cách nay còn vài năm). Sự tiến bộ này có thể được thực hiện là nhờ kỹ thuật ngoại khoa đã trở nên ít gây chấn thương hơn. Trong quá khứ, người ta lấy đi tức thời toàn bộ của thủy tinh thể, nên bắt buộc phải thực hiện, một đường xẻ lớn. Ngày nay, nhà phẫu thuật đưa vào một loại búa đâm (marteau piqueur) bé xíu vô cùng mảnh, làm nghiền vụn thủy tinh thể và hút các mảnh vụn ra, đồng thời để lại cái vỏ ngoại biên của nó. Để thay thế thủy tinh thể bị lấy đi, nhà phẫu thuật đưa vào một implant được gấp lại trong một ống tiêm đặc biệt. Thủy tinh thể sau đó tự mở ra như một cánh dù. Những implant mới nhất, bằng polymère cực kỳ mềm mại, rất có hiệu năng : bằng cách biến đổi độ cong và design của chúng, chất lượng quang học đã được cải thiện rất nhiều. Chúng có thể dễ gấp hơn và gây nên những biến chứng ít hơn.” Phẫu thuật, kéo dài 10 đến 20 phút, hoàn toàn không đau, và sự hồi phục, rất nhanh chóng và hoàn toàn. Với tỷ lệ biến chứng dưới 1%, phẫu thuật này đã tỏ ra có tính chất cách mạng.
(PARIS-MATCH 5/11-11/11/2009)

8/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ : MỘT THẾ HỆ IMPLANT MỚI THAY THẾ THỦY TINH THẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH NHIỀU RỒI LOẠN.

Để mổ đục thủy tinh thể (cataracte), các laser mới “ femtoseconde ” cho phép thực hiện các đường xẻ dưới 1 mm, để lấy thủy tinh thể ra khỏi ổ, sau khi nó được làm hóa lỏng bởi laser. Như thế hạn chế chấn thương gây nên bởi các đường xẻ 2mm đang được thực hiện ngày nay. Bởi vì mặc dầu vẫn không thể đưa vào một thủy tinh thể thay thế cổ điển với một đường xẻ dưới 1 mm, các công trình nơi động vật cho thấy rằng, cái túi thủy tinh thể được khoét rỗng có thể được làm đầy, qua một đường xẻ dưới 1mm, bằng cách tiêm vào đó silcone lỏng. “ Chất silicone này gây nên phản ứng trùng hợp (polyméralisation) và một khi được đặt tại chỗ, có thể được điều biến (remodélé) lại bằng laser nhằm điều chỉnh các rối loạn thị giác cổ điển ”, GS Béatrice Cochener (Brest) đã giải thích như vậy. Sự trong suốt được tìm thấy lại và thị giác được điều chỉnh cùng lúc với phẫu thuật. Trong khi kỳ công kỹ thuật này chỉ mới ở giai đoạn thí nghiệm, thì một thế hệ implant mới đang làm đảo lộn phép điều trị bệnh đục thủy tinh thể. Đó là những thấu kính bé xíu trong nhãn cầu, cũng điều chỉnh những rối loạn như cận thị, viễn thị và lão thị. Được gọi là nhiều tiêu cự (multifocal), các implant này có trên bề mặt của chúng những vòng đồng tâm xen kẽ nhau, trong đó những vòng này tái lập thị giác nhìn xa, còn những vòng kia phục hồi thị giác nhìn gần. Như vậy, não bộ tiếp nhận đồng thời những thông tin thị giác được thích ứng với thị giác nhìn gần và nhìn xa và chính não bộ sẽ thực hiện sự chọn lọc tùy theo nơi mà nó chú ý đến. Các implant này mang lại sự thành công đến độ hiện đang phát triển ngoại khoa của “ thủy tinh thể trong ” (chirurgie du cristallin clair), nhằm thay thế một thủy tinh thể lành mạnh bằng một implant nhiều tiêu cự, để điều chỉnh chứng cận thị, lão thị,..Tuy nhiên Christophe Baudouin (Viện thị giác, Paris) không hoàn toàn tán đồng về phẫu thuật này, nhằm điều chỉnh những khuyết tật mà chỉ cần đeo kính để điều trị chúng, “ trong khi đó là một vi phẫu thuật (micro-chirurgie) bao gồm những nguy cơ, mặc dầu rất nhỏ. Ngoài ra, các implant này đòi hỏi những khả năng đáp ứng của não bộ khó mà tiên đoán được trước khi đặt. Chính vì thế mà những implant “điều tiết ” (“ accomodatif ”) đã xuất hiện trong những năm vừa qua. Được chấp thuận ở bên kia Đại Tây Dương, các implant điều tiết này hoạt động như thủy tinh thể, theo các co rút của thể mi (muscle ciliaire) trong lúc điều tiết. Nhưng ở Pháp, các implant này vẫn còn đáng ngờ bởi vì mặc dầu chúng mang lại một thị giác nhìn xa và trung gian, nhưng thị giác nhìn gần lại ít tốt hơn và thường cần phải đeo kính.
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

2/ UNG THƯ PHỔI : TỶ LỆ TỬ VONG CỦA CÁC PHỤ NỮ BÙNG NỔ.

Những con số được ghi nhận nơi các phụ nữ từ 35 đến 54 tuổi là gần với những con số của các người đàn ông trong những năm 1950.

ONCOLOGIE. Ở Pháp, mỗi năm người ta đếm được 30.000 trường hợp ung thư phổi mới. Tỷ lệ tử vong đối với loại ung thư này (thường xảy ra nhất sau ung thư tuyến tiền liệt nơi đàn ông) đã được chia đôi trong 10 năm nơi những người đàn ông 40 tuổi. Ngược lại, tỷ lệ này được nhân 4 trong 15 năm nơi các phụ nữ 40 tuổi, cần biết rằng nơi các phụ nữ, ung thư phổi là ung thư thường xảy ra nhất sau ung thư vú và ung thư đại tràng. Chỉ còn vài ngày nữa là Ngày thế giới không thuốc lá (Journée mondiale sans tabac), Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire) công bố những con số này trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire (BEH).

Công trình nghiên cứu này, được tiến hành bởi Catherine Hill, chuyên gia dịch tễ học thuộc Viện Gustave Roussy, nêu lên rằng sự thành công của việc hạ tỷ lệ tử vong nơi các người đàn ông “ hầu như hoàn toàn có thể quy cho sự ngăn ngừa của nhiễm độc thuốc lá, bởi vì những sự tiếp xúc khác (nghề nghiệp và ô nhiễm) có một ảnh hưởng ít hơn và bởi vì sự điều trị ung thư phổi, bất hạnh thay, đã ít đạt được tiến bộ ”.

Cũng từ công trình nghiên cứu này cho thấy rằng tỷ lệ tử vong bởi ung thư phổi đã đạt một tối đa vào năm 1993 nơi những người đàn ông và rằng từ đó tỷ lệ này đã hạ rất nhiều. Trái lại, nơi các phụ nữ, tỷ lệ này gia tăng từ năm 1980 và ngay cả gia tốc trong những năm qua. Những sự biến thiên này là do sự giảm của số trung bình các điếu thuốc được hút giữa 15 và 44 tuổi, nơi những người đàn ông suốt trong mười năm qua và do sự gia tăng hút thuốc nơi các phụ nữ. Hậu quả : tỷ lệ tử vong bởi ung thư phổi nơi các phụ nữ từ 35 đến 54 tuổi trong năm 2000-2007 “ là gần với tỷ lệ tử vong nơi những người đàn ông cùng lứa tuổi suốt trong những năm 1950 ”, Viện theo dõi y tế đã đánh giá như vậy.

“ Những con số này là những hậu quả của sự chênh lệch thời gian giữa những người đàn ông và các người đàn bà, BS Armelle Lavolé, thầy thuốc chuyên khoa phổi-ung thư (pneumo-oncologue) thuộc bệnh viện Tenon, Paris đã chứng thực như vậy. Cần biết rằng ta cần 20, 30 hoặc 40 năm để “ làm ” một ung thư của phổi. ” Tỷ lệ tử vong giữa 35 và 44 tuổi là kết quả của những sự tiếp xúc của 20 đến 25 năm qua, trong chừng mực sự bắt đầu nghiện thuốc lá được thực hiện giữa 15 và 20 tuổi.

Ở Pháp, các phụ nữ bắt đầu hút thuốc lá vào năm 1945. Khi đó quyền đi bầu và thuốc lá há không phải là cùng một cuộc đấu tranh ? “ Thật vậy, đầu chiến tranh, đó là sự bắt đầu của thuốc lá đối với các phụ nữ. Đó là sự giải phóng của phụ nữ nhưng chỉ các đĩ điếm và vài cô gái tự do phóng túng hút mà thôi, Catherine Hill đã nêu lên như vậy. Khi đó, đó là những loại người rất xấu ! Rồi, dần dần các bà bắt đầu hút, và hút trở thành một thời trang . “ Vào năm 1945, các phụ nữ tiêu thụ 0,1 điếu thuốc mỗi ngày, nhưng con số này sẽ không ngừng gia tăng với thời gian để vào năm 1955 đạt một cao điểm với 3,4 điếu mỗi ngày (so với 7 đối với các người đàn ông). 4 năm trước đó, luật Evin đánh dấu một bước tiến đầu tiên trong cuộc đấu tranh chống thuốc lá bằng cách cấm hút ở những nơi công cộng. Sự quảng cáo thuốc lá cũng như việc bán cho những người dưới 18 tuổi cũng bị cấm chỉ.

“ YẾU ỚT HƠN ”

Hoa Kỳ là nơi các phụ nữ đã bắt đầu hút thuốc trước cả những người Pháp, tỷ lệ mắc phải ung thư phổi gia tăng nhưng tỷ lệ tử vong lại giảm. Bên kia Đại Tây Dương, đối với các người đàn ông, tỷ lệ tử vong hạ từ đầu những năm 1990. “ Cùng nguy cơ như nhau, các phụ nữ mềm yếu hơn, BS Lavolé đã ghi nhận như vậy. Đối với các người đàn ông, trên 100 ung thư phổi, 10 đến 15 xảy ra nơi những người không hút thuốc so với khoảng 30 nơi các phụ nữ. Như vậy các phụ nữ dễ bị mắc bệnh hơn dầu cho không hút thuốc. ”

Hiện nay, các nhà nghiên cứu không biết một cách đích xác phải quy những khác nhau này cho gì. Hướng hormone và di truyền đã được đưa ra. Đối với Viện theo dõi y tế, giải pháp không mập mờ : phải ngừng hút thuốc.“ Không có một hành động ngăn ngừa nào hiệu quả hơn là ngừng hút thuốc. Phải theo đuổi các hành động trên mọi mặt trận, đặc biệt là về các giá cả, nếu ta muốn đi đến một sự giảm lớn của vấn đề ”, Viện đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 26/5/2010)

3/ UNG THƯ GIAI ĐOẠN SỚM : NGỪNG THUỐC LÁ CÓ LỢI.

Ở Anh quốc, 10 công trình nghiên cứu dịch tễ lớn nơi gần 2.000 bệnh nhân cho thấy rằng nơi những người bị chẩn đoán có một ung thư ở giai đoạn sớm liên kết với thuốc lá (90% những u ác tính của phổi), tỷ lệ sinh tồn vào 5 năm sau chẩn đoán được tăng gấp đôi nếu họ ngừng hút thuốc (chuyển từ 33 đến 70%). Lợi thu được là do một sự chậm lại của sự tiến triển của những tế bào ác tính.
(PARIS MATCH 13/5-19/5/2010)

4/ GIỌNG NÓI CỦA BÀ MẸ CÓ TÁC DỤNG LÀM VỮNG LÒNG CŨNG NHƯ SỰ HIỆN DIỆN CỦA BÀ MẸ.

Một cú gọi điện thoại của người mẹ phóng thích oxytocine nơi các cô thiếu nữ bị căng thẳng và đủ để làm trấn an các cô gái này.

HORMONE. Sự tiếp xúc và sự hiện diện của bà mẹ không phải là phương thuốc duy nhất trị stress đối với các trẻ em. Những lời nói trấn an của bà mẹ cũng có tác dụng nhiệm màu, gây nên nơi các trẻ em sự phóng thích oxytocine, một kích thích tố chống stress mà ta chỉ mới bắt đầu đo lường tầm quan trọng và vai trò của nó nơi người và những động vật có vú. Đó là điều được chứng minh bởi một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, được thực hiện nơi khoảng 60 thiếu nữ tuổi từ 7 đến 12. Đây là lần đầu tiên mà tác động và những lợi ích của lời nói người mẹ được đo lường một cách trực tiếp nơi những đứa trẻ bằng những định lượng nồng độ hormone.

Nhóm nghiên cứu được chỉ đạo bởi Leslie Seltzer, thuộc Đại học Wiconsin-Madison, đã cho các thiếu nữ chịu một trắc nghiệm nhằm gây nên stress. Được cấp môn bài và được cho phép bởi các giới hữu trách của đại học, trắc nghiệm nhằm yêu cầu các cô thiếu nữ này nói và làm những bài tập toán trước một cử tọa gồm những người lớn. Một tình huống gây lo âu mà những tác dụng đã gây nên nơi toàn bộ các thiếu nữ một sự tiết mạnh cortisol, một hormone de stress, được định lượng trong nước miếng và nước tiểu. Tại sao lại các cô con gái ? “ Bởi vì trong tình huống stress, các cô gái có khuynh hướng tìm kiếm một sự che chở nhiều hơn so với các cậu con trai ”, Leslie Selzer đã biện minh như vậy.

Một khi đã bị làm mất ổn định, các cô gái nhỏ đã được chia thành 3 nhóm. Những cô gái thuộc nhóm thứ nhất đã được cho tiếp xúc với mẹ để bà mẹ làm chúng vững lòng bằng cách có thể nói với chúng và nắm cổ chúng, những cô gái thuộc nhóm thứ hai được quyền nói bằng điện thoại với mẹ và kể những nỗi bất hạnh của mình, trong khi những cô gái của nhóm sau cùng xem phim La Marche de l’empereur, phim của Luc Jacquet.

“ Những cô gái nhỏ, đã có thể tương tác với mẹ mình, dầu đó bằng một sự tiếp xúc vật lý trực triếp hay chỉ qua điện thoại, đều đã có cùng đáp ứng hormone ”, nhà nghiên cứu nữ đã nhấn mạnh như vậy. Bù lại, không có một dấu vết oxytocine nào đã được tìm thấy trong nước tiểu của những cô gái đã xem phim và như thế đã không có một sự tiếp xúc nào với mẹ mình. Nhóm nghiên cứu đã phải ngạc nhiên khi chứng thực rằng tất cả những trao đổi đã xảy ra theo cùng kịch bản : trước hết một sự làm vững lòng không chút dè dặt ( “ con sẽ tốt hơn), tiếp theo là một sự gợi lên những sự hoạt động sắp đến của gia đình và cuối cùng, những lời phát biểu thương yêu và một “ bisou ” (hôn).

MỘT TRẮC NGHIỆM VỚI NHỮNG SMS.

Vào cuối thai nghén, nhũ nhi biết giọng nói của mẹ mình. Vậy ta có thể tự hỏi trong thí nghiệm này những yếu tố làm an lòng trong những trao đổi mẹ-con gái là gì. Ngôn ngữ nói riêng ? Ngữ điệu ? Tiếng nói ? “ Chúng ta không thể biết điều đó, Leslie Seltzer đã công nhận như thế. Ta có thể nghĩ rằng các con người sử dụng các tín hiệu ngôn từ như một thay thế của xúc giác khi họ không có thể mang lại trực tiếp sự làm an lòng cho một người nào đó. Đó là tất cả những gì ta có thể nói. ” Để biết xem ngôn ngữ có đóng một vài trò quyết định hay không, nhóm nghiên cứu của ông làm cùng trắc nghiệm nhưng hạn chế những trao đổi vào những liên lạc không ngôn từ, các SMS. Họ cũng làm trắc nghiệm với các động vật có vú, cũng sử dụng các messages vocaux.

Được tổng hợp trong não bộ bởi vùng dưới đồi, oxytocine không chỉ là một hormone chống stress. Nơi người mẹ, nó đóng một vai trò chủ chốt lúc sinh đẻ và lúc cho bú. Hiện diện nơi nam lẫn nữ, oxytocine làm dễ sự quyến luyến, tình yêu và lòng chung thủy. Được cho nơi những bệnh nhân tự kỷ (autiste), oxytocine cải thiện mối quan hệ của những người này với ngoại giới, như đã được chứng minh mới đây bởi Angela Sirigu, thuộc Institut des sciences cognitives de Bron (Rhone). “ Chú ý đừng giải thích sai công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, nhà nghiên cứu đã cảnh cáo như vậy, tất cả những người tự kỷ đều có những người mẹ rất thương yêu. Chúng là những bệnh nhân tự kỷ bởi vì cúng bị bệnh chứ không phải bởi vì chúng không có sự tiếp xúc với người mẹ. ”
(LE FIGARO 13/5/2010)

5/ NHỮNG LUỒNG NICOTINE GIẢ.

ADDICTION. Phần lớn các chuyên gia nhiễm độc thuốc lá (tabacologue) đều nghĩ rằng mỗi luồng thuốc lá (bouffée de cigarette) được hít vào gây nên một sự đổ dồn ào ạt và ngắn ngủi của nicotine vào trong não bộ. Nhưng không phải là như vậy.

Người ta bị phụ thuộc thuốc lá như thế nào ? Đối với đại đa số các chuyên gia nhiễm độc thuốc lá, lối giải thích là đơn giản. Khi người hút thuốc hít vào một hơi, nicotine được chứa trong thuốc lá đi vào trong phổi. Nicotine được hấp thụ hoàn toàn bởi máu, và được vận chuyển cả khối đến tận não bộ. Ở đó, nicotine khởi động các cơ chế trong “ vòng khen thưởng ” (circuit de la récompense), một hệ thống có can dự trong sự tạo động cơ cho những hành vi sinh tử như sự sinh sản hay sự tìm kiếm thức ăn. Khi đó nicotine gây nên một sự khoái lạc mạnh mẽ. Rồi nó biến mất sau khoảng 15 giây đồng hồ. Để tìm lại cùng cảm giác khoái lạc, người hút hít vào một làn hơi khác, gây nên một cao điểm nồng độ nicotine trong não bộ. Được lập lại nhiều lần, hiện tượng này làm rối loạn hệ thống khoái lạc và gây nên một sự phụ thuộc (dépendance).

ĐỈNH CAO NICOTINE.

Lý thuyết này thật ra hoàn toàn sai, Jed Rose và các cộng sự thuộc đại học Duke Hoa Kỳ vừa chứng tỏ như vậy. Những chuyên gia về chứng nghiện này đã muốn trắc nghiệm giả thuyết về các đỉnh cao nicotine. Để thực hiện điều đó, họ đã phân tích những nồng độ của chất này trong não bộ bằng tomographie par émission de positons, một kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ theo ba chiều không gian. Họ đã đặt 13 người hút thuốc đều đặn và 10 người hút thuốc năm thì mười họa vào trong một scanner, và đã yêu cầu họ hút một điếu thuốc. Thế mà những chuyên gia đã không quan sát thấy đỉnh cao nicotine trong não bộ của một người nào cả. Trái lại, nồng độ của chất này đã gia tăng đều đặn trong não bộ khi họ càng hút điếu thuốc của họ. Lượng tối đa chỉ đạt được sau 3 đến 5 phút.

Mặt khác, sự tích tụ của nicotine khoảng hai lần chậm hơn nơi những người hút thuốc đều đặn so với những người hút thuốc không thường xuyên. Theo các tác giả, những người đại nghiện thuốc lá sẽ giữ nicotine lâu hơn trong các lá phổi của họ vốn bị tắc nghẽn do những tác dụng mãn tính của thuốc lá.

KHOÁI LẠC MẠNH.

“ Người ta biết rằng nicotine cần khoảng 13 phút để mất đi một nửa hoạt tính của nó, Jean-Pol Tassin, nhà dược lý thần kinh (neuropharmacologue) thuộc Inserm, Paris, đã xác nhận như vậy. Vậy nicotine không biến mất sau vài giây, như các chuyên gia về chứng nghiện thuốc lá (tobacologue) đã hằng tưởng như vậy. Nhờ công trình nghiên cứu được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu của Jed Rose, từ nay ta có bằng cớ rằng những đỉnh cao này của nicotine không hiện hữu. Kết quả này xét lại ý tưởng cho rằng sự phụ thuộc thuốc lá là do một sự nối tiếp của các khoái lạc mạnh.”

Khám phá này cũng khiến phải tìm kiếm những giả thuyết mới để giải thích sự thiếu hiệu quả của các thuốc dán (patch) và các gomme dùng để nhai. Những chất thay thế nicotine (substituts nicotiniques) này, nhằm làm cơ thể cai thuốc lá, không hoạt động trong 85% các trường hợp.Theo các chuyên viên về nhiễm độc thuốc lá, điều này là do sự kiện các chất thay thế nicotine phát nicotine ra một cách liên tục : chúng không gây nên những cao điểm nicotine, và do đó không gây nên những khoái lạc mạnh, trái với thuốc lá. Thật vậy, Jean-Pol Tassin đã giải thích như vậy : “ Nicotine có lẽ không phải một mình gây nghiện. Vào năm 2009, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã gợi ý rằng nicotine chỉ tác dụng với sự hiện diện của các hợp chất độc hiện diện trong khói thuốc lá và không có trong các patch và gomme. Việc không hiện hữu những cao điểm nicotine củng cố thêm giả thuyết này.”
(LA RECHERCHE 5/2010)

6/ TÌM KIẾM CHLAMYDIAE, BỆNH LÂY NHIỄM BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC CỦA CÁC THIẾU NỮ.

Nhiễm trùng này, ảnh hưởng lên hơn 3% các thiếu nữ ở Pháp, làm gia tăng nguy cơ vô sinh. Các chuyên gia người Anh chủ trương một xét nghiệm phát hiện sau mỗi người bạn đường mới.

MST (MALADIE SEXUELLEMENT TRANSMISSIBLE). Có lẽ đó là nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục thường xảy ra nhất. Tương ứng với tên gọi khá duyên dáng chlamydia, bệnh nhiễm trùng này có đặc điểm gây nên ít hoặc không những triệu chứng, đặc biệt là nơi các thiếu nữ. Vấn đề, đó là nếu không được điều trị, nhiễm trùng này làm gia tăng nguy cơ vô sinh và có thai ngoài tử cung do một sự viêm của các vòi dẫn trứng. Ở Anh Quốc, chính quyền vào năm 2003 đã khuyến nghị một phát hiện hàng năm đối với các thanh nữ dưới 25 tuổi. Sau một công trình nghiên cứu mới được công bố trong Britisch Medical Journal, các chuyên viên Anh gợi ý rằng phải thực hiện một xét nghiệm sau mỗi bạn đường mới.

TÚI DƯƠNG VẬT (PRESERVATIF)

Ở Pháp, giới hữu trách y tế, mặc dầu một báo cáo được công bố năm 2003, đã không đưa ra những lời khuyến nghị điều tra phát hiện, vì thiếu những dữ kiện dịch tễ học nghiêm chỉnh ở Pháp. “ Ngày nay chúng ta có những con số chính xác hơn với công trình nghiên cứu về hành vi sinh dục (comportement sexuel) của những người Pháp, được công bố vào năm 2006, cùng với việc gởi đi xét nghiệm đối với những thanh nữ từ 18 đến 25 tuổi, đã cho phép biết được rằng 3,2% các thanh nữ trong lứa tuổi này mang chlamidiae, giáo sư Michel Janier (người phụ trách của trung tâm MST thuộc bệnh viện Saint-Louis và trưởng khoa da của bệnh viện Saint-Joseph) đã giải thích như vậy. Vào năm 2006, một điều tra khác được tiến hành ở đại học Bordeaux bởi Centre national de référence des chlamydiae đã ước tính rằng 2,5% các thanh thiếu nữ bị nhiễm bởi chlamidiae.” Trong vài tỉnh, những tỷ lệ lây nhiễm đã được quan sát lên đến 10% đối với những thanh nữ từ 18 đến 25 tuổi.

Nơi nhưng cô gái trẻ, nhiễm trùng bởi chlamydiae xảy ra hoàn toàn không có triệu chứng trong 90% các trường hợp (trong 10% các trường hợp, đó là những khí hư âm đạo.). Các cậu con trai trong 50% các trường hợp có những triệu chứng (dịch chảy từ niệu đạo, đau buốt khi đi tiểu). Chính sự kết hợp của một nhiễm trùng thường xảy ra nhưng không có triệu chứng liên kết với một biến chứng tiềm tàng đáng sợ, sự vô sinh, đã khiến nhiều nước thiết đặt một chiến dịch phát hiện và điều trị một cách hệ thống. “ Ở Pháp, đối với những thanh nữ dưới 25 tuổi, mặc dầu không có những khuyến nghị chính thức, chúng tôi chủ trương làm xét nghiệm một lần mỗi năm, nhất là trong trường hợp thay đổi người bạn đường, giáo sư Michel Janier đã đảm bảo như vậy.

Hôm nay, các trung tâm phát hiện nặc danh và miễn phí đề nghị những xét nghiệm như những Cidist (centre d’information et de dépistage des infections sexuellement transmissibles). Việc tìm kiếm chlamydiae được thực hiện bởi những kỹ thuật sinh học phân tử, từ một mẫu nghiệm lấy nơi âm đạo đối với cô gái trẻ, được chính cô gái này thực hiện nhờ một kit, và nước tiểu đối với cậu con trai. Lấy máu (huyết thanh học) để tìm kiếm các kháng thể không đáng tin cậy. Điều trị đơn giản, hoặc 7 ngày kháng sinh (tétracyclines), hoặc uống 4 viên một lần (azithromycine).

Tuy nhiên nhiều câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ. Mặc dầu vai trò của nhiễm trùng trong sự vô sinh là không nghi ngờ gì nữa, tác động chính xác của nó vẫn không được biết đến. Tại sao vài người bị nhiễm trùng có những biến chứng phụ khoa nghiêm trọng, còn những người khác thì không ? Sau cùng, mặc dầu 25 năm chiến dịch cổ động cho túi dương vật, nhưng các chuyên gia không hiểu tại sao các nhiễm trùng bởi chlamydiae không bị thoái lui.
(LE FIGARO 10/5/2010)

7/ MỘT PEPTIDE ĐỂ LÀM TÁI SINH TỤY TẠNG.

Thách thức thật là táo bạo : làm tái sinh tụy tạng của những người bị bệnh đái đường nhờ một loại thuốc. Trong tất cả các trường hợp, những phương tiện được thực thi là to lớn, đáp ứng lại với những hy vọng được mang lại bởi liệu pháp hoàn toàn đổi mới này. Một hợp đồng quan trọng vừa được ký kết giữa nhóm dược phẩm Pháp Sanofi và một xí nghiệp Hoa Kỳ, Cure DM, với một số tiền được ước tính 335 triệu dollar (246 triệu euro). Mục tiêu là tạo mới các đảo tụy tạng, những cấu trúc tế bào có khả năng sản xuất insuline có chức năng, nhờ một peptide có hoạt tính sinh học (bioactif).

Thuốc, được mệnh danh Pancreate (proisleptide) phát xuất từ một protéine người có trong tự nhiên (Human proIslet Peptide, HIP). Chất này đã chứng tỏ tính hiệu quả nơi động vật qua những thử nghiệm tiền lâm sàng. Chất này được xác định như là điều trị đầu tiên của y khoa tái sinh (médecine régénérative) đối với bệnh đái đường và thật vậy can thiệp vào trong quá trình làm thuần thục những tế bào gốc tụy tạng. Những thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 theo dự kiến bắt đầu vào năm này. 250 triệu người trên thế giới bị liên hệ bởi căn bệnh đang bành trướng mạnh này.
(SCIENCE ET AVENIR 5/2010)

8/ UNG THƯ : NGĂN NGỪA BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG.

GS David Khayat, trưởng khoa ung thư của bệnh viện la Pitié-Salpetrière, Paris, tác giả của “ Vrai régime anticancer ” giải thích ăn uống làm sao để làm giảm các nguy cơ.

Hỏi : Những loại ung thư nào đặc biệt có thể được liên kết hơn với sự ăn uống ?
GS David Khayat : Những ung thư của bộ máy tiêu hóa, của tuyến tiền liệt, của phổi. Chúng ta cũng có một ít nghi ngờ về u hắc tố ác tính (mélanome malin). Cả thảy, đó là khoảng 70% các ung thư.

Hỏi : Những nghiên cứu nào cho phép quy trách một yếu tố ăn uống trong sự xuất hiện của một ung thư ?
GS David Khayat : Nhiều trăm công trình nghiên cứu quốc tế đã so sánh sự xuất hiện của một ung thư nào đó tùy theo những thói quen ăn uống. Ngày nay, với tất cả các kết quả này, từ nay có thể thiết lập một số quy tắc hành xử nào đó trong cách dinh dưỡng, tạo nên những lời khuyên thật sự chống ung thư. Ngoài những kết luận này, tôi đã sử dụng một báo cáo mới được công bố bởi Tổ chức nghiên cứu ung thư thế giới (World Cancer Research Fund), đã tập hợp tất cả những phân tích được thực hiện về những mối liên hệ khả dĩ giữa ung thư và chế độ ăn uống.

Hỏi : Chúng ta hãy bắt đầu với ung thư của tuyến tiền liệt. Theo những kết quả của các công trình nghiên cứu, những thức ăn nào dường như làm gia tăng nguy cơ bị ung thư ?
GS David Khayat : Đối với những người trên 50 tuổi, sự tiêu thụ qua mức các đồ sữa dường như có hại (trong khi những thức ăn này lại là rất tốt đối với những người trẻ tuổi nhất). Trong cuốn sách của tôi “ Chế độ ăn uống thật sự chống ung thư ”, tôi đã báo cáo rằng, bắt đầu từ 50 tuổi, một người đàn ông tiêu thụ mỗi ngày 2g calcium nguồn gốc sữa có nguy cơ gia tăng 30% bị ung thư tuyến tiền liệt so với một người đàn ông khác tiêu thụ toàn bộ dưới 1g mỗi ngày. Ngược lại những thức ăn khác tỏ ra có lợi, như cà chua, nguồn caroténoides, có một hoạt tính kháng oxy (activité oxydante) mạnh mẽ. Lycopène, chất rất hiện diện trong loại trái cây này, làm giảm 30% nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt. Những thức ăn khác cần khuyên sử dụng : gan bê (do chứa sélénium), những sản phẩm giàu quercétine (tác nhân ngăn ngừa tuyệt hảo) như nụ bạch hoa (câpres), cacao…

Hỏi : Về sự xuất hiện ung thư vú, những kết quả của những công trình nghiên cứu so sánh đã chứng minh điều gì ?
GS David Khayat : Sự cung cấp thặng dư calorie bởi một sự tiêu thụ quá nhiều rượu hay các chất mỡ làm gia tăng một cách rõ rệt nguy cơ phát triển một ung thư vú. Tại sao ? Bởi vì tình trạng mập lên do sự tiêu thụ này làm gia tăng sự tiết của các chất như vài hormone (các oestrogène) kích thích sự tăng sinh của các tế bào ác tính. Những tế bào mỡ (adipocytes) (những tế bào tích trữ mỡ) hành xử như những bơm kích thích tố (pompes à hormone) thật sự. Nhưng những công trình nghiên cứu này cũng đã cho phép chúng ta nêu lên những thức ăn khả dĩ làm giảm những nguy cơ mắc phải ung thư vú, như đậu nành giàu phyto-oestrogène, chè xanh...

Hỏi : Còn chống lại ung thư đại tràng, ta có thể bảo vệ mình như thế nào ?
GS David Khayat : Phải bắt đầu bằng cách giới hạn nhiều sự tiêu thụ đồ thịt lợn công nghiệp (charcuterie industrielle), đặc biệt giàu các tác nhân bảo quản hóa học hay những chất nâng khẩu vị (releveur du gout). Một lời khuyên hay : làm sao để tiêu thụ một cách đều đặn những thức ăn nhiều sợi (ngũ cốc, bánh mì hoàn toàn,...). Nhờ làm gia tốc sự vận chuyển qua ruột, các sợi làm giảm thời gian tiếp xúc giữa niêm mạc và những sản phẩm có tiềm năng gây ung thư được chứa trong viên thức ăn (bol alimentaire). Trong những công trình nghiên cứu này, hành và tỏi tỏ ra là những chất chống ung thư đặc sắc. Đứng trước các nguy cơ bị ung thư đại tràng, các sản phẩm sữa cũng đã chứng tỏ một vai trò bảo vệ.

Hỏi : Loại chế độ ăn uống nào cũng có thể tạo nên một yếu tố nguy cơ đối với phổi ?
GS David Khayat : Ở đây, chủ yếu các cách nấu chín có một nguy cơ gây ung thư : cuisine au wok (đạt những nhiệt độ quá cao) và nấu barbecue. Sự đánh dấu của bất cứ thức ăn nào bằng sự tiếp xúc của ngọn lửa đều tạo những chất có hại. Nguy hiểm khác: vài loại nước chứa arsenic. Các nhà nghiên cứu đã có thể, bằng những công trình nghiên cứu nhắm đích, nhận diện vài loại thức ăn đóng một vai trò có lợi nơi những người hút thuốc lá : các trái cây và rau vàng cam, nguồn tốt hơn của các bioflavonoides trong đó có một chất đã cho thấy khả năng làm giảm tác dụng gây ung thư của thuốc lá.

Hỏi : Những kết luận của các công trình nghiên cứu này về sự tiêu thụ của các chất bổ sung thức ăn là gì ?
GS David Khayat : Những kết quả đều phù hợp : các người hút thuốc phải tự cấm tiêu thụ các chất bổ sung thực phẩm chứa bêta-carotène hay một trong những dẫn xuất làm gia tăng nguy cơ ung thư. Sau 50 tuổi, một sự cho bổ sung vitamine E nơi người đàn ông cũng phải bị cấm chỉ : vitamine này làm dễ nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt. Công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ “ Select ” đã chứng mình điều đó một cách rõ rệt : 30.000 người đã được chia thành 4 nhóm. Một nhóm đã nhận sélénium, nhóm thứ hai nhận vitamine E, nhóm thứ ba nhận cả hai yếu tố và nhóm thứ tư nhận một placebo. Công trình nghiên cứu đã bị đình chỉ trước kỳ hạn bởi vì những người đàn ông được cho vitamine E đã phát triển nhiều các ung thư so với những người khác !

Hỏi : Ngược lại, những chất bổ sung thực phẩm nào được khuyên tiêu thụ ?
GS David Khayat : Một sự cho bổ sung sélénium tỏ ra rất tốt trong sự ngăn ngừa nhiều loại ung thư. Về ung thư của tuyến tiền liệt, một công trình nghiên cứu rất đáng lưu ý đã được công bố trong tạp chí khoa học JAMA.Tỷ lệ của ung thư đại tràng dường như cũng đã được huởng lợi từ sélénium : trong một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, trong đó 1321 người tham dự đã được chia thành hai nhóm, trong nhóm đã nhận một sự cho bổ sung sélénium chỉ có 8 trường hợp ung thư đại tràng so với 19 trường hợp trong nhóm nhận placebo.
(PARIS MATCH 20/5-26/5/2010)

Đọc thêm : Tổng Hợp Thông Tin Y Học Về Trà (Tea)

Quote

Thời Sự Y Học Số 145 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/10/2009 )

5/ NGUY CƠ UNG THƯ VÚ : THỊT, TRỨNG GÀ VÀ SỮA ĐƯỢC MINH OAN ?

Người ta nghĩ rằng chế độ ăn uống tây phương được liên kết với nguy cơ bị ung thư vú. Trong khung cảnh của công trình nghiên cứu EPIC (European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition), Valeria Pala và các đồng nghiệp đã quan tâm về mối liên hệ giữa sự tiêu thụ thịt, trứng và các sản phẩm sữa và nguy cơ bị ung thư vú.

Giữa năm 1992 và 2003, các thông tin về chế độ ăn uống của 319.826 phụ nữ đã được thu thập. Trong khoảng thời gian theo dõi trung bình 8,8 năm, 7.190 ung thư vú đã được chẩn đoán. Không có một sự liên hệ vững chắc nào đã được tìm thấy giữa nguy cơ ung thu vú và sự tiêu thụ của các thức ăn được khảo sát. Thịt được chế biến công nghiệp được liên kết với một gia tăng khiêm tốn của nguy cơ này.

“ Chúng tôi đã không nhận diện việc tiêu thụ thịt, trứng hay các phẩm sữa như là những yếu tố nguy cơ vững chắc của ung thư vú. Những nghiên cứu khác sẽ nghiên cứu vai trò khả dĩ của việc nấu thịt đỏ ở nhiệt độ cao trong bệnh này ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)

Thời Sự Y Học Số 155 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/1/2010 )

5/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ UNG THƯ ĐƯỢC SIẾT CHẶT LẠI.

Hơn 30% các ung thư có thể tránh được bởi những thói quen ăn uống tốt hơn.

NUTRITION. Nhiều ung thư phát sinh từ các đĩa thức ăn của chúng ta. Trong số 320.000 trường hợp ung thư mới được thống kê mỗi năm ở Pháp, khoảng 30% có thể tránh được bằng những thói quen dinh dưỡng tốt hơn và một lối sống cân bằng. Vào năm 2009, một số càng ngày càng nhiều các ấn bản khoa học đã hiệu chính mối liên hệ giữa cách ăn uống và ung thư. Cách đây vài tháng, Viện ung thư quốc gia (Inca) đã công bố những lời khuyến nghị mới về vấn đề này, đặc biệt căn cứ trên những kết luận của World Cancer Research Fund. Quỹ nghiên cứu ung thư thế giới này đã phân tích hơn 7000 công trình nghiên cứu. Trên ghế của các bị cáo là tình trạng tăng thể trọng (surpoids) và bệnh béo phì (obésité), rượu, muối, các thịt đỏ và đồ thịt lợn và các chất bổ sung thực phẩm có chất căn bản là bêtacarotène.

Hoạt động vật lý, sự cho bú sữa và sự tiêu thụ trái cây và rau xanh được xếp loại như là những yếu tố làm giảm nguy cơ bị ung thư. Nếu được tiêu thụ hàng ngày (ít nhất 5 lần mỗi ngày), các trái cây và rau xanh ngăn ngừa nhiều ung thư tiêu hóa và, chỉ riêng đối với trái cây, ngăn ngừa các ung thư phổi. Phải chăng vài loại trái cây hay rau xanh tốt cho sức khỏe hơn những loại khác ? Các nhà nghiên cứu khảo sát đều đặn các tác dụng chống ung thư của một số thức ăn nhất định. Công trình nghiên cứu mới nhất : sự tiêu thụ hàng ngày quả đào lạc (pistache) bảo vệ chống ung thư phổi.

NHỮNG TÁC DỤNG CHỐNG OXY HÓA.

Theo các chuyên gia, các công trình này hữu ích trong khung cảnh nghiên cứu, nhưng trong thực tiễn, những nhấn mạnh những tính chất đặc biệt của sản phẩm này hay sản phẩm kia thì không có ý nghĩa. “ Không có một trái cây hay một rau xanh nhiệm màu, mỗi thứ có thể chứa nhiều chất đáng quan tâm : vitamine, polyphénol, caroténoides... , GS Serge Hercberg nhấn mạnh như vậy. Chính sự phối hợp của các thức ăn mới cho phép có một sự hiệp đồng và một sự bổ sung để ngăn ngừa các ung thư, nhưng cũng để ngăn ngừa những bệnh tim mạch... ” Các tính chất của các trái cây và rau xanh được giải thích một phần bởi những tác dụng chống oxy hóa (effets antioxydants) của chúng. Suốt trong cuộc sống, sự tích tụ của các gốc tự do (radicaux libres) trong các tế bào dẫn đến những hiện tượng oxy hóa, làm cho chúng bị gỉ và do đó hóa già. “ Các chất chống oxy hóa (antioxydants) chống lại cơ chế này, GS Hercberg giải thích như vậy. Lấy hình ảnh của quả lê tàu (avocat) bị nhuộm màu khi ta mở ra làm hai. Ta có thể tránh sự “ gỉ ” này bằng cách phủ lên nó quả chanh, giàu vitamine C.
(LE FIGARO 27/12/2009)

Thời Sự Y Học Số 157 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/1/2010 )

6/ RƯỢU : SỰ TÁI PHÁT CỦA UNG THƯ VÚ.

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng rượu làm dễ sự xuất hiện của ung thư vú. Nhưng tác dụng thật sự của nó lên các phụ nữ đã được điều trị vẫn không được rõ ràng. Một nhóm nghiên cứu California (của Kaiser Permanente, Auckland) đã trình bày, nhân hội nghị mới đây ở San Antonio, những kết quả của một công trình nghiên cứu : hơn 3 hay 4 ly nước uống có chất cồn mỗi tuần làm gia tăng 30% nguy cơ tái phát khối u ! Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một theo dõi đều đặn các bệnh nhân theo thời gian, ngay khi họ được đưa vào công trình nghiên cứu (1997) trong 8 năm. Tổng cộng, 1900 phụ nữ được chia thành hai nhóm, một nhóm tập hợp những phụ nữ uống rượu, nhóm kia gồm các phụ nữ không uống hay chỉ uống đôi khi. Sau 8 năm, 349 phụ nữ đã có một tái phát ung thư vú. Những tái phát này đã xảy ra thường hơn nơi các phụ nữ mãn kinh uống rượu đều đều. Rượu vang (vin) là thức nước uống được tiêu thụ thường hơn hết (bởi 90% các phụ nữ). Theo Marilyn Kwan, rượu gây nên một sự gia tăng nồng độ œstrogène, thế mà phần lớn các ung thư vú đều phụ thuộc hormone này (oestrogénodépendant).
(PARIS MATCH 23/12-30/12/2009)

Thời Sự Y Học Số 159 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/2/2010 )

2/ UNG THƯ VÚ : ĐẬU NÀNH CÓ LỢI ?

Từ lâu người ta đã nghĩ rằng đậu nành có hại đối với các phụ nữ bị ung thư vú. Một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ-Trung Quốc chứng minh điều ngược lại : Được tiến hành nơi gần 5000 phụ nữ được mổ ở Trung Quốc vì ung thư vú, công trình nghiên cứu cho phép quan sát thấy rằng các bệnh nhân tiêu thụ trong chế độ ăn uống của họ khoảng 1 gam đậu nành mỗi ngày có một nguy cơ tái phát giảm 32% và nguy cơ tử vong giảm gần 30% so với các phụ nữ ăn ít hơn.
( PARIS MATCH 7/1-13/1/2010)

9/ LÃO THỊ : KÍNH ĐEO HOẠT ĐỘNG BẲNG ĐIỆN (LUNETTES ELECTRO-ACTIVES) HIỆU CHÍNH TỨC THỜI THAY CHO MẮT.

Các kính đeo có độ tăng dần (lunettes à verres progressifs) đã không phải là đỉnh cao trí tuệ. Được phát minh vào năm 1953 bởi người Pháp Bernard Maitenaz, các kính này là đối tượng thường xuyên của những đổi mới. Kính mới nhất ? Một cặp kính điện tử (lunettes électroniques), từ nay đến vài tháng nữa có thể cách mạng hóa thị giác của các bệnh nhân. Thật vậy trong đại học Arizona (Hoa Kỳ), nhóm nghiên cứu của Nasser Peyghambarian đã hiệu chính những kính “ hoạt động bằng điện ” (lunettes électro-actives). Nguyên tắc của những loại kính này : chúng thực hiện một sự hiệu chính tự động trên mỗi vật mà mắt bắt được, dầu góc nhìn và khoảng cách như thế nào ! Để nhận lấy mối thách thức này, nhà nghiên cứu đã duyệt xét lại toàn bộ sự tạo thành của các kính cổ điển, tạo nên một loại thấu kính động lực Fresnel (lentille de Fresnel dynamique). Một lớp các tinh thể lỏng được đưa vào giữa hai mắt kính, được nối với một thiết bị có kích thước thu nhỏ : các capteur và một processeur được thiết đặt trên các gọng kính để ghi hướng nhìn và khoảng cách giữa vật được nhìn và mắt. Khi người sử dụng nhìn dò xét một vật, thiết bị phát hiện cái nhìn này và sinh ra một điện thế vài volt. Tùy theo trị số này, các điện cực tạo nên “ en temps réel ” một điện trường nơi lớp các tinh thể lỏng. Dưới tác dụng của điện trường, lớp tinh thể này tái định hướng các phân tử để cho chỉ số khúc xạ của nó tạo nên một hình ảnh rõ nét. Sự hiệu chính được thực hiện một cách tự động trong thời gian chưa được một nháy mắt, nghĩa là trong vài mili giây. Hôm nay, thiết bị này hoạt động, ngay cả ra khỏi các phòng thí nghiệm bởi vì xí nghiệp Hoa Kỳ Pixeloptics trắc nghiệm nó từ tháng hai năm ngoái. “ Nếu mọi việc diễn biến tốt đẹp, kính hoạt động bằng điện (lunettes électro-actives) này sẽ được thương mãi hóa từ nay đến 6 đến 12 tháng nữa, thời gian cần thiết để thu lại những kết quả của những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi và thực hiện vài cải thiện về mặt làm thu nhỏ thiết bị ”, Peter Zieman, người phụ trách xí nghiệp Pixeloptics ở Châu âu đã bình luận như thế. Theo Ronald Blum, giám đốc của công ty, những ưu điểm của các gọng kính mới được loan báo là đáng kể đối với những người bị lão thị : “ Ngoài việc thực hiện một chức năng tự điều tiêu trực tiếp (autofocus en direct), các kính này sẽ tạo ít hơn một nửa các hình ảnh méo mó và chúng mang lại một thị trường rõ nét hai lần lớn hơn so với các kính đeo có độ tăng dần (verres progressifs) ”.

Nguyên mẫu này làm khởi đầu một cuộc cách mạng thật sự của quang học. “ Ngày mai, các gọng kính của chúng ta sẽ gần với smartphone hơn là các kính đeo ”, Jean-Paul Cano, giám đốc khoa học của Essilor, cũng có liên can trong một dự án các kính đeo điện tử, được mệnh danh là “ Pix-cell ”, đã bình luận như vậy. Các nghiên cứu diễn ra ở Essilor kết hợp với CNRS và mục tiêu là phát triển từ nay đến 10 năm nữa những kính “ số ” (verres “ numériques ”) có khả năng thực hiện một sự hiệu chính còn tinh tế hơn, từng pixel một.
Trong lúc chờ đợi để có thể mang những loại kính high-tec, những người lão thị có thể kiên nhẫn hướng về những loại kính mới nhất Varius Ipseo “ new edition ”, được thiết kế cuối năm 2008 bởi Essilor. Thật vậy, lần đầu tiên các kính này được chế tạo theo từng cá thể, bằng cách đưa vào 10 tiêu chuẩn cá thể hoá (thái độ thị giác, chuyển động của đầu, khoảng cách đọc, những hoạt động hàng ngày…)
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 86 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 24/7/2008 )

6/ ĐIỀU CHỈNH CHỨNG LÃO THỊ (PRESBYTIE) : MỘT KỸ THUẬT 2 LASERS

B.S Yves Bokobza, thầy thuốc chuyên khoa mắt, giáo sư của Collège de médecine, giải thích với chúng ta kỹ thuật mới nhất điều chỉnh chứng lão thị, nhân cuốn sách của ông vừa mới được xuất bản “ Nhìn rõ không cần đeo kính, thế hệ laser ” (Bien voir sans lunettes, la génération laser).

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi tại sao tất cả chúng ta trở thành lão thị (presbytes) ?
BS Yves Bokobza : Lão thị (presbytie) là do sự lão hóa của nhãn cầu và thường được biểu hiện vào khoảng năm 45 tuổi, để rồi ổn định vào tuổi 60. Chứng lão thị là do mất khả năng điều tiết của thủy tinh thể, một thấu kính trong suốt nằm sau mống mắt (iris).Thủy tinh thể (cristallin) có nhiệm vụ làm hội tụ các hình ảnh lên võng mạc (rétine). Thị giác nhìn gần (vision de près) trở nên khó khăn, buộc phải đưa dài tay ra để đọc.Vào giai đoạn này của đời sống, nơi người bị lão thị, thị giác nhìn xa (vision de loin) thường cũng bị rối loạn bởi một vấn đề viễn thị (hypermétropie) liên kết.

Hỏi : Thường thường để điều chỉnh rối loạn lão thị này, chúng ta có những phương sách nào?
BS Y. B : Phương tiện đơn giản nhất là mang kính hay, đối với những người chịu đựng được, thấu kính tiếp xúc (lentille de contact). Cách nay khoảng 4 năm, một quan niệm mới về ngoại khoa xuất hiện, đó là thay thế thủy tinh thể bằng một implant thế hệ mới (thủy tinh thể nhân tạo nhiều tiêu cự), điều này cho phép điều chỉnh không những chứng lão thị, mà còn một khuyết tật thị giác liên kết khác.Vào cùng thời kỳ, một kỹ thuật khác được sử dụng, mà lần này mục đích là biến đổi độ cong của giác mạc (cornée) để làm hội tụ hơn các hình ảnh lên võng mạc, như thế bù lại khuyết tật của thủy tinh thể. Phương thức này được gọi là “ lasik ”, được thực hiện lúc đầu với một vi dụng cụ ngoại khoa gọi là microkératome, rồi sau đó với một laser excimer có tác dụng làm biến đổi độ cong của giác mạc.

Hỏi : Những bất tiện nào của những kỹ thuật này đã dẫn đến việc hiệu chính một phương pháp điều trị mới ?
BS Y. B : Một mặt, các kính đeo thường được quan niệm như là một dấu hiệu đầu tiên của tuổi già, và các kính tăng độ dần, cũng như các thấu kính tiếp xúc (lentille de contact), đôi khi không chịu đựng được. Về các implant nhiều tiêu cự, lý tưởng, chỉ được thực hiện bắt đầu từ 55 tuổi, nơi những bệnh nhân có những dấu hiệu bắt đầu của bệnh đục thủy tinh thể (cataracte), bởi vì kỹ thuật này buộc phải lấy đi thủy tinh thể (cristallin). Mặt khác, dầu sao đó là một “ phẫu thuật mở nhãn cầu ” (chirurgie à globe ouvert), cần đi vào bên trong mắt, như vậy không thể có nguy cơ số 0 được. Do đó buộc phải can thiệp phẫu thuật hết mắt này rồi đến mắt kia, chia thành hai kỳ phẫu thuật. Với phương thức lasik, việc cắt giác mạc (cornée) với dao giác mạc (kératome) có thể cho vài biến chứng, mặc dầu hiếm hoi nhưng có thật. Và laser được sử dụng, một excimer thế hệ thứ nhất, đã chứng tỏ một tính hiệu quả không đồng đều, trong vài truờng hợp có những tác dụng phụ như quầng sáng (halo) vào lúc ban đêm.

Hỏi : Kỹ thuật mới sau cùng được gọi là “presbylasik” nghĩa là gì vậy ?
BS Y.B : Phương thức này diễn ra thành 3 giai đoạn, bệnh nhân được gây mê tại chỗ bằng vài giọt thuốc nhỏ mắt. Một laser femtoseconde cắt rất chính xác và một cách an toàn, một lá mỏng kết mạc, mà người thầy thuốc nâng lên để cho phép sự tác dụng của một laser thứ hai, một excimer thuộc thế hệ mới nhất, lần này đặc hiệu với bệnh lão thị. Excimer này sẽ thực hiện một động tác điêu khắc thật sự trên võng mạc để làm cho nó trở thành nhiều tiêu cự (multifocal), nghĩa là cho phép có được một thị giác tốt nhìn gần, và nhìn xa, đối với những người lão thị viễn thị (presbytes hypermétropes). Lớp lá mỏng võng mạc sau đó được đặt lại tại chỗ và bệnh nhân được cho xuất viện về nhà không cần phải băng bó. Quá trình hóa sẹo được thực hiện trong vài ngày.

Hỏi : Thời kỳ hậu phẫu như thế nào ?
BS Y. B : Sau cuộc phẫu thuật hầu như không đau đớn (người ta có thể điều trị hai mắt trong cùng một phẫu thuật, 6-7 phút mỗi mắt), bệnh nhân phải chịu đựng hai đến ba giờ khó chịu, do một thị giác mờ, chảy nước mắt và những cảm giác châm chích.

Hỏi : Về lâu về dài, những kết quả như thế nào?
BS Y.B : Đó là một kỹ thuật mà người Phap rất tiên tiến.Từ khoảng 4 năm nay, nhiều ngàn bệnh nhân đã được giải phẫu. Trong 80 đến 90% những tình huống trong đời sống hàng ngày, họ không cần đeo kính nữa, dầu đó là nhìn xa hay nhìn gần (tuy nhiên một khó khăn có thể xuất hiện khi họ phải đọc lâu những chữ nhỏ dưới một ánh sáng yếu hay trong vài trường hợp lái xe ban đêm).Theo những kết quả nghiên cứu mới đây, chỉ số thỏa mãn là rất cao. Với các máy thuộc thế hệ mới rất hiệu năng này, chứng lão thị được điều chỉnh tốt hơn và một cách dài lâu hơn. Tuy nhiên, cần phải báo cho các bệnh nhân trẻ được mổ, rằng rối loạn thị giác này, vì là một hiện tượng tiến triển, nên một phẫu thuật sửa chữa (retouche chirurgicale) sẽ có thể tỏ ra cần thiết 6 hoặc 7 năm sau.

Hỏi: Có chống chỉ định đối với phép điều trị bằng presbylasik hay không?
BS Y. B : Các chống chỉ định có thể có nơi những bệnh nhân có một vài chỗ không đều trên kết mạc hay những đồng tử quá lớn (điều này đưa đến sự xuất hiện những vòng sáng vào đêm). Mặt khác, mắt được điều trị bởi kỹ thuật này phải lành mạnh : không bị bệnh đục thủy tinh thể, không bị thoái hóa võng mạc và không bị chứng tăng nhãn áp được xác nhận.
(PARIS MATCH 3/7-9/7/2008)


10/ KHUẨN CHÍ RUỘT ẢNH HƯỞNG LÊN SỰ TĂNG THẾ TRỌNG.

Vai trò của các vi khuẩn hiện diện trong ruột mở ra những hướng điều trị mới.

RECHERCHE. Từ một chục năm nay, các chuyên gia về bệnh béo phì (obésité) khảo sát một cách quan tâm ảnh hưởng lên trọng lượng cơ thể của hàng triệu tỷ vi khuẩn định cư trong ông tiếu hóa của chúng ta ở trạng thái bình thường. Những công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ Science đã chứng minh rằng vài trong số những vi sinh vật này, thường dùng để tiêu hóa thức ăn, cũng có thể khiến cơ thể tích tụ kilo trong trường hợp sự điều hòa kém. Trong số những yếu tố chịu trách nhiệm chứng béo phì, việc không tập thể dục hay sự tiêu thụ quá mức calorie không còn là những nguyên nhân duy nhất gây bệnh như người ta đã hằng tưởng từ trước cho đến nay. Theo công trình nghiên cứu này, nếu vài loại vi khuẩn trong khuẩn chí ruột (flore intestinale) thắng thế, một quá trinh viêm có thể xuất hiện, làm gia tăng cảm giác ăn ngon và nguy cơ bị bệnh đái đường.

“ Từ lâu người ta đã cho rằng dịch bệnh béo phì trong những nước phát triển được liên kết với một lối sống càng ngày càng ít hoat động và sự dồi dào thực phẩm có dung lượng calorie cao với giá rẻ ”, Andrew Gewirtz, thuộc Emory University School of Medicine, Géorgie (Hoa kỳ), tác giả chính của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. “ Nhưng những kết quả của công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng một sự tiêu thụ quá mức calorie không chỉ là kết quả của một chế độ ăn uống thái quá, nhưng cũng gợi ý rằng những vi khuẩn ruột góp phần làm biến đổi cảm giác ăn ngon và sự chuyển hóa. ”

M.Gewirtz và các đồng nghiệp đã khảo sát các con chuột bị biến đổi về mặt di truyền để bị lấy mất một protéine miễn dịch chủ chốt, TLR5, giúp các tế bào phát hiện sự hiện diện của các vi khuẩn. “ Protéine này đóng vai trò công an khu vực trên khuẩn chí ruột, ông đã giải thích như vậy với AFP. Protéine này biết vi khuẩn nào nó cần phải theo dõi và nó biết làm thế nào để không tỏ ra quá nghiêm khắc nhằm không làm hại những vi khuẩn tốt.”

NHỮNG RỐI LOẠN ĐƯỜNG HUYẾT.

Nếu không có protéine TLR5 này, thành phần của khuẩn chí ruột thay đổi. Và một quá trình viêm nơi ruột xuất hiện. Những con chuột chịu sự biến đổi di truyền này sau vài tuần đã ăn thêm khoảng 10% các thức ăn và sau cùng đã đạt một trọng lượng 20% trên trọng lượng của các con chuột khác. Ngoài ra chúng có những rối loạn về đường huyết, một tình trạng trước đái đường (état prédiabétique).

Con người có một khuẩn chí ruột (flore intestinale) tương đối ổn định, hiện diện lúc sinh ra đời, nhưng vài công trình nhiên cứu đã cho thấy rằng khuẩn chí ruột này chịu những biến đổi liên kết với vài loại chế độ ăn uống , nhưng cũng với sự sử dụng lan tràn của các kháng sinh. “ Điều đó gợi ý rằng một phần của dịch bệnh béo phì và các triệu chứng chuyển hóa có thể là do những điều kiện môi trường ảnh hưởng lên khuẩn chí ruột vào lúc khởi đầu của cuộc đời ”, M.Gewirtz đã giải thích như vậy. Nhà nghiên cứu gợi ý rằng những biến đổi này một ngày nào đó có lẽ được ngăn cản lại bằng cách kê toa những vi khuẩn “ tốt ” trước khi những vi khuẩn xấu xuất hiện.

Cách nay 3 năm, một nhóm nghiên cứu khác của Hoa Kỳ đã phát hiện sự kiện là những người béo phì và những người mảnh khảnh không có cùng loại vi khuẩn trong ruột. Cùng nhóm nghiên cứu đã thành công làm béo phì một con chuột mảnh khảnh chỉ bằng cách chuyển khuẩn chí ruột từ một con chuột béo phì sang. Ngoài ra, những nhà nghiên cứu này đã cho thấy rằng nơi những con chuột béo phì, sự trích lấy calorie từ thức ăn ra là quan trọng hơn so với những con chuột mảnh mai.

Tuần lễ này, các nhà khoa học cũng loan báo trong tạp chí Nature là đã thành công séquencer 80% các gène của các vi khuẩn của ông tiêu hóa. Tất cả những dữ kiện này tích tụ lại sẽ cho phép đưa ra những chiến lược mới chống lại bệnh béo phì.
(LE FIGARO 8/3/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Béo Phì (Obesity) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (30/5/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#53 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 07 June 2010 - 11:18 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ THUỐC LÁ CÓ PHẢI LÀ MỘT HIỂM NGUY QUAN TRỌNG VÀ SỚM CHO TIM ?

Professeur Daniel Thomas
Cardiologue (Pitié-Salpêtrière, Paris)


Trong một cuộc điều tra, khi người ta hỏi những bệnh nào đuợc gây nên bởi chứng nghiện thuốc lá (tabagisme), thì ung thư phổi đứng đầu các câu trả lời. Tuy vậy, trong số 5 triệu tử vong có thể quy cho thuốc lá mỗi năm trên thế giới, người ta đếm được các trường hợp tử vong do tai biến tim-mạch hai lần nhiều hơn so với do ung thư phổi và, trong các nước công nghiệp, một mình chứng nghiện thuốc lá giải thích đến 40% những trường hợp tử vong do bệnh tim mạch của những người đàn ông từ 30 đến 69 tuổi. Vào năm 2004, một công trình nghiên cứu quốc tế lớn, được tiến hành trong 52 nước trên toàn thế giới, đã xác nhận rằng, trên quy mô toàn thế giới, chứng nghiện thuốc lá là yếu tố nguy cơ thứ hai của nhồi máu cơ tim, đi theo sát ngay sau sự thặng dư cholestérol. Đó là nguyên nhân chủ yếu và thường riêng rẻ của nhồi máu cơ tim nơi người trẻ tuổi. Ở Pháp, khoảng 80% những nạn nhân nhồi máu cơ tim trước 50 tuổi là những người hút thuốc, nơi đàn ông cũng như nơi đàn bà.

Hai cơ chế chủ yếu của những tai biến tim-mạch liên kết với chứng nghiện thuốc lá là sự co thắt (spasme) và huyết khối (thrombose). Sự co thắt tương ứng với sự hẹp lại của khẩu kính của các động mạch với hậu quả là giảm luồng máu chảy, do đó một sự cung cấp oxy ít hơn cho cơ tim và một sự biến đổi của chức năng của nó. Luồng máu, bị giảm về lượng, cũng bị giảm về chất, oxy bình thường được vận chuyển bởi các hồng cầu được thay thế bởi monoxyde de carbone (CO) được chứa trong khói của thuốc lá. Một sự co thắt như thế có thể là nguồn gốc của những biểu hiện của cơn đau thắt ngực (angine de poitrine) và ngay cả của một nhồi máu cơ tim nếu sự co thắt làm tắc hoàn toàn một động mạch vành.

Huyết khối (thrombose), nghĩa là sự tạo thành của một cục máu đông, cũng có tác dụng bịt đột ngột và hoàn toàn một động mạch vành và thể hiện cơ chế thường xảy ra nhất của sự xuất hiện một nhồi máu cơ tim. Huyết khối này được làm dễ một cách quan trọng bởi sự tiếp xúc với khói thuốc lá, làm hoạt hóa những cơ chế đông máu.

NHỮNG TAI BIẾN SỚM.

Sự co thắt và huyết khối rất cực kỳ nhạy cảm và có thể xảy ra với một sự tiếp xúc rất nhỏ, kể cả sự tiếp xúc với chứng nghiện thuốc lá thụ động (tabagisme passif), nghĩa là với khói thuốc xung quanh đối với một người không hút thuốc. Những hậu quả của một sự co thắt hay của một huyết khối càng đáng sợ nơi những bệnh nhân động mạch vành đã có những động mạch ít nhiều bị làm hẹp lại bởi những thương tổn xơ mỡ hay đã được sửa chữa bằng phẫu thuật bắt cầu (pontage) hay angioplastie. Một hậu quả khác của chứng nghiện thuốc lá đối với người bị bệnh động mạch vành hút thuốc là sự giảm ngưỡng của rung thất (fibrillation ventriculaire). Điều này có nghĩa là người bệnh này có một nguy cơ gia tăng là nạn nhân của những rối loạn nhịp tim trầm trọng và thường là tử vong.

Điều đặc biệt gây ấn tượng trong những tai biến tim liên kết với chứng nghiện thuốc lá, đó là tính chất xảy ra tương đối sớm của chúng. Không những nhiều người nạn nhân của chứng nghiện thuốc lá là những người trẻ tuổi, mà nói chung họ không có những yếu tố nguy cơ khác của bệnh động mạch vành. Điều này được giải thích bởi các cơ chế gây bệnh, sự co thắt và huyết khối, mà chúng tôi vừa nêu lên, và có thể xảy ra nơi những động mạch gần như bình thường. Những hình chụp động mạch vành nơi những bệnh nhân trẻ này trong nhiều trường hợp cho thấy những động mạch vành không có một thương tổn nào có thể nhìn thấy. Thật thế, không có ngưỡng, không có mức, không có thời gian tiêu thụ mà dưới đó không có nguy cơ tim mạch. Sự xảy ra sớm khả dĩ của những tai biến mạch vành liên kết với chứng nghiện thuốc lá phải được biết tốt hơn bởi những người hút thuốc trẻ tuổi. Những người này cứ nghĩ rằng sẽ luôn luôn có lúc sẽ ngừng hút thuốc. Đó là lý do tại sao cần phải thực thi tất cả để mang lại một sự hỗ trợ cho việc cai thuốc lá ở mọi lứa tuổi, kể cả những thiếu niên và những người trưởng thành trẻ tuổi.

Nguy cơ bị tai biến tim mạch liên kết với chứng nghiện thuốc lá có thể đảo ngược khá nhanh chóng sau khi cai thuốc bởi vì những bất thường chủ yếu nguồn gốc của loại tai biến này (sự gia tăng nguy cơ tạo thành những cục máu đông và sự biến đổi khả năng giãn của các động mạch) biến mất khá nhanh. Có một sự giảm rõ rệt nguy cơ ngay năm đầu tiên với khả năng trở lại cùng nguy cơ của một người đã không bao giờ hút thuốc nếu như sự cai thuốc đã được thực hiện sớm. Ngoài ra, ngừng hút thuốc sau một nhồi máu cơ tim làm giảm trung bình 36% nguy cơ tử vong và 32% nguy cơ bị một nhồi máu cơ tim mới trong 5 năm. Nguy cơ bị tai biến cũng rất giảm nơi những người ngừng hút thuốc sau một động tác ngoại khoa (phẫu thuật bắt cầu hay angioplastie).

Sự cai hút thuốc là một trong những biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất. Bất hạnh thay biện pháp này lại thuộc vào “ ý nguyện ” của người hút thuốc. Sự phụ thuộc nặng của nhiều người hút thuốc thường biện minh một prise en charge médicalisée như được thực hiện đối với những yếu tố nguy cơ khác. Sự hỗ trợ trong việc cai thuốc lá phải được xem như là một điều trị thật sự và đặc biệt sau một tai biến tim mạch, sự ngừng hút thuốc trong trường hợp này đã không được chọn lựa nhưng bị áp đặt bởi các biến cố. Mặc dầu sự cai thuốc lá không bao giờ chỉ có nghĩa là kê đơn thuốc, nhưng những điều trị đã có trên thị trường và những điều trị khác sẽ xuất hiện.
(LE FIGARO 26/4/2010)

2/ CÓ PHẢI NGỪNG HÚT THUỐC SAU KHI UNG THƯ PHỔI ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN KHÔNG ?

Những người ngừng hút thuốc thấy giảm nguy cơ phát triển một khối u nguyên phát của phổi . Điều này đúng với tất cả các loại cơ thể bệnh lý quan trọng của ung thư phổi. Sự giảm lớn nhất được chứng thực trong trường hợp của ung thư phổi với những tế bào nhỏ (cancer à petites cellules) và trường hợp của cancer squameux. Nhưng mãi đến nay, người ta vẫn không biết sự kiện ngưng hút thuốc sau chẩn đoán ung thư có một lợi ích nào đó hay không. A. Parons và các đồng nghiệp (đại học Birmingham) đã thực hiện một duyệt xét tài liệu y học về chủ đề này. Chín công trình trong số 10 công trình được duyệt xét, phần lớn các bệnh nhân đã được chẩn đoán ở một giai đoạn sớm của ung thư.

Kết quả của sự duyệt xét này mang lại những chứng cớ đầu tiên theo chiều hướng của một sự cải thiện của tiên lượng sau khi ngừng hút thuốc, một khi ung thư phổi đã được chẩn đoán. Những người bỏ hút thuốc có một tỷ lệ sống sót 5 năm sau chẩn đoán là từ 63 đến 70% (tùy theo loại cơ thể bệnh lý của ung thư), so với 29 đến 33% trong số những người tiếp tục hút thuốc. Các dữ kiện gợi ý rằng nguy cơ gia tăng tử vong chủ yếu là do sự tiến triển của khối u. Do đó, thật là đúng đắn khi khuyến khích ngưng hút thuốc nơi những bệnh nhân ở một giai đoạn sớm của ung thư phổi.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/2/2010)

3/ HO BUỔI SÁNG NƠI MỘT NGƯỜI HÚT THUỐC CÓ PHẢI LÀ MỘT TRIỆU CHỨNG ĐÁNG LO NGẠI ?

Docteur Philippe Terrioux
Pneumologue


Ho vào buổi sáng thường được những người hút thuốc xem là chuyện bình thường một cách sai lầm. Họ cho rằng đó là một hậu quả bình thường và không trầm trọng của chứng nhiễm độc thuốc lá (tabagisme). Trái lại, đó là một dấu hiệu viêm của các phế quản gây nên bởi thuốc lá. Sự viêm phế quản này dẫn đến sự phát triển bất bình thường của các tuyến phế quản (glandes bronchiques), tiết càng ngày càng nhiều niêm dịch (mucus), vả lại rất là keo.

Khói thuốc lá cũng tác động lên niêm mạc phế quản bằng cách làm liệt các tế bào có nhiệm vụ “ quét dọn ” niêm mạc nhờ những lông mao cắm trên đỉnh của chúng. Những tế bào này, dưới tác dụng của thuốc lá, không còn làm tròn nhiệm vụ thanh lọc nữa. Hệ thống quét dọn phế quản tự động bị hỏng máy. Hậu quả, các dịch tiết ứ lại vào ban đêm, buộc người hút thuốc phải ho vào buổi sáng để làm sạch phế quản. Ho trở nên biện pháp duy nhất cần đến để quét dọn phế quản.

Triệu chứng ho này xuất hiện dần dần như một người bạn đời của người hút thuốc, cuối cùng xem nó như là điều bình thường. Nhưng khi triệu chứng ho vẫn tồn tại một cách dài lâu, thường là kèm theo đờm, 3 tháng mỗi năm từ hơn hai năm, người hút thuốc khi đó bị bệnh “ viêm phế quản mãn tính ” (bronchite chronique). Những triệu chứng này tương ứng với giai đoạn khởi đầu của một bệnh “ viêm phế quản-phổi tắc mãn tính ” (BPCO : bronchopneumopathie chronique obstructive). Tên gọi BPCO mang lại ý nghĩ của sự tắc, sự hẹp lại của các phế quản, và sự khó làm đầy phổi, sự suy hô hấp. Tuy nhiên, vài người hút thuốc với viêm phế quản mãn tính, sẽ không bao giờ phát triển tắc phế quản (obstruction bronchique), xác nhận rằng tất cả chúng ta không được bình đẳng trước thuốc lá.

Tuy nhiên, mọi người hút thuốc có triệu chứng ho vào buổi sáng phải được thông báo rằng có thể họ không bị một chứng “ ho bình thường ” (toux banale) mà là một căn bệnh, bệnh viêm phế quản-phổi tắc mãn tính (BPCO), có thể trầm trọng vào một giai đoạn tiến triển, giết chết hai lần nhiều hơn các tai nạn giao thông.

Nếu quý vị có những triệu chứng báo động này, điều quan trọng là phải nói điều đó với thầy thuốc của quý vị. Ông ta sẽ đề nghị với quý vị, sau một thăm khám hoàn chỉnh, đo hơi thở để phát hiện một sự tắc của các phế quản, trong trường hợp nghi ngờ sẽ được xác nhận bởi một EFR (épreuve fonctionnelle respiratoire) do các thầy thuốc chuyên khoa phổi thực hiện.

NHỮNG THUỐC CHỒNG HO KHÔNG ĐƯỢC THÍCH ỨNG.

Vào giai đoạn này, biện pháp duy nhất có hiệu quả là ngưng hoàn toàn và vĩnh viễn thuốc lá, điều này có thể làm đảo ngược diễn biến của các biến cố. Bằng không, một viêm phế quản-phổi tắc mãn tính (BPCO) có thể phát triển : Các rối loạn trầm trọng thêm với sự xuất hiện dần dần của một sự khó thở lúc gắng sức, sau đó sự phế tật trở nên quan trọng với sự khó thở ngay cả lúc nghỉ ngơi và những sự xê dịch rất khó khăn.

Ở đây, sự ngưng hút thuốc, được liên kết với các loại thuốc mới nhằm vào hô hấp, cho phép làm ổn định các triệu chứng, làm chậm lại sự suy đồi của chức năng hô hấp và một sự giảm tỷ lệ tử vong, nhưng không phục hồi chức năng thật sự.

Phải nhắc lại rằng sự tiếp xúc nghề nghiệp với vài loại chất gây ô nhiễm(khí độc, ciment, các dung môi, bụi silice...) cũng thuộc vào những yếu tố nguy cơ được nhận diện, chịu trách nhiệm 15% các BPCO. Đối với những nạn nhân tiếp xúc nghề nghiệp này, các giải pháp ít rõ ràng hơn.

Một tai ương khác, ung thư phế quản có thể được phát hiện chỉ bởi một sự biến đổi của triệu chứng ho ban sáng “ được cho là bình thường ”, dầu thời gian ho bất thường hay cường độ của nó ra sao. Bilan bằng chụp hình ảnh hoặc nội soi khi đó là điều bắt buộc.

Vậy ho vào buổi sáng là một triệu chứng phải được báo động. Việc sử dụng các thuốc chống ho là biện pháp không được thích ứng nhất. Phải nói với thầy thuốc về triệu chứng này, bởi vì chẩn đoán bệnh viêm phế quản-phổi tắc mãn tính (hay mọi bệnh lý hô hấp khác) càng được thực hiện sớm, thì điều trị càng có hiệu quả.
(LE FIGARO 6/4/2010)

4/ TẠI SAO NGỪNG HÚT THUỐC KHÓ ĐẾN THẾ ?

JEAN-POL-TASSIN
Directeur de Recherche


Câu trả lời đơn giản nhất là nói rằng, thuốc lá là chất gây nghiện nhất trong số những chất được biết hiện nay: thật vậy khả năng gây nghiện (potentiel addictif) của thuốc lá nằm trên khả năng gây nghiện của rượu và ngay cả trên khả năng gây nghiện của héroine hay cocaine. Vì lẽ thuốc lá có tính chất rất gây nghiện, nên logic là người ta chỉ có thể ngưng hút một cách khó khăn. Câu trả lời này hiển nhiên chỉ đủ sau khi đã cố gắng giải thích thế nào là nghiện (addiction) và nhất là điều gì đã tạo nên tình trạng này. Thuật ngữ nghiện (addiction), hợp thời trang nhưng có lẽ đã được sử dụng quá đáng, xuất phát từ một thành ngữ tư pháp của thế kỷ XIII. Chữ này có nghĩa là “ buộc phải bồi hoàn nợ của mình ” (être contraint de rembourser ses dettes). Bây giờ chữ nghiện (addiction) để chỉ sự không có thể có tính chất bệnh lý (impossibilité pathologique) nhịn một chất nào đó, nơi vài người sử dụng, kể cả mặc dầu những người sử dụng này công nhận rằng chất này có những hậu quả âm tính lên sức khỏe hay cuộc sống gia đình và nghề nghiệp của họ. Bằng sự tương cận với ý tưởng được chứa trong thuật ngữ cổ của Pháp, người bị nghiện (addict) bị buộc phải hoàn lại cái khoái lạc mà anh ta đã có bằng cách tiếp tục sử dụng những chất đã cung cấp cho anh ta cái khoái lạc này.

Thật vậy, từ lâu chúng ta nghĩ rằng sự nghiện một chất là do cái khoái lạc mạnh mẽ mà chất đó cho phép có được, như là trường hợp đối với héroine hay cocaine. Một cách sơ đồ, cái khoái lạc mà hai chất này mang lại là do chúng phóng thích trong não bộ một chất, được gọi là dopamine, hoạt hóa một đường vòng não bộ (circuit cérébral), được gọi là “ của sự khen thưởng ” (de la récopense), chỉ cho chúng ta vào bất cứ lúc nào tình trạng vật lý hay tâm thần mà chúng ta đang có. Khi cái đường vòng não bộ này được hoạt hóa bởi dopamine, chúng ta cảm thấy khoái lạc, hay ít nhất một sự thỏa mãn nào đó, mặc dầu điều này sẽ trở thành xấu đối với chúng ta.Vài người tiêu thụ sau đó dần dần trở nên bị phụ thuộc vào sự khoái lạc này và không còn có thể nhịn được nữa. Thế mà, thật nghịch lý, thuốc lá là một trong những chất gây nghiện nhất, lại nằm rất thấp trên thang của các khoái lạc (échelle des plaisirs). Do đó phải tìm một giải thich khác cho sự nghiện này, một lời giải thích cho phép phân ly sự nghiện ngập và sự khoái lạc.

HAI ĐƯỜNG VÒNG NEURONE.

Mới đây người ta đã cho thấy rằng hai tập hợp những tế bào thần kinh khác cũng can thiệp vào trong sự nghiện. Những neurone này tổng hợp và phóng thích noradrénaline hay sérotonine. Những chất dẫn truyền thần kinh này, đối với noradrénaline, góp phần vào điều hòa sự chú ý, những cảm xúc, giấc ngủ và sự học tập và đối với sérotonine, góp phần vào những chức năng khác nhau như sự điều hòa nhiệt độ, của giấc ngủ, của tính khí, của sự ăn ngon miệng và của sự đau đớn. Tập hợp đầu tiên (noradrénaline) can thiệp trong việc làm nổi bật các biến cố bên ngoài, tập hợp kia (sérotonine) có nhiệm vụ điều hòa những thôi thúc (impulsions). Nơi người đã không bao giờ dùng ma túy, hai vòng neurone này kiểm soát lẫn nhau. Người ta đã chứng minh rằng việc sử dụng lặp đi lặp lại các chất ma túy, như các chất kích thích tâm thần (psychostimulants) (amphétamine, cocaine), các opiacés (morphine, héroine) hay rượu, làm biến mất sự điều hòa hỗ tương này, như thế hai tập hợp bị tách cặp (découplé).

Sự thèm muốn, được liên kết với tập hợp đầu tiên (noradrénaline), không còn được chuyển dòng (canalisé) bởi tập hợp thứ hai (kiểm soát những thôi thúc) nữa. Sự mất cân bằng này dường như chịu trách nhiệm quá trình nghiện, những người phụ thuộc không còn có thể kềm hãm sự lôi kéo về sản phẩm ; họ cảm nhận những kích thích môi trường một cách mạnh mẽ hơn (gồm cả sự thèm muốn sản phẩm) và mất khả năng kiểm soát những thôi thúc của họ.

Khi những công trình nghiên cứu tìm sự tách cặp (découplage) này đối với thuốc lá, các kết quả đã gây ngạc nhiên. Nicotine, mặc dầu là chất được xem như chịu trách nhiệm của sự nghiện do thuốc lá, lại không gây nên một sự tách cặp nào cả. Thật vậy, thuốc lá và khói thuốc của nó chứa hơn 3000 hợp chất, trong số đó, ngoài nicotine, còn có những chất phong bế sự thoái biến của vài chất dẫn truyền thần kinh não bộ được gọi là IMAO. Một cách đáng lưu ý, sự kết hợp của IMAO với nicotine gây nên sự tách cặp (découplage), điều này cho phép hiểu hơn tiềm năng gây nghiện của thuốc lá. Hãy ghi nhận rằng những dữ kiện này cũng giải thích tính kém hiệu quả của những chất thay thế nicotine như kẹo cao su và các thuốc dán (patch).

Để được hiệu quả, một sản phẩm thay thế phải có một tác dụng tương tự với tác dụng của hợp chất mà nó định thay thế. Trong trường hợp này nicotine một mình không thể thay thế thuốc lá. Nó chỉ có thể là như vậy trong những tuần lễ đầu tiên sau khi ngừng hút, trong thời kỳ mà tác dụng của các IMAO được duy trì trong cơ thể.
(LE FIGARO 3/5/2010)

5/ MỐI LIÊN KẾT SINH HỌC GIỮA UNG THƯ VÀ CHỨNG TRẦM CẢM VỪA ĐƯỢC XÁC NHẬN.

Chứng trầm cảm (dépression) lót đường cho bệnh ung thư. Mặc dầu các nhà khoa học đã nghi ngờ điều đó từ lâu, nhưng cơ chế sinh học của mối liên hệ này vẫn còn không được hiểu rõ. Tuy vậy, một hướng đầu tiên vừa được thăm dò bởi Anil K.Sood, thầy thuốc chuyên về ung thư thuộc MD Anderson Cancer Center de Houston (Hoa Kỳ). Nhà nghiên cứu và các cộng sự của ông đã so sánh các mẫu nghiệm ung thư buồng trứng được lấy nơi các bệnh nhân mà một nửa được khai báo là bị chứng trầm cảm. Nơi những bệnh nhân bị trầm cảm này, họ đã nhận thấy một sự hoạt hóa mạnh của một protéine được biết là làm dễ sự tăng trưởng của những tế bào ung thư và sự phân tán của các di căn, FAK (focal adhesion kinase). Nhưng sự khám phá của họ chủ yếu là ở chỗ cách hoạt hóa của protéine này, được điều khiển bởi norépinéphrine, một kích thích tố đặc biệt được tiết ra khi bị trầm cảm hay khi bị stress mãn tính. Vậy những tế bào ung thư được hưởng một cách trực tiếp kích thích tố của stress này để tăng sinh. Vậy điều này phải chăng có nghĩa là điều trị tâm thần có thể giúp thắng được ung thư ? “ Việc chứng trầm cảm có thể gây nên ung thư, người ta đã chưa chứng tỏ được điều đó, nhưng bây giờ ta gần như chắc chắn rằng chứng trầm cảm làm dễ sự tăng trưởng của ung thư ”, Anil Kood đã nói như vậy.
(SCIENCE ET VIE 6/2010)

6/ MOHAMMED ALI SẼ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở ISRAEL.

NEUROLOGIE. Cassius Clay, biệt danh Mohammed Ali, võ sĩ quyền Anh đã thống trị hạng nặng trong những năm 1960, bạn của Malcolm X và là người chống lại mạnh mẽ chiến tranh Việt Nam, bị bệnh Parkinson từ năm 1982. Con gái của ông đã tiếp xúc với một start-up Israel chuyên về những tế bào gốc. Công ty xác nhận rằng ngôi sao Mohamed mong muốn tham gia vào những thử nghiệm. Hiện nay các thử nghiệm ghép đã xác chứng trong nhiều bệnh thần kinh nhưng chỉ...trên chuột mà thôi. Sự đánh cuộc là có khánhiều rủi ro, theo GS Pierre Cesaro, trưởng khoa bệnh thần kinh của bệnh viện Henri-Mondor (Créteil), ông đã công tác cho đến năm 2000 về những ghép tế bào (transplantations cellulaires) cho bệnh Parkinson. “ Bởi vì khi người ta thực hiện những thăm khám giải phẫu bệnh lý nơi những bệnh nhân được ghép trên 10 năm, người ta nhận thấy rằng những neurone được ghép đã mắc phải bệnh , ông đã giải thích như vậy. Đó là không tính đến rằng, như GS Cesaro đã nhắc lại điều đó, điều trị này không có hiệu quả nếu Mohamed Ali bị hội chứng Parkinson của võ sĩ quyền Anh (syndrome parkinsonien du boxeur) (sự luyện tập đánh boxe lặp đi lặp lại gây nên nhiều đụng dập não), chứ không phải là bệnh Parkinson.
(LE FIGARO 8/3/2010)

7/ XƠ CỨNG RẢI RÁC : NHỮNG ĐIỀU TRỊ ĐẦY HỨA HẸN.

GS Catherine Lubetzki, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh của bệnh viện La Pitié-Salpetrière, chủ tịch của ủy ban khoa học Arsep, giải thích cơ chế tác dụng của những điều trị mới nhằm làm giảm những cơn bộc phát của bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques, multiple sclerosis).

Hỏi : Bà có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh thần kinh này ?
GS Catherine Lubetzki : Đó là một bệnh lý của hệ thần kinh trung ương (não bộ và tủy sống), do một rối loạn của hệ miễn dịch. Bệnh được đặc trưng bởi một sự phá hủy của bao myéline bọc quanh những phần nối dài của các neurone (axones : các sợi trục) mà vai trò là cho phép một sự dẫn truyền tốt của các thông tin giữa các neurone. Những thương tổn này của myéline gây nên những rối loạn dẫn truyền của những thông tin này, điều này làm phát khởi sự xuất hiện của những triệu chứng thần kinh khác nhau, thay đổi tùy theo định vị của chúng. Ví dụ một thương tổn của bao myéline nằm chung quanh dây thần kinh thị giác sẽ gây nên những rối loạn thị giác, một thương tổn ở tủy sống sẽ gây nên những rối loạn bước đi (trouble de la marche) hay những són tiểu (fuites urinaires)... Ở Pháp, 80.000 người (thường là những người trưởng thành trẻ tuổi) bị mắc phải bệnh này. Giữa lứa tuổi 20 và 30, đó là nguyên nhân đầu tiên gây tàn tật sau các tai nạn xe cộ.

Hỏi : Những thể khác nhau của bệnh xơ cứng rải rác ?
GS Catherine Lubetzki : Trong 20% các trường hợp, đó là một bệnh lý hiền tính, hoàn toàn có thể tương hợp với một cuộc sống bình thường. Trong những trường hợp khác, có những thể ít nhiều gây phế tật. Thể đầu tiên, thường xảy ra nhất, là thể tiến triển thành từng cơn bộc phát (poussée) (với sự xuất hiện của những rối loạn thần kinh), sẽ kéo dài 3 đến 4 tuần. Thể thứ hai, thường xuất hiện 15 năm sau, tương ứng với giai đoạn hai của căn bệnh, trong đó các cơn bộc phát sẽ dần dần biến mất nhưng xuất hiện một phế tật sẽ tiến triển một cách từ từ. Thể thứ ba của xơ cứng rải rác được gọi là “dần lên nguyên phát ” (progressive primaire). Thể này không được thể hiện bằng các cơn bộc phát nhưng xuất hiện ngay với một phế tật sẽ trầm trọng dần lên khi bệnh tiến triển.

Hỏi : Đến nay, làm sao điều trị những bệnh nhân này ?
GS Catherine Lubetzki : Đối với những thể “ tăng dần lên nguyên phát ” (progressive primaire), bất hạnh thay, chúng ta chưa có điều trị duy trì (traitement de fond), nhưng chúng ta có thể làm thuyên giảm các triệu chứng. Đối với những thể tiến triển bằng những “ cơn bộc phát ”, ngày nay chúng ta có những thuốc điều biến miễn dịch (immunomodulateur) chống lại sự rối loạn miễn dịch (trong đó những tế bào của hệ phòng ngự miễn dịch của bệnh nhân tấn công vào những thành phần của myéline của chính bệnh nhân). Nhiều loại thuốc làm giảm tính hung dữ của các “ quân tấn công ” (các tế bào lympho) : các interféron bêta (có 4 loại), acétate de glatiramère (Copaxone) (chích dưới da hay tiêm mông), natalizumab (Tysabri) (tiêm truyền mỗi tháng). Tất cả những loại thuốc này có một hiệu quả một phần lên tần số của các cơn bộc phát : khoảng 30% đối với các interféron và glatiramère, 60% đối với natalizumab (những loại thuốc sau cùng này gây nên một nguy cơ, hiếm nhưng không phải là không đáng kể, những biến chứng nhiễm trùng nghiêm trọng).

Hỏi : Những tiến bộ mới nhất trong điều trị xơ cứng rải rác là gì ?
GS Catherine Lubetzki : Trước hết có những cải thiện rất rõ rệt trong việc điều trị của các triệu chứng. Thí dụ, để ngăn chận vài rối loạn tiết niệu, các bệnh nhân được hưởng một dược phẩm mới mà chất căn bản là toxine botulique. Để cải thiện khả năng bước, một loại thuốc, fampridine (làm gia tốc sự dẫn truyền của các luồng thần kinh), mới đây được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ và đang được đánh giá bởi giới hữu trách y tế Châu Âu. Về các điều trị duy trì, trong số nhiều thuốc hiện đang được thử nghiệm trên thế giới, hai loại có thể được thương mại hóa trong một tương lai gần (vào năm 2011) : cladribine và fingolimod. Những thuốc này nhằm vào hệ miễn dịch.

Hỏi: Những kết quả nghiên cứu nào cho phép sự lạc quan này ?
GS Catherine Lubetzki : Cladribine, suốt trong hai năm, là đối tượng của một công trình nghiên cứu quốc tế (Châu Âu và Hoa Kỳ) nơi 1326 bệnh nhân. Những bệnh nhân này được chia thành hai nhóm : một nhóm nhận cladribine (bằng đường miệng), nhóm kia nhận một placebo. Kết quả : người ta đã quan sát thấy một sự giảm tần số của các “ cơn bộc phát ” khoảng 50% nơi những bệnh nhân được điều trị. Với fingolimod, hai loại công trình nghiên cứu đã được thực hiện. Loại nghiên cứu thứ nhất, nơi 1270 người, đã so sánh trong hai năm tính hiệu quả của loại thuốc này với một placebo. Kết quả : trong một nhóm được điều trị người ta đã ghi nhận một sự giảm khoảng 50% tần số của các “ cơn bộc phát ”. Loại nghiên cứu thứ hai đã so sánh tính hiệu quả của fingolimod với tính hiệu quả của một interféron cổ diển. Kết quả : một sự ưu việt rõ rệt của fingolimod. Nhưng vì công trình nghiên cứu chỉ kéo dài một năm, do đó ta chưa có thể xem những kết quả này là dứt điểm được. Với những loại thuốc mới này, những nguy cơ là những nguy cơ liên kết với một sự giảm quan trọng của tỷ lệ các tế bào lympho, như thế bị những biến chứng nhiễm khuẩn, nghiêm trọng hơn là những biến chứng gây nên bởi những điều trị quy ước. Nhưng thường nhất những nhiễm trùng này có thể được điều trị sớm và được chữa lành.

Hỏi : Bà dự kiến như thế nào kết quả của những công trình nghiên cứu này ?
GS Catherine Lubetzki : Những điều trị mới này có thể tạo nên, ngay năm 2011, một lựa chọn nơi những bệnh nhân bị một thể nặng của bệnh xơ cứng rải rác. Đó là một tiến bộ thật sự.
(PARIS MATCH 27/5-2/6/2010)

Đọc thêm : Tổng Hợp Thông tin về Bệnh Xơ Cứng Rải Rác

8/ ĐỂ CHÂM CỨU CẦN PHẢI CÓ NHỮNG CHIẾC KIM SẠCH.

Những người hành nghề châm cứu ở Hồng Kông chủ trương thiết lập những khuyến nghị có thể áp dụng trên thế giới nhằm chống nguy cơ nhiễm khuẩn liên kết với sự thực hành châm cứu. Thật vậy nguy cơ này có vẻ bị đánh giá thấp. Những nhiễm trùng da gây nên bởi các vi khuẩn sinh mủ có thể là nguyên nhân của các áp-xe và các viêm khớp nhiễm trùng (arthrite septique) , thậm chí của các áp xe hậu phúc mạc (abcès rétropéritoniaux), của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (endocardite infectieuse) hay ngay cả của viêm màng não. Khoảng 10% các trường hợp được báo cáo bị nhiễm trùng da bởi tụ cầu khuẩn vàng đã gây nên một sự hủy hoại khớp và 5% đã dẫn đến tử vong. Hàng trăm trường hợp viêm gan siêu vi trùng B đã được báo cáo và, từ năm 2000, hai dịch bệnh do mycobactéries, ảnh hưởng lên hơn 70 người, đã được quan sát, căn bệnh mới này được đặc trưng bởi những mụn mủ (pustule) và những vết loét kéo dài trong nhiều tháng. Theo các chuyên gia, vậy đã đến lúc phải nhắc nhở các người hành nghề châm cứu những quy tắc vệ sinh để tránh những thảm họa này.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2010)

9/ NGƯỜI BỆNH CỦA STRESS.

Một người đã từng bị một biến cố chấn thương (événement traumatisant) (sự qua đời của một người thân, những vết thương vật lý trầm trọng,…) đôi khi cảm thấy những hậu quả lâu dài sau đó : đó là rối loạn của sự căng thẳng sau chấn thương (trouble du stress post-traumatique ). Nạn nhân có thể sống lại tình huống gây căng thắng (situation stressante), bị những cơn ác mộng, thu mình lại, trốn chạy những người thân hay có những rối loạn về giấc ngủ và sự tập trung. Nạn nhân cũng thường bị nhiều loại bệnh khác nhau. Để hỗ trợ cho điểm sau cùng này, Monica Uddin, thuộc Đại Học Michigan, và các đồng nghiệp đã khảo sát quá trình méthylation (sự thêm vào một nhóm méthyle, CH3) của hơn 14.000 gène của 23 người đã từng bị hội chứng căng thẳng sau chấn thương (stress posttraumatique) và của 77 người không có rối loạn tâm thần.

Quá trình méthylation phản ảnh những sự thay đổi trong môi trường của cơ thể và biến đổi sự biểu hiện của các gène trong đó quá trình méthylation xảy ra. Các bệnh nhân bị stress có ít gène được méthylation hơn so với những người lành mạnh. Các gène không được méthylation, vì có liên quan trong hệ miễn dịch, nên các phòng ngự của cơ thể của những người bị stress ít được kích thích hơn.
(POUR LA SCIENCE 6/2010)

10/ ANGIOSCAN 3D CHO PHÉP THẤY RÕ HƠN CÁC ĐỘNG MẠCH VÀNH.

Mặc dầu sự phát triển của các kỹ thuật không xâm nhập như scanner hay IRM (imagerie par résonance magnétique), chụp mạch (angiographie) vẫn là phương pháp chuẩn thăm dò các động mạch vành. Một tiến bộ quan trọng mới đây được thực hiện với chụp mạch được gọi là quay (angiographie rotationnelle). Phương pháp này cho phép một cái nhìn toàn cảnh (vision paroramique) cây động mạch với sự sử dụng ít chất cản quan hơn và hạn chế sự bức xạ nơi bệnh nhân. Ngoài ra kỹ thuật này thu giảm phần chủ quan trong việc giải thích các hình ảnh bởi người quan sát.

Những kết quả thu được nơi khoảng 20 bệnh nhân xác nhận lợi ích của loại thu hình ảnh bằng cách quay vòng cung quang tuyến (arceau radiologique) trong khi tiêm thuốc cản quang. Các kết quả cũng cho thấy rằng sự tái tạo 3 chiều không gian (reconstruction 3D) hoàn toàn tự động là có thể được. Tỷ lệ phát hiện các thương tổn của các động mạch vành là 90% đến 100% với một tỷ lệ dương tính giả dưới 8%.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 153 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 21/12 /2009 )

5/ SCANNER TIM, PHUƠNG PHÁP THAY THẾ ĐỂ NHÌN THẤY CÁC ĐỘNG MẠCH VÀNH.

Các máy chụp hình ảnh này cho phép khảo sát các động mạch và tránh trong một vài trường hợp chụp động mạch vành (coronarographie).

CARDIOLOGIE. Đó là câu chuyện của một người đàn ông 50 tuổi đến ngân hàng để xin mượn một số tiền quan trọng. Mặc dầu anh ta cảm thấy rất mạnh khỏe, nhưng nhà ngân hàng này đòi hỏi anh ta một bilan tim, vì lẽ anh có những tiền sử nhồi máu cơ tim trong gia đình. Điện tâm đồ, được thực hiện trong thử nghiệm gắng sức (épreuve d’effort), phát hiện những bất thường rất nhỏ. Trong những trường hợp như thế có phải đi đến chỗ thực hiện một chụp mạch vành (angiographie coronaire, còn được gọi là coronarographie) hay không, nghĩa là có phải chịu một thăm khám xâm nhập để xem xét các thành trong của các động mạch tưới máu tim, thăm dò này không phải là không có những biến chứng. Thầy thuốc chuyên khoa tim khi đó đề nghị với bệnh nhân một scanner động mạch vành, một thăm dò tim tương đối mới, cho phép, nhờ các hình ảnh thu được bởi scanner và được tái tạo theo 3 chiều không gian, thấy được toàn bộ các động mạch vành và mức độ thông máu của chúng.

Trong trường hợp bệnh nhân này, xét nghiệm này đã phát hiện một chứng hẹp quan trọng của thân chung của động mạch vành trái (động mạch chính của tim), cần phải thực hiện phẫu thuật bắt cầu (pontage) nhanh chóng. “ Scanner tim đặc biệt hữu ích đối với những bệnh nhân có những yếu tố nguy cơ thấp hay trung bình, đối với họ một chụp động mạch vành (coronarographie) không nhất thiết là cần thiết, đã nói như vậy BS Jean-Louis Sabayrolles, đồng thời là thầy thuốc chuyên khoa tim và quang tuyến, người tiền phong trong nghiên cứu về các scanner tim (Centre cardiologique du Nord, Paris) và hiện đang làm việc với máy mới nhất được hiệu chính General Electric Healthe Care, cho phép làm giảm và đồng thời cải thiện chất lượng cùa hình ảnh và sự chính xác của chẩn đoán.

TRONG TRƯỜNG HỢP NGUY CƠ THẤP.

Ngày nay, tất cả các leader về chụp hình ảnh, đều có những máy chụp hình ảnh có khả năng khảo sát những động mạch vành quý báu mà không cần thiết bị xâm nhập. Các máy này, mà những nguyên mẫu đầu tiên có từ cách nay khoảng 10 năm, bắt đầu đạt trình độ thành thục, với khoảng 50 thiết bị trên lãnh thổ Pháp. Nhưng liệu chúng có cho phép chẩn đoán chính xác như chụp động mạch vành (coronarographie) hay không ? “ Có máy thôi không phải là đủ, BS Sablayrolles đã đảm bảo như vậy. Cần phải được đào tạo để sử dụng những kỹ thuật phức tạp này. Ngoài ra, hiệp hội tim và quang tuyến Pháp vừa thành lập một văn bằng liên đại học, dành cho các thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến và chuyên khoa tim, để cho phép họ không những làm việc cùng nhau, mà còn thụ đắc những năng lực cần thiết cho sự sử dụng máy và lý giải các các hình ảnh.”

Tháng 8 vừa qua, nhóm của Centre cardiologique du Nord (Paris) đã công bố một công trình nghiên cứu trong tạp chí Radiology, so sánh hiệu quả của scanner tim với hiệu quả của chụp động mạch vành (angiogrphie coronaire). Công trình này, được tiến hành nơi 124 bệnh nhân tình nguyện có các triệu chứng tim, nhằm thực hiện trong kỳ đầu một scanner tim và so sánh những kết quả của nó với những kết quả của chụp động mạch vành (coronarographie) được làm trong kỳ hai. Những kết quả hoàn toàn đáng phấn khởi, mặc dầu thăm khám bằng scanner tim không thể thay thế hoàn toàn thăm khám bằng chụp động mạch vành. “ Giá trị tiên đoán (valeur prédictive) âm tính là 100%. Điều này có nghĩa la khi kết quả thăm khám bằng scanner tim là bình thường, ta chắc chắn rằng không có bệnh lý động mạch vành, BS Sablayrolles đã giải thích như vậy. Ngược lại, đứng trước những hẹp động mạch vành mức độ trung bình (hẹp 40 đến 60% lòng của động mạch), scanner thiếu sự chính xác để định lượng mức độ của hẹp. Vào lúc đó, điều quan trọng là các kết quả của scanner tim phải được đối chiếu với các triệu chứng và những thăm dò tim học khác. Ngược lại, khi mức độ hẹp trên 60%, thi nhất thiết phải thực hiện một chụp động mạch vành với mục đích xác nhận chẩn đoán bệnh và đồng thời điều trị bằng làm giãn động mạch bị hẹp và đặt các stent .”

Thăm khám bằng scanner tim cần tiêm một chất cản quang bằng đường tổng quát. Thăm khám chỉ cần vài phút, thời gian thu được những hình ảnh nói riêng là rất ngắn. Theo các chuyên gia, thiết bị này (scanner tim) sẽ không thay thế tất cả các chụp động mạch vành, vì chính thăm dò này còn cho phép thực hiện một động tác điều trị. Nhưng trong vài trường hợp, scanner tim có thể tránh việc nhờ đến chụp động mạch vành nhất là trong những trường hợp không chắc chắn hay có nguy cơ thấp. Sau cùng, mặc dầu máy scanner tim trị giá khoảng 900.000 euro, nhưng đối với bệnh nhân phí tổn thăm khám là 150 euro, hoặc gần 10 lần thấp hơn so với chụp động mạch vành.
(LE FIGARO 9/12 /2009)

6/ CÁC BỆNH NHÂN ĐỘNG MẠCH VÀNH : THÀNH CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA CÁC TẾ BÀO GỐC.

Việc sử dụng các tế bào gốc mang lại nhiều hy vọng. Trong hội nghị vừa qua của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của GS Douglas Losordo (Cardiovascular Research Institute de Chicago) đã trình bày một công trình nghiên cứu vô cùng đáng phấn khởi : 167 bệnh nhân mạch vành, bị cơn đau thắt ngực nghiêm trọng, đã nhận các tế bào gốc được gọi là “ CD 34 ”, phát xuất từ tủy xương của chính họ và được biết là có khả năng kích thích sự tăng trưởng của những mạch máu nhỏ của cơ tim. Sau khi đã trích lấy từ tủy xương và thanh lọc, các tế bào gốc này được tiêm trở lại vào trong cơ tim của họ, trong 10 vị trí, đuợc xác định bằng một kỹ thuật cartographie của tim, cho phép định được những vùng cơ tim bị bệnh, có thể làm hồi phục được (còn sống) mặc dầu không được cấp đủ huyết quản. 12 tháng sau, và sau khi đã so sánh với những bệnh nhân đã nhận một placebo, những bệnh nhận được điều trị có một sự giảm đáng kể nhưng cơn đau thắt ngực, về thời gian cưng như tần số và một sự gia tăng gấp đôi hiệu năng của họ đối với gắng sức. Một sự thu giảm tỷ lệ tử vong cũng đã được ghi nhận.
(PARISMATCH 3/12-9/12 /2009)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/6/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#54 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 15 June 2010 - 07:59 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ UNG THƯ VÚ : NHỮNG KẾT QUẢ HỨA HẸN CỦA MỘT VACCIN TRÊN CHUỘT.

Không có một động vật gặm nhấm nào có khuynh hướng bị bệnh này sau khi được tiêm vaccin.

PREVENTION. Trong các nước giàu có, ung thư vú gây bệnh cho một phụ nữ trên tám trong suốt cuộc đời của họ. Nguyên nhân gây nên sự gia tăng theo đường thẳng với thời gian này là có thai muộn, chứng béo phì, sự nhàn rổi không hoạt động, sự giảm cho bú, ít con, các điều trị bằng hormone... Một ngày nào đó ta có thể ngăn cản một căn bệnh như vậy hay không ? Trong khi các chiến lược phòng ngừa bằng vaccin chủ yếu nhắm vào các bệnh lý nhiễm khuẩn, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa hiệu chính một vaccin đã tỏ ra có khả năng ngăn cản sự xuất hiện của bệnh ung thư này nơi các con chuột có tố bẩm. Các kết quả, lý thú, được công bố tuần này trong tạp chí Nature Medicine, mở ra những triển vọng mới. Những thử nghiệm trên phụ nữ đã được dự kiến.

PROTEINE ALPHA-LACTALBUMINE.

Nói chung, một vaccin bình thường kích thích cơ thể sản xuất các kháng thể chống lại một tác nhân nhiễm trùng (hay đúng hơn một trong những protéine của nó). Trong trường hợp của ung thư vú, phải làm cho hệ miễn dịch chế tạo những kháng thể chống lại một protéine của ung thư, nhưng với điều kiện protéine này chỉ đặc hiệu đối với loại ung thư này (điều này rất hiếm). Nếu không, mối nguy hiểm là khởi động một bệnh tự miễn dịch (chống lại chính cơ quan của mình). Để tránh khó khăn này, các nhà nghiên cứu đã nhận diện một protéine rất thường được tìm thấy trong các ung thư vú, nhưng không phải trong các tế bào tuyến vú, ngoại trừ vào thời kỳ cho bú : alpha-lactalbumine.

Các nhà nghiên cứu như thế đã nghiên cứu trên một nhóm các con chuột nhỏ có nguy cơ di truyền cao phát triển ung thư vú (một nửa trong số các con chuột này có một khối u sau khi sống được 205 ngày). Chúng được chia thành hai nhóm : một nhóm đã nhận một vaccin chứa protéine alpha-lactalbumine cặp với một chất bổ trợ (adjuvant), nhóm kia nhận một vaccin placebo chỉ chứa chất bổ trợ. Sau 10 tháng, không có một con chuột nào của nhóm thứ nhất (được chủng ngừa đúng phép) đã bị ung thư vú cả, trái với những con chuột của nhóm thứ hai, tất cả đều bị ung thư vú. Những loại động vật khác cũng đã nhận vaccin, cũng đã tỏ ra có hiệu quả. Sau cùng, cùng chế phẩm đã được trắc nghiệm trên các họ chuột (muridés) đã bị bệnh. Và lại nữa, vaccin lần này đã có một hiệu quả điều trị bằng cách ức chế khối u. Không có một phản ứng viêm nào đã được quan sát trong các thử nghiệm khác nhau.

Tất cả các dữ kiện này đều có tính cách thực nghiệm, vả lại được tiến hành trên một mô hình động vật, các con chuột, rất khác xa với con người. Tuy nhiên, sau những thí nghiệm ly kỳ này, các tác giả kết luận một cách phấn khởi : “ Như thế sự tiêm chủng với alpha-lactalbumine có lẽ có thể mang lại một sự bảo vệ chắc chắn và hiệu quả chống lại sự phát triển của ung thư vú nơi các phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh, khi mà chức năng cho bú không còn cần thiết nữa, và khi mà nguy cơ phát triển một ung thư vú tăng cao. ”

Đây không phải là lần đầu tiên mà các ứng viên vaccin được đề nghị chống lại ung thư vú. Mãi đến nay, ý đồ của các vaccin này mang tính chất điều trị. “ Hiện nay có nhiều thử nghiệm đang được tiến hành nơi các phụ nữ bị ung thư vú, ở Thụy Điển và Hoa Kỳ, với một thuốc chủng điều trị (vaccin thérapeutique) chống lại một protéine HER2, có can dự trong 1/3 các ung thư vú, GS Thomas Turz (Giám đốc Viện Gustave-Roussy,Villejuif) đã giải thích như vậy. Hiện nay, các vaccin điều trị đang ở một giai đoạn tiên tiến hơn các vaccin nhằm phòng ngừa.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/6/2010)

Đọc thêm : THÔNG TIN Y HỌC VỀ UNG THƯ VÚ (Breast Cancer)

2/ VỆ SINH MIỆNG ẢNH HƯỞNG LÊN SỨC KHOẺ TIM-MẠCH.

Những người trưởng thành, đánh răng dưới một lần mỗi ngày, làm gia tăng nguy cơ tim mạch của họ.

Trong 20 năm qua, người ta đặc biệt quan tâm đến sức khỏe của miệng và đã xác lập một mối liên hệ giữa các bệnh của răng, và chính xác hơn bệnh cận răng (maladie parodentale), và các bệnh tim mạch. Một sự thiếu vệ sinh răng miệng là nguyên nhân chủ yếu của các bệnh cận răng. Những bệnh cận răng này cũng nằm trong số những nhiễm trùng mãn tính thường xảy ra nhất và chúng được liên kết với một sự gia tăng nhẹ của đáp ứng viêm.

Gần 12.000 người Tô cách lan (hơn 35 tuổi, 46% là đàn ông) đã trả lời những câu hỏi có liên quan đến vệ sinh. Sức khỏe miệng nhìn toàn bộ là tốt, với 62% người được hỏi báo cáo đã thăm khám đều đặn các nha sĩ của họ (mỗi 6 tháng) và 71% có một vệ sinh răng miệng tốt (rửa răng 2 lần mỗi ngày). Những người đánh răng dưới hai lần mỗi ngày hơi lớn tuổi hơn, thường là nam giới, và có vị thế xã hội thấp, và có một tỷ lệ mạnh của các yêu tố nguy cơ, trong đó chứng nghiện thuốc lá, tình trạng không hoạt động vật lý, chứng béo phì, cao huyết áp và bệnh đái đường.

Nơi những người trưởng thành trên 40 tuổi, bệnh của cận răng là nguyên nhân chủ yếu của rụng răng và nó là hậu quả lôgíc của một vệ sinh răng miệng kém.

Theo OMS, tỷ lệ lưu hành của bệnh cận răng trên thế giới lên đến 10 đến 20% đối với những thể nghiêm trọng nhất. Bệnh này rất thường xảy ra, nhất là ở lứa tuổi trung niên, hoặc lứa tuổi trong đó các bệnh động mạch vành cũng thường xảy ra nhất.

HAI LẦN MỖI NGÀY.

Trong 8 năm theo dõi, 555 biến cố tim mạch (74% bệnh động mạch vành) đã xảy ra, trong đó 170 trường hợp tử vong. Những người tham gia, đánh răng dưới một lần mỗi ngày, có thêm 70% nguy cơ bị một bệnh tim mạch so với những người đánh răng hai lần mỗi ngày. Một vệ sinh miệng kém (không bao giờ hay hiếm khi đánh răng) cũng được liên kết với một sự gia tăng của các chất chỉ dấu viêm và đông máu (nồng độ CRP và fibrinogène).

Đối với các tác giả, Cesar de Oliveira và các cộng sự viên của ông thuộc University College London, những dữ kiện của họ xác nhận phần lớn các dữ kiện của các công trình nghiên cứu trước đây và như thế gợi ý “ vai trò khả dĩ của một vệ sinh răng miệng kém trong nguy cơ mắc phải các bệnh tim mạch qua hệ viêm ”. Những công trình nhiên cứu khác sẽ cần thiết để xác nhận xem mối liên hệ giữa các điều trị răng và các bệnh tim mạch có liên hệ nhân quả hay không hoặc đó có phải là một yếu tố nguy cơ hay không.

“ Vì lẽ tỷ lệ lưu hành cao của những nhiễm trùng miệng trong dân chúng, các thầy thuốc phải chú ý đến khả năng của một đợt viêm phát xuất từ nguồn miệng. Ngoài ra, giáo dục bệnh nhân về sức khỏe miệng là có lợi vì lẽ mối liên hệ giữa sức khỏe của răng và những bệnh toàn thân ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/6/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 109 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/1/2009 )

8/ NHỮNG LỢI RĂNG TỐT HƠN CHO XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH ÍT HƠN

Điều trị một viêm khớp răng (hay viêm cận răng : périodontite) thể nhẹ đến trung bình, cho phép làm giảm một cách đáng kể bề dày của trung-nội mạc của động mạch cảnh.

Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến một mối liên hệ giữa viêm khớp răng và những tai biến tim mạch. Để chính xác hơn, viêm lợi răng do Porphyromonas có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của các mảng vữa xơ động mạch (plaques athéromateuses).

Thế thì đảo lại cũng đúng hay không? Điều trị các bệnh viêm lợi răng có thể cải thiện chứng vữa xơ động mạch (athérosclérose) hay không? Vài yếu tố đã chỉ cho thấy một sự giảm nồng độ của nhiều chất chỉ dấu (marqueur) của phản ứng viêm nhờ sự cải thiện của sức khỏe răng, như các tế bào lympho, các tế bào mono và CRP. Nhưng đến nay không gì chứng tỏ là có sự giảm các thương tổn vốn đã có. Mario Clerici và các cộng sự viên (Milan) đã thực hiện về chủ đề này một công trình nghiên cứu dọc nơi 35 người bị một bệnh cận răng (parodontopathie) mức độ nhẹ đến trung bình, nhưng có sức khoẻ tốt. Các tác giả đã thực hiện một écho-Doppler các động mạch cảnh và đã phân tích các nồng độ của các chất chỉ dấu sinh học của phản ứng viêm, vào lúc bắt đầu nghiên cứu cũng như vào những lúc khác nhau sau điều trị viêm cận răng (traitement périodontaire). Điều trị này gồm việc loại bỏ các mảng răng (plaque dentaire) và những săn sóc cơ bản lợi răng. Ở đây không có vấn đề điều trị kháng sinh hay giải phẫu.

NHỮNG SĂN SÓC NHỎ, NHỮNG HIỆU QUẢ LỚN.

Những biện pháp đơn giản này, chủ yếu nhằm làm giảm gánh vi khuẩn (charge bactérienne), đã làm ngạc nhiều nhiều tác giả của công trình nghiên cứu do sự giảm đáng kể độ dày của nội và trung mạc của động mạch cảnh. Đây là yếu tố đầu tiên chứng tỏ rằng những thương tổn đã có có thế thoái lui, chỉ bằng một chiến lược điều trị tối thiểu mà thôi.
(LE GENERALISTE 8/1/2009)

Thời Sự Y Học Số 144 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/09/2009 )

9/ SỰ LÀNH MẠNH RĂNG VÀ NGUY CƠ MẠCH VÀNH.

Viêm cận răng (parodontite) là một viêm nhiễm mãn tính của các lợi răng do một nhiễm trùng bởi vi khuẩn, gây nên một sự hủy hoại xương và các dây chằng giữ các chiếc răng trong các ổ răng (alvéoles osseues) của chúng. Căn bệnh thông thường này (gây bệnh đến hai người trên ba), thường được liên kết với chứng xơ mỡ động mạch, mà các biểu hiện cấp tính (nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực không ổn định) tương quan với một sự viêm nhiễm. Mặt khác có nhiều yếu tố nguy cơ chung cho hai căn bệnh này (thuốc lá, đái đường, béo phì và tình trạng bất hoạt vật lý).

Hậu quả lôgíc : một nhóm các chuyên gia khuyến nghị rằng những người bị viêm cận răng (parodontite) phải được đánh giá trên bình diện tim mạch và nếu cần, nhận những điều trị tim thích hợp để làm giảm nguy cơ các tai biến liên kết với xơ mỡ động mạch.
(CŒUR et ARTERES 9/2009, số 4)

3/ BỆNH ALZHEIMER : NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH ĐỂ XÁC ĐỊNH NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA.

“ Khi một thầy thuốc chuyên khoa tim xác định được vị trí của các mảng xơ mỡ (plaques d’athérome) bịt các động mạch của bệnh nhân mình, đó là dấu hiệu cho biết rằng ông ta phải hành động để phòng ngừa, GS Bruno Vellas, người phụ trách Gérontopole de Toulouse, chịu trách nhiệm nghiên cứu các bệnh xuất hiện với tuổi tác, đã đưa ra làm ví dụ như vậy. Bởi vì, nếu ông ta không điều chỉnh những yếu tố nguy cơ khác nhau đã dẫn đến sự tạo thành những mảng xơ mỡ này, bệnh nhân của ông ta sẽ có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não. Thế thì, ý tưởng cũng như vậy đối với bệnh Alzheimer. Khi một chuyên gia, lúc chụp hình ảnh, quan sát thấy những lắng đọng amyloides bất thường trong não bộ của bệnh nhân mình, ông ta sẽ tự đặt cho mình câu hỏi phải biết gì để đề nghị với bệnh nhân nhằm làm chậm lại sự tạo thành của các lắng đọng này. Và điều này phải được thực hiện trước khi bệnh Alzheimer được thể hiện bởi các triệu chứng.

Những công trình nghiên cứu dịch tễ học, được thực hiện cho mãi đến ngày hôm nay, cho thấy một mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu oméga (cá mỡ 3 lần mỗi tuần), tập thể dục đều đặn (bước 45 phút mỗi ngày), và một tần số mắc bệnh Alzheimer ít hơn hoặc, ít nhất, sự xuất hiện của bệnh xảy ra chậm hơn. Vài công trình dịch tễ cũng phát hiện vai trò dương tính của các môn giải trí tinh thần. Và caféine dường như cũng có những tác dụng bảo vệ (ít nhất, nơi chuột). Nhưng, đối với GS Vellas, “ không phải bởi vì trên phương diện thống kê có một mối tương quan giữa tất cả các dữ kiện này mà điều đó chứng tỏ sự hiện hữu của một mối liên hệ nhân quả. Chúng ta không biết một vệ sinh đời sống tốt có thật sự có khả năng ngăn ngừa bệnh hay không hoặc có phải bởi vì những người có một não bộ nguyên vẹn nên họ có khả năng thực hiện tất cả những hoạt động này lâu hơn hay không ”. Điều chứng thực khác : chứng nghiện thuốc lá, chứng béo phì, bệnh đái đường, cuộc sống nhàn rổi và một huyết áp tăng cao là những yếu tố nguy cơ xuất hiện bệnh Alzheimer. Nhưng, lại nữa, đó chỉ là những giả thuyết...

ẢNH HƯỞNG CỦA VỆ SINH ĐỜI SỐNG.

Nhằm chứng tỏ rằng một hành động phòng ngừa là khả dĩ, những công trình nghiên cứu được thiết đặt. Một trong những công trình này (công trình nghiên cứu châu Âu Guidage) phải chứng tỏ ginko biloba, một loại cây có tiếng bảo vệ não bộ, với liều lượng cao trong năm năm, có thật sự có một tác dụng lên trí nhớ và bệnh Alzheimer hay không. Những kết quả được chờ đợi ngay vào mùa hè này.

Một công trình nghiên cứu châu Âu khác (được mệnh danh là “công trình nghiên cứu Mapt ”), bao gồm 1.200 lão niên có triệu chứng rối loạn trí nhớ, đã được bắt đầu. “ Nhưng có thể còn thêm 400 người tình nguyện, GS Vellas đã xác nhận như vậy. Lần này, mục tiêu của công trình nghiên cứu là tạo thành 4 nhóm, được theo dõi trong nhiều năm : nhóm thứ nhất sẽ nhận những oméga 3 với liều lượng mạnh. Nhóm thứ hai, một placebo với sự theo dõi trí nhớ. Ở nhóm thứ ba và thứ tư người ta khuyến nghị tập hoạt động vật lý và trí óc nhiều hơn ”. Mục tiêu là kiểm tra lợi ích của một sự cho bổ sung oméga 3 và một hoạt động đều đặn để chống lại bệnh này.

Sau cùng, một công trình nghiên cứu thứ ba, được thiết lập ở Gérontopole de Toulouse, với mục tiêu là nghiên cứu ảnh hưởng của một vệ sinh đời sống tốt lên các lắng đọng amyloide và sự thể hiện của nó trên phương diện lâm sàng. Sau cùng có thể trả lời cho câu hỏi chủ yếu : làm giảm các lắng đọng có được kèm theo một trí nhớ tốt hơn hay không ? Câu trả lời được chờ đợi ... trong 5 năm nữa ! Nhưng chắc chắn không phải chờ đợi những kết quả này trước khi tôn trọng vài quy tắc vệ sinh đời sống không thể tranh cãi được.
(LE FIGARO 3/5/2010)

4/ GIẢM ĐỒ UỐNG NGỌT LÀM HẠ HUYẾT ÁP.

Uống nước uống có chất đường ít hơn mỗi ngày có thể được thể hiện bằng một sự hạ đáng kể của huyết áp.

Chúng ta biết những tác dụng âm tính của một sự cung cấp quá mức đồ uống ngọt lên nguy cơ béo phì, hội chứng chuyển hóa và đái đường loại 2. Nhưng còn huyết áp thì sao ? Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nghiên cứu vấn đề này. Các kết quả của họ đã xuất hiện trong Circultation, một ấn bản của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ.

BS Liwei Chen, giáo sư phân khoa y tế cộng đồng của đại học Louisane, và các đồng nghiệp đã nghiên cứu các dữ kiện liên quan đến 810 người trưởng thành (25 đến 79 tuổi) trong tình trạng tiền huyết áp (préhypertension) hay cao huyết áp giai đoạn 1 (huyết áp tâm thu : 120-159 mmHg, huyết áp trương tâm : 80 đến 95 mmHg). Những người này tham gia vào công trình nghiên cứu PREMIER, một thử nghiệm kéo dài 18 tháng, được căn cứ trên những cố gắng để làm mất cân và làm hạ huyết áp bằng thể dục và theo một chế độ ăn uống lành mạnh.

Huyết áp và cung cấp thức ăn được đo vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và sau 6 và 18 tháng. Vào lúc đầu thử nghiệm, sự tiêu thụ trung bình đồ uống ngọt lên đến 310ml/ngày và huyết áp trung bình thu tâm/trương tâm lên đến 135/85mmHg.

Trong lúc thực hiện nghiên cứu (trong 18 tháng), những người tham gia đã hủy bỏ một suất nước ngọt mỗi ngày đã cho thấy những sụt giảm đáng kể của huyết áp thu tâm và trương tâm : lần lượt -1,8 và –1,1mmHg. Một sự giảm cung cấp đường cũng được liên kết với một sự giảm huyết áp.

Dung lượng đường của các nước uống, hơn là caféine, dường như can thiệp vào trong sự liên kết được quan sát. Như thế, các tác giả gợi ý rằng hoạt động gia tăng của hệ thần kinh giao cảm có thể giải thích tác dụng của đường lên huyết áp.

“ Giảm sự tiêu thụ nước ngọt và đường làm hạ một cách đáng kể huyết áp. Như vậy giảm cung cấp đồ ngọt và đường có thể là một chiến lược dinh dưỡng hạ huyết áp (une stratégie diététique hypotensive) được lựa chọn, các tác giả đã kết luận như vậy.

“ Một sự giảm 3mmHg của huyết áp thu tâm được thể hiện bởi một sự hạ 8% tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não và 5% những bệnh động mạch vành. Những sự giảm huyết áp thu tâm như vậy có thể có được bằng cách giảm sự tiêu thụ nước ngọt 2 ly mỗi ngày ”, BS Liwei Chen, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/6/2010)

5/ NGƯỜI TA KHÔNG THỂ LÀM 3 VIỆC MỘT LẦN.

Não bộ chỉ có thể theo đuổi hai mục đích cùng một lần, mỗi mục tiêu được đảm nhận bởi một bán cầu đại não phân biệt.

Con người có hai thùy trán rất phát triển so với các loại động vật khác. Những cấu trúc này đảm nhận những chức năng cao cấp như sự hoạch định kế hoạch, ngôn ngữ hay cử động tự ý. Nhờ chúng, chúng ta có thể hành động theo những động cơ riêng của chúng ta và thực hiện nhiều nhiệm vụ một cách đồng thời. Tuy vậy, những khả năng nhận thức (capacité cognitive) của chúng ta không phải là vô giới hạn. Bao nhiêu mục tiêu não bộ có thể theo đuổi cùng lúc ? Não bộ đảm nhận chúng như thế nào ?

Để biết được điều đó, Etienne Koechlin và Sylvain Charron, thuộc Inserm và Trường cao đẳng sư phạm, đã đặt 32 người dưới IRM chức năng. Những người tham dự có trước mặt họ một écran, trên đó các mẫu tự tạo thành chữ tiếng Anh tablet, hiện ra từng mẫu tự một. Sau mỗi loạt hai mẫu tự, những người này phải nói những mẫu tự này có tiếp theo nhau theo cùng thứ tự trong chữ tablet hay không. Khi những người tham dự cho một câu trả lời đúng, họ được thưởng một số tiền. Sau vài thử nghiệm, các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã yêu cầu họ ngừng bài tập và thực hiện một công việc khác tương tự, cũng được thưởng bởi một số tiền. Khi đó hai tình huống xảy ra : hoặc là họ bỏ hoàn toàn công việc đầu tiên, hoặc là họ đặt công việc này trong tình trạng chờ đợi để rồi tiếp tục một thời gian sau.

Thế mà, theo trường hợp điển hình, các thùy trán đã không phản ứng cùng phương cách. Trong trường hợp đầu, tương ứng với sự theo đuổi một mục đích duy nhất, sự khen thưởng đã được mã hóa một cách đối xứng trong vỏ não trước trán giữa (cortex préfrontal médian). Ngược lại, trong trường hợp thứ hai, vùng này đã đã phân chia công việc : phần bên phải mã hóa sự khen thưởng của công việc đầu tiên, phần bên trái mã hóa sự khen thưởng của công việc thứ hai. Cũng sự phân chia như vậy đã được quan sát trong vùng vận động của vỏ não trước trán, kiểm soát sự thực thi công việc. Vùng trước trán, được biết đóng vai trò trong sự điều hòa của các mục đích, được hoạt hóa từ hai phía suốt trong thời gian thí nghiệm.

Sau đó các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã thêm vào một công việc thứ ba. Kết quả : các thời gian phản ứng và tỷ lệ các sai lầm đã được nhân lên ba lần. Như vậy, não bộ không thể theo đuổi một cách hiệu quả hơn hai mục tiêu trong cùng một lần.

“ Đó là một công trình rất lý thú và tiền phong, Stanislas Dehaene, giáo sư tâm lý học nhận thức (psychologie cognitive) ở Collège de France đã đánh giá như vậy. Công trình này cho thấy những khả năng của vỏ não trước trán được chia thành hai mạng được phân biệt phần nào, mỗi mạng đảm đương một công việc. Những mạng này nhờ đến những bán cầu não khác nhau, điều này rất đáng ngạc nhiên ”.

Từ đó ta có thể rút ra những hệ quả chung về hệ não bộ phụ trách động cơ hành động ? “ Người ta không biết hiện tượng này có xảy ra với những loại công việc khác hay không, và cũng không biết theo quy tắc nào một công việc được chỉ định cho một bán cầu não, Stanislac Dehaene đã phân tích như vậy. Trong những điều kiện này, sự không có thể thực hiện 3 công việc cùng một lúc là một kết quả đáng lưu ý, nhưng không có gì chứng tỏ rằng điều này là do sự kiện chúng ta chỉ có hai bán cầu não, như các tác giả đã khẳng định như vậy ”.
(LA RECHERCHE 6/2010)

6/ MỐI LIÊN HỆ MẬT THIẾT GIỮA TIM VÀ LOẠN NĂNG SINH DỤC.

CARDIOLOGIE. Những người đàn ông có những khó khăn sinh dục sau 40 tuổi phải thăm khám ưu tiên không phải một thầy thuốc chuyên về rối loạn sinh dục (sexologue), mà là một thầy thuốc chuyên về tim. Đó là điều vừa được đề nghị bởi một nhóm chuyên gia quốc tế, sau khi đã phân tích tất cả tư liệu khoa học về chủ đề này. Các kết luận của họ (International Journal of Clinical Practice, 5/2010) cho thấy rằng những người đàn ông bị loạn năng cương (dysfonction érectile) có một nguy cơ gia tăng bị những bệnh động mạch vành trong vòng 3 năm theo sau những khó khăn sinh dục này. Và họ bị đe dọa bởi nhồi máu trong một thời hạn 3 đến 5 năm. 2/3 những người đàn ông từ 40 đến 69 tuổi bị những rối loạn động mạch vành đã bị mất hoạt năng sinh dục (panne sexuelle) trước đó. Cùng những thương tổn ở các động mạch tim và sinh dục giải thích sự liên kết này. Và họ bị đe dọa bởi nhồi máu trong một thời hạn 3 đến 5 năm. Do đó cần phải làm một bilan (cholestérol, cao huyết áp, thuốc lá) trong trường hợp bị panne sinh dục.
(LE FIGARO 7/6/201)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 118 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/3/2009 )

7/ LOẠN NĂNG CƯƠNG LÀ DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC CỦA BỆNH TIM ?

[Jennifer St Sauver (Mayo Clinic, Rochester, Minnesota) và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu nơi 1.400 người đàn ông từ 40 đến 79 tuổi. Những người này, lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, không bị những rối loạn tim. Các nhà nghiên cứu đã chứng nhận rằng những người đàn ông bị các rối loạn cương (troubles érectiles), trong 10 năm theo dõi, đã có một nguy cơ phát triển một bệnh động mạch vành lớn hơn nhiều, ngay cả sau khi đã điều chỉnh những yếu tố nguy cơ khác như bệnh đái đường, chứng béo phì và cao huyết áp. Họ cũng đã nêu nhận xét rằng nguy cơ này rõ rệt cao hơn nơi những người đàn ông bị loạn năng cương (dysfonction érectile) trong lứa tuổi 40. Những người này đã có một nguy cơ mắc bệnh tim hai lần lớn hơn so với những người không có các rối loạn cương. Giá trị tiên đoán những rối loạn cương vào lứa tuổi 50-60 tuổi sẽ là ít hơn và giá trị này sẽ là số không nếu như những rối loạn này xảy ra sau 70 tuổi.

Các rối loạn cương xảy ra khi sự vận chuyển máu đến dương vật bị trở ngại. Những bệnh lý động mạch thường gặp, trước hết được biểu hiện trong những huyết quản nhỏ cung cấp máu cho dương vật và chỉ về sau những động mạch vành mới bị thương tổn. “ Một điều tra phát hiện những yếu tố nguy cơ tim mạch do đó được chỉ định nơi những người trẻ có những rối loạn cương ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 3/3/2009)

Thời Sự Y Học Số 145 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/10/2009 )

10/ LOẠN NĂNG CƯƠNG CỦA ĐÀN ÔNG CÓ ĐÚNG LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH ?

Loạn năng cương (dysfonction érectile) là sự không có thể thường trực (hay ít nhất rất thường xảy ra) có được một sự cương cứng dương vật có hiệu quả và dài lâu (sexe mou). Đó là một thuật ngữ còn tương đối bị cấm kỵ, bởi vì đó là một tình huống mà một người đàn ông khó lòng chấp nhận được. Tuy nhiên chứng loạn năng cương này ảnh hưởng lên hơn 150 triệu người đàn ông trên thế giới, và ngay ở lứa tuổi 40. Tần số mắc bệnh tiếp tục gia tăng do sự lão hóa của dân số, nhưng không phải chỉ có vậy.

Cần minh định rõ: chức năng cương (fonction érectile) của giới tính nam nhằm làm cứng dương vật, được đảm bảo bởi sự làm đầy máu các thể hang và xốp (corps caverneux và spongieux) của dương vật (đúng là những mạch máu xốp ứ máu, éponges vasculaires gorgées de sang), nhờ sự giãn của những động mạch của dương vật. Sự co thắt đồng thời của các cơ ở đáy dương vật đè ép các tĩnh mạch, làm ngăn cản sự tháo xuất máu, và cứ như thế cho đến khi các cơ này được giãn ra. Hiện tượng này nằm dưới sự kiểm soát của thần kinh ngoại biên (các dây thần kinh phát xuất từ tủy sống) và trung tâm (não bộ).

Do đó ta có thể hiểu rằng loạn năng cương (dysfonction érectile) có thể có nhiều nguyên nhân : thần kinh và tâm lý, tiết niệu, do dùng thuốc, nhưng cũng có thể là nguyên nhân huyết quản, hoặc do bất thường của hệ tĩnh mạch, nhưng nhất là động mạch. Điều này giải thích tại sao loan năng cương có thể thường hiện diện trong chứng xơ mỡ động mạch (artériosclérose) nặng và/hoặc kéo dài và tại sao chứng loạn năng này được làm dễ bởi bệnh đái đường, cao huyết áp, dyslipidémie (quá nhiều cholestérol và những chất mỡ xấu khác...), chứng béo phì và thuốc lá. Một công trình nghiên cứu mới đây đã tiết lộ rằng gần 50% những người đàn ông bị loạn năng cương không biết mối liên hệ này.

Do đó nếu các người đàn ông, kêu bị loạn năng cương, có một tần số mắc bệnh tim mạch lớn hơn và ngay cả một tý lệ tử vong cao hơn, và tỷ lệ này càng cao khi bất thường xuất hiện ở một lứa tuổi càng trẻ (trước 50 tuổi), điều này không phải là do loạn năng cương, mà thường do sự hiện diện những bất thường động mạch nghiêm trọng ẩn tàng, thường không được hay biết đến bởi người bệnh và không được nhận thấy bởi thầy thuốc của anh ta bởi vì còn ít triệu chứng.

Do đó để điều trị loạn cương, không phải chỉ giới hạn vào việc nhờ đến viên thuốc màu xanh bé nhỏ (Viagra) và/hoặc tiêm testostérone, đôi khi được kết hợp với sự thăm khám tâm lý và/hoặc một ý kiến của thầy thuốc niệu khoa. Tất cả điều này vả lại có thể hữu ích, nhưng ta cũng phải yêu cầu thầy thuốc gia đình của mình xác lập một bilan tim mạch hoàn chỉnh. Bilan này không chỉ giới hạn vào việc tìm kiếm một cách hệ thống tất cả các yếu tố nguy cơ sẽ phải được điều chỉnh thật sự và dài lâu, mà còn phải bao gồm một bilan kỹ càng về tình trạng của hệ mạch máu và tim.
(COEUR ET ARTERES 9/2009, SO 4)


7/ CHÚNG TA CÓ THỂ CHỮA LÀNH BỆNH HEN PHẾ QUẢN ?

GS Alain Didier
Pneumologue CHU de Toulouse


Hiện nay, mặc dầu những tiến bộ hiển nhiên của 25 năm qua trong sự điều trị của bệnh hen phế quản, câu trả lời cho câu hỏi này, bất hạnh thay, vẫn thường âm tính. Tuy vậy, một niềm tin dân gian rất phổ biến khiến phải tin rằng bệnh hen phế quản của trẻ em thường biến mất ở tuổi dậy thì. Nếu quả thật đôi khi ta quan sát thấy một sự cải thiện, thậm chí thuyên giảm vào thời kỳ này của đời sống, tất cả các công trình nghiên cứu dịch tễ học đã quan tâm đến tương lai của các trẻ em hen phế quản, đều xác nhận rằng các tái phát hay những trường hợp trở nặng ở tuổi trưởng thành là quy luật. Ý niệm này là quan trọng, bởi vì nó khiến ta phải điều trị sớm ngay khi chẩn đoán được xác định, vào một giai đoạn mà sự ảnh hưởng lên cây hô hấp vẫn còn ít quan trọng và không chờ đợi một sự thuyên giám có tính chất lý thuyết.

Tuy nhiên, mặc dầu câu ngạn ngữ “ suyễn một ngày, suyễn suốt đời ” tương ứng với đại đa số các trường hợp, điều này phải được diễn đạt một cách tương đối. Trước hết, phải ghi nhớ rằng tiên lượng của hen phế quản, khi được điều trị một cách đúng đắn, không phải là tồi. Với một điều trị thích ứng, phần lớn những bệnh nhân suyễn có thể có một cuộc sống bình thường, kể cả trên bình diện thể thao. Sự giảm ly kỳ của số các trường hợp tử vong do hen phế quản trong những năm qua ở Pháp cũng chứng tỏ sự giảm toàn bộ của tiên lượng của bệnh. Ngoài ra, mặc dầu mối hy vọng một ngày nào đó có một điều trị khả dĩ chữa lành bệnh suyễn dường như còn xa xăm, nhưng nhiều cố gắng đã được thực hiện trong lãnh vực phòng ngừa bệnh. Bên cạnh những khía cạnh di truyền càng ngày càng được biết rõ hơn, nhưng, cũng lại nữa, có lẽ còn lâu mới có thể tiếp cận được với các điều trị, các yếu tố môi trường chung, có liên hệ trong việc quyết định của bệnh, đang được nhận diện. Đó là giai đoạn đầu tiên cần thiết cho sự xây dựng những chiến lược phòng ngừa tập thể.

GIẢI CẢM ỨNG (DESENSIBILISATION)

Trong lãnh vực đặc biệt hơn của môi trường lúc lao động, kiến thức tốt hơn về những hoạt động liên kết với với một nguy cơ tăng cao phát triển bệnh suyễn nghề nghiệp đã cho phép thiết đặt những biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Ở quy mô cá nhân, bây giờ người ta biết rằng việc xác định và điều trị sớm những biểu hiện đầu tiên của thể trạng dị ứng (atopie) (nghĩa là thể trạng làm dễ sự phát triển của các bệnh dị ứng) như chàm (eczéma) và/hoặc viêm mũi dị ứng, có thể cho phép làm chậm, thậm chí tránh, trong một số các trường hợp, sự xuất hiện của hen phế quản.

Sự phòng ngừa của bệnh suyễn này là một trong những mục tiêu chủ yếu của những thử nghiệm điều trị quy mô lớn hiện đang được tiến hành, sử dụng miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) đặc hiệu (hay giải mẫn cảm : désensibilisation) trong điều trị viêm mũi dị ứng, một bệnh lý thường đi trước vài năm sự xuất hiện của hen phế quản. Vậy ta có thể giữ niềm hy vọng một cách hợp lý rằng câu trả lời hiện nay toàn bộ âm tính có thể tiến triển thành dương tính trong những năm đến.
(LE FIGARO 7/6/2010)

8/ TẠI SAO RƯỢU LÀ MỘT NGUYÊN NHÂN QUAN TRỌNG CỦA CÁC UNG THƯ ?

GS Roger Normann
Biologiste et Spécialiste en Santé Publique


Trong khi tất cả chúng ta đều ý thức về vai trò của chứng nghiện thuốc lá (tabagisme) là nguồn gốc của các ung thư, thì sự liên kết giữa việc tiêu thụ rượu quá mức và các ung thư thường ít được biết đến.Tuy vậy, ở Châu Âu, khoảng 150.000 trường hợp ung thư có thể được quy trực tiếp cho rượu. Ở Pháp, gần 10% các trường hợp tử vong do ung thư được liên kết với sự lạm dụng rượu nơi đàn ông và 3% nơi phụ nữ. Như thế ruợu là nguyên nhân thứ hai có thể tránh được của ung thư sau thuốc lá. Sự liên kết giữa việc tiêu thụ các đồ uống có chất cồn (boissons alcooliques) và các ung thư đặc biệt rõ ràng đối với các ung thư của phần trên của những đường hô hấp-tiêu hóa trên (cancers des voies aéro-digestives supérieures), các ung thư đại-trực tràng, cũng như những ung thư gan và vú, nhưng, mặc dầu các cơ chế gây bệnh khác nhau đối với mỗi loại ung thư, nhưng người ta biết rằng, dầu đó là loại ung thư gì chăng nữa, không phải loại rượu là nguyên nhân gây bệnh, mà luôn luôn là lượng cồn được tiêu thụ.

KHUẨN CHÍ RUỘT : KẺ ĐỒNG LÕA CỦA RƯỢU.

Các vi khuẩn và các men hiện diện trong xoang miệng và phần tận cùng của ruột có những enzymes có tác dụng xúc tác sự biến đổi rượu thành acétaldéhyde. Không phải chính rượu mà là sự tích tụ acétaldéhyde mới là độc. Nồng độ acétaldéhyde trong nước miếng có thể 10 đến 100 lần cao hơn trong máu, làm dễ sự xuất hiện của ung thư. Nồng độ này càng mạnh khi người ta đồng thời vừa hút thuốc và uống rượu, tạo nên một tác dụng cộng lực của rượu và thuốc lá trong các ung thư của các đường hô hấp-tiêu hóa trên (voies aéro-digestives supérieures) (miệng, thanh quản, hầu, thực quản). Thiếu vệ sinh răng[*] miệng cũng làm dễ sự hiện diện trong miệng của quần thể vi khuẩn gây nên sự tích tụ tại chỗ của acétaldéhyde từ alcool. Sự oxy hóa của alcool bởi khuẩn chí ruột với sự tích tụ tại chỗ acétaldéhyde cũng giải thích sự gia tăng quan trọng của nguy cơ ung thư đại-trực tràng nơi những người tiêu thụ đều đặn các đồ uống có chất cồn.

NHỮNG GỐC TỰ DO, VŨ KHÍ BÍ MẬT CỦA RƯỢU.

Sau khi được hấp thụ ở ruột, alcool được oxy hóa ở gan và được loại bỏ. Đó là xa lộ mà các đồ uống cồn đi qua với hiệu quả năng lượng mà ta đã biết... cho đến lúc, bị bảo hòa, xa lộ gởi trả lại rượu thặng dư về phía các đường nối (bretelles), ở đó hoành hành cac gốc tự do, những loại phản ứng khả dĩ gây nên những chỗ gãy và những thương tổn của các hệ sửa chữa của ADN, cũng như những rối loạn của sự điều hòa của các gène bảo vệ, với sự tăng sinh vô tổ chức của các tế bào. Như thế, stress oxy hóa, liên kết với sự tăng sản xuất các gốc tự do trong lúc chuyển hóa rượu theo đường này, là một nguyên nhân quan trọng của ung thư gan. Theo cùng hiện tượng, rượu làm tăng tác dụng sinh ung thư của các độc chất có thể được chứa trong thức ăn hay các loại thuốc. Sự lạm dụng rượu cũng tác động lên cân bằng hormone với một vai trò làm dễ ung thư vú.

TIÊU THỤ CÓ MỨC ĐỘ : MỘT KHẨU HIỆU NGUY HIỂM...

Nguy cơ ung thư gia tăng theo lượng rượu được tiêu thụ. Nhưng điều này chỉ có tính cách chỉ dẫn, vì lẽ mỗi người có một khả năng phản ứng và tính nhạy cảm khác nhau đối với rượu. Những chiến dịch phòng ngừa giải thích những cái mốc “ tiêu thụ có ít nguy cơ hơn ” không nhấn mạnh đầy đủ nguy cơ mắc phải ung thư, phần lớn không được biết đến đối với những đồ uống cồn. Những chiến dịch hẳn phải khiến các người tiêu thụ giảm bớt sự tiêu thụ của họ, nhưng điều quan trọng là ghi chú rằng một nguy cơ tiềm tàng làm gia tăng một ung thư hiện hữu ngay cả đối với những tiêu thụ dưới những điểm mốc này. Cần khuyến nghị, trên cơ sở một đơn vị rượu =10g, đối với một người đàn ông, đừng vượt quá 21 đơn vị cồn mỗi tuần và 14 đối với một phụ nữ.
(LE FIGARO 17/5/2010)

9/ MỘT GENE LÀM BUỒN NGỦ VÀ BẢO VỆ KHỎI BỊ NHIỄM ĐỘC RƯỢU.

ADDICTION. Tại sao vài người rơi vào giấc ngủ chỉ sau một ly rượu van trong khi những người khác có thể liên hồi ly này qua ly khác cho đến cuối đêm mà chẳng thấy buồn ngủ chút nào ? Sự khác nhau có thể là do một gène. Một gène, theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, bảo vệ các cá thể , mà người ta thường nói là “ không chịu được ” rượu, khỏi bị phụ thuộc vào sản phẩm này.

Để đạt được kết luận độc đáo này, nhóm nghiên cứu của Denis McCarthy (đại học Missouri) đã theo dõi hành vi của 91 thanh niên Mỹ gốc Phi Châu trong những giờ sau khi uống một lượng rượu vừa phải. Người ta nhận thấy rằng những người có khuynh hướng buồn ngủ nhất sau khi đã uống thường mang một gène được gọi là ADH1B3 hơn. Thế mà, các nhà nghiên cứu khác đã xác lập rằng loại gène này của ADH (alcool déshydrogénase, một trong những men có trách nhiệm trong sự chuyển hóa của rượu) được liên kết với với một sự phụ thuộc rượu thấp. Gène này có một đặc điểm khác : nó hầu như chỉ được tìm thấy nơi những nhóm dân có nguồn gốc châu Phi. Theo Denis MacCarthy, công bố những kết quả trong tạp chí Clinical &Experimental Research, tác dụng an thần của rượu được quan sát nơi những người mang gène ADH1B3 có thể là một trong những giải thích về sự phụ thuộc ruợu (alcoolodépendance) của họ,“ những người ít muốn uống lượng lớn nếu điều đó làm họ mệt hơn là nếu đều đó kích thích hay làm mất ức chế họ, ông ta đã nêu lên như vậy. Thật vậy các nhà nghiên cứu chưa hẳn đã chọc thủng được tất cả các bí mật của các hành vi của chúng ta đối với rượu. Nhiều gène chịu trách nhiệm sự nhạy cảm đối với chứng nghiện này đã được nhận diện, chúng tương tác một cách phục hợp đối với môi trường. Nhiều yếu tố cá nhân và xã hội cũng được nhận biết : thất nghiệp, tình trạng công ăn việc làm mong manh, sự cô lập, chồng/vợ nghiện rượu hay các bệnh tâm thần như bệnh trầm cảm, bệnh tâm thần phân liệt hay các rối loạn nhân cách...

Ở quy mô gia đình, nguy cơ phát triển một sự phụ thuộc rượu được nhân lên ba lần nơi các trẻ có người thân nghiện rượu, nhưng chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong số các trẻ này cuối cùng trở thành phụ thuộc rượu (15% các con trai và 5% con gái ). Ngoài các gène, hành vi của các bố mẹ chúng và sự giáo dục của họ, các đứa trẻ bị ảnh hưởng nhiều bởi ...cinéma. Việc xem các phim cấm trẻ vị thành niên, trong đó 90% có những biểu diễn về rượu, có một vai trò không phải là không đáng kể, một cuộc điều tra nơi 3600 học sinh trung học Hoa kỳ mới được công bố gần đây đã kết luận như vậy. Trong hai năm theo dõi, chỉ 3% các thiếu niên đã không xem những phim như thế đã bắt đầu uống, trong khi tỷ lệ này là 19% trong số những thiếu niên đã đôi khi được xem những phim như vậy, và 25% nơi những thiếu niên đã được xem một cách không hạn chế những phim như vậy.
(LE FIGARO 10/5/2010)

10/ UNG THƯ TRỰC TRÀNG : NHỮNG CHỈ ĐỊNH CỦA LIỆU PHÁP PHÓNG XẠ TIẾP XÚC.

GS Jean-Pierre Gérard, thầy thuốc chuyên khoa ung thư phóng xạ liệu pháp ở trung tâm chống ung thư Antoine-Lacassagne de Nice, giải thích trong những trường hợp nào ta có thể đề nghị kỹ thuật này như là một phương thức thay thế một hậu môn nhân tạo hay một cắt bỏ trực tràng.

Hỏi : Các ung thư trực tràng có thường xảy ra không và những giai đoạn khác nhau là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Ở Pháp sẽ có khoảng 12.000 trường hợp mới vào năm 2010. Ta co thể chia ung thư trực tràng thành 3 giai đoạn :
  • Những khối u T1,T2, có kích thước nhỏ, không di căn, chiếm 10 đến 15% các ung thư đại tràng.
  • Những khối u T3,T4, to lớn hơn, không có di căn, chiếm 75% các ung thư này.
  • Các T3 và T4 với các di căn.

Hỏi : Tùy theo các giai đoạn, các điều trị quy ước là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Những ung thư T1 và T2, kích thước đo dưới 3cm, được điều trị bằng ngoại khoa vi xâm nhập (chirurgie mini-invasive), người ta lấy khối u đi bằng các đường tự nhiên. Đối với những ung thư T1,T2 kích thước hơn 3cm, người ta thực hiện mở bụng ngoại khoa để có thể thực hiện sự cắt bỏ không những khối u, mà còn cả toàn bộ trực tràng. Với kỹ thuật này, có thể tái lập sự liên tục của ruột, điều này có thể tránh khỏi phải thiết đặt một hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Về những ung thư lớn T3 và T4 không có di căn, protocole được khuyến nghị bao gồm hóa học liệu pháp và phóng xạ liệu pháp thực hiện đồng thời trong 5 tháng. Khối u sau đó được lấy đi bằng phẫu thuật ngoại khoa. Vấn đề thiết đặt hậu môn nhân tạo vĩnh viễn được đặt ra khi khối u nằm ở vị trí không tốt, nghĩa là sát với hậu môn. Trong trường hợp này, cần thực hiện cắt cụt toàn bộ trực tràng và hậu môn. Đối với các khối u với các di căn, điều trị quy ước là hóa học liệu pháp. Trong vài tình huống, trong đó di căn, nằm ở gan, có thể mổ được, ta bổ sung hóa học liệu pháp này bằng hai cắt bỏ ngoại khoa có mục đích chữa lành : ở gan và ở trực tràng.

Hỏi : Những tỷ lệ chữa lành là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Những kết quả tốt tiến triển. Hiện nay, ta chữa lành 55% các khối u trực tràng ! Cách nay 20 năm, ta thiết đặt một hậu môn nhân tạo trong 60% các trường hợp, còn ngày nay trong chỉ 20% các trường hợp mà thôi. Mặc dầu, như thế vẫn còn quá mức ! Và ngay cả sau một ngoại khoa cắt bỏ trước (chirurgie de résection antérieure), trong đó ta đã có thể tránh một cắt cụt hậu môn, tuy vậy chức năng ruột vẫn thường còn kém.

Hỏi : Do đó phải tìm kiếm những phương thức khác...Phóng xạ tiếp xúc (radiothérapie de contact) là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Điều trị này sử dụng các tia X 50 kilovolt có tác dụng rất nông. Một ống thu nhỏ (tube miniaturisé) được đưa vào bên trong hậu môn, dưới sự kiểm soát thị giác bằng một ống soi trực tràng, rồi được đặt tiếp xúc với khối u. Sau đó sự bức xạ rất nhắm đích được phát ra với những liều lượng cao, trong một đến hai phút. Phải cần 3 đến 5 buổi phóng xạ, cách nhau 8 hay 15 ngày, để khử khối u. Phóng xạ liệu pháp này được thực hiện ngoại trú.

Hỏi : Những chỉ định đối với phóng xạ liệu pháp này là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Người ta đề nghị liệu pháp phóng xạ để điều trị những ung thư nhỏ T1 và cho những bệnh nhân bị những ung thư T2 và T3 có kích thước dưới 5 cm, không thể mổ được hay từ chối một sự cắt cụt với sự thiết đặt một hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Đối với những ung thư T2 và T3, cần kết hợp với kỹ thuật này một phóng xạ liệu pháp ngoài (radiothérapie externe), sẽ bức xạ các hạch lân cận và cũng tùy theo trường hợp, một hóa học liệu pháp để tăng cường các điều trị của phóng xạ liệu pháp.

Hỏi : Những kết quả thu được với những protocoles sau cùng này là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Về những ung thư nhỏ T1, được điều trị riêng rẻ bởi phóng xạ liệu pháp tiếp xúc, những kết quả của các công trình nghiên cứu quốc tế, được tiến hành trên nhiều ngàn bệnh nhân, chỉ rõ rằng ta thu được tỷ lệ chữa lành 90 đến 95%. Những công trình nghiên cứu khác đã được thực hiện nơi những người mang những khối u trực tràng quan trọng hơn T2 và T3. Kết quả : ta đã ghi nhận được tỷ lệ chữa lành 80% đối với các T2 và gần 50% đối với các T3. Một thử nghiệm mới đây ở Lyon đã cho thấy rằng, trong 70% các trường hợp các khối u nằm ở vị trí không tốt T2 và T3, phóng xạ liệu pháp tiếp xúc đã cho phép tránh một hậu môn nhân tạo vĩnh viễn.
(PARIS MATCH 3/6-9/6/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/6/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#55 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 21 June 2010 - 09:20 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ THUỐC KÉO DÀI TUỔI THANH XUÂN CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ TRÊN THỊ TRƯỜNG?

Nhờ công trình nghiên cứu trên các lão niên, một nhà nghiên cứu người Anh đảm bảo rằng chính gia sản di truyền (patrimoine génétique), trước hết, quyết định chúng ta có sẽ trở nên già không bệnh tật hay không và chúng ta sẽ sống bao lâu. Nhà nghiên cứu này đang nghiên cứu để hiệu chính một viên thuốc có khả năng kéo dài tuổi thọ của chúng ta thêm khoảng 30 năm nữa.

Việc xuất hiện một dân số cực kỳ già chỉ mới cách nay khoảng 50 năm. Điều này là do những tiến bộ trong các lãnh vực y tế, lối sống, dinh dưỡng và môi trường, nhưng chủ yếu là do có vài loại gène bảo vệ (gène protecteur) làm chậm lại sự xuất hiện của những bệnh lý có liên quan với sự lão hóa, như các bệnh tim mạch, bệnh Alzheimer hay bệnh đái đường. Đó là điều được khám phá bởi Nir Barzilai, giám đốc của Viện lão hóa ở Collège de médecine Albert-Einstein de New York, trong lúc nghiên cứu 500 người Do Thái Hoa Kỳ tuổi từ 95 đến 112.

CÁC GENE BẢO VỆ.

Theo chuyên gia người Anh này, lối sống của các bách niên không đủ để giải thích thời gian sống đặc biệt của họ, cũng như tại sao họ chết trong tình trạng sức khoẻ tốt. Mặt khác, trong công trình nghiên cứu của ông, những người bách niên tất cả không phải là những kiểu mẫu của cuộc sống lành mạnh. Trái lại là khác. “Những người này đã hút thuốc, đã ăn những sản phẩm mỡ hay đường, lên cân, và có một nồng độ cholestérol tăng cao”, ông đã chỉ rõ như vậy, đồng thời xác nhận rằng 1/3 bị béo phì và rằng 30% vẫn bị nghiện nicotine cho đến tuổi 95.

“Những người đạt đến một lứa tuổi cao trước hết nhờ vào chương trình hóa di truyền của họ (programmation génétique), họ được bảo vệ chống lại môi trường nhờ génotype của họ và sau cùng khi họ chết, họ chết vì cùng nguyên nhân đối với những người khác, trừ phi điều đó xảy ra 30 năm sau”, sau đó ông đã giải thích như vậy trước Royal Society of London for the Improvement of Natural Knowledge, tương đương với Viện hàn lâm khoa học ở Pháp, là nơi ông đã đọc một bài diễn văn với đề tài: “Làm rối loạn sự lão hóa để điều trị những bệnh của cao tuổi.”

MỘT LOẠI THUỐC TRONG 5 ĐẾN 10 NĂM NỮA?

Sau khi đã nhận diện một số nào đó trong số những gène nổi tiếng tạo nên sự trường thọ quá mức (một trong những gène này làm gia tăng sự sản xuất “cholestérol tốt” trong cơ thể, cholestérol làm giảm nguy cơ bị các bệnh và các nhồi máu cơ tim, và một trong những gène này ngăn ngừa bệnh đái đường), Barzilai và nhóm nghiên cứu của ông hiện đang làm việc để chế tạo những loại thuốc mang lại cùng những bảo vệ di truyền. Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên có thể bắt đầu từ nay đến 2012 và một loại thuốc có thể được đưa ra thị trường “trong 5 đến 10 năm nữa”, vị giáo sư người Anh đã loan báo như vậy. “Các bệnh nhân sẽ uống một viên thuốc bắt đầu từ 40 tuổi, và cuộc sống của họ sẽ được kéo dài, cho đến thêm 30 năm nữa.”

Khám phá thuốc kéo dài tuổi thanh xuân (élixir de jeunesse): Nir Barzilai không hẳn là người duy nhất đã lao mình vào hướng này. Trong hội nghị được tổ chức mới đây bởi Royal Society, có nhan đề là “Đảo ngược thời gian” (Turning back the lock, Inverser le temps), các nhà nghiên cứu chỉ rõ đã nhận diện ít nhất 10 biến dị di truyền cho phép kéo dài một nửa thời gian sống của các con chuột. Nhiều trong số những biến dị này được liên kết với sự trường thọ nơi người. Chúng bao gồm một lớp các enzyme, sirtuine, mà ta thường gặp nơi các bách niên hơn là trong phần còn lại của dân số.

Những yếu tố di truyền khác ảnh hưởng lên sự sản xuất của các kích thích tố tăng trưởng (hormone de croissance) và các IGF (insulin-like growth factors, những yếu tố tăng trưởng mà cấu trúc và cách tác dụng giống với insuline). Nhưng có thể có một chuyển hóa nhanh hơn có khuynh hướng chết sớm hơn. Một giải pháp để làm chậm lại sự lão hóa là làm chậm lại sự chuyển hóa bằng cách phong bế các thụ thể của các kích thích tố tăng trưởng và các IGF. Proteostasis, một xí nghiệp sinh kỹ thuật học của Massachusetts, nghiên cứu khả năng này bằng cách sử dụng các IGF như là những đích khả dĩ của các thứ thuốc chống lại sự lão hóa.

LÀM CHẬM LẠI, KHÔNG LÀM ĐẢO NGƯỢC.

Để kích thích các đầu tư vào các phương thuốc làm hoãn lại sự xuất hiện của một loạt các bệnh liên kết với cao tuổi, Nir Barzilai đã yêu cầu các giới hữu trách như FDA của Hoa Kỳ công nhận sự lão hóa như là một căn bệnh riêng biệt. “Chống lại một căn bệnh liên kết với tuổi già chẳng lợi ích gì, bởi vì, vào cùng lúc, bệnh nhân có nguy cơ phát triển một căn bệnh khác. Sự già cả phải được xem như là một tổng thể và phải được chống lại với tính cách như thế để con người có thể trở nên bách niên mà không bị nhiều thứ bệnh và phải phụ thuộc vào những kẻ khác để sống còn."

Mục tiêu của giáo sư Barzilai là đầy tham vọng, nhưng ông không làm ngạc nhiên nhà di truyền học nổi tiếng của Pháp Axel Kahn. “Chúng ta đã bước vào một giai đoạn điều trị sự lão hóa bằng cách nhận diện những thứ thuốc có khả năng tái tạo những thông điệp di truyền (messages génétiques)”, ông đã tuyên bố như vậy. “Nhưng đó không thể là viên thuốc hồi xuân (pilule de jouvence), mà đúng là những thứ thuốc để kềm hãm lại sự lão hóa.”

Đối với Jean-Marie Robine, nhà nhân khẩu học của Inserm, “Thật là không lương thiện khi nói rằng chúng ta sẽ sống thêm được vài chục năm bằng một thứ thuốc trong khi các tiến bộ trong công cuộc chống ung thư lại được tính bằng những ngày rồi bằng những tuần lễ.”

Dẫu sao chăng nữa, mặc dầu sự lão hóa là không thể đảo ngược được, các nhà khoa học đều nhất trí nói rằng sự lão hóa này có thể được làm chậm lại và rằng càng ngày chúng ta càng tiến gần đến những điều trị có khả năng giúp chúng ta sống tốt hơn và dài lâu hơn.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/6/2010)

Đọc thêm: Tổng Hợp Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer)- Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ CHÂM CỨU KÍCH THÍCH SỰ TIẾT CỦA MỘT CHẤT CHỒNG ĐAU.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ phát hiện tác dụng chống đau của y học cổ truyền này.

NEUROSCIENCE. Châm cứu làm cho đỡ đau trong các cơ bởi vì nó làm dễ sự phóng thích một phân tử tự nhiên, adénosine, có những tác dụng giảm đau, theo một công trình nghiên cứu được công bố mới đây trên site Internet của tạp chí Anh Nature Neuroscience.

Thầy thuốc chuyên khoa thần kinh Hoa Kỳ Malken Nedergaard, thuộc Trung tâm y khoa của Đại học Rochester và nhóm nghiên cứu của ông, đã thực hiện khám phá tuyệt vời này lúc tiến hành một thí nghiệm trên các con chuột bị đau ở một cẳng chân.

Các động vật gặm nhấm đã chịu một điều trị châm cứu cổ điển trong 30 phút, bằng những chiếc kim mảnh, được cắm vào trong một điểm gần đầu gối, điểm Zusanli và những người làm thí nghiệm quay nhẹ những chiếc kim này mỗi 5 phút.

Các tác giả của công trình nghiên cứu sau đó đã chứng thực rằng sự đau đớn được làm giảm 2/3 và rằng nồng độ adénosine trong các mô chung quanh các mũi kim là 24 lần tăng cao hơn so với trước khi điều trị. Đảo lại, châm cứu không có tác dụng trên các con chuột mà người ta đã lấy đi các thụ thể đối với adénosine. Ngoài ra, một sự gia tăng nồng độ adénosine nơi vùng đau đớn cho phép làm giảm sự đau đớn của các động vật, ngay cả không châm cứu. Sau cùng, các con chuột được cho deoxycoformycine, thứ thuốc có khả năng làm chậm lại sự biến mất của adénosine trong cơ, đã được hưởng các hiệu quả của châm cứu 3 lần lâu hơn.

MỘT NỀN Y HỌC 4000 NĂM.

“Từ 4000 năm nay, châm cứu là cơ sở của y học của vài nơi trên thế giới nhưng vì ta không hiểu hoàn toàn châm cứu hoạt động như thế nào nên nhiều người vẫn tỏ ra hoài nghi”, BS Nedergaard đã giải thích như thế.

Những công trình nghiên cứu này, trong khi chứng tỏ tác động của châm cứu lên hệ thần kinh ngoại biên, bổ sung điều mà chúng ta đã biết về những tác dụng của nó lên hệ thần kinh trung ương, ở đây châm cứu kích thích não bộ sản xuất hàng loạt các endorphine, những chất chống đau tự nhiên. “Rõ ràng là châm cứu có thể hoạt hóa cả một loạt các cơ chế khác nhau”, Josephine Briggs, giám đốc của Trung tâm quốc gia y học bổ sung và thay thế (Centre national de médecine complémentaire et alternative) ở National Institute of Health (NIH) đã ghi nhận như vậy. Công trình nghiên cứu này, được trình bày nhân hội nghị khoa học, Purines 2010, đã kết thúc hôm qua ở Barcelone.
(LE FIGARO 3/6/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về Khoa Châm Cứu (Acupuncture) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

3/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN MẬT ĐỘ XƯƠNG: CAFEINE CÓ HẠI ĐỐI VỚI CỘT SỐNG

Theo một công trình nghiên cứu Mễ Tây Cơ, cà phê ảnh hưởng một cách âm tính lên khối lượng xương (masse osseuse) của các thân đốt sống.

Vài công trình nghiên cứu đã gợi ý một mối liên hệ nghịch giữa sự tiêu thụ caféine và khối lượng xương, nhưng những kết quả của các công trình này mâu thuẫn nhau. Nhóm nghiên cứu của BS Eduardo Barreira-Mercado (Universidad Autonoma de Querataro, Mexique) đã đánh giá những nguy cơ của một sự tiêu thụ mãn tính cà phê nơi các phụ nữ. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sát nghiên cứu một mối liên kết khả dĩ giữa việc tiêu thụ caféine và khối lượng xương, nơi các phụ nữ thành thị, tuổi từ 35 đến 50.

Sự liên kết giữa việc tiêu thụ caféine và khối lượng xương đã được đánh giá nơi 120 phụ nữ tuổi từ 35 đến 50 tuổi. Những người tham dự đã được chia thành hai nhóm: nhóm thí nghiệm (84 phụ nữ uống cà phê) và nhóm kiểm chứng (36 phụ nữ không uống). Để được tuyển mộ, không được có bệnh toàn thân hay bất cứ bệnh nào liên kết với một sự mất khối lượng xương. Sự tiêu thụ cà phê được đánh giá bằng một bảng câu hỏi được hợp thức hóa, xác định lượng và dung lượng caféine. Các người tham dự được xếp loại như sau: không tiêu thụ (0ml/ngày), tiêu thụ thấp (<200ml/ngày), có mức độ (200-450 ml/ngày), hay cao (> 450ml/ngày).

Sự tiêu thụ cà phê là thấp nơi 22,5%, mức độ vừa phải nơi 22,5% và cao nơi 25% những người tham dự. Các phân tích thống kê đã không phát hiện những sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê đối với mật độ xương của háng. Tuy nhiên, có một sự giảm đáng kể của mật độ xương của cột sống trong nhóm thí nghiệm. “Một mặt, các dữ kiện của chúng tôi cho thấy rằng các phụ nữ Mễ Tây Cơ là những người tiêu thụ từ mức trung bình đến cao, các tác giả đã kết luận như vậy. Mặt khác, cà phê có lẽ ảnh hưởng một cách âm tính lên khối lượng xương của các thân đốt sống, và khả năng này có lẽ phải được xem như là một yếu tố nguy cơ, đặc biệt là trong khung cảnh của một điều trị của một ostéopénie và của một khối lượng xương thấp.”
(LE JOURNAL DU MEDECIN 11/6/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về Cafe (coffee) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

4/ LỐI SỐNG LÀNH MẠNH CÓ BẢO VỆ BỆNH ALZHEIMER?

Professeur Jean-Pierre Olié
Psychiatre
Membre de l’Académie nationale de médecine


Dưới 1% các trường hợp bệnh Alzheimer được xác định bởi di truyền: khi đó đó là những thể gia đình (formes familiales) của bệnh, có khởi đầu rất sớm (khoảng 40 tuổi), di truyền, tiến triển nhanh với một sự giảm mạnh tuổi thọ. Gần 99% các trường hợp được gọi là xảy ra lẻ tẻ (formes sporadiques), xuất hiện sau 65 tuổi. Bệnh thoái hóa này được báo hiệu bởi những rối loạn cảm xúc: trong một nửa các trường hợp, các triệu chứng lo âu và trầm cảm (symptômes anxieux et dépressifs) đi trước vài năm các triệu chứng nhận thức (symptômes cognitifs) và những khó khăn nhớ các sự việc vừa mới xảy ra (mémoire des faits récents). Nhưng không nên lẩn lộn bệnh Alzheimer với ảnh hưởng bình thường của các chức năng nhận thức (fonctions cognitives), liên kết với sự lão hóa sinh lý. Cảm giác bị giảm đi các khả năng ghi nhớ là việc bình thường nơi những người trên 50 tuổi: điều này được bù lại bởi những khéo léo xã hội do kinh nghiệm của tuổi tác mang lại.

Người ta có thể ngăn ngừa sự xuất hiện về sau của bệnh Alzheimer, hay làm bệnh lùi lại, bằng cách theo một vệ sinh đời sống tốt. Thật vậy, những yếu tố nguy cơ chính được biết và đã được nhận diện đối với những bệnh tim mạch và chuyển hóa khác. Như là, một cao huyết áp hay một tăng cholestérol-huyết ở tuổi trung niên của đời sống làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh về sau; bệnh đái đường hay chứng béo phì cũng là những yếu tố nguy cơ. Do đó, một chế độ ăn uống loại Địa Trung Hải (cá, rau xanh và trái cây) sẽ mang tính chất bảo vệ. Những thức ăn giàu một loại axít béo đặc biệt (oméga 3) có một tác dụng thuận lợi: sự tiêu thụ cá ít nhất hai lần mỗi tuần làm giảm 1/3 nguy cơ bị bệnh Alzheimer.

Rượu không chung sống tốt với một bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative) loại Alzheimer, thuốc lá cũng vậy. Các tế bào thần kinh nhạy cảm với những tác dụng có hại của các gốc tự do của oxy mà thuốc lá và sự ô nhiễm làm gia tăng sự sản xuất, cũng như sự lão hóa. Điều này đã dẫn đến một giả thuyết của một tác dụng phòng ngừa của các chất chống oxy hóa (antioxydants) như các vitamine E và C hay carotène. Và kết quả đã xác nhận một tác dụng thuận lợi của vitamine E.

Những hoạt động thể thao (bước, nhảy múa) được liên kết với một sự giảm nguy cơ: vài công trình nghiên cứu cho thấy một sự giảm lên đến 60%.

Cũng vậy đối với sự thực hiện đều đặn những hoạt động nhận thức (activités cognitives) hay xã hội. Trình độ học vấn thấp thường được nêu lên như là liên kết với một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh Alzheimer. Những người đã không có được chứng chỉ học tập đã được ghi nhận là bị bệnh Alzheimer hơn. Điều này tán trợ cho giả thuyết của một “nhận thức dự trữ” (réserve cognitive), có khả năng làm hoãn lại sự xuất hiện của các triệu chứng nơi những người được hưởng một trình độ học vấn cao. Tóm lại, luyện tập vật lý và trí tuệ có thể là một yếu tố bảo vệ.

MỘT TRIỆU NGƯỜI BỆNH.

Tuy nhiên chẩn đoán phải được thực hiện càng sớm càng tốt. Ở Pháp, bệnh Alzheimer thiếu được chẩn đoán: dưới 25% những người trên 80 tuổi bị bệnh Alzheimer được hưởng những điều trị hiện có; dưới một nửa những người bị mang chứng bệnh này đã được khai báo. Hoặc gần một triệu người Pháp hiện nay bị bệnh Alzheimer: 2-4% những người trên 65 tuổi, hơn 20% những người đã vượt quá tuổi 80. Thay đổi đoạn kết của cuộc đời mình, đó là thay đổi lối sống càng sớm càng tốt.
(LE FIGARO 31/5/2010)

Đọc thêm: Tổng Hợp Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer)

5/ BỆNH TÂM THẤN PHÂN LIỆT CÓ PHẢI LÀ MỘT BỆNH DI TRUYỀN?

Professeur Jean-Marie Danion
Directeur de l’ unité Inserm “Physiopathologie et psychopathologie
cognitive de la schizophrénie”
Université de Strasbourg


Thường khởi đầu giữa năm 15 và 25 tuổi, bệnh tâm thần phân liệt liên kết, theo tỷ lệ thay đổi, một sự mê sảng (délire), những ảo giác (hallucinations)(người bệnh thường nghe những giọng nói), một sự rối loạn hành vi và tư duy, và một sự khép mình lại (repli sur soi). Căn bệnh kèm theo một sự đau khổ tâm thần (souffrance psychique), đôi khi mạnh mẽ, nơi bệnh nhân cũng như nơi những người chung quanh, và một phế tật thật sự (phế tật tâm thần: handicap psychique), được đặc trưng bởi những khó khăn trong đời sống hàng ngày và sự hội nhập xã hội và nghề nghiệp.

Bệnh tâm thần phân liệt có phải do di truyền hay không? Cũng như tất cả những gì liên quan đến các bệnh tâm thần, câu hỏi này là nhạy cảm, nhất là nó liên hệ đến một căn bệnh mà sự xuất hiện của nó trong một gia đình luôn luôn gây nên một sự tra vấn âu lo và đau khổ về nguồn gốc của bệnh. Cái thời kỳ, trong đó người ta quy tội một cách nặng nề các bố mẹ khi buộc tội họ là những bố mẹ “xấu”, và như thế chịu trách nhiệm về căn bệnh mắc phải của đứa con của mình, may mắn thay đã qua rồi. Những câu hỏi về tính chất di truyền có thể làm nảy sinh một dạng tội lỗi khác, cái tội lỗi đã truyền lại cho con mình những gène “xấu”, là nguyên nhân của căn bệnh.

Tính chất tội lỗi sau không được biện minh hơn so với tính chất tội lỗi đã được nói trước đó. Mặc dầu nơi vài bố mẹ, ngày nay, sự hiện diện của một thành phần di truyền được chứng minh, nhưng nhiều công trình nghiên cứu về các tiền sử gia đình của các bệnh nhân, cũng như những công trình nghiên cứu các người sinh đôi và các con nuôi, cho phép đánh giá ảnh hưởng lần lượt của những yếu tố di truyền, gia đình và môi trường, chứng tỏ một thực tế phức tạp và tương đối hơn nhiều. Trong khi trong dân chúng nói chung cứ 100 người có khoảng một người bị bệnh tâm thần phân liệt, thì nơi những người trưởng thành mà một trong các bố mẹ bị bệnh, thì cứ 100 người có bảy người có nguy cơ bị mắc bệnh. Trong quần thể những người mà cả hai bố mẹ bị bệnh tâm thần phân liệt, thì cứ 100 người có 27 người khả dĩ bị bệnh. Trong khi nơi những người anh, chị và những người sinh đôi giả (faux jumeaux) của những bệnh nhân tâm thần phân liệt (chỉ có một nửa các gène của họ), nguy cơ là 10%,, thì nguy cơ này đạt 50% nơi những người sinh đôi thật (vrais jumeaux), có một bộ gène (génome) gần như tương tự.

Vậy, đúng là có một thành phần di truyền của bệnh tâm thần phân liệt. Nhưng sự kiện nguy cơ trở thành tâm thần phân liệt nơi những người sinh đôi thật là 50%, chứ không phải là 100%, cũng cho thấy rằng bệnh tâm thần phân liệt không phải là một bệnh di truyền theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này: mang thành phần di truyền này không nhất thiết rằng ta sẽ trở nên tâm thần phân liệt. Điều này có nghĩa rằng ta có một nguy cơ gia tăng phát triển một bệnh tâm thần phân liệt, rằng ta có một tính nhạy cảm (susceptibilité) hay một tính dễ bị thương tổn (vulnérabilité) đặc biệt đối với bệnh này do các gène được gọi là “tính dễ bị thương tổn” (gène de vulnérabilité), khác xa với ý niệm về các gène “xấu”. Rõ nét, những yếu tố khác với di truyền phải hiện diện để bệnh có thể xảy ra. Mặc dầu nhiều “gène tính dễ bị thương tổn” đã được nghi ngờ, nhưng chỉ một số nhỏ trong số các gène này đã có thể được xác nhận bởi nhiều công trình nghiên cứu độc lập trên bình diện quốc tế. Chúng đều tham dự vào trong sự phát triển và sự vận hành chức năng của não bộ. Sau cùng, những công trình nghiên cứu rất mới đây gợi ý rằng tính dễ bị thương tổn di truyền của bệnh tâm thần phân liệt một phần được chia sẻ với một dạng đặc biệt của các rối loạn khí chất, rối loạn lưỡng cực (trước đây gọi là loạn tâm thần hưng - trầm cảm: psychose maniaco-dépressive).

NHỮNG TƯƠNG TÁC.

Trong số những yếu tố không di truyền (facteurs non génétiques) làm gia tăng nguy cơ bệnh tâm thần phân liệt, vài yếu tố can thiệp rất sớm, ngay trong đời sống phôi thai hay ngay lúc sinh ra đời. Nguy cơ cũng được gia tăng nơi những người sinh ra từ một bà mẹ đã chịu một bệnh nhiễm trùng hay bệnh chuyển hóa, một tình trạng suy dinh dưỡng hay bị stress qua mức trong thời kỳ thai nghén, hay đã bị sinh khó, nguồn gốc của một tình trạng giảm oxy mô của đứa trẻ. Tuy nhiên những yếu tố này chỉ là nguyên nhân trong một số nhỏ các trường hợp. Những chấn thương tâm lý trầm trọng trong thời kỳ thơ ấu cũng bị quy kết. Sự cô lập về mặt xã hội tiếp theo sau sự đô thị hóa hay sự nhập cư cũng có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh. Sau cùng, ngày nay người ta đã xác lập rằng sự tiêu thụ cannabis làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh tâm thần phân liệt, và điều này nhất là khi sự tiêu thụ là quan trọng và được bắt đầu rất sớm trong thời kỳ thiếu niên.

Từ nay, các nghiên cứu hướng về sự phân tích các tương tác giữa các gène “tính dễ bị thương tổn” và những yếu tố không phải di truyền: đó là sự gặp gỡ giữa các yếu tố nguy cơ và một thể trạng di truyền dễ bị thương tổn. Như thế rất có khả năng rằng bệnh tâm thần phân liệt là do nhiều mối tương tác phức hợp giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, mà những tác dụng càng quan trọng khi chúng xảy ra, vào thời thơ ấu và tuổi thiếu niên, trong một trạng thái động của sự phát triển não bộ và của sự cấu thành của nhân cách. Những yếu tố này kết hợp với nhau để làm xáo trộn động lực này và làm biến đổi sự liên lạc trao đổi giữa các vùng khác nhau của não bộ, điều này có thể tạo nên con đường chung cuối cùng của bệnh tâm thần phân liệt. Bản chất và sức nặng của mỗi yếu tố này thay đổi với mỗi bệnh nhân, điều này giải thích tính đa dạng lâm sàng và mức độ trầm trọng khác nhau của bệnh.

Vậy những tranh cãi về nguồn gốc duy nhất sinh học, hay ngược lại độc nhất tâm lý, ngày nay không còn có lý do để tồn tại nữa.
(LE FIGARO 16/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

6/ TRÁI CÂY VÀ RAU XANH LÀM GIẢM ÍT NGUY CƠ UNG THƯ.

Ăn 5 suất trái cây và rau xanh mỗi ngày có lợi, với điều kiện biết thích nghi lối sống của mình

Tổ chức y tế thế giới từ năm 1990 luôn nhấn mạnh điều đó: Ăn năm suất trái cây và rau xanh mỗi ngày làm giảm nguy cơ mắc phải ung thư.” Theo các nhà nghiên cứu của trường y Mont Sinai (Nữu Ước), sự khẳng định này là quá đáng về mặt khoa học. Thông điệp của OMS căn cứ trên vài quan sát có tính cách thường nghiệm (observation empirique), bằng cách tập trung vào các ung thư đặc hiệu hay vào vài loại trái cây và rau xanh. Thế mà các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã đo lường tác động của một chế độ ăn uống trái cây/rau xanh lên tất cả các loại ung thư, bằng cách nghiên cứu một cơ sở rộng rãi các dữ kiện của 142.000 người đàn ông và của 335.000 phụ nữ tình nguyện, được tuyển mộ giữa năm 1992 và 2000 trong 10 nước châu Âu. Kết luận: sự tiêu thụ hơn 200g trái cây và rau xanh mỗi ngày chỉ làm giảm 3% nguy cơ bị ung thư. Và nếu như các rau tươi có một lợi ích thấp, lợi ích này chỉ có thể được quan sát ở các phụ nữ. Bù lại, những người tiêu thụ nhiều trái cây và rau xanh có một vệ sinh đời sống tốt hơn: họ uống rượu ít hơn, hút thuốc ít hoặc không và ít bị béo phì. Các trái cây và rau xanh tuy vậy bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch.
(SCIENCE ET VIE 6/2010)

7/ CÓ NÊN BẢO TỒN MÁU CUỐNG RỐN LÚC SINH ĐỂ NGĂN NGỪA MỘT BỆNH THOÁI HÓA VỀ SAU?

Professeur Luc Douay
Hématologiste
Membre correspondant de l’Académie nationale de médecine


Máu lưu thông trong cuống rốn chứa các tế bào gốc (cellules souches), thường định vị trong tủy xương. Những tế bào gốc này sản xuất các tế bào máu: các hồng cầu, bạch cầu và các tiểu cầu. Được lấy vào lúc sinh, các tế bào gốc này, được gọi là “sinh huyết” (hématopoiétique), có thể được sử dụng để thay thế ghép tủy xương (greffe de moelle osseuse) để điều trị những bệnh của máu, như các bệnh bạch cầu (leucémie) hay các u bạch huyết (lymphome), các bệnh di truyền hay các thiếu hụt miễn dịch (déficience immunitaire). Sau khi được tiêm bằng đường tĩnh mạch, những tế bào gốc này sẽ di tản một cách ngẫu nhiên về tủy xương, tăng sinh ở đó và tái sinh những tế bào máu của người nhận.

Hơn 20.000 những loại ghép này đã được thực hiện trên thế giới trong 20 năm qua. Chính vì thế, các ngân hàng máu cuống rốn (banque de sang de cordon) phát triển nhanh chóng, và đặc biệt là ở Pháp, bổ sung cho những hộp phiếu những người cho tủy xương thiện nguyện (donneurs volontaires de moelle osseuse). Trong trường hợp này, đối với một phụ nữ đang sinh, đó là một sự biếu tặng nặc danh và miễn phí máu cuống rốn của con mình, để máu được trích lấy, hợp thức hóa, làm đông lạnh và được tích trữ trong các ngân hàng công không lợi nhuận của Etablissement français du sang hay của một trung tâm bệnh viện-đại học (CHU). Đó đúng là một cho đồng loại (don allogénique), phát xuất từ một cơ thể người khác, sẽ được dùng cho những bệnh nhân khác bị mắc phải bệnh.

Thật hiển nhiên, nhiều người đặt nghi vấn về lợi ích bảo quản máu cuống rốn của chính đứa con mình. Đó là để dành những tế bào gốc quý giá của nó. Ở đây không phải là vấn đề biếu tặng, mà là trả tiền các ngân hàng tư dùng cho mục đích cá nhân để làm đông lạnh và bảo tồn cuống rốn lúc hữu sự... Có thể nói đó là một loại đánh cá trên một “bảo hiểm nhân mạng tế bào” (assurance-vie cellulaire) ! Có những lý lẽ khoa học và y khoa được xác nhận để đề nghị điều đó với các bố mẹ mong muốn bảo vệ đứa con của mình hay không? Câu trả lời dứt khoát là không.

Không có lý do khoa học cũng như y học nào khuyên thực hiện điều như thế cả. Ghép máu cuống rốn (greffe de sang de cordon) có lợi ích tích cực trong các bệnh ung thư bạch cầu (leucémie) bởi vì người cho và người nhận là hai cá thể phân biệt về phương diện miễn dịch học (người ta nói là ghép đồng loại: greffe allogénique hay homogreffe). Thật vậy, trong số những tế bào được ghép, những tế bào miễn dịch có khả năng nhận diện những tế bào ung thư máu (cellules leucémiques) còn lại của người nhận và hủy diệt chúng. Khi đó ta nói là một tác dụng “mẫu ghép chống bệnh bạch cầu” (greffon contre leucémie). Ghép bản thân (greffe autologue hay autogreffe: ghép đuợc thực hiện từ một mẫu ghép lấy trên chính người được ghép) máu cuống rốn không cho phép điều đó và do đó không có lợi ích trị liệu. Những công trình nghiên cứu nơi các trẻ phát triển một bệnh bạch cầu cho thấy rằng máu cuống rốn lúc sinh đã chứa các tế bào ung thư máu. Đưa các mẫu ghép bản thân (greffons autologues) này vào những người bệnh nhân trẻ này chẳng khác nào tiêm trở lại cho chúng chính căn bệnh đã bị mắc phải.

CHỈ 30% CÁC MẪU GHÉP ĐƯỢC HỢP THỨC BỞI CÁC NGÂN HÀNG MÁU.

Khi để điều trị một căn bệnh di truyền, các tế bào được tiêm vào không mang bất thường mà ta muốn sửa chữa. Ở đây cũng vậy, phải sử dụng những tế bào phát xuất từ một người cho không mang bất thường. Sau cùng, để cho thủ thuật ghép được thành công, các tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétiques) phải có số lượng đầy đủ, nếu không, sự tái tạo của tủy xương sẽ không xảy ra. Chỉ có 30% các mẫu ghép được lấy đáp ứng với các tiêu chuẩn này và được hợp thức hóa để tích trữ trong các ngân hàng. Đến nay chúng ta không biết làm khuếch đại số các tế bào gốc, trái với điều mà vài xí nghiệp tư nhân làm bố mẹ tưởng như vậy. Vậy nguy cơ là bảo tồn một mẫu ghép không thể sử dụng được trong tương lai.

Những máu cuống rổn này có thể dùng làm kho dự trữ các tế bào gốc để điều trị tất cả các bệnh?

Để sửa chữa một cơ quan bị thương tổn trầm trọng, ngày nay chúng ta chỉ có khả năng ghép một cơ quan lành. Hôm nay có một lựa chọn khác: thay thế các tế bào không hoạt động hay bị phá hủy. Đó là liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire), đang mở đường cho nền y học tái sinh (médecine régénérative) của ngày mai. Những tế bào gốc được sử dụng để sửa chữa những mô bị thương tổn, một cách tạm thời hay vĩnh viễn. Để được điều đó chúng ta phải có những tế bào chuyên biệt (cellules spécifiques) của mô cần sửa chữa, dễ tách riêng với số lượng lớn, có khả năng hòa mình vào trong mô cần sửa chữa (tissu cible) và hoạt động ở đó.

Rất nhiều nghiên cứu đang được tiến hành với cố gắng làm chủ quá trình biệt hóa các tế bào gốc (différenciation de cellules souches) của máu cuống rốn thành tất cả các loại mô: xương, sụn, tụy tạng, thần kinh, gan, bì, cơ và tim. Nhiều công trình cũng đang được tiến hành về sự biệt hóa của các tế bào gốc được tách từ các mô nhau, đặc biệt là từ gelée de Wharton (cấu tạo vỏ bao quanh cuống rốn). Mặc dầu đầy hứa hẹn, nhưng những nghiên cứu này vẫn luôn luôn ở mức của nghiên cứu cơ bản, và mọi hy vọng điều trị vẫn còn không được biện minh.

Cần chống lại sự cám dỗ của các xí nghiệp thương mại, đề nghị, với điều kiện phải trả một số tiền quan trọng, tích trữ vô thời hạn các máu cuống rốn với mục đích cá nhân. Ngoài ra, nhiều nghi vấn vẫn tồn tại về chất lượng của các phương cách lấy và bảo quản các tế bào trong những điều kiện này. Người ta không biết, liệu các tế bào này có thể đề kháng một sự đông lạnh trong nhiều thập niên hay không, điều này tạo vấn đề đối với các bệnh, mà đại bộ phận sẽ xảy ra trong một nửa thứ hai của cuộc đời.

Như thế, nếu việc cho thiện nguyện, ẩn danh và miễn phí của máu cuống rốn trong các ngân hàng đồng loại (banques allogéniques) của nhà nước có một lợi ích điều trị không thể tranh cãi được, thì sự bảo quản các máu ghép bản thân (conservation autologue) cần được bác bỏ, và sự quảng cáo cổ võ sự bảo tồn này chỉ có tính chất dối trá.
(LE FIGARO 17/5/2010)

Đọc thêm:

Quote

Thời Sự Y Học Số 105 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/12/2008 )

6/ THỊ TRƯỜNG MÁU CUỐNG RỐN

THERAPIE CELLULAIRE: Các ngân hàng tư nhân máu cuống rốn(banques privées de sang de cordon ombilical) phát triển gia tăng ở châu Âu. Các bố mẹ hy vọng có thể dùng để điều trị con họ trong trường hợp bị bệnh nặng. Ở Pháp, chính quyền mong muốn phát triển những ngân hàng công. Có nên bảo quản máu cuống rốn (sang de cordon ombilical) hay không? Càng ngày càng có nhiều phụ nữ nghe nói đến khả năng này, nhất là qua những thí dụ của những nhân vật danh tiếng đã đặt máu cuống rốn của con mình vào ngân hàng. Trên site Internert, hãng Cryogenesis của Anh không do dự quảng cáo rằng trong số các khách hàng của hãng có ca sĩ Rod Stewart, cầu thủ bóng đá Thierry Henry và ngay cả những thành viên của “các hoàng gia châu Âu”

Trên thế giới hàng chục ngân hàng tư đề nghị đảm bảo lấy máu cuống rốn khi sinh và bảo quản máu này trong 20-25 năm, để dùng có tính cách cá nhân hay trong gia đình. Phí tổn dịch vụ từ 1000 đến 3500 Euro. Thoạt đầu, những lý lẽ của họ rất thuyết phục. “Quý vị muốn điều tốt lành nhất cho con của quý vị sau này? Vậy thì hãy tồn trữ ngay từ bây giờ máu cuống rốn của chính nó. Như thế, trong tương lai, nó sẽ có sẵn để sử dụng những tế bào gốc của chính mình. Những tế bào gốc của máu cuống rốn này có lẽ sẽ cho phép chữa lành một bệnh nghiêm trọng.” Những tế bào của máu cuống rốn có tính chất đa năng (pluripotent): chúng có khả năng biến hóa thành những tế bào khác nhau của cơ thể và là một nguồn tiềm tàng dùng cho liệu pháp tế bào (therapie cellulaire). Được bảo quản đông lạnh, các tế bào gốc của máu cuống rốn vẫn sẽ bảo tồn tất cả những tính năng của chúng.

Ở Anh, theo Cryogenesis, hơn 30.000 bố mẹ bị quyến rũ bởi những quảng cáo này. Để so sánh, ngân hàng quốc gia Anh tích trữ 11.000 đơn vị. Các hãng tư Hoa Kỳ có hơn 2,5 triệu khách hàng. Ở Pháp, nước duy nhất đã không cho phép mở các ngân hàng tư, nên khó mà có được các con số. Tuy vậy, một vài hãng ngoại quốc quảng cáo ở Pháp, nhất là nơi những vùng biên giới. Những người Pháp sống ở biên giới Bỉ hay Thụy Sĩ, sau khi sinh, yêu cầu các ngân hàng tư đến tại chỗ trong các nhà hộ sinh để thu lấy máu cuống rốn của em bé vừa mới chào đời

MỘT THÁCH THỨC VỀ TƯƠNG LAI

Vấn đề là những lời hứa đẹp dầu sao hiện nay là không thực tế. “Bảo quản máu của cuống rốn với tính cách tư nhân, cho con hay gia đình mình, là một thách thức về tương lai, nhưng không được xác nhận bởi các kiến thức hiện nay về y học”. Ghép máu cuống rốn đã trở nên một giải pháp quy giá để thay thế (và càng ngày càng thường xảy ra) ghép tủy xương trong một số bệnh càng ngày càng gia tăng. Nhưng việc ghép này được thực hiện trong khung cảnh allogreffe (bệnh nhân được ghép bằng những tế bào của máu cuống rốn từ một cơ thể khác), chứ không phải là autogreffe. Do đó, ngày nay, sự bảo quản các tế bào gốc của bệnh nhân chỉ có ý nghĩa trong một hệ thống liên kết, chứ không phải với tính cách tư nhân.

Con đường điều trị đã được mở ra cách nay 20 năm bởi G.S Eliane Gluckman (bệnh viện Saint-Louis, Paris). Bà là người đầu tiên đã điều trị thành công một em bé bị một bệnh huyết học hiếm có, bệnh thiếu máu Fanconi, bằng cách tiêm vào trong tĩnh mạch của em bé bị bệnh, máu cuống rốn của chị nó. Thật vậy, cũng như tủy xương, cuống rốn giàu các tế bào gốc sinh huyết, những tiền thân của các tế bào máu.

CÓ SẴN ĐỂ DÙNG NGAY

Từ đó, trên thế giới, 20.000 bệnh nhân đã được ghép với máu cuống rốn, và các chỉ định càng ngày càng gia tăng: các ung thư máu (bệnh bạch cầu, u bạch huyết), các bệnh di truyền của hồng cầu như thalassémie và drépanocytose, maladies orphelines... “Vào năm 2004, có 40 bệnh có thể điều trị bằng truyền máu cuống rốn, bây giờ con số lên đến 85. Ngoài ra, những ghép bằng máu cuống rốn, từ lâu dành cho trẻ em , từ nay có thể thực hiện nơi những người lớn”. “Máu cuống rốn có những lợi điểm đáng kể. Trước hết, một sự dung hợp miễn dịch hoàn toàn (une compatibilité immunologique complète) không cần thiết cho sự thành công của một cuộc ghép. Một sự phù hợp 4-5 tiêu chuẩn trên 6 là đủ, trong khi phải 9 hay 10 trên 10 trong trường hợp ghép tủy xương. Ngoài ra, mẫu ghép có sẵn để dùng ngay vì đã được tích trữ.” Một sự có sẵn tức thời, trái với quá trình nặng nề khi tiến hành phẫu thuật ghép tủy xương (phải gọi người cho và nhập viên người này để lấy mẫu ghép, dưới gây mê tổng quát. “Các tế bào gốc của máu cuống rốn, của nhau hay của chính cuống rốn cũng đầy hứa hẹn trong y khoa tái tạo (médecine régénérative), đối với ghép da, nhưng cũng trong khung cảnh của bệnh đái đường, những bệnh thần kinh thoái hóa như bệnh Alzheimer, những bệnh lý của gan, của tim. Hiện giờ, đó là những công trình sơ khởi. Chưa có gì đã được công bố nơi người cả.”
(LE FIGARO 25/11/2008)


8/ GIAO HỢP ĐAU: THƯỜNG XẢY RA VÀ THẦM KÍN.

Chỉ cần đặt câu hỏi cho họ thì cứ năm phụ nữ sẽ có một kêu đau khi giao hợp (dyspareunie). Mặc dầu thường được xem như là một loạn năng sinh dục do tâm lý (dysfonction sexuelle psychogénique), chứng giao hợp đau này có thể có nguyên nhân thực thể. Trong tất cả các trường hợp, chứng giao hợp đau nên được thăm dò trên bình diện thân thể cũng như trên bình diện tâm thần. Cần biết vài hướng mới.

Chứng giao hợp đau (dyspareunie), từ tiếng Hy lạp “dus”, nghĩa là khó khăn, và “ pareunos”, nghĩa là người chồng, gợi lên một cách cổ điển những đau đớn của phụ nữ trong lúc giao hợp. Sự bôi trơn sinh lý (lubrification physiologique), bị giảm trong thời kỳ mãn kinh do giảm oestrogène (hypo-oestrogénie), nhưng cũng trong thời kỳ hậu sản (biểu mô âm đạo bị teo lại và đánh mất một nửa các tế bào), là căn nguyên thông thường nhất. Khi chứng giao hợp đau có nguồn gốc ở lỗ vào (dyspareunie orificielle), thì thường là do nguyên nhân thực thể: sự lành sẹo xấu của thủ thuật cắt tầng sinh môn (épisiotomie), rách tầng sinh môn (déchirure périnéale), sa sinh dục (prolapsus), loét, nhiễm trùng sinh dục hay đường tiểu, ban đỏ âm hộ (chàm, bệnh vẩy nến (psoriasis). Ở sâu, tận đáy của âm đạo, chứng giao hợp đau được gây nên do sự lay động của tử cung. Nguyên nhân là do sinh đẻ, nếu được thực hiện bằng dụng cụ hay trong trường hợp rách cơ-gân và thần kinh (Hội chứng Allen và Masters), nhưng nhất là lạc nội mạc tử cung (endométriose), tử cung hậu lệch (rétroversion) và các nhiễm trùng sinh dục. Trong trường hợp loại bỏ nguyên nhân bệnh lý cơ thể, phải tìm kiếm nguồn gốc tâm thần (lo âu và trầm cảm). Khi đó, việc từ chối không để cho đưa vào, là do một sự vô hiệu hóa của lòng ham muốn tình dục (nền giáo dục cứng nhắc, chấn thương tình dục, xung đột lứa đôi), không khởi động đường cong kích thích và không bôi trơn. Một sự e sợ âm tính sau đó tăng cường hiện tượng, có thể đi đến chỗ gây co thắt phản xạ của hệ cơ vùng hội âm, liên kết với một trạng thái tăng cảm giác (hyperesthésie) âm hộ-âm đạo, gây nên một sự bịt khít phản xạ của âm đạo, hay chứng co đau âm đạo (vaginisme).

ĐÔI KHI DO ĐIỀU TRỊ.

Một duyệt xét tư liệu nhằm đánh giá những giải phẫu quan trọng gây nên chứng giao hợp đau, ngoài ung thư học. Điều trị bằng phẫu thuật chứng són đái bằng treo âm đạo (colposuspension) theo phương pháp Burch (cố định thành trước của âm đạo vào các dây chằng của các xương vùng chậu) không gây nên hoặc ít chứng giao hợp đau. Trái lại colporraphie postérieure (khâu âm đạo sau) là nguyên nhân khá thường với 26% giao hợp đau sau phẫu thuật. Cắt bỏ tử cung (hystérectomie) thường không bị cáo buộc, nhưng mới đây, sự kiểm tra khoảng 60 người được mổ bằng đường âm đạo hay bằng đường bụng, đã chứng minh rằng chứng giao hợp đau sau mổ là thường xảy ra hơn sự can thiệp lên âm đạo, có lẽ do sự rút ngắn của các kích thước âm đạo.

KHÔ ÂM ĐẠO: CÓ GÌ MỚI?

Tình trạng giảm oestrogène (hypo-oestrogénie) lúc mãn kinh thường bị cáo buộc trong trường hợp khô âm đạo. Tuy nhiên, sự điều chỉnh kích thích tố không phải luôn luôn là đủ. Tất cả các bài báo gợi ý rằng chứng giao hợp đau là thông thường nơi phụ nữ mãn kinh nhưng không phải hoàn toàn tương quan với các nồng độ của œstrogène trong máu cũng như với sự teo âm đạo (atrophie vaginale). Tuy nhiên, một sự giảm oestradiol trong máu góp phần vào và một điều trị thay thế thường có thể làm thuyên giảm. Ospemifène là một chất chủ vận (agoniste)/đối kháng (antagoniste) mới không phải hormone của các thụ thể đối với oestrogène. Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên cho thấy một tính hiệu quả và một độ dung nạp rất tốt để làm bình thường hóa chỉ số thành thục (index de maturation) của biểu mô âm đạo cũng như pH. Thuốc đang được thí nghiệm giai đoạn III với liều lượng 60mg mỗi ngày. Một tác dụng thuận lợi lên vú và xương cũng được dự kiến, mà không làm tăng sản nội mạc tử cung (hyperplasie endométriale) hay làm phừng mặt (bouffée de chaleur). Loạt các chất mới này được gọi là SERM hay Selective Estrogen Receptor Modulator, nằm trong dòng dõi của tamoxifen, toremfene, clomifene và raloxifene. Thế hệ các hợp chất mới này kết hợp những đặc tính của các thuốc trước, không có những tác dụng phụ, bảo vệ vú và khung xương và làm tái sinh niêm mạc âm đạo mà không tác động lên nội mạc tử cung cũng như không làm gia tăng sự phừng mặt hay nguy cơ huyết khối nghẽn mạch (risque thromboembolique). Bazedoxifene, arzoxifene, lasofoxifene và ospemifene là 4 ứng viên đang đua tranh.

MỞ RỘNG BẰNG PHUƠNG PHÁP CƠ HỌC.

Liệu pháp của đau tiền đình âm đạo (vestibulodynie) (đau ở phần phía trước hết của âm đạo, gây nên chứng đau giao hợp lỗ, (dyspareunie orificielle), cần đến các kỹ thuật nong. Một nghiên cứu đa trung tâm đã quan tâm đến việc sử dụng một bộ 4 dụng cụ nong âm đạo (dilatateur vaginal), có một kích thước gần giống với dụng cụ soi hậu môn. Hệ thống này đóng một vai trò dương tính nơi các phụ nữ đã thử không thành công những liệu pháp khác. Sự đưa vào thận trọng và dần dần dụng cụ nong mảnh nhất, để trong âm đạo 10 phút, 3 lần mỗi tuần, tiếp theo sau, khi thủ thuật được thực hiện dễ dàng, bởi cùng công việc với dụng cụ nong hơi lớn hơn, và như thế cho 4 dụng cụ nong.

TOXINE BOTULIQUE, TẠI SAO KHÔNG?

Một nhóm nghiên cứu của Cleveland đã đề nghị toxine botulique cho khoảng 40 phụ nữ có tình trạng tăng hoạt tính lúc nghỉ ngơi của cơ nâng hậu môn (muscle releveur de l’anus) (được phát hiện bởi EMG), cũng như một sự ức chế bị giảm trong thời kỳ giãn ra của cơ. Được theo dõi trong khoảng hai năm, các phụ nữ này đã nhận những mũi tiêm toxine botulique vào trong cơ nâng hậu môn. Được hỏi và thăm khám một tháng sau mỗi buổi tiêm, họ tuyên bố một sự cải thiện của khả năng đưa vào dương vật, không gây trở ngại lên chức năng ruột và đường tiểu. Vào cuối thời kỳ theo dõi, 63,2% hoàn toàn được chữa lành, 15,4% cần phải được tiêm trở lại và cùng tỷ lệ này đã bỏ cuộc. Các tác giả khuyến nghị kỹ thuật này đặc biệt là khi chứng giao hợp đau không đáp ứng với các liệu pháp thuốc và nhận thức, nhất là nếu nguyên nhân là giải phẫu.
(GENERALISTE 20/5/2010)

9/ MỠ BỤNG LÀM TĂNG NGUY CƠ SA SÚT TRÍ TUỆ.

Nơi những người ở lứa tuổi trung niên, mỡ tạng (graisse viscérale) được liên kết với một sự giảm thể tích não bộ và như thế với một nguy cơ mắc phải chứng sa sút trí tuệ về sau này trong đời sống.

Chứng béo phì được liên kết với một sự gia tăng của nguy cơ mắc phải chứng sa sút trí tuệ. Mặc dầu chúng ta không biết một cách chính xác tại sao, tuy nhiên sự chứng thực này có thể mang lại một khả năng phòng ngừa nào đó. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ ở Boston, công tác trong bối cảnh của Framingham Heart Study, đã phân tích mối liên hệ giữa chỉ số khối lượng cơ thể (BMI), vòng thân (tour de taille), tỷ số giữa thân hình/háng, kích thước của mô mỡ dưới da và tạng và những chỉ dấu khác của sự lão hóa não bộ trong một tập thể những người trưởng thành tuổi trung niên.

Các đo lường bằng IRM nhằm vào thể tích toàn bộ não, thể tích sừng thái dương (corne temporale), thể tích chất trắng và nhồi máu não.

Nơi 733 người tham dự (tuổi trung bình 60 tuổi, 53% các phụ nữ), Stéphanie Debette và các đồng nghiệp đã quan sát thấy một mối liên kết nghịch giữa chỉ số khối lượng cơ thể, vòng thân, tỷ số thân hình/háng, kích thước mô mỡ dưới da và thể tích toàn bộ não là quan trọng nhất và vững chắc nhất và điều này cũng độc lập với chỉ số khối lượng cơ thể và sự đề kháng đối với insuline.

Các nhà nghiên cứu đã không ghi nhận những mối liên kết có ý nghĩa giữa các trị số đo mỡ bụng (bằng scanner) và thể tích sừng thái dương, cũng như với thể tích chất trắng và các nhồi máu não.

“Những kết quả của chúng tôi xác nhận sự liên kết nghịch giữa một chỉ số khối lượng cơ thể tăng cao (BMI) và các thể tích não nhỏ hơn nơi những người trưởng thành lớn tuổi và nơi những người trẻ tuổi nhất. Điều này càng được xác nhận vì những dữ kiện phát xuất từ một công trình nghiên cứu có quy mô lớn hơn (700 người so với 300 người trong những lần nghiên cứu trước đây). Điều quan trọng hơn, những công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ý một mối liên hệ mạnh hơn giữa chúng béo phì trung tâm (obésité centrale) (đặc biệt là mỡ tạng trong trường hợp béo phì bụng) và nguy cơ bị chứng sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer”, một trong các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Béo Phì (Obesity) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME) VÀ LỢI ÍCH CỦA OCYTOCINE.

GS Marion Leboyer, giám đốc phòng thí nghiệm Inserm Tâm thần học di truyền, giải thích những lợi ích có được với một kích thích tố: ocytocine.

Hỏi: Sự công bố mới đây, trong tạp chí khoa học có uy tín “Nature”, thời sự hóa trở lại các công trình của bà về bệnh tự kỷ. Những đặc điểm của căn bệnh tâm-thần kinh (maladie neuropsychiatrique) này là gì?
GS Marion Leboyer: Đó là một rối loạn của sự phát triển của hệ thần kinh não bộ, bắt đầu trước 3 tuổi và được thể hiện bởi 3 loại triệu chứng.
  • Một sự thu mình lại (repli sur soi) với sự tránh cái nhìn của kẻ khác, điều này làm giảm những quan hệ xã hội.
  • Những khó khăn về ngôn ngữ: người bệnh phát biểu một cách dè xẻn và với một giọng nói đều đều. Ngay cả đôi khi họ không nói gì cả.
  • Những hành vi ám ảnh (comportements obsessionnels).
Ở Pháp, sự phát hiện bệnh tự kỷ gia tăng: đến 1% dân chúng ngày nay bị mắc phải bệnh này, với nhiều thể dạng và độ trầm trọng ít hay nhiều. Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong “Nature” (mà chúng tôi đã tham dự) chứng minh sự hiện diện của rất nhiều bất thường di truyền. Các gène liên hệ mã hóa (chế tạo) các protéine có trách nhiệm về những nối kết giữa các neurone.

Hỏi: Với thời gian, bệnh lý này tiến triển như thế nào?
GS Marion Leboyer: Tùy theo dạng bệnh, căn bệnh sẽ tạo nên một phế tật quan trọng ít hay nhiều. Trong những trường hợp trầm trọng, kết cục là bi thảm. Những đứa trẻ vẫn phải ở suốt đời trong những cơ sở điều trị đặc biệt. Thể được gọi là “hội chứng Asperger”, trong đó các năng lực trí tuệ được bảo tồn, là có tiên lượng tốt hơn. Tuy nhiên, những người bị bệnh thường bị phế tật nặng trong đời sống xã hội của họ.

Hỏi: Than ôi, không có điều trị đặc hiệu, do đó các kết quả của bà với với ocytocine rất được quan tâm. Làm sao bà đã có ý tưởng sử dụng kích thích tố này?
GS Marion Leboyer: Chúng tôi biết rằng những người bị bệnh tự kỷ có một sự thiếu hụt ocytocine, hormone được tiết ra bởi não thùy. Vì kích thích tố này đóng một vai trò quan trọng trong những hành vi cảm xúc(comportements affectifs), nên chúng tôi đã nghĩ rằng nếu cho người bệnh ocytocine tổng hợp, thì có lẽ ta sẽ có thể cải thiện những khó khăn về quan hệ (diificultés relationnelles) của họ.

Hỏi: Thử nghiệm được diễn ra như thế nào?
GS Marion Leboyer: 13 người trưởng thành bị dạng Asperger đã được điều trị bằng đường mũi (hít với một bình xịt mũi), cho phép hormone đến não trong vài phút. Trước khi được thải ra một cách nhanh chóng. Sau một liều duy nhất, chúng tôi đã quan sát thấy, suốt trong 90 phút (trong đó các bệnh nhân đã chịu những trắc nghiệm), hai cải thiện rất có ý nghĩa.
  • Trên bình diện cái nhìn: không có ocytocine, khi người ta trình cho họ thấy các gương mặt trên ordinateur, các người bệnh đều nhìn đi cho khác. Nhưng, dưới tác dụng của hormone, họ chăm chú đôi mắt vào những gương mặt của người đó trên màn ảnh.
  • Trong trắc nghiệm thứ hai các người bệnh tham dự vào một trò chơi bóng với 3 người ảo, sự tương tác với các người chơi đã tỏ ra tốt hơn dưới tác dụng của ocytocine.

Hỏi: Sau những kết quả đầu tiên này, kết quả sắp đến của bà là gì?
GS Marion Leboyer: Với nhóm nghiên cứu của BS Angela Sirigu (CNRS de Lyon), chúng tôi đang tiến hành những công trình nghiên cứu khác ở Pháp, trên nhiều chục bệnh nhân bị dạng Asperger. Chúng tôi muốn biết cơ chế thật sự của ocytocine ở não bộ. Nhưng để theo đuổi những thử nghiệm này, chúng tôi cần một kích thích tố tổng hợp có một thời gian tác dụng dài hơn. Điều này cần đến những phương tiện tài chánh quan trọng... FondaMental, được thành lập để khuyến khích những công trình nghiên cứu về các bệnh tâm thần, đang chờ đợi những quyên góp.

Hỏi: Nếu những kết quả của những công trình nghiên cứu này xác nhận những kết quả trước, khi nào chúng ta có thể hy vọng một thuốc điều trị?
GS Marion Leboyer: Có lẽ chúng ta sẽ không có những kết quả này trước một năm. Giai đoạn còn rất sơ khởi. Nhưng nếu những thử nghiệm này dương tính, chúng ta có thể hy vọng, từ nay đến vài năm nữa, cải thiện đời sống xã hội của những người bị bệnh tự kỷ.
(PARIS MATCH 17-23/6/2010)

Đọc thêm :

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (21/6/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#56 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 29 June 2010 - 01:28 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ SUY TIM, MỐI THÁCH THỨC CỦA SỰ TIẾN BỘ.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CƠ TIM. Suy tim hiện hữu khi tim không còn có khả năng thực hiện một cách hiệu quả chức năng bơm. Lưu lượng máu bình thường, cần thiết cho sự vận hành chức năng tốt của các cơ quan, khi đó bị giảm, sự phân bố mạch đến các mô ít tốt hơn với những hậu quả khả dĩ lên nhiều nơi của cơ thể. Đặc biệt trên tim, tìm cách bù những loạn năng này. Đó là một bệnh lý có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, để điều trị thường có nhiều giải pháp ngoài ghép tim.

NGUYÊN NHÂN. Các bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim và các thương tổn động mạch vành, tiếp theo là cao huyết áp, và những loạn năng của các van tim, là những nguyên nhân chính của suy tim. Bệnh đái đường, chứng béo phì, thuốc lá, rượu là những yếu tố làm nặng.

TẦN SỐ. Với 100.000 trường hợp mới mỗi năm, bệnh lý này, mặc dầu tiên lượng được cải thiện bởi các loại thuốc và kỹ thuật, cũng rất gây tốn kém : 10% các trường hợp nhập viện là do suy tim. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong đã giảm từ 10 năm qua.

CHẨN ĐOÁN. Chẩn đoán suy tim thường quá muộn. Nhưng từ nay ta có hai xét nghiệm : định lượng một phân tử hiện diện trong máu và siêu âm tim.

THUỐC. Cũng có những loại thuốc cho phép hạn chế những ảnh hưởng lên cơ học tim và đôi khi nếu sử dụng khá sớm, cho phép làm thoái biến chúng. Ngoài ra, đối với những rối loạn liên quan đến nhịp tim, có những giải pháp để đồng bộ hóa lại trái tim (resynchroniser le coeur).

GIÁO DỤC. Giáo dục bệnh nhân tôn trọng một vệ sinh đời sống nào đó là một trong những chìa khóa để làm giảm ảnh hưởng của suy tim. Như thế phải học làm biến đổi những hành vi của mình để có thể có một đời sống bình thường có thể được, với khả năng hoạt động vật lý và du lịch.


Chúng ta chết ít hơn vì nhồi máu cơ tim, nhưng chúng ta có thể học sống với những di chứng của nó.

TIM. “ Chúng ta có thể là vận động viên thể thao trẻ và, sau một nhồi máu cơ tim trên sân bóng, trở nên người bị suy tim chờ đợi một phẫu thuật ghép tim ở tuổi 30. Trái với thành kiến, suy tim không phải luôn luôn là một bệnh do hao mòn (maladie d’usure) và của những người lớn tuổi ”, GS Yves Juillière, thầy thuốc chuyên khoa tim của CHU de Nancy, đã cành cáo như thế.

Sự thương tổn này của chức năng tim, ảnh hưởng lên toàn cơ thể, chỉ được thể hiện một cách muộn màn, bởi một sự khó thở tăng dần lúc gắng sức, một sự mệt mỏi, một trái tim đập nhanh và một sự phù nề của các cẳng chân.“ Tim không còn đóng vai trò một cách đúng đắn nữa, bởi vì nó không có thể co thắt một cách hiệu quả nữa để gởi máu đến toàn bộ cơ thể (khi đó ta gọi là suy tâm thu) hay bởi vì nó không tự làm đầy một cách đúng đắn nữa (đó là suy tâm trương).” Suy tâm thu gây bệnh cho tất cả các bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, suy tâm trương (insuffisance diastolique) gây bệnh chủ yếu các người già, nhưng những triệu chứng đều giống nhau.

Bệnh suy tim được xếp loại thành 4 mức độ trầm trọng tăng dần, đi từ loại 1 (thể nhẹ) đến loại 4, được đặc trưng bởi khó thở lúc nghỉ ngơi hay lúc gắng sức nhỏ nhất, và một hy vọng sống bị ngắn lại.

Ở Pháp, 100.000 trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm. “ Tỷ lệ bệnh suy tim mới phát hiện liên kết trực tiếp với tuổi tác. Ổn định trước 55 tuổi, bệnh gia tăng sau đó do gia tăng tuổi thọ và các tiến bộ y khoa : người ta chết ít hơn trước đây vì nhồi máu cơ tim, vì các bệnh van tim hay vì cao huyết áp, nhưng người ta sống sót với một di chứng, suy tim, trước đây không có đủ thời gian để thể hiện ”, GS Alain Cohen-Solal, trưởng khoa tim của Bệnh viện Lariboisière (Paris) đã giải thích như vậy.

Cứ mười người trên 80 tuổi thì có một người bị suy tim. Căn bệnh mãn tính này tiến triển một cách chậm chạp và bằng các đợt bộc phát. “ Những đợt bộc phát này gần như luôn luôn có cùng những nguyên nhân : không tôn trọng chế độ ăn uống, ngừng điều trị, cơn cao huyết áp, sốt, cúm, rối loạn nhịp tim... là nguyên nhân của những tái nhập viên thường xuyên.”

Nguyên nhân chính của suy tim : các bệnh tim mạch. Với hàng đầu , nhồi máu cơ tim và bệnh mạch vành, chịu trách nhiệm 50% các trường hợp, truớc những thương tổn tim do cao huyết áp và các thương tổn của các van tim. Vậy, những yếu tố nguy cơ tim mạch (cao huyết áp, đái đường, chứng béo phì, thuốc lá) cũng là những yếu tố của suy tim : 30% đến 40% những người suy tim mắc bệnh đái đường. Trong số những nguyên nhân khác, rượu và vài liệu pháp hóa học chống ung thư.

SỰ DÀY CỦA TIM.

Chẩn đoán thường muộn, từ nay được làm dễ bởi hai xét nghiệm : định nồng độ trong máu của BNP, một peptide do tim tiết ra khi tim bị căng do gắng sức, và siêu âm tim. Trong suy tim cổ điển, tim không co thắt được một cách đúng đắn và chỉ tống xuất 35 đến 40% thay vì 60% đối với một tim bình thường. Tim tống xuất càng kém tiên lượng càng nặng.

Tim tìm cách bù áp lực thượng nguồn bằng cách dày lên rồi giãn ra. Quá trình “ remodelage ” (tái tạo dáng) thích nghi này, trước hết có lợi, sau đó trở thành có hại. Các loại thuốc có thể hạn chế quá trình tái tạo dáng và đôi khi làm thoái lui. Đó nhất là trường hợp của các IEC (inhibiteurs de l’enzyme de conversion) và các bêtabloquants, nhưng chúng chỉ tác dụng sau nhiều tháng. Vậy các thuốc lợi tiểu cũng được kê toa để làm giảm sự khó thở của người bệnh, GS Jullière đã giải thích như vậy.

Sự giảm lưu lượng máu do suy tim cũng gây nên một sự co thắt của các động mạch và một sự ứ nước và muối, điều này về lâu về dài làm trầm trọng căn bệnh. Các IEC và những thứ thuốc các, các sartans, ức chế sự ứ đọng nước và muối, trong khi các bêtabloquant ngăn cản sự co thắt động mạch. Trong suy tim giai đoạn cuối, sự đặt một hỗ trợ tâm thất (assistance ventriculaire) để giúp tâm thất đẩy máu và trước 60 tuổi, ghép tim là những giải pháp tối hậu.

Tin vui, đó là tỷ lệ tử vong đã giảm từ 10 năm nay. Ít có những bệnh tim đã hưởng được những điều trị mới như thế và sự xuất hiện kế tiếp của các IEC, bêtabloquant, các sartans, mỗi thứ đã mang lại một mối lợi quan trọng về tỷ lệ sống còn, GS Cohen-Solal đã nhấn mạnh như vậy. Và cũng nhờ sự tái đồng bộ tim (resynchronisation cardiaque), đã làm giảm nhiều số các trường hợp tử vong đột ngột.

Hậu quả : ít có những loại thuốc mới. “ Các tiến bộ chủ yếu là do phòng ngừa, giáo dục điều trị các bệnh nhân và một chẩn đoán sớm hơn ”, thầy thuốc chuyên khoa tim đã nhấn mạnh như vậy. Và ai biết đâu được, một ngày nào đó, có lẽ những tế bào gốc (cellules souches).
(LE FIGARO 21/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Suy Tim (Heart Failure / Cardiac Insufficiency) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ PATCH, ANNEAU, IMPLANT VÀ NHỮNG STERILET KHÁC.

Không phải chỉ có thuốc uống ngừa thai (pilule). Bảng màu của những cách ngừa thai khác cũng đã được mở rộng, gia tăng sự lựa chọn gia tăng cho các phụ nữ, khi họ không muốn hay không có thể uống viên thuốc ngừa thai. Thuốc dán (patch) và vòng âm đạo (anneau vagianal) là hai thí dụ. “ Tất cả hai phóng thích một kết hợp œstrogène-progestatif. Vậy chúng có cùng chống chỉ định của pilule oestro-progestative ”, GS Quéreux đã nhấn mạnh như vậy. Patch (Evra) vẫn chỉ được sử dụng bởi một số ít người ở Pháp. “ Dường như dạng thuốc dán này làm gia tăng nguy cơ bị viêm tĩnh mạch (phlébite) (mặc dầu hãng bào chế chống chế lại điều đó), mà không cải thiện thật sự sự tuân thủ điều trị (observance), bởi vì người dùng phải nghĩ đến thay đổi nó hàng tuần, ba tuần trên bốn. Nhưng vài phụ nữ lại rất thỏa mãn dạng thuốc này.” Một thuốc dán cạnh tranh, cũng được sử dụng mỗi tuần nhưng nhỏ và trong suốt hơn, đang được chuẩn bị cho năm 2012.

CÓ HOẶC KHÔNG CÓ KINH KỲ.

Hệ thống khác, Nuvaring là một vòng âm đạo (anneau vaginal) rất mềm dẻo, được đặt vào ở đáy âm đạo. Một khi nằm tại chỗ, vòng này tác dụng trong 3 tuần, tiếp theo sau một tuần ngừng hoạt động. “ Đó là một phương tiện ngừa thai rất tốt, với một sự quân bình kích thích tố rất tốt, gây nên rất ít các triệu chứng. Vài phụ nữ dè dặt đắn đo bởi vì họ phải đặt vòng, nhưng những phụ nữ sử dụng nó thường rất thỏa mãn.” Cùng sự phấn khởi nơi BS Serfaty, mong muốn rằng các thầy thuốc nói nhiều hơn về vòng âm đạo, “ mặc dầu thời gian phải thuyết phục hơi lâu hơn là việc kê đơn một viên thuốc ngừa thai. Vòng âm đạo rất thích nghi với các phụ nữ trẻ thường hay quên uống thuốc ”. Bất lợi khác, giá cả một vòng âm đạo là 15 euro, không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế. Nhưng trong tương lai, có thể được thương mãi hóa ở Pháp một vòng khác được tái sử dụng trong vòng một năm,.

Implant (Implanon) cũng có các đồ đệ của nó. Được đưa vào dưới cánh tay, implant phóng thích một progestatif đảm bảo sự ngừa thai có hiệu quả trong 3 năm, không có kinh kỳ liên kết. “ Implant do đó rất lôi cuốn các phụ nữ trẻ, nhưng cũng có những bất tiện của nó : không hiểu tại sao, implant gây nơi 20% các phụ nữ những xuất huyết có thể kéo dài, đến độ phải lấy nó đi. Thế mà, đôi khi khó xác định được vị trí của implant trong cánh tay để lấy nó ra ”, GS Quéreux đã chỉ rõ như vậy. Từ nay đến vài tháng nữa, một implant mới cản quang và một dụng cụ để đưa vào (dispositif d’insertion) sẽ làm dễ thủ thuật này.

Dụng cụ ngừa thai trong tử cung (DIU : dispositif intra-utérin) hay stérilet là một phương tiện ngừa thai rất có hiệu quả, hoàn toàn có thể đảo ngược được. Stérilet hormonal từ nay được bán nhiều hơn stérilet au cuivre, nhưng cả hai tiến triển mạnh, với những chỉ định đặc hiệu.

MỘT QUYẾT ĐỊNH CỦA PHỤ NỮ.

Đối với GS Quéreux, “ DIU có chất đồng (Stérilet au cuivre) dành cho các phụ nữ muốn bảo tồn kinh nguyệt của mình, và cũng dành cho các phụ nữ trẻ đã không bao giờ có thai, bởi vì từ nay có những mô hình nhỏ xíu, hoàn toàn thích ứng. Stérilet hormonal (Mirena) phân tán một progestatif và dành cho các phụ nữ không muốn có kinh nữa. Dụng cụ ngừa thai này thật sự được ưa thích và được sử dụng nhiều lần bởi các phụ nữ ngay sau khi họ đã có đứa con đầu lòng. “ Ưu điểm khác, nó cho phép điều trị vài rối loạn như kinh nguyệt quá dồi dào hay những cơn đau hành kinh. Một mini-Mirena đang được chuẩn bị dành cho các phụ nữ trẻ đã không bao giờ có con ”, BS Serfaty đã nói thêm như vậy. Vậy ở đây cũng thế, đó là một lựa chọn cần được bàn bạc. “ Nhưng chính người phụ nữ lựa chọn, chứ không phải thầy thuốc của mình ”, GS Quéreux đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 26/4/2010)

3/ VÀO NĂM 42 TUỔI, NHỮNG KHẢ NĂNG CÓ THAI SAU THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM (FECONDATION IN VITRO) LÀ GÌ ?

Professeur Roger Henrion
Gynécologue obstétricien
Président de l’Académie nationale de médecine.


Thụ thai trong ống nghiệm (FIV : fécondation in vitro) là một điều trị được hoàn toàn nắm vững, nhưng với cái giá phải trải qua nhiều xét nghiệm và lấy bệnh phẩm, mà vài cặp vợ chồng so sánh với một đoạn đường chiến binh thật sự. Thường cần phải thực hiện nhiều lần.

Dầu nguyên nhân của vô sinh là gì đi nữa, kinh nghiệm của các trung tâm điều trị, tuổi của người phụ nữ là một yếu tố quyết định trong sự thành công hay thất bại của FIV. Khả năng sinh sản giảm một cách không tránh được và một cách từ từ nơi phụ nữ từ 35 đến 40 tuổi, rồi một cách đột ngột từ 40 tuổi trở đi, vì lẽ chất lượng và số lượng của các noãn bào (ovocyte) được chứa trong các buồng trứng, giảm đi với thời gian. Điều đó đưa đến hậu quả là các cơ may có thai và có một em bé giảm đi với tuổi tác. Không phải là tình cờ khi bảo hiểm xã hội ấn định tuổi 43 như là tuổi từ đó các điều trị không còn được bồi hoàn nữa.

Không có một điều trị nào có thể cải thiện chất lượng của các noãn bào, chìa khóa thật sự của sự thành công của FIV. Khả năng định ổ trong lòng nội mạc tử cung và phát triển cho đến khi sinh ra đời, mà các phôi chuyển có được, phụ thuộc vào chất lượng này. Tỷ lệ có thai sau FIV là hơn 35% nếu phụ nữ dưới 38 tuổi, trụt xuống khoảng 15% nếu người phụ nữ tuổi hơn 38 và hiếm khi vượt quá 10% khi ở lứa tuổi trên 40. Tỷ lệ này là 1% khi 44 tuổi. Tỷ lệ sinh lại còn thấp hơn. Mặt khác, nếu nhiều hơn một phôi được đặt lại, có nguy cơ đa thai với các hậu quả sinh non và các biến chứng sản khoa.

Trên thực tế, ở tuổi 42, nếu người phụ nữ phản ứng tốt với điều trị kích thích buồng trứng, nếu chất lượng và số phôi thu được là thỏa mãn, và nếu tử cung bình thường, không bị u xơ cũng như bệnh của cơ tử cung, tất cả các hy vọng đều có thể, nhưng những cơ may có một em bé không vượt quá 5 đến 10%.

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sau 38 tuổi, trong trường hợp đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng, các cơ may thai nghén gần như số không. Khi đó, bất hạnh thay, ngừng mọi toan tính là điều hợp lý hơn.

Ngoài ra, vào lứa tuổi này, một phần do chất lượng của các noãn bào kém nhất, nên số các sẩy thai ngẫu nhiên gia tăng rõ rệt, những sự chậm tăng trưởng trong tử cung thường xảy ra hơn, nguy cơ trisomie được nhân lên gấp 10 lần, và nguy cơ của những dị dạng khác có thể được phát hiện, nhưng với cái giá của một loạt các xét nghiệm ít nhiều bó buộc, kết hợp những định lượng hormone, lấy nhiều bệnh phẩm và siêu âm nhiều lần. Tất cả những khó khăn này giải thích rằng, trong nhiều nước, càng ngày càng nhiều phụ nữ, ở tuổi 42, ưa thích có thai bằng cách nhận noãn cho (don d’ovule). Trên nguyên tắc sự cho noãn này được đề nghị nơi cac phụ nữ không có noãn bào hoặc có những chất lượng kém, do một bệnh di truyền, một hóa học liệu pháp hay một phóng xạ liệu pháp chống ung thư, thậm chí một phẫu thuật ngoại khoa. Nhưng ở Pháp, các thời hạn để có được các noãn bào đã là rất dài, khoảng 3 năm, bởi vì sự hiến noãn bào (don d’ovocyte) là một dấn thân thật sự đối với các người cho.Những người hiến này phải chịu một sự kích thích buồng trứng, một điều trị nặng nề, khó khăn và mệt nhọc, và một thủ thuật trích lấy noãn bào ở phòng mổ dưới gây mê tổng quát hay tại chỗ.

Một yếu tố cuối cùng phải được xét đến : tình trạng sức khỏe của người phụ nữ. Người ta biết rằng một cao huyết áp hay một bệnh đái đường thai nghén có thể luôn luôn có thể xảy ra trong lúc có thai. Vậy FIV càng bị chống chỉ định trong trường hợp cao huyết áp, đái đường hay béo phì, để tránh những biến chứng nghiêm trọng. Nhữn.g cặp vợ chồng muốn thực hiện FIV phải được đả thông một cách hoàn chỉnh để có thể quyết định một cách thông suốt.
(LE FIGARO 1/3/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Thai Phụ & Thai Nhi - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

4/ MỘT VACCIN MỚI CHỐNG BỆNH ALZHEIMER ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.

BS NATHALIE SZAPIRO-MANOUKIAN

Ý tưởng đơn giản, nhưng tài tình : vì lẽ peptide bêta-amyloide bất thường tích tụ và phải phá hủy nó, thế tại sao không giao phó công việc này cho chính các cơ quan phòng vệ miễn dịch của người bệnh ? Như thế nào ? Bằng cách thúc đẩy các tế bào miễn dịch của chính người bệnh xem peptide bêta-amyloide này như một kẻ thù cần chống lại. Đó chính là nguyên tắc của thuốc chủng điều trị (vaccin thérapeutique). Hướng của một vaccin chống lại bệnh Alzheimer đã lên đường từ nhiều năm nay, trải đầy các thất bại, nhưng cũng mang nhiều niềm hy vọng.

Nguyên tắc của thuốc chủng chống lại bệnh Alzheimer nhằm tiêm một mảnh của protéine bêta-amyloide, hay chính xác hơn, của những acide aminé vốn là thành phần của nó. Những tế bào miễn dịch của bệnh nhân khi đó chế tạo những kháng thể chống lại các acide aminé này rồi những kháng thể này bắt đầu tiêu hủy các mảng amyloide. Đó là lý thuyết. Bởi vì trên thực tế, hệ miễn dịch không được lồng lên và các cơ quan phòng vệ miễn dịch không được tấn công những cấu trúc khác với các mảng amyloide bất thường. Và sau đó sự phá hủy của các mảng phải được kèm theo một sự cải thiện của các triệu chứng, nếu không tất cả sẽ chẳng ích lợi gì.

Ý tưởng về một vaccin chống bệnh Alzheimer không phải mới có từ hôm nay. Một thử nghiệm đầu tiên đã được thực hiện vào năm 2001 nơi những bệnh nhân ở một giai đoạn tiến triển của bệnh. “ Sự khảo sát sau khi chết nơi vài trong số những bệnh nhân này đã cho thấy một sự giảm đáng kể các mảng amyloide trong não bộ của họ, chứng tỏ rằng mục đích đầu tiên một phần đã đạt được (sự phá hủy của các mảng), GS Dubois đã nhắc lại như vậy. Nhưng những đánh giá lâm sàng được thực hiện trước khi chết đã không cho thấy đủ cải thiện. Và một đáp ứng miễn dịch quá mạnh mẽ đã gây nên một viêm màng não-não nơi 6% trong số những người này. ” Cuộc thử nghiệm do đó bị đình chỉ.

GIAI ĐOẠN TRẮC NGHIỆM TRONG 6 NƯỚC.

Các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng có lẽ phải tác động hơn nữa trên thượng nguồn, trước khi não bộ quá bị thương tổn, bởi vì khi các bệnh nhân được điều trị ở một giai đoạn muộn của bệnh, sự thoái lui của các dấu hiệu lâm sàng có lẻ khó đạt được hơn...

Một vaccin điều trị mới đã bước vào giai đoạn trắc nghiệm trong 6 nước (Đức, Áo, Croatie, Pháp, Cộng Hòa Tchèque, Slovaquie) và khoảng 42 bệnh nhân phải được đưa vào trắc nghiệm. Một giai đoạn thử nghiệm đầu tiên, được hoàn thành cách nay vài tháng, đã cho thấy rằng vaccin này là an toàn và được dung nạp tốt. Trái với vaccin đầu tiên, được trắc nghiệm vào năm 2001 và nhắm vào 42 acide aminé của peptide bêta-amyloide, vaccin lần này chỉ nhắm vào một phần nhỏ của peptide này (6 acide aminé). Sự thay đổi đầu tiên này hẳn cho phép làm giảm nguy cơ đáp ứng miễn dịch quá mạnh. Điểm khác nhau thứ hai so với vaccin đầu tiên : Các bệnh nhân đã chấp nhận tham gia vào protocole không ở vào một giai đoạn tiến triển của bệnh, vì thế tất cả hy vọng làm thoái triển các rối loạn còn được cho phép. Hẹn gặp nhau vào năm 2012 để được biết những kết quả đầu tiên.
(LE FIGARO 3/5/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

5/ CÁC VŨ KHÍ CHỐNG BỆNH TRỨNG CÁ ĐA DẠNG.

BS SANDRINE CABUT

Các hậu quả tâm lý của căn bệnh trứng cá này thường không được biết đến.

DERMATOLOIE. Lối qua gần như bắt buộc ở tuổi thiếu niên (từ 70 đến 80% các thanh thiếu niên từ 13 đến 25 tuổi bị liên hệ), bệnh trứng cá (acné) không hẳn là ngoại lệ nơi những người trưởng thành. Gần 20 % những người từ 25 đến 40 tuổi, nhất là các phụ nữ, có những thương tổn lâm sàng của bệnh trứng cá, GS Brigitte Dréno (CHU de Nantes) đã nhắc lại như thế nhân ngày dành cho bệnh lý về da này. Đối với các thầy thuốc và ngay cả những người có liên quan, chẩn đoán bệnh ngoài da này thường là dễ dàng khi thấy những chấm đen, các nang nhỏ (microkyste), các sần (papule) và những mụn mủ (pustule) khác nằm ở mặt và lưng. Điều hiển nhiên khác, bệnh trứng cá là một bệnh của nang bã-nang lông (follicule pilosébacé), liên kết một sự tăng tiết của chất bã (sébum) vì thế có da mỡ ( peau grasse) và một nhiễm trùng bởi một vi khuẩn, Propionibacterium acnes.

Tuy vậy, việc giải mã các cơ chế sâu kín của bệnh này tỏ ra phức tạp.“ Đó là một puzzle chưa được kết thúc ”, BS Nicole Auffret (Paris) đã đánh giá như vậy. Đối với bà, bệnh trứng cá phải được xem như là một bệnh miễn dịch da ở nang bã-nang lông (follicule pilosébacé). “ Phần lớn các bệnh nhân không có các rối loạn kích thích tố. Nồng độ testostérone của họ bình thường. Vậy các bất thường là ở da ”, bà đã nhấn mạnh như thế, đồng thời nêu làm thí dụ một sự tăng nhạy cảm tại chỗ đối với các thụ thể của các androgène.

Còn vai trò của chế độ ăn uống, thường được nêu lên bởi các bệnh nhân, bị bác bỏ bởi phần lớn các thầy thuốc, thì sao ? “ Cách nay 10 năm, chocolat, cacahuète, mỡ và đồ ngọt đã được vô can. Nhưng những công trình nghiên cứu mới đây đã phát động trở lại cuộc tranh luận, GS Jean Revuz (CHU Henri-Mondor, Créteil) đã đảm bảo như vậy. Việc tiêu thụ sữa rút kem (lait écremé) hay đường có tác dụng nhanh, một lần nữa bị vạch mặt chỉ tên, trong khi đó một điều tra của Pháp gợi ý một tác dụng bảo vệ của trái cây và rau xanh. Nhưng lý lẽ vẫn không đủ để ta có thể quy định một chế độ đặc biệt, GS Revuz đã kết luận như vậy. Những dữ kiện cũng rất mâu thuẫn về những mối liên hệ giữa trứng cá và thuốc lá. Thuốc lá có lẽ làm gia trọng bệnh mụn nơi các phụ nữ trưởng thành.”

CÁC THUỐC ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.

Các thầy thuốc nhất trí ở một điểm : ngay cả ở mức độ vừa phải, bệnh trứng cá có thể có một ảnh hưởng không phải là không đáng kể trên bình diện tâm thần, với cảm giác bị giảm giá (dévalorisation), mất niềm tin...“ Các thương tổn, thấy rất rõ, vạch trần cõi riêng tư của đợt dậy thì, điều này có thể được cảm nhận một cách âm tính đặc biệt bởi các cô con gái, BS Nathalie Feton-Danou đã giải thích như vậy. Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng có thể có những khác nhau quan trọng trong sự cảm nhận giữa các bệnh nhân (đánh giá quá cao mức độ trầm trọng) và các thầy thuốc. Theo bà, “ ảnh hưởng tâm lý cũng có thể quan trọng như ảnh hưởng tâm lý của một căn bệnh như bệnh đái đường hay bệnh động kinh. ” Một tham số mà các thầy thuốc có lẽ phải xét đến hơn nữa trong việc theo dõi các bệnh nhân mình, cũng như họ phải báo với các bệnh nhân rằng bệnh trứng cá là một bệnh lý mãn tính, cần một điều trị dài lâu.

Những thuốc mới (acide laurique, peptides antimicrobiens, antiandrogènes...) đang được thử nghiệm lâm sàng, phần lớn dùng tại chỗ. Trong lúc chờ đợi, các thầy thuốc có cả một kho thuốc điều trị vốn đã quan trọng, với những thuốc dùng tại chỗ và bằng đường tổng quát (các kháng sinh, các điều trị bằng hormone, rétinoides, các viên thuốc mà chất cơ bản là kẽm...). Tính hiệu quả của các tia laser, được đề nghị trong các phòng mạch chuyên khoa, vẫn cần được chứng minh. “ Hiện nay không có những protocole chuẩn. Chúng ta sẽ cần các đánh giá, Diane Berson (Đại học Cornell, Nữu Ước) đã đánh giá như vậy.

Những thể nghiêm trọng nhất của bệnh ngoài da này, trên nguyên tắc, cần một điều trị bởi isotrétinoine, một thuốc rất có hiệu quả mà sự kê toa phải được theo dõi, do các tác dụng phụ nghiêm trọng (trong đó có những dị dạng thai nhi).

Trong những năm qua, vài trường hợp tự tử nơi những bệnh nhân được điều trị bởi thứ thuốc này đã có những hậu quả tai hại, GS Pierre Wolkenstein, chủ tịch của Société française de dermatologie đã phàn nàn như vậy. “ Trong vòng 4 năm, những đơn thuốc sụt giảm 1/3, trong khi những dữ kiện khoa học về trách nhiệm của thứ thuốc này là rất thấp ”, ông lấy làm tiếc như vậy.
(LE FIGARO 19/4/2010)

6/ NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI CỦA BỆNH NHẦY NHỚT (MUCOVISCIDOSE) LÀ GÌ ?

BS Harriet Corvol
Pneumopédiatre
Hopital Trousseau, Paris.


Mucoviscidose là một bệnh di truyền, được truyền cùng nhau bởi bố mẹ, gây bệnh cho khoảng 6.000 người ở Pháp. Gène gây bệnh (CFTR) được khám phá cách nay 21 năm, mã hóa cho một protéine màng tế bào để kiểm soát sự trao đổi của nước và các muối (sodium, potassium, chlore…) giữa tế bào và bên ngoài. Những bất thường của gène CFTR khác nhau tùy theo các bệnh nhân và sẽ được thể hiện hoặc bởi một sự ngưng chế tạo protéine sớm (15% các bệnh nhân) ; hoặc bởi sự thoái hóa của protéine này (70% các bệnh nhân) ; hoặc bởi sự loạn năng của nó (15% các bệnh nhân). Những bất thường này dẫn đến sự làm đặc của niêm dịch lót các phế quản và các ống của tụy tạng, làm dễ các nhiễm trùng phổi và các rối loạn tiêu hóa.

Hiện nay, không có một điều trị nào cho phép chữa lành bệnh nhầy nhớt (mucoviscidose) cả, nhưng những tiến bộ quan trọng trong điều trị đã cho phép một sự cải thiện rõ rệt tỷ lệ sống còn của các bệnh nhân ; hy vọng sống đối với những đứa trẻ sinh hôm nay là 46 năm, trong khi hy vọng này gần 20 năm trong những năm 1980. Những tiến bộ này chủ yếu liên hệ đến điều trị triệu chứng (kháng sinh liệu pháp, khí dung liệu pháp) ; nhưng những điều trị mới đang được phát triển để thử điều trị căn bệnh.

Từ khi nhận diện gène CFTR, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện để thử thay thế gène khiếm khuyết bằng một gène lành mạnh (liệu pháp gène : thérapie génique). Bất hạnh thay, những kết quả vẫn gây thất vọng và hiện nay, chỉ một công trình nghiên cứu đang được tiến hành. Trái lại những kết quả rất đáng phấn khởi được quan sát đối với những thứ thuốc nhằm điều trị không phải gène mà là protéine khiếm khuyết (thérapie protéique). Những liệu pháp này khác nhau tùy theo loại bất thường của gène CFTR.

Đối với các bất thường di truyền được thể hiện bởi một sự ngưng sớm chế tạo protéine, một thứ thuốc dùng bằng đường miệng và được dung nạp tốt cho phép tái lập chức năng của protéine bị biến đổi. Các kết quả đáng phấn khởi đầu tiên đã cho thấy sự bình thường hóa của sự tiết chlore nơi nhiều bệnh nhân, trưởng thành và trẻ em. Lợi ích của nó lên chức năng hô hấp, các nhiễm trùng phổi hay chất lượng đời sống của các bệnh nhân đang được đánh giá.

Đối với những bất thuờng di truyền dẫn đến một sự thoái hóa quá mức của protéine, hai điều trị đang được đánh giá. Một thứ thuốc thứ nhất, được dùng bằng đường miệng, đã được nghiên cứu ở Hoa Kỳ và cho phép, với một sự dung

nạp tốt, bình thường hóa sự tiết chlore, những tham số khác được đo trong lúc phân tích. Một loại thuốc thứ hai cũng thu được những kết quả đầy hứa hẹn trên các canh cấy tế bào (in vitro), nhưng những kết quả của công trình nghiên cứu được thực hiện trên những bệnh nhân ở Bỉ còn đang được chờ đợi. Thuốc này, có lợi điểm là đã được biết, bởi vì đã được cho nơi những bệnh nhân bị một bệnh hiếm khác, bệnh Gaucher.

Đối với những bất thường gây nên một loạn năng của protéine, một thứ thuốc khác được trắc nghiệm. Một công trình nghiên cứu so sánh với placebo đã cho thấy sự tiết của chlore được phục hồi và nhất là một lợi ích đáng kể lên chức năng hô hấp. Sau hết, những kết quả đáng phấn khởi này đã cho phép dự kiến một công trình nghiên cứu sẽ được bắt đầu vào lục cá nguyệt thứ hai của năm 2010, nhằm trắc nghiệm tác dụng phối hợp của thuốc này kết hợp với một trong những thứ thuốc làm giới hạn một sự thoái hóa quá mức của protéine, để làm tăng cường tác dụng của protéine được phục hồi. Sự tăng cường tác dụng này đã được chứng tỏ bởi những công trình nghiên cứu in vitro.
(LE FIGARO 6/4/2010)

Đọc thêm : THÔNG TIN Y HỌC VỀ BỆNH NHẦY NHỚT (MUCOVISCIDOSE) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

7/ MỘT MỐI LIÊN HỆ GIỮA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG VÀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ?

Sự thiếu hụt insulin gây nên những rối loạn nhận thức.

Trong một công trình nghiên cứu được trình bày vào tháng ba năm 2009 ở Hội nghị quốc tế nghiên cứu về bệnh tâm thần phân liệt, các nhà nghiên cứu của các đại học Barcelone (Tâu Ban Nha) và của Maryland (Hoa Kỳ) xác nhận rằng có một mối tương quan giữa bệnh tâm thần phân liệt và bệnh đái đường.

Thật vậy họ đã khám phá rằng, 16% những người được theo dõi cho công trình nghiên cứu này, mới đây đã nhận một chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt hay những rối loạn tâm thần và không có những yếu tố nguy cơ khác được biết đối với bệnh đái đường, đã bị bệnh đái đường hay có một chuyển hóa bất bình thường của glucose. Khi đó các tác giả đã đi đến kết luận rằng bệnh tâm thần phân liệt và bệnh đái đường cùng chia xẻ những yếu tố nguy cơ môi trường hay di truyền.

Hôm nay, các nhà nghiên cứu của Centre médical của đại học Vanderbilt (Hoa Kỳ) đã cho thấy một mối liên hệ phân tử giữa một sự khiếm khuyết của cơ chế tác dụng của insuline và những hành vi tâm thần phân liệt nơi các con chuột. Các kết quả của công trình nghiên cứu của họ được công bố trong tạp chí PloS Biology. Aurelio Galli, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu này, là một trong những nhà khoa học đầu tiên cho thấy rằng insuline, kích thích tố điều hòa chuyển hóa đường trong cơ thể, cũng điều hòa dự trữ dopamine trong não bộ. Chất dẫn truyền thần kinh này đặc biệt được biết do vai trò của nó trong hoạt động vận động, sự chú ý và vòng khen thưởng (circuit de la récompense).

NHỮNG CON CHUỘT RẤT BỊ XÁO TRỘN.

Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển các con chuột, ở chúng protéine Akt của các neurone bị khiếm khuyết. Protéine này, vì cần thiết cho sự vận chuyển của insuline vào bên trong các neurone, do đó những tế bào thần kinh này bị thiếu kích thích tố insuline. Sau đó Aurelio Galli và các đồng nghiệp đã quan sát thấy rằng các con chuột thí nghiệm bị những bất thường hành vi gần giống với những bất thường của các bệnh nhân tâm thần phân liệt. Ngoài ra, họ cũng đã chứng thực rằng não bộ của các con chuột gậm nhấm có những nồng độ dopamine bị giảm và nồng độ của norépinéphrine (chất dẫn truyền thần kinh khác) tăng cao, trong vùng có liên hệ trong quá trình nhận thức. Tiếp theo là một effet boule de neige : protéine có nhiệm vụ loại bỏ các chất dẫn truyền thần kinh dư thừa nơi các tiếp hợp thần kinh của các neurone“ quyét dọn ” không phân biệt dopamine và norépinéphrine hiện diện trên bước đường đi của nó. Kết quả : vỏ não trong tình trạng giảm dopaminergique và những rối loạn nhận thức và các triệu chứng khác của bệnh tâm thần phân liệt xuất hiện. Theo các nhà nghiên cứu, khám phá mới này, tạo mối liên hệ giữa tác dụng của insuline và các nồng độ của dopamine, mang lại một hướng điều trị mới chống lại bệnh tâm thần phân liệt.
(LE SOIR 9/6/2010)

Đọc thêm :

8/ CAI THUỐC LÁ : NHỮNG HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ THEO TỪNG CÁ THỂ.

BS Agnès Bellocq, thầy thuốc chuyên khoa phổi bệnh viện Tenon (Paris), chủ tịch của réseau Récup’air, giải thích chương trình phục hồi chức năng hô hấp của mạng lưới Récup’air cho những người đang hút hay đã từng hút thuốc.

Hỏi : Bắt đầu từ sự tiêu thụ thuốc lá nào các lá phổi bị đe dọa ?
BS Agnès Bellocq : Có một sự không đồng đều trước những hậu quả tai hại của thuốc lá. Nhưng trong đại đa số các trường hợp, các biến chứng phổi được thể hiện sau 20 đến 30 năm nhiễm độc thuốc lá (tabagisme).

Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên phải được báo động là gì ?
BS Agnès Bellocq : Sự viêm mãn tính của các phế quản gây nên hai triệu chứng : ho có đờm (toux grasse) và khó thở lúc gắng sức trầm trọng dần.

Hỏi : Đối với những người hút thuốc thâm niên này, những nguy cơ với thời gian là gì ?
BS Agnès Bellocq : Một trong những nguy cơ là phát triển một bệnh phế quản, phần lớn không đảo ngược được : bệnh tắc phế quản-phổi mãn tính (BPCO : broncho-pneumopathie chronique obstructive). Kết hợp với tình trạng viêm của các phế quản này là những thương tổn khí phế thủng (emphysème), gây nên một sự phá hủy vĩnh viễn các phế nang. Nguy hiểm khác cũng rất quan trọng của thuốc lá đối với phổi là ung thư, ở Pháp giết chết hơn 25.000 người mỗi năm.

Hỏi : Làm sao có thể thuyết phục những người hút thuốc ngưng hút và ghi tên vào chương trình phục hồi hô hấp của bà ?
BS Agnès Bellocq : Lần mạn đàm đầu tiên của tôi là không bắt chuyện người hút thuốc đồng thời quy tội người này, mà làm cho người nghiện thuốc nhận thức được những tổn hại của thuốc lá, trong đó có sự mất cơ, sự biến đổi của những chức năng hô hấp và tim. Người ta giải thích với anh/chị ta rằng anh /chị ta có thể thay thế điều mà anh/chị ta gọi là “ lạc thú ” của thuốc lá bằng một phương pháp thoải mái mang lại bởi những luyện tập vật lý và hô hấp thích ứng, khiến người hút thuốc cải thiện các năng lực của mình. Tác dụng, được gây nên bởi các endorphine được tiết ra trong những buổi tập luyện này, có thể thay thế một cách có lợi những tác dụng lên não bộ của nicotine. Những người ghi tên vào những chương trình phục hồi hô hấp này thường mô tả một cảm giác dương tính gần giống với cảm giác được cảm nhận bởi các vận động viên thể thao.

Hỏi : Protocole những hoạt động vật lý của chương trình phục hồi hô hấp của bà để giúp những người hút thuốc giải độc là gì ?
BS Agnès Bellocq : Trước hết phải xác nhận rằng mạng lưới ile-de-France (liên kết các thầy thuốc chuyên khoa phổi, các thầy thuốc gia đình, các thầy thuốc liệu pháp vận động, các thầy thuốc chuyên khoa tâm lý, các chuyên viên về nghiện thuốc lá,...) chỉ đảm trách những bệnh nhân bị một khiếm khuyết hô hấp, kể cả ở mức độ vừa phải. Protocole hoạt động được quy định bởi thầy thuốc gia đình của bệnh nhân và thich ứng theo từng trường hợp. Mỗi ứng viên, để bắt đầu, phải chịu những xét nghiệm khác nhau trong một phòng xét nghiệm thăm dò chức năng. Bilan cho phép phát hiện vấn đề tim-mạch nhỏ nhất và định mức luyện tập vật lý. Các bệnh nhân sau đó được huớng về các thầy thuốc liệu pháp vận động, được đào tạo bởi Récup’air, gần nơi mình trú ngụ nhất. Thời kỳ thực tập gồm hai hay 3 buổi mỗi tuần trong khoảng 3 tháng. Thời kỳ thực tập này thường gồm có những buổi luyện tập cơ, đạp xe đạp, bước trên thảm lăn (marche sur tapis roulant) và những thời kỳ phục hồi trong đó thầy thuốc vận động liệu pháp “ giáo dục ” bệnh nhân bằng cách dạy cho người này quản lý tình trạng thiếu hụt hô hấp và chống lại sự thèm hút.

Hỏi : Người ta đã đánh giá các lợi ích của những buổi thực tập này như thế nào ?
BS Agnès Bellocq : Các kết quả của 23 công trình nghiên cứu trên hơn 1.000 bệnh nhân mang bệnh tắc phế quản-phổi mãn tính (BPCO), phần lớn là những người đã hút thuốc, đã được quy tụ lại. Những tác dụng dương tính là không thể chối cãi được : một sự giảm nhiều của triệu chứng khó thở, một sự cải thiện rõ rệt các năng lực gắng sức và một sự cải thiện của chất lượng sống.
(PARIS MATCH 10-16/6/2010)

9/ BỆNH BASEDOW.

Tài liệu y học đã quên tiểu từ của thầy thuốc người Đức Karl Adolph von Basedow, sinh ở Dessau năm 1799, là nơi cha ông từng là một ủy viên hội đồng thành phố. Mặc dầu tốt nghiệm Đại học Halle, nhưng chính ở Merseburg là nơi ông hành nghề y khoa ngay lúc mới 23 tuổi. Ông cưới vợ khi còn trẻ và trở nên y sĩ trưởng của thành phố cho đến khi ông qua đời, vì bị nhiễm trùng huyết mà ông mắc phải khi phẫu tích tử thi một xác chết. Khi mất ông chỉ mới 55 tuổi.

Vào thời đó, mặc dầu rất nổi tiếng do những tài liệu xuất bản và những thành công ngoại khoa của ông, nhưng hiện nay chúng ta chỉ đề cập về bệnh bướu giáp lồi mắt cường tuyến giáp (goitre exophtalmique hyperthyroidien), mà ông mô tả vào năm 1840. Ông đề nghị tam chứng Merseburger của bệnh tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) : lồi mắt (exophtalmie), bướu giáp (goitre) và hồi hộp. Trong các nước anglo-saxon, thay vì bệnh Basedow, người ta ưa dùng chữ đồng nghĩa “ Maladie de Graves ” hơn. Graves là thầy thuốc Ái Nhĩ Lan, đã mô tả ngay từ năm 1835 sự hoạt năng quá mức của tuyến giáp trạng. Tuy nhiên Von Basedow thêm vào bệnh cảnh của người đồng nghiệp của mình sự mất cân và sự mô tả các thể tích khác nhau của tuyến giáp. Ông cũng đề nghị một điều trị dựa trên nước khoáng chứa bromure và iodure. Iode không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới : chất này đã được sử dụng từ năm 1820, đặc biệt ở Thụy Sĩ, để điều trị tuyến giáp trạng.

Tên Basedow được liên kết một cách chính thức với căn bệnh 4 năm sau khi ông mất. Tên ông cũng được dùng để chỉ chứng tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) khi nói về hiện tượng Jod-Basedow, cũng được biết như là “ tác dụng Jod-Basedow ”. Ông mô tả sự gây nên một nhiễm độc tuyến giáp (thyréotoxicose) nơi một người lành mạnh khi được tiếp xúc với những liều lượng mạnh iodure. Ở đây không phải là một sự liên kết của hai tên, bởi vì không có Dr Jod : Jod tiếng Đức có nghĩa là iode. Sau cùng, cần ghi chú rằng người ta vẫn còn nói “ hôn mê Basedow ” (coma de Basedow), một hôn mê do nhiễm độc tuyển giáp (coma thyréotoxiqe), và “ hội chứng nhãn cầu Basedow ” (syndrome oculaire de Basedow) liên quan đến sự co rút một bên của mí mắt trên trong vài trường hợp tăng năng tuyến giáp.
(GENERALISTE 17/6/2010)

10/ PARKINSON : HƯỚNG VỀ NHỮNG LIỆU PHÁP CHƯA TỪNG CÓ.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

NHỮNG CON SỐ. Ở Pháp, khoảng 150.000 người bị bệnh Parkinson, trong đó 140.000 người được điều trị như là bệnh kéo dài (affection de longue durée). Bệnh thường bắt đầu giữa 55 và 65 tuổi, nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

CÁC TRIỆU CHỨNG. Khởi đầu thường từ từ, bệnh Parkinson có thể bắt đầu bằng một triệu chứng run lúc nghỉ ngơi, khu trú ở một bàn tay. Triệu chứng khởi đầu cũng có thể là một vướng víu vận động của một chi, với đau, cứng, khó khăn đối với những cử động tinh tế tự ý. Những triệu chứng vật lý thường gặp nhất là táo bón (70%), khó khăn khi viết (65%) khi mặc quần áo (48%), bước dậm chân tại chỗ (48%)...Những rối loạn hành vi và loạn tâm thần hiện diện trong đa số các trường hợp. Hơn một bệnh nhân trên hai bị những biến chứng liên quan với điều trị, đặc biệt là những thay đổi đột ngột tính hiệu quả (tác dụng on-off).

MÔI TRƯỜNG. Trong lúc so sánh 224 bệnh nhân Parkinson với 557 người chứng, nhóm nghiên cứu của Alexis Elbaz (Inserm) đã cho thấy rằng nguy cơ bị bệnh Parkinson gia tăng gấp đôi nơi những nông gia tiếp xúc với các thuốc trừ sâu. Các công trình nghiên cứu khác cũng đi theo cùng chiều hướng.“ Sự liên kết đặc biệt liên hệ đến các thuốc trừ sâu, và chính xác hơn là các organophosphorés. Các thuốc này đã được hủy bỏ trong phần lớn các quốc gia những vẫn có thể tồn tại trong nhiều năm trong môi trường và cơ thể ”, nhà nghiên cứu đã xác nhận như thế. Bệnh Parkinson đã được công nhận như là bệnh nghề nghiệp nơi 3 nông gia ở Pháp. Ngược lại, vì những lý do gì không được biết rõ, thuốc lá lại liên kết với một sự giảm 40% nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Tác dụng của những yếu tố môi trường này có thể được điều biến bởi thể trạng di truyền.


Công cuộc nghiên cứu bùng nổ : những thuốc mới, liệu pháp gène và tế bào (thérapie génique et cellulaire).

NEUROLOGIE. Những người bệnh Parkinson buộc phải làm những cử động tự ý suốt đời, Charcot, thầy thuốc thần kinh nổi tiếng của Pháp, người đã mệnh danh là bệnh Parkinson vào năm 1872, đã nói như vậy. Gần một nửa thế kỷ sau, những triệu chứng của những người bị bệnh Parkinson có thể được làm thuyên giảm ; nhưng bệnh Parkinson, chủ yếu do một sự thoái hóa của các neurone à dopamine, vẫn không được chữa lành. Để chống lại những thương tổn neurone, thậm chí ngăn ngừa chúng, nhiều đường hứa hẹn đã được thăm dò : thuốc men, các liệu pháp gène và tế bào (thérapies génique et cellulaire), sự kích thích điện những vùng của não bộ.

Song hành, các nhà nghiên cứu cố gắng làm sáng tỏ những cơ chế sâu kín giải thích sự chết của những tế bào thần kinh và nhận diện những thể khác nhau của bệnh. Các thuốc hiện có, được gọi là dopaminergique, cải thiện sinh hoạt hàng ngày của các bệnh nhân, nhưng những tác dụng phụ của chúng có thể rất gây trở ngại. L-dopa đặc biệt gây nên những tác dụng on-off (tính hiệu quả bị dao động đột ngột) và những cử động bất thường. Còn về những chất chủ vận dopaminergique mới đây hơn, chúng đã tỏ ra, trong những trường hợp đôi khi nguy kịch, có khả năng gây nên những hành vi nghiện ngập : các trò chơi, mua sắm, tình dục...

Ngoài ra, những thứ thuốc này không tác dụng lên nguyên nhân cũng như lên sự tiến triển của các thương tổn. Tuy nhiên, cách nay vài tháng một công trình nghiên cứu Pháp-Mỹ đã gợi ý rằng rasagiline, một loại thuốc mới, có thể làm chậm lại sự tiến triển của bệnh Parkinson. “ Đó là một thuốc mới quan trọng, khiến tôi kê đơn sớm hơn, GS Pierre Césaro (Bệnh Viện Henri Mondor, Créteil) đã bình luận như vậy. Ngoài ra thật hứng thú khi đánh giá những tác dụng của thuốc này nơi những bệnh nhân có nguy cơ nhưng chưa phát bệnh Parkinson. ”

Thật vậy, theo thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, các rối loạn vận động có thể được đi trước, nhiều năm trước đó, bởi những triệu chứng như mất khứu giác, một sự bón nặng hay những bất thường của giấc ngủ nghịch lý. Những thuốc phòng ngừa cũng được hoan nghênh trong các thể gia đình, di truyền của bệnh Parkinson.

KÍCH THÍCH TUỲ SỐNG.

Một thách thức khác đối với các nhà nghiên cứu là tác động lên các rối loạn của tư thế (troubles de la posture), của bước đi, của sự diễn đạt, những thương tổn của các cơ vòng (sphincter)…, những triệu chứng rất gây phế tật, nói chung, xuất hiện sau từ 10 đến 20 năm tiến triển của bệnh. Những dấu hiệu được gọi là trục (signes axiaux) này, hiện diện nơi 90% các bệnh nhân, không phải do một sự thiếu hụt dopamine, GS Yves Agid, người phụ trách khoa học của Viện não bộ và tủy sống đã nhấn mạnh như vậy. Vậy chúng không đáp ứng với các loại thuốc cũng như sự kích thích vùng sâu não bộ.” Được thực hiện từ năm 1933, trong những chỉ định rất được chọn lọc, kỹ thuật ngoại khoa nặng nề này nhằm kích thích một vùng nhỏ nằm sâu trong não bộ (các nhân dưới đồi thị), để chống lại triệu chứng run, cứng và các rối loạn vận động. Ở Pháp từ 3.000 đến 3.500 các bệnh nhân Parkinson đã được hưởng kỹ thuật này.

Các chuyên gia tìm cách xác định những đích khác. Vài nhóm nghiên cứu, đặc biệt là ở Pháp, nghiên cứu những tác dụng của sự kích thích một nhân nằm sâu (được gọi là pediculopontin), có liên hệ trong tư thế và bước đi. Nhưng những kết quả, thu được trên một số còn hạn chế các bệnh nhân, vào giờ phút này là mâu thuẫn, theo GS Jean-Philippe Azulay (CHU de Marseille). Mặt khác một công trình nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá sự kích thích của tủy sống. Rất hứa hẹn trên các mô hình động vật của bệnh Parkinson, phương pháp này có ưu điểm dễ dàng hơn về mặt kỹ thuật và nhẹ nhàng hơn kỹ thuật kích thích vùng sâu não bộ (stimulation cérébrale profonde).

Về những liệu pháp gène và tế bào (thérapie génique et cellulaire), chúng đang trong những giai đoạn nghiên cứu ít tiến triển hơn. Một liệu pháp gène với ba gène, “ là toàn chuỗi chế tạo của dopamine ”, theo GS Cesaro, được trắc nghiệm nơi vài bệnh nhân ở Créteil. Ngược lại, nhà chuyên gia này tỏ ra hoài nghi về tương lai của các liệu pháp tế bào, nhất là những công trình mới đây cho thấy rằng những neurone được ghép trở thành Parkinson sau nhiều năm. Như thế là bệnh được lan truyền dần dần, như một nhiễm trùng. Một chướng ngại khó có thể vượt qua được, theo Pierre-Marie Lledo, thuộc viện Pasteur. Đối với nhà nghiên cứu này, đã từng thành công tái chương trình hóa các tế bào hốc neurone trưởng thành thành các neurone à dopamine, chìa khóa của sự thành công là ở chỗ đúng thời điểm : “ Bằng cách can thiệp vào thời điểm thích hợp, ta có thể quyết định định mệnh của các tế bào và làm chủ thời gian sống của chúng.”
(LE FIGARO 12/4/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Parkinson - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/6/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#57 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 06 July 2010 - 02:28 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : NHỮNG TIẾN BỘ THẬT SỰ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHỮA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

SỰ LÃO HÓA. Ung thư của tuyến tiền liệt từ vài năm nay đã trở thành ung thư đứng đầu của người đàn ông trên 50 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai do căn bệnh này, nơi người đàn ông, ở Hoa Kỳ và châu Âu. Số các trường hợp mới đã gia tăng trong những năm qua, ít nhất do hai yếu tố : sự lão hóa của dân số và sự phát triển của những phương tiện chẩn đoán. Vào năm 2000, gần 40.000 trường hợp đã được khám phá ở Pháp, hơn 60% là các dạng khu trú và 10.000 người bị chết vì ung thư này.

SỰ PHÁT HIỆN. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong đặc hiệu giảm từ 10 năm qua, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và ở Pháp, có lẽ do một sự cải thiện của công tác phát hiện bệnh và của sự điều trị. Xét vì tần số xuất hiện bệnh, vậy ta có phải đề nghị cho tất cả những người đàn ông trên 50 tuổi, một sự thăm khám nhằm phát hiện bệnh một cách hệ thống hay không ? Câu hỏi này đã làm chảy nhiều mực từ hơn 10 năm qua. Thế mà các câu trả lời lại mâu thuẫn nhau, các thầy thuốc chuyên khoa niệu ít chống đối công tác điều tra phát hiện này hơn so với các thầy thuốc y tế cộng đồng.

CÁC TRIỆU CHỨNG. Chẩn đoán nói chung được thực hiện sau khi định lượng PSA và thăm khám trực tràng phát hiện một vùng cứng nơi tuyến tiền liệt. Các sinh thiết xác nhận bằng cách phát hiện sự hiện diện của những tế bào ung thư trong lòng mô tiền liệt tuyến.

CÁC ĐIỀU TRỊ. Có nhiều loại điều trị tùy theo tuổi của bệnh nhân và giai đoạn của bệnh vào lúc chẩn đoán. Trước 70 tuổi, điều trị ngoại khoa bằng cắt bỏ tuyến tiền liệt (prostatectomie) nói chung được đề nghị do tính chất triệt căn của nó. Những phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) cũng là một lựa chọn. Những liệu pháp khác có thể được liên kết, nhất là hormone liệu pháp và hóa học liệu pháp. Sau cùng, đối với những người đàn ông cao tuổi, vài thầy thuốc không còn do dự nữa, khi đứng trước một thương tốn có một tiềm năng tiến triển thấp, đề nghị trong vài trường hợp một sự theo dõi đơn thuần.


40% đàn ông trên 50 tuổi có những thương tổn vi thể, trong đó đại đa số ít tiến triển.

UROLOGIE. Là nguyên nhân tử vong thứ hai do ung thư nơi người đàn ông nhưng là nguyên nhân đầu tiên tính theo tần số, từ vài năm nay, ung thư tuyến tiền liệt tiến triển theo hai chiều hướng : tỷ lệ tử vong của nó giảm (hơi dưới 10.000 tử vong mỗi năm) nhưng số các trường hợp mới gia tăng rất nhanh : 71.000 được dự kiến năm 2009, so với 62.000 vào năm 2005. “ Sự gia tăng này chủ yếu là do công tác phát hiện bệnh ”, GS Olivier Cussenot, thầy thuốc chuyên khoa niệu thuộc bệnh viện Tenon (Paris) đã xác nhận như vậy. “ Ung thư tuyến tiền liệt chịu trách nhiệm 1% các trường hợp tử vong, nhưng 40% các người đàn ông trên 50 tuổi có những ổ ung thư vi thể (foyers microscopiques). Đại đa số những thương tổn này được liên kết với sự lão hóa và tiến triển rất ít.”

Các triệu chứng của ung thư tiến triển rất chậm này có thể xảy ra muộn, thậm chí sau khi sự tạo thành của các di căn, nhất là ở xương. Do đó sau 50 tuổi, thầy thuốc thường đề nghị một phát hiện đều đặn nhờ định lượng trong máu PSA (“ prostate specific antigen ”), một protéine được tiết ra bởi tuyến tiền liệt. “ PSA tùy thuộc vào nồng độ của các hormone nam hay androgène (trong đó có testostérone). Nồng độ trong máu của nó gia tăng trong trường hợp ung thư, nhưng cũng gia tăng trong nhiễm trùng, viêm. Sau 50 tuổi, 40% các người đàn ông có một phì đại hiền tính của tuyến tiền liệt (hypertrophie bénigne de là prostate), làm gia tăng PSA, và 30% có một thiếu hụt andogène, làm giảm nó. Đó là một chất chỉ dấu (marqueur) của tuyến tiền liệt, có thể phát hiện một ung thư nhưng không đặc hiệu, GS Cussenot đã nhấn mạnh như vậy. PSA cũng thay đổi từ người đàn ông này qua người đàn ông khác và tùy theo tuổi tác (cũng là yếu tố nguy cơ đứng đầu của ung thư tuyến tiền liệt), thay đổi với nguồn gốc chủng tộc, sự hiện diện của những ung thư khác trong gia đình, vài variant di truyền và những yếu tố môi trường.

Trước một PSA tăng cao và một tuyến tiền liệt nghi ngờ khi thăm khám trực tràng, thầy thuốc sẽ đề nghị một sinh thiết. Được thực hiện ở những điểm khác nhau của tuyến, thủ thuật sinh thiết không thôi có thể phát hiện một ung thư và cho phép đo lường mức độ hung dữ, được diễn tả bằng số điểm Gleason. Trong 1/3 các khối u, số điểm này tăng cao, dấu hiệu của một ung thư hung dữ cần phải điều trị. Trong số những ung thư khác, 70% it hoặc không tiến triển và 30% có một số điểm Gleason trung bình. “ Tất cả sự khó khăn, đó là không sao lãng những ung thư sau cùng này, đồng thời cũng không điều trị chúng quá mức. Một nửa những ung thư được phát hiện bởi sinh thiết cần phải điều trị. Đối với những ung thư khác, một sự theo dõi tích cực có thể đủ, thầy thuốc chuyên khoa niệu đã đánh giá như vậy.

Những phương cách điều trị thay đổi tùy theo sự lan rộng của khối u, nguy cơ tái phát, tuổi của người bệnh, nồng độ PSA của nó, các rối loạn đường tiểu và sự lựa chọn. Và cũng tùy theo thầy thuốc, do đó lợi ích của một ý kiến y khoa thứ hai. Những ung thư được khu trú ở tuyến tiền liệt có thể là đối tượng của một sự theo dõi tích cực. Hoặc được điều trị bằng curiethérapie, phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) và nhất là phẫu thuật, với những kết quả gần như giống nhau. “ Một tuyến tiền liệt có kích thước to lớn với những rối loạn đường tiểu cần đến phẫu thuật hơn, trong khi một phóng xạ trị liệu hay curiethérapie có thể phù hợp với những khối u ung thư tiền liệt tuyến khác.”, GS Cusenot đã đánh giá như vậy. Đối với GS Laurent Salomon, thầy thuốc chuyên khoa niệu của CHU Henri-Mondor (Créteil), “ trước 65 tuổi người ta có khuynh hướng đề nghị cắt bỏ ngoại khoa tuyền tiền liệt, cho phép xét nghiệm phân tích khối u và thực hiện phóng xạ liệu pháp trong trường hợp tái phát, trong khi điều ngược lại là khó khăn. Nhưng ta không thể tiên đoán những hậu quả của nó trên continence urinaire và chức năng, thay đổi tùy theo phẫu thuật viên, bệnh nhân, và kỹ thuật được sử dụng.” Theo các công trình nghiên cứu, 10% các bệnh nhân được mổ vẫn còn bị són đái sau một năm, và 25 đến 80% bị bất lực do thương tổn các dây thần kinh cương. Phóng xạ liệu pháp có những hậu quả tương tự lên chức năng cương, có thể hơi ít thường xảy ra hơn những xảy ra muộn hơn.
(LE FIGARO 14/6/2010)

2/ VACCIN ĐIỀU TRỊ CHỐNG LẠI MỘT DẠNG UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT ĐÃ SẴN SÀNG.

Vaccin điều trị đầu tiên chống ung thư vừa nhận được đèn xanh ở Hoa Kỳ. Đó là Provenge, được chỉ định nơi những người đàn ông bị một ung thư tuyến tiền liệt di căn và bị thất bại trong điều trị. Vaccin này nhằm tiêm vào bệnh nhân những tế bào miễn dịch của chính người bệnh, được hoạt hóa trước chống lại khối u, nhằm kích thích hệ miễn dịch của nó. Để được như vậy, các thầy thuốc trích lấy các tế bào miễn dịch của bệnh nhân, cho chúng tiếp xúc với các protéine đặc hiệu của ung thư tuyến tiền liệt in vitro, rồi 3 ngày sau, tiêm chúng trở lại vào bệnh nhân. Một thử nghiệm lâm sàng, được tiến hành nơi 512 bệnh nhân bị một ung thư của tuyến tiền liệt tiến triển (cancer de la prostate avanné) với các di căn ở các mô mềm và/hoặc ở các xương và thất bại trong điều trị, đã cho thấy rằng Provenge kéo dài sự sống sót khoảng 4,1 tháng. Thời gian sống trung bình của các bệnh nhân như thế chuyển từ 21,7 tháng lên 25,8 tháng. Vậy đó là một tiến bộ khiêm tốn, nhất là tổn phí của vaccin khoảng 50.000 euros, nhưng tiến bộ này thể hiện kết quả của phương pháp điều trị chống ung thư.
(SCIENCE ET VIE 7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Ung Thư Tiền Liệt Tuyến (Prostate Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

3/ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG UNG THƯ TIẾN TỪNG BƯỚC NHỎ.

Tuy nhiên các tiến bộ chống lại các ung thư da, vú, phổi và buồng trứng đã được loan báo ở Chicago.

ONCOLOGIE. Hôm qua ở Chicago đã bế mạc hội nghị thế giới về ung thư của Hiệp hội Ung thư học lâm sàng (Asco : American Society of Clinical Oncology), được tổ chức hàng năm ở Hoa Kỳ. Những sơ đồ điều trị, những chiến lược đổi mới, các loại thuốc …cuộc hội họp này là cơ hội để điểm lại các phương hướng lớn của cuộc đấu tranh chống lại ung thư. Các cách mạng điều trị trong những buổi gặp gỡ này là ngoại lệ, nhưng những các tiến bộ diễn biến thường xuyên. “ Ngày nay, các kỹ thuật học về sinh học phân tử đã cho phép chúng ta hiểu rằng ung thư, thí dụ ung thư vú, không phải là một căn bệnh độc nhất (une maladie unique), mà là một tập hợp của các bệnh khác nhau, mà mãi cho đến nay chúng ta điều trị tất cả chúng theo cùng một phương cách, GS Thomas Turz, tổng giám đốc của Institut Gustave-Roussy đã giải thích như vậy. Các điều trị được gọi là cá thể hóa (traitements personalisés), được thích ứng với các đặc điểm di truyền và sinh phân tử của các ung thư, đang trải qua một sự phát triển bùng nổ, đặc biệt là trong lãnh vực nghiên cứu. ”

Một công tác nhận diện sinh phân tử và xếp loại quan trọng đang được tiến hành và sẽ biến đổi toàn bộ các ung thư thành các nhóm hưởng những điều trị đặc hiệu. Đối với các ung thư mà ta không có thể chữa lành, hóa học liệu pháp nhằm biến ung thư thành một bệnh mãn tính, để ta có thể sống dài lâu. Hôm nay, ta ước tính số những trường hợp ung thư mới trên thế giới mỗi năm là 12,7 triệu và số các trường hợp tử vong là 7,6 triệu. Trong suốt cuộc đời mình, một người đàn ông trên hai và một phụ nữ trên ba sẽ bị một khối u ung thư.

NHỮNG TIẾN BỘ CHỐNG LẠI U HẮC TỐ.

Lần đầu tiên, một thử nghiệm lâm sàng, được trình bày ở Chicago, đã báo cáo một lợi ích thật sự về mặt tỷ lệ sống còn (survie), với một thứ thuốc mới, nơi những bệnh nhân bị một u hắc tố ác tính với các di căn. Cho mãi đến nay, không có một thử nghiệm nào đã thành công cải thiện hy vọng sống trong thể tiến triển của ung thư da này. Tuy vậy, hai năm sau khởi đầu điều trị, một tỷ lệ cao hơn các bệnh nhân được điều trị với kháng thể Ipilimumab, vẫn còn sống so với một nhóm chứng. Ipilimumab là một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) được tiêm tĩnh mạch, không nhắm đích các tế bào ung thư, nhưng kích thích các tế bào lympho T, đóng một vai trò chủ chốt trong đáp ứng miễn dịch tế bào. Thử nghiệm lâm sàng sau cùng này, được gọi là giai đoạn 3, đã được tiến hành với 676 bệnh nhân trong 13 nước ở Bắc và Nam Mỹ, ở châu Phi và châu Âu, từ tháng chín 2004 đến tháng tám 2008. Mặc dầu đó không phải là một cuộc cách mạng về mặt chữa lành bệnh, nhưng đó đúng là một đường hướng mới, mở ra những triển vọng thuận lợi chống lại căn bệnh đáng sợ này.

UNG THƯ BUỒNG TRỨNG : TỶ LỆ SỐNG CÒN ĐƯỢC KÉO DÀI.

Avastin, một liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) ngăn cản khối u ung thư phát triển nhờ các huyết quản nuôi dưỡng, đã được sử dụng trong ung thư vú, phổi, thận, phối hợp với hóa học liệu pháp, kéo dài sự sống sót của các phụ nữ bị những thể nặng của ung thư buồng trứng, nếu ta tin vào một công trình nghiên cứu cũng được trình bày ở Asco. “ Đó là thử nghiệm lâm sàng đầu tiên giai đoạn 3, cho thấy rằng phong bế sự tao thành các huyết quản của các khối u cải thiện một cách đáng kể tỷ lệ sống sót không tiến triển của các phụ nữ bị một ung thư buồng trứng hay phúc mạc rất khó điều trị, BS Robert Burger của Fox Chase Cancer Center ở Philadelphie (Hoa Kỳ) đã giải thích như vậy. BS Burger đã tiến hành công trình nghiên cứu này trên 1873 phụ nữ mới được chẩn đoán bị ung thư tiến triển của buồng trứng và đã được giải phẫu. Những bệnh nhân được điều trị bằng Avastin và hóa học liệu pháp đã hưởng được một hy vọng sống cao hơn so với những bệnh nhân chỉ nhận hóa học liệu pháp không thôi.

UNG THƯ PHỔI : NHỮNG KẾT QUÁ ĐẦY HỨA HẸN.

Những kết quả đầy hứa hẹn đã đạt được, chống lại một thể ung thư phổi tiến triển nơi những bệnh nhân có một profil génétique đặc biệt, với một thứ thuốc mới, crizotinib, được bào chế bởi hãng Pfitzer. “ Khoảng 90% các bệnh nhân được điều trị với crizotinib đã đáp ứng dương tính với điều trị và hơn một nửa (57%) đã thấy khối u của họ thoái lui sau 6 tuần,GS Yung Jue-bang, thuộc phân khoa Y của đại học quốc gia Hán Thành đã xác nhận như vậy. Theo ông ta, những kết quả này “ thể hiện một sự cải thiện quan trọng so với điều mà chúng ta quan sát thấy với hóa học liệu pháp chuẩn nơi những bệnh nhân bị ung thư phổi có di căn.” Một điều trị như thế, còn trong giai đoạn thực nghiệm, mà thời gian nhìn lại hiện nay vẫn còn chưa đủ, chỉ được thích ứng với khoảng 5% các bệnh nhân bị ung thư phổi và mang sự biến đổi di truyền này.

Kết luận, những điều trị mới chống ung thư mang lại và sẽ mang lại những sự cải thiện về mặt sống còn, nhưng vài cải thiện bị giới hạn, được đếm bằng tháng chứ không phải bằng năm. Điều này chắc hẳn sẽ gây tranh luận, bởi vì những thuốc mới được gọi là nhắm đích này càng ngày càng tốn kém
(LE FIGARO 9/6/2010)

4/ UNG THƯ PHỔI : CÁC RAU LÁ XANH CÓ TÁC DỤNG PHÒNG NGỪA.

Một công trình nghiên cứu của NIH (National Institute of Health) đã quan tâm đến “ méthylation ”, cơ chế hóa học có can dự trong sự ung thư hóa của một gène. Khói thuốc lá làm gia tăng tỷ lệ méthylation của vài gène liên kết với sự xuất hiện của một ung thư phổi. Trong công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng một sự cung cấp gia tăng và đều đặn các rau lá xanh (légumes à feuilles vertes) làm giảm số các gène bất thuờng trong các tế bào khí quản.
(PARIS MATCH 3/6-9/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Ung Thư Phổi (lung Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

5/ U HẮC TỐ (MELANOME) : NHỮNG VACCIN ĐIỀU TRỊ ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.

Những vaccin điều trị chống u sắc tố (mélanome), một loại ung thư da hay niêm mạc, đang được thử nghiệm. Đại học Nottingham (Vương Quốc Anh), đã nhận được đèn xanh cho phép của Comité d’éthique et của Agence de régulation des produits de santé Anh, để đi vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I (trắc nghiệm độ dung nạp) với một ứng viên vaccin mới chống lại ung thư da, được mệnh danh là SCIB1. Cùng lúc, đại học Rush (Chicago, Hoa Kỳ) đi vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III (trắc nghiệm tính hiệu quả trên quy mô lớn) với một vaccin khác, Oncovex. Hai tin vui, bởi vì, nếu được phát hiện ở một giai đoạn sớm, u hắc tố có thể được chữa lành bởi ngoại khoa, tuy vậy các điều trị vẫn ít có hiệu quả và tiên lượng xấu khi khối u ở một giai đoạn tiến triển.

Những vaccin này được tiêm vào trong các khối u, nơi những bệnh nhân bị một dạng nghiêm trọng của u hắc tố di căn (mélanome métastasié). Chúng kích thích mạnh các phòng ngự miễn dịch, làm giết chết các tế bào ung thư. Các kết quả của thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II (tính hiệu quả ở quy mô nhỏ), được tiến hành ở đại học Rush, là đáng phấn khởi. Trên 50 bệnh nhân, 8 hoàn toàn được chữa lành và 4 được chữa lành một phần sau khi đã nhận 24 mũi tiêm, theo nhịp độ cứ hai tuần một mũi tiêm. Sau một năm, tỷ lệ sống sót toàn bộ là 58% và 52% sau 2 năm. “ Điều làm chúng tôi thật sự ngạc nhiên và phấn khởi, Howard Kaufman, người phụ trách công trình nghiên cứu đã tuyên bố như vậy, là vaccin đã không những tác động vào nơi tiêm, mà còn tác động ở các thương tổn nằm cách xa mà ta không thể đạt đến được. ” Chúng ta cần nhắc lại rằng vũ khí tốt nhất chống lại u hắc tố vẫn là sự phòng ngừa, có nghĩa là sự bảo vệ chống lại ánh nắng mặt trời, tự nhiên hay nhân tạo. Đại học Minnesota vừa cho thấy rằng những người sử dụng thường xuyên các buồng làm rám da (cabinet de bronzage) có nguy cơ phát triển một u hắc tố 2,5 đến 3 lần nhiều hơn những người khác.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2010).

6/ MỘT HƯỚNG MỚI ĐỂ LÀM GIẢM VÔ SINH.

Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và Nhật Bản đã tìm ra một phương tiện để hoạt hóa các tế bào sinh sản “ dự trữ ” (réserves de cellules reproductrices). Mỗi phụ nữ đều có những tế bào sinh sản trong tình trạng yên ngủ mà không bao giờ dùng hết trong suốt cuộc đời mình, vì lẽ những tích trữ cao hơn nhu cầu sử dụng. Thật vậy, vào lúc sinh ra đời, mỗi phụ nữ mang khoảng 400.000 nang trứng (follicule) (những nhóm tế bào có khả năng sinh ra một noãn (ovule), nhưng trong số các nang trứng này, ngay vào lúc dậy thì, chỉ dưới một ngàn nang là được hoạt hóa mỗi tháng nhờ một cơ chế chưa được biết đến. Thế mà, các nhà khoa học của các đại học Stanford (Hoa Kỳ) và Akita (Nhật Bản) đã quan sát rằng, đa số các nang trứng đã bắt đầu quá trình thành thục nơi các con chuột có một enzyme buồng trứng bị thiếu hụt.

Nơi các con chuột bình thường, việc thêm vào một chất nhằm ức chế enzyme này, một phosphatase, đã có cùng tác dụng : nó gây nên sự thành thục của các nang trứng và những nang này sau đó đã sản xuất các noãn chức năng (ovules fonctionnels) một khi được ghép vào trong những động vật khác. Hơn thế, nếu được cho thụ thai in vitro bởi các tinh trùng và được đưa vào trở lại trong các con chuột cái, các noãn này đã có thể cho ra những con chuột con bình thường. Cùng điều trị cũng đã cho phép phát khởi sự thành thục của các nang trứng người được ghép lên động vật.

“ Công trình nghiên cứu này rất là đáng quan tâm để thăm dò một đường hướng khả dĩ gây nên sự thành thục của các nang trứng, Philippe Merviel, thuộc Trung tâm phụ sản của CHU Amiens (Pháp), đã đánh giá như vậy. Nhưng vẫn còn quá thực nghiệm để có thể dự kiến áp dụng nó trên người. Và nhất là việc trích lấy buồng trứng để có thể autogreffe về sau vẫn bị cấm chỉ ở Pháp, nếu không có bệnh lý hay điều trị gây phế tật. ”
(SCIENCES ET AVENIR 7/2010)

7/ TRONG BỆNH ALZHEIMER, ÂM NHẠC GIÚP BỆNH NHÂN TÌM LẠI CÁC TỪ.

Các giai điệu giản đơn cải thiện trí nhớ của các bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, các nhà nghiên cứu của đại học Boston đã xác nhận như vậy. Họ đã đối chiếu một nhóm bệnh nhân bị những rối loạn về trí nhớ do bệnh này và những người trưởng thành lành mạnh, với những bài hát trẻ em được hát rồi được nói. Sau đó các nhóm được hỏi về nội dung của các lời. Những người trưởng thành lành mạnh nhớ tốt hơn các thông tin được nói (informations parlées), trong khi những người bệnh Alzheimer báo cáo tốt hơn những lời đã được hát. “ Khi ta nghe nhạc, các phản ứng neurone là phức tạp và chiếm những vùng rộng lớn của não bộ, trong đó có các vùng ít bị ảnh hưởng nhất bởi căn bệnh, Brandon Ally, giám đốc nghiên cứu đã giải thích như vậy. Các người bị bệnh lợi dụng sự phân bố này, hưởng sự liên kết mạnh được tạo ra giữa các thông tin được cảm nhận và âm nhạc.” Đây là điều có thể gợi ý cho những liệu pháp sử dụng quá trình ghi nhớ này xuyên qua âm nhạc
(SCIENCE ET VIE 7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

8/ THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM LÀM GIA TĂNG CÁC NGUY CƠ DỊ TẬT.

SANDRINE CABUT

Theo một công trình nghiên cứu của Pháp, hỗ trợ y khoa sinh đẻ (AMA : assistance médicale à la procréation) làm gia tăng các nguy cơ bất thường tim và đường tiểu.

PEDIATRIE. Các bất thường tim, niệu-sinh dục hay các u mạch ở da (angiome cutané), các trẻ được sinh sau một AMA có một nguy cơ hơi gia tăng bị các dị tật bẩm sinh, theo một công trình nghiên cứu rộng rãi của Pháp, được trình bày hôm qua ở Hội nghị châu Âu về di truyền người, diễn ra ở Goteborg (Thụy Điển). Hơn 30 năm sau khi sinh đứa bé-ống nghiệm (bébé-éprouvette) đầu tiên (Louis Brown, năm 1978), các kỹ thuật của AMP đã bùng nổ trên thế giới. Sự thụ thai trong ống nghiệm (FIV : fécondation in vitro hay “ fivette ”), sự tiêm tinh trùng trực tiếp vào noãn (ICSI : injection de spermatozoide directement dans l’ovule) hay sự thụ tinh nhân tạo (insémination artificielle), những kỹ thuật khác nhau này là nguồn gốc của 2,% các sinh đẻ ở Pháp. Tổng cộng, hơn 200.000 trẻ em đã được thụ thai như thế trên đất nước của chúng ta.

Nhưng câu hỏi về những hậu quả của những thụ thai hỗ trợ (fécondation assistée) này trên sự phát triển của các trẻ em không được giải quyết. Nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng, chúng có thể là nguồn gốc của một sự gia tăng quá mức của các bất thường nhiễm sắc thể, của các khối u hay của những dị dạng, mà không có kết luận thật sự. Để xác định những nguy cơ và theo dõi tốt hơn những đứa trẻ bị liên hệ, vài nước như Thụy Điển đã thiết đặt các sổ đăng ký. Pháp đang thực hiện điều đó, nhưng hệ thống chưa được hữu hiệu.

5 LẦN NHIỀU U MẠCH HƠN.

Nhờ sự giúp đỡ của hội Follow up, nhóm nghiên cứu của BS Géraldine Viot, chuyên gia di truyền học thuộc khoa sản Port-Royal, Paris, đã sàng lọc 15.000 trường hợp sinh đẻ, được đăng ký giữa năm 2003 và 2007, trong 33 cơ sở bệnh viện thực hiện AMA. “ Chúng tôi đã quan sát thấy một tỷ lệ mắc phải các dị dạng quan trọng là 1,24 %, trong khi đó tỷ lệ được dự kiến là 2 đến 3% ”, BS Viot đã chỉ rõ như vậy. Theo bà, những kết quả này phải được xem như là làm yên lòng. “ Trong những công trình nghiên cứu trước đây, tỷ lệ dị dạng lên đến 11%, nhưng phần lớn được thực hiện trên một số ít quan trọng các trường hợp. Sức thuyết phục của công trình nghiên cứu của chúng tôi, đó là số những người tham dự, quan trọng nhất trên thế giới cho đến nay.”.

Trong cuộc điều tra này, các dị dạng được gọi là quan trọng (malformation majeure) (nghĩa là gây nên một phế tật nặng hay cần một động tác ngoại khoa) có liên quan chủ yếu đến tim và hệ niệu-sinh dục. “ Các bất thường tim, thường nhất là thông liên thất (communication interventriculaire), thường xảy ra hơn nơi con gái. Các bất thường niệu-sinh dục, liên quan các con trai nhiều hơn ” BS Viot xác nhận như vậy. Về những thương tổn nhỏ như các u mạch ở da (angiome cutané) (sự tăng sinh hiền tính của các mạch máu), chúng 5 lần thường xảy ra hơn nơi những trẻ sau khi sinh bằng AMP so với sinh đẻ tự nhiên. Ngược lại, không có những bất thường nhiễm sắc thể quá mức trong nhóm các trẻ sinh bình thường.

Công trình nghiên cứu chưa hẳn đã chấm dứt. “ Từ nay, 45 bệnh viện sẽ tham dự vào công trình nghiên cứu, có nghĩa là gần một nửa các trung tâm ở Pháp, và chúng tôi có 4.000 hồ sơ mới để phân tích, BS Viot đã nói như vậy, đồng thời nhấn mạnh tỷ lệ “ to lớn ” được chấp nhận trong số các gia đình. Trong lúc tiếp tục phân tích những hồ sơ mới này, các nhà nghiên cứu Pháp hy vọng có thể phát hiện những yếu tố làm dễ các dị dạng : chứng bệnh vô sinh (infertilité) của người mẹ, các điều trị hormone, kỹ thuật ICSI, môi trường cấy, sự đông lạnh của các giao tử (congélation des gamètes).

“ Những kết quả này không gây ngạc nhiên ”, BS Marie Boyer, nhà phôi học thuộc bệnh viện Saint-Joseph (Marseille) đã bình luận như vậy. Bà đã nghiên cứu tất cả các hồ sơ của những trẻ em được thụ thai bằng AMP trong bệnh viện này từ 1995. Như thế bà theo dõi các tham số sức khỏe của một nhóm 2.500 chú bé, với những dữ kiện cũng khá làm an lòng, nhất là về sự tăng trưởng của chúng. Tuy vậy Cơ quan sinh y học (Agence de biomédecine) vẫn phê phán về những kết luận của công trình nghiên cứu của B Viot, do sự thiên lệch về phương pháp học.
(LE FIGARO 15/6/2010)

9/ TUỔI DẬY THÌ VÀ CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM.

Ở Hoa Kỳ, nhiều công trình nghiên cứu báo cáo một khuynh hướng dậy thì sớm (puberté précoce) nơi các thiếu nữ. Nhóm nghiên cứu của Mary Wolff (Nữu Ước) đã phân tích, nơi 1.151 cô gái từ 7 đến 9 tuổi, sự liên kết giữa tuổi dậy thì và 3 loại chất hoá học : các phénol, tác dụng như các œstrogène, kích thích tố nữ làm dễ sự phát triển dậy thì, cũng như các phytoestrogène và phtalates, nơi động vật, có những tác dụng tương tự với estrogène hay những tác dụng ngược lại, tùy theo nồng độ của chúng và tuổi lúc tiếp xúc. Các kết quả đã cho thấy, nơi các thiếu nữ có một dậy thì tiến triển, những nồng độ tăng cao trong nước tiểu của vài phtalate hiện diện trong các mỹ phẩm : nước hoa, sơn (laque), thuốc đánh móng tay (vernis à ongles), thuốc gội đầu (shampooing)… Ngược lại, hai phytoestrogène phát xuất từ thức ăn được liên kết với một sự chậm phát triển các vú. Vì lẽ các nồng độ của các chất này đều tăng cao trong hầu hết các mẫu nghiệm nước tiểu được phân tích, nên M.Wolff đánh giá rằng một bộ phận quan trọng trong dân chúng bị một nguy cơ về sức khỏe mà ta khó đo lường được.
(POUR LA SCIENCE 6/2010)

10/ CHÚNG TA CÓ BIẾT NGUYÊN NHẬN BỆNH ALZHEIMER KHÔNG ?

Frédéric Checler
Directeur de Recherche


Bệnh Alzheimer đã được mô tả cách nay hơn 100 năm và, trong nhiều năm dài, những tiến bộ đáng kể độc nhất về kiến thức của bệnh là sự mô tả cơ thể học những thương tổn não bộ của những người bị hội chứng thoái hóa thần kinh (syndrome neurodégénératif) này. Như thế các mảng lão sinh (plaque sénile) và những thoái hóa sợi nhỏ thần kinh (dégénérescence neurofibrillaire) đã được mô tả. Các mảng lão sinh (plaque sénile) thường xuất hiện trước khi các suy sút nhận thức (déficit cognitif) được thể hiện, trong khi các thoái hóa sợi nhỏ thần kinh (dégénérescence neurofibrillaire) xuất hiện muộn hơn và được liên kết với nhiều bệnh lý thoái hóa, không đặc hiệu đối với bệnh Alzheimer. Chỉ mới cách nay hơn 20 năm, sinh học tế bào đã cho phép nhận diện những thành phần quan trọng của các mảng lão sinh (plaque sénile), peptide amyloide, và của các thoái hóa sợi nhỏ thần kinh, protéine Tau.

Cuộc cách mạng của sinh học và di truyền học đã cho phép xác lập sự góp phần của peptide amyloide trong căn nguyên của bệnh Alzheimer. Thật vậy, sự khám nghiệm so sánh các não bộ của các bệnh nhân đã phát triển một thể bệnh loại “ lẻ tẻ ” (sporadique ) (nghĩa là khởi đầu muộn sau 65 tuổi và có tiến triển chậm, và của các não bộ của những trường hợp di truyền (hay những trường hợp xảy ra trong gia đình có khởi đầu sớm và tiến triển nói chung là nhanh), đã cho thấy rằng tất cả đều có những nồng độ peptide amyloide tăng cao. Sự quan sát này có lẽ không phải là sự chứng minh khẳng định rằng chỉ có peptide amyloide mới là nhân tố quyết định nguyên nhân của bệnh, nhưng ít nhất cũng nó chỉ rõ sự góp phần của nó vào sự xuất hiện của căn bệnh này. Một cách đáng lưu ý, những chiến lược điều trị khác nhau được dự kiến và được trắc nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến peptide amyloide.

Phải ghi nhận rằng mặc dầu peptide amyloide góp phần vào căn bệnh, nhưng nhiều yếu tố “ bên ngoài ” có thể làm khuếch đại hay làm nhẹ bớt tiềm năng độc tính của nó. Bằng cớ ? Những bệnh nhân mang cùng biến dị di truyền có thể phát triển căn bệnh với một lứa tuổi bắt đầu biến thiên nhiều thập niên. Vậy có những yếu tố môi trường và những yếu tố nguy cơ di truyền, làm cho các cá thể ít nhiều nhạy cảm với sự phát triển của bệnh.

Mọi chiến lược nhằm làm ổn định các mức peptide amyloide hay làm dừng lại sự sản xuất chúng đều có khả năng làm chậm lại hay phong bế sự xuất hiện hay sự phát triển của bệnh. Lại một lần nữa, sinh học tế bào và sinh học phân tử mới đây đã cho phép những tiến bộ quan trọng trong sự hiểu các cơ chế chi phối sự tạo thành peptide amyloide. Thật vậy ta biết rằng peptide amyloide được tạo thành từ một protéine lớn hơn, “ bị cắt ra ”, người ta phỏng đoán như vậy, bởi nhiều enzyme.

Chỉ vào năm 1995 và 1999 mà hai enzyme cần thiết cho sự sản xuất của peptide amyloide đã được chính thức mô tả. Từ khám phá này, khoảng 15 năm trôi qua với một loạt những khám phá căn bản về sinh học của các enzyme này, đã cho phép tạo ra những mô hình động vật ít hay nhiều giống với căn bệnh. Tuy nhiên, những công trình này đã chưa dẫn đến những “ phân tử thuốc ”(“molécules médicaments”), nhằm phong bế sự sản xuất peptide amyloide nơi người.

Thách thức là phát triển những loại thuốc có khả năng làm giảm hoạt tính của các enzyme này mà không gây nên những tác dụng phụ quan trọng. Một cách thức khác là vô hiệu hóa peptide amyloide được sản xuất dư thừa vào lúc bệnh lý. Ở đây cũng vậy, những cố gắng quan trọng liên quan đến những phương thức khả dĩ chế tạo vaccin. Nhiều thủ nghiệm đang được tiến hành mà những kết quả sẽ có từ nay đến vài tháng nữa.

Kết luận, có lẽ ít có bệnh lý nào mà phạm vi của các kiến thức thu được trong 15 năm lại đáng kể như vậy. Chúng ta tìm ra kẻ khả nghi ! Có lẽ có những kẻ đồng lõa ! Kết cục mặc dầu chưa được xác nhận, nhưng cuộc điều tra tiến triển nhanh bởi vì cộng đồng khoa học và những người quyết định chính trị đã hiểu tầm quan trọng chủ yếu, xã hội và con người, hạn chế phạm vi, càng nhanh càng tốt, một tai ương, có lẽ tương ứng với mối đe dọa hàng đầu của y tế cộng đồng cho những thế hệ tương lai của các xã hội phương tây đang già đi của chúng ta.
(LE FIGARO 14/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (5/7/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#58 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 12 July 2010 - 10:04 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BỆNH LOÃNG XƯƠNG : MỘT KHO CÁC LOẠI THUỐC PHÁT TRIỂN.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

TÌNH DỄ VỠ XƯƠNG. Bệnh loãng xương (ostéoporose) là một bệnh thầm lặng. Được mô tả lần đầu tiên cách nay 60 năm, bệnh liên quan chủ yếu các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, nhưng cũng như các người đàn ông, và được đặc trưng bởi một sự hư hại của khối xương (masse osseuse), làm cho xương dễ vỡ và có nguy cơ gãy xương. Vài yếu tố nguy cơ hiện hữu : sự kiện người mảnh mai, có một nước da trắng, hút thuốc, sử dụng vài loại thuốc.

CÁC TRIỆU CHỨNG. 3 loại gãy xương chính đặc trưng của bệnh loãng xương. “ Gãy ở đầu trên xương đùi là nghiêm trọng nhất và thể hiện một vấn đề y tế cộng đồng đáng kể, GS Raoul Ghozlan, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp Paris, đã ghi nhận như vậy. Người ta ước tính rằng khoảng 1/3 phụ nữ và 1/6 người đàn ông sống đến 90 tuổi sẽ bị gây xương đùi." Tổn phí nhân mạng và kinh tế của những gãy xương này là đáng kể. “ Gãy cột sống hay lún đốt sống (tassement vertébral) có thể xảy ra sau một té ngã, một gắng sức tối thiểu. Lún đốt sống nói chung được thể hiện bởi triệu chứng đau cấp tính dữ dội, nhưng không phải luôn luôn là vậy, GS Ghozlan đã nói thêm như vậy. Sau cùng, gãy cổ tay tiếp theo sau té ngã với bàn tay duỗi, liên hệ các phụ nữ trong 85% các trường hợp.

PHÒNG NGỪA. Sự phòng ngừa phải bắt đầu ngay vào lúc bắt đầu của cuộc sống, bằng chế độ ăn uống và luyện tập thể dục. Nhưng hiện nay người ta nhấn mạnh vào vitamine D. “ Tần số của một sự thiếu hụt vitamine này thay đổi theo tuổi tác, nhưng liên hệ đến 60% những người trên 75 tuổi, ở Bắc bán cầu thường hơn Nam bán cầu, GS Ghozlan đã xác nhận như vậy. Vitamine D làm dễ sự hấp thụ của calcium xuyên qua niêm mạc ruột và sự gắn của calcium vào xương. Vitamine D cần thiết cho sự hoạt động chức năng tốt của cơ. ” Ngoài các loại thuốc trong những trường hợp bệnh loãng xương được xác nhận bằng ostéodensitométrie, sự duy trì một hoạt động vật lý suốt cả cuộc đời là cần thiết.

Tính chất dễ vỡ của xương này làm gia tăng nguy cơ gãy xương và surmortalité.

RHUMATOLOGIE. Bệnh loãng xương ảnh hưởng lên gần 3 triệu người Pháp, những chỉ 600.000 người biết bệnh và được theo dõi. Tuy vậy có những điều trị có khả năng làm giảm các nguy cơ bị gãy xương, biến chứng đầu tiên của sự làm dễ vỡ xương này. Trái với điều mà người tưởng, xương là một mô sống (tissu vivant). Nó ở trong tình trạng tái tạo dáng (remodelage) thường trực, dưới tác dụng của các tế bào : các hủy cốt bào (ostéoclaste), phá hủy mô xương cũ, và các tạo cốt bào (ostéoblaste), chế tạo một xương mới. Quá trình tái tạo dáng này bình thường được thực hiện một cách quân bình. Nhưng trong bệnh loãng xương, sự phá hủy thắng sự tái tạo, điều này gây nên một sự mất xương.

Trong số những thuốc điều trị hiện có, vài loại làm chậm lại sự phá hủy xương, như các biphosphonates hay raloxifène (Evista) (dành cho các phụ nữ). Một kháng thể nhằm phong bế sự tiêu huỷ xương, denosumab, đã được giấy phép đưa ra thị trường. Một loại thuốc khác dường như làm tái quân bình sự phá hủy và sự tái tạo, đó là ranélate de strontium (Protelos). Một loại thuốc duy nhất kích thích một cách thật sự sự tạo thành xương : tériparatide (Forsteo), tương ứng với phần hoạt tính của một kích thích tố tự nhiên đặc biệt có liên hệ trong sự kiểm soát nồng độ của calcium (parathormone). Thuốc này dành cho các trường hợp loãng xương nặng vì lẽ giá thuốc cao và cách cho thuốc (thuốc tiêm dưới da mỗi ngày).

Với một kho thuốc như thế, các thầy thuốc có những phương tiện để hành động. Tuy nhiên các người có nguy cơ phải đi khám bệnh bởi vì không có vấn đề phải điều trị tất cả mọi người. Phí tổn kinh tế vô cùng to lớn. Ngoài ra phải xét đến những tác dụng phụ. Thí dụ các biphosphonates, các thuốc được sử dụng nhất hiện nay, bị cáo buộc là đã gây nên các hoại tử xương hàm, tuy hiếm nhưng rất trầm trọng, nhưng với những liều lượng rất mạnh, như những liều lượng đôi khi được dùng trong ung thư học. Chúng cũng đã bị cáo buộc là đã gây nên những gãy xương đùi, nhưng mối liên hệ nhân quả đã không được xác lập.

Mặt khác, sự thiếu động cơ của những đương sự chủ yếu không phải là không đặt vấn đề. Vì các loại thuốc điều trị bệnh loãng xương không tác dụng lên các triệu chứng (đau đớn, tầm vóc...), nên các bệnh nhân không cảm nhận được lợi ích hàng ngày. Các xương rắn chắc hơn, những điều đó không được cảm thấy. Do đó nhiều người bỏ thuốc. “ Một sự nhận diện tốt hơn các bệnh nhân có nguy cơ cao bị gãy xương và nhất là, một sự giải thích tốt hơn về các lợi ích được mong chờ do đó là cần thiết, GS Christian Roux (khoa Thấp khớp, bệnh viện Cochin, Paris) đã giải thích như vậy. Điều đó còn quan trọng hơn đối với những người có thêm một bệnh mãn tính, đái đường, bệnh trầm cảm. Chứng bệnh loãng xương của họ quá thường bị lãng quên, trong khi sự xuất hiện của một gãy xương nơi những người này có thể có những hậu quả trầm trọng hơn.

CÔNG CUỘC NGHIÊN CỨU TIẾP TỤC.

Trong khi các thầy thuốc tìm cách nhận diện tốt hơn những người khả dĩ nhất hưởng hợi từ các loại thuốc, thì công cuộc nghiên cứu tiếp tục. “ Các cơ chế tái tạo dáng xương (remodelage osseux) ngày càng được biết rõ hơn. Nơi “ đường wnt ”, có can dự trong sự kích thích các tạo cốt bào và do đó trong sự tái tạo xương, nhiều đích hiện nay đang được nghiên cứu. Đích đầu tiên là sclérostine, một protéine được chế tạo bởi các tế bào của mô xương. Protéine này là một chất ức chế tự nhiên của sự sản xuất các tạo cốt bào và do đó hoạt động tái tạo xương. Các nhà nghiên cứu đã hiệu chính những kháng thể có khả năng phong bế protéine này và đang đánh giá các hiệu quả. Những dữ kiện đầu tiên đầy hứa hẹn, với hy vọng có một thứ thuốc từ nay đến 7 hay 8 năm nữa ”, GS Thierry Thomas (trưởng khoa thấp khớp, CHU Saint-Etienne) đã xác nhận như vậy.

Đích thứ hai là một DKK1, một protéine khác, ức chế sự tạo thành của các tạo cốt bào. Thành công phong bế được nó là đáng quan tâm bởi vì nó đóng một vai trò trong nhiều bệnh có liên quan đến bộ xương. Cái đích thứ hai này là đối tượng của những nghiên cứu quan trọng, có thể dẫn đến sự thương mãi hóa của các loại thuốc ở chân trời 2020-2025. Những công trình khác còn nhắm vào những chất trung gian khả dĩ của “ con đường wnt ” này...

Các nhà nghiên cứu không quên các hủy cốt bào, chịu trách nhiệm sự phá hủy xương. Nhiều chất ức chế của cathepsine k (một enzyme mà vai trò là cắt mô xương để tiêu huỷ nó tốt hơn) đã được phát triển. Chỉ vài chất ức chế đã vượt qua được những giai đoạn phát triển và như thế có thể xuất hiện trên thị trường trong năm năm đến, nếu tương quan lợi ích/nguy cơ tỏ ra dương tính. Sau cùng, người ta đã chứng tỏ rằng một kích thích tố thần kinh (neurohormone) như sérotonine (và điều hòa khí chất) cũng đóng một vài trò trên sự chuyển hóa xương.
(LE FIGARO 31/5/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH LOÃNG XƯƠNG (OSTEOPOROSIS) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ VÚ : ANGIO-MAMMOGRAPHIE : MỘT TIẾN BỘ TUYỆT VỜI !

BS Clarisse Dromain, trưởng khoa chẩn đoán quang tuyến của bệnh viện Gustave-Roussy de Villejuif, giải thích tiến bộ được thực hiện bởi tiêm một chất cản quang, cặp với chụp tuyến vú (mammographie).
Hỏi : Bắt đầu từ lứa tuổi nào và với nhịp độ bao nhiêu người ta khuyên chụp tuyến vú (mammographie).
BS Clarisse Dromain : Đối với những phụ nữ không thuộc vào một nhóm “ có nguy cơ ” (không mang một bất thường của các gène BRCA1 và BRCA2 hay không có những tiền sử gia đình bị ung thư vú), người ta khuyến nghị chụp tuyến vú (mammographie) hai năm một lần bắt đầu từ 50 tuổi. Nơi những phụ nữ khác (dễ bị thương tổn hơn), sự theo dõi này phải được bắt đầu sớm hơn, vào khoảng năm 30 tuổi, và cần những xét nghiệm sát nhau hơn, mỗi năm một lần. Và chụp tuyến vú khi đó phải được bổ sung bởi một siêu âm (échographie) hay IRM. Theo những dữ kiện mới nhất của châu Âu, sự điều tra phát hiện đại trà đã cho phép làm giảm tỷ lệ tử vong 20 đến 30% trong những vùng mà nơi đó sự tham gia của dân chúng là tốt.

Hỏi : Chụp tuyến vú quy ước (mammographie conventionnelle) là gì ?
BS Clarisse Dromain : Đó là một xét nghiệm X quang, được thực hiện với một kỹ thuật các tia X, cho phép có được những hình ảnh của vú trong tất cả bề dày của nó, tư thế chính diện và bên. Chính trong lúc khảo sát các tương phản giữa mô và tuyến vú mà người ta nhận diện những vôi hóa bé xíu (microcalcifications) và những nốt không điển hình (hai bất thường làm biến dạng mô tuyến ít hay nhiều). Các ung thư có thể xuất hiện dưới dạng các vôi hóa hay các nốt khả nghi.

Hỏi : Những nguy cơ sai lầm ở chỗ nào ?
BS Clarisse Dromain : Khoảng 20% các ung thư nhỏ không được nhận diện. Và điều đó vì nhiều lý do : hoặc là bởi vì tuyến vú, quá đặc (nhất là ở các phụ nữ dưới 50 tuổi), che dấu một nốt (nodule) hay một vôi hóa bé xíu (microcalcification). Hoặc (trong 5% các trường hợp) bởi vì khối u không thể thấy được lúc chụp tuyến vú : trong lúc phát triển, chúng đã không làm biến dạng tuyến bên trong vú, trong khi bình thường các ung thư gây nên một sự bất thường của kiến trúc. Nguyên nhân sai lầm khác : một sự giải thích sai hình quang tuyến. Người ta thấy rõ một bất thường nhỏ vài milimet, nhưng người ta xếp loại nó là hiền tính... Sai lầm này có thể ít hay nhiều các hậu quả. Nói chung, vài tháng sau, vào lúc lần khám tiếp theo, khối u, đã tiến triển, khi đó được chẩn đoán đúng đắn. Chụp tuyến vú có lẽ là một trong những xét nghiệm X quang khó giải thích nhất.

Hỏi : Trong những trường hợp nào (ngoài trường hợp các phụ nữ có nguy cơ), việc bổ sung chụp tuyến vú bằng siêu âm hay IRM là có ích ?
BS Clarisse Dromain : Siêu âm (échographie) phải bổ sung một cách hệ thống một chụp tuyến vú nơi các phụ nữ có đôi vú đặc, khó đọc và khi có chút ít nghi ngờ đối với thăm khám cổ điển hay quang tuyến. IRM (bằng cộng hưởng từ) được chỉ định khi vẫn còn nghi ngờ sau chụp tuyến vú và siêu âm. Với kỹ thuật này, tất cả các ung thư đều có thể thấy được ! Người ta thực hiện IRM bằng cách tiêm một chất cản quang cho phép thấy được các huyết quản nuôi dưỡng của một khối u : sự sinh mạch máu khối u (angiogenèse tumorale) chứng tỏ sự hiện diện của những tế bào ung thư.

Hỏi : Một kỹ thuật mới nhất ra đời : angio-mammographie là một tiến bộ tuyệt vời...
BS Clarisse Dromain : Vâng, xét nghiệm này cho phép tránh IRM đồng thời thu được cùng những thông tin. Phương thức nhằm tiêm một chất cản quang iode (bằng đường tĩnh mạch) trong khi thực hiện chụp tuyến vú quy ước số (mammographie conventionnelle numérique) (cho phép xử lý các hình ảnh theo ý muốn : phóng đại chúng, gia tăng sự tương phản (contraste)... Như thế người ta thấy rất rõ sự phân bố mạch (vascularisation) của các mô và của các khối u. Sự phát hiện các huyết quản nuôi dưỡng là điều quan tâm chủ yếu. Chính chúng, do làm phân tán của các tế bào ác tính, có một nguy cơ quan trọng. Chiến lược hiện nay là phát hiện các ung thư khi chúng còn ở tại chỗ (in situ), nghĩa là được khu trú bên trong các ống (canaux) hay các tiểu thùy của tuyến vú.

Hỏi : Những kết quả của các công trình nghiên cứu được tiến hành với angiomammographie là gì?
BS Clarisse Dromain : Công trình nghiên cứu mới nhất của chúng tôi tại bệnh viện Gustave-Roussy, được thực hiện cộng tác với Viện Curie, trên 150 phụ nữ bị một ung thư vú, đã cho những kết quả có sức thuyết phục, được trình bày ở hội nghị thế giới quang tuyến học ở Chicago. Ở hội nghị này chúng tôi đã so sánh những chẩn đoán được xác lập bởi những hình ảnh chụp tuyến vú quy ước với những hình ảnh thu được bởi angiomammographie. Với kỹ thuật sử dụng một chất cản quang này, người ta đã phát hiện 94% các khối u, so với 78% khi chụp tuyến vú cổ điển. Hiện nay, để so sánh sánh những kết quả của angio-mammographie với những kết quả của IRM, chúng tôi tham gia vào một công trình nghiên cứu quốc tế trên 300 phụ nữ.

Hỏi : Ở Pháp khi nào chúng ta sẽ có thể hưởng được kỹ thuật này ?
BS Clarisse Dromain : Vào cuối năm nay. Những máy chụp tuyến vú mới, được thương mãi hóa bởi General Electric, sẽ được sử dụng trong những bệnh viện và những phòng mạch tư.
(Paris Match 1/7-7/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ VÚ (Breast Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

3/ MỘT CHẤT CHỈ DẤU MỚI CỦA UNG THƯ VÚ.

An Hendrix (khoa nội, U Gand) và một nhóm nghiên cứu đa khoa, tập hợp các nhà nghiên cứu của đại học Gand (Bỉ), của National Human Genome Research Institute (EU), của Imperial College London (Anh) và của Inserm (Pháp), đã khám phá ra một protéine đóng một vai trò quan trọng trong sự di căn hóa của ung thư vú.

Các protéine Rab điều phối sự tuần hoàn của các protéine trong tế bào. Công trình nghiên cứu về chức năng sinh học của Rab27B, một chất điều hòa tuần hoàn của protéine, đã cho thấy rằng chất này kích thích sự tăng trưởng và sự xâm nhập của các tế bào ác tính của tuyến vú dương tính với œstrogène (ER+: oestrogéno-positive). Một sự biểu hiện mạnh của Rab27B trong các khối u ER+ được liên kết với sự phát tán của các tế bào ung thư vào trong các hạch bạch huyết và với mức độ của khối u. Vài phụ nữ sản xuất protéine Rab27B là nhạy cảm hơn nhiều với tính chất ác tính của các khối u của vú so với những phụ nữ khác.

Khám phá mới này có thể mở đường cho các thuốc tốt hơn để kiểm soát các tế bào ung thư. Ung thư vú, ở quy mô thế giới, là ung thư thường xảy ra nhất. Ở Bỉ, có khoảng 9.000 trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm. Mức độ trầm trọng của bệnh được xác định bởi tỷ suất tăng trưởng của khối u và sự tăng sinh tế bào hướng về những mô khác.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ VÚ (Breast Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

4/ BỆNH ALZHEIMER CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁT HIỆN SỚM.

Một chất cản quang mới “ làm sáng lên ” các mảng amyloide chịu trách nhiệm căn bệnh Alzheimer.

Jozef (tên mượn) vừa được tiêm chất cản quang (produit de contraste) trước khi được đưa vào trong đường hầm bằng kim loại (tunnel métallique) của máy scanner (hay tomodensitomètre) của Hôpital de La Charité, bệnh viện lớn nhất và nổi tiếng nhất của Berlin. Chất cản quang này không phải là thông thường mà có tính chất cách mạng : đó là Florbetaben, một stilbène có đặc điểm hiếm hoi là, do ái tính, gắn vào peptide bêta-amyloide hiện diện trọng não bộ. Khi scanner cho thấy những “ lát ” hình ảnh số (images numériques) kế tiếp nhau, Florbetaben càng được làm sáng lên khi lượng amyloide hiện diện càng nhiều.

Thế mà các mảng bêta-amyloide, đó là dấu hiệu gần như không tranh cãi được của sự phát triển của bệnh Alzheimer. Có thể nói chính amyloide nhiên hậu phát triển một sức cản đối với những trao đổi điện giữa các neurone. Vào lúc khởi đầu của bệnh, não bộ lẩn tránh chướng ngại này. Nhưng với thời gian, không còn có những con đường vòng nào khác nữa. Trí nhớ, khí chất, nhưng cũng những chức năng vận động của người bệnh bị ảnh hưởng. Não bộ không còn có thể đảm nhận vai trò đài kiểm soát (tour de contrôle), gây nên những thương tổn nghiêm trọng nơi vài cơ quan, dẫn đến những bệnh lý nghiêm trọng, rồi tử vong.

Trước khi được sự chấp thuận của giới hữu trách dược phẩm, nếu giai đoạn thử nghiệm cuối cùng của Florbetaben xác nhận những kết quả tốt của giai đoạn 2, thì Florbetaben có thể là một công cụ thiết yếu, để không chỉ đánh giá tình trạng của bệnh nhân đã phát triển những triệu chứng của bệnh, thậm chí tác dụng của những thứ thuốc (tương lai) lên tiến triển của nó. Nhưng chủ yếu là để phát hiện sớm sự xuất hiện của bệnh nơi những bệnh nhân chưa có các triệu chứng.

Trên màn ảnh, đó là câu lời : mặc dầu Jozef chỉ có những rối loạn nhẹ của trí nhớ, nhưng scanner nói một cách rõ ràng là các mảng amyloide (có thể thấy rõ bằng màu vàng fluo nhờ chất Florbetaben), đã đọng trong não bộ của anh ta hay không. “ Người ta cho rằng giai đoạn tiền lâm sàng, trong đó amyloide ứ đọng mà các triệu chứng rõ ràng không được biểu hiện, kéo dài 10 đến 15 năm, trước khi một giai đoạn lâm sàng trong đó chức năng nhận thức (fonction cognitive) giảm sút mạnh mẽ. Chính trong những năm đó mà khám phá của chúng tôi sẽ cho phép mang lại những điều trị tương lai ”, BS Thomas Dyrks, giám đốc nghiên cứu chụp hình ảnh của Trung tâm thần kinh trung ương của Bayer Schering Pharma đã giải thích như vậy.

Sự hiện diện hay vắng mặt của amyloide cũng sẽ cho phép phân biệt bệnh Alzheimer với những loại sa sút trí tuệ khác : 1/3 những loại sa sút trí tuệ này (Parkinson, bệnh sa sút trí tuệ Lewy, bệnh sa sút trí tuệ trán-thái dương) không có liên hệ gì với bệnh Alzheimer và đòi hỏi những thái độ xử trí điều trị khác. Ngoài những nổi thống khổ của các bệnh nhân và các gia đình, bệnh Alzheimer còn là mot gánh nặng tài chánh : 25 triệu bệnh nhân (đến năm 2023, con số được dự kiến là 50 triệu) dẫn đến một chi phí 200 tỉ euro, trong đó chỉ ¼ dành cho những săn sóc thuần y tế, phần còn lại là do sự mất tính độc lập (perte d’autonomie) mà bệnh gây nên. Một thử thách thật sự đối với tương lai !
(LE SOIR 8/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH MẤT TRÍ NHỚ (ALZHEIMER) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

5/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : MỘT LOẠT CÁC THUỐC MỚI.

Những tháng sắp đến hẳn sẽ có nhiều thuốc mới trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt. Trong những ung thư rất khu trú, ngoài sự cắt bỏ ngoại khoa, phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) và curiethérapie, hay kỹ thuật mới đã ra đời, mà vị trí còn phải được xác nhận : sự phá hủy khối u bằng các siêu âm hội tụ có cường độ cao (ultrasons focalisés de haute intensité) (ablatherm) hay bằng liệu pháp lạnh (cryothérapie).

Kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie) là điều trị chuẩn được sử dụng một cách hệ thống trong các ung thư di căn của tuyến tiền liệt. Trong những ung thư khu trú với nguy cơ di căn rất cao, khi được kết hợp với phóng xạ liệu pháp, kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie) làm gia tăng tỷ lệ sống sót 15% và làm giảm nguy cơ tái phát 30%. Sự thiến hóa học (castration chimique) tạm thời hay vĩnh viễn này, không phải là không có những tác dụng phụ, hủy bỏ quá trình hoạt hóa của sự tăng trưởng khối u dưới tác dụng các androgène, bằng cách phong bế sự tổng hợp và tác dụng của các chất này.

Bên cạnh những điều trị chuẩn, các chất kháng androgène (antiandrogène) và các chất chủ vận của LH-RH) (agoniste de la LH-RH), hai loại thuốc mới đang được phát triển : “ Abiratérone tác dụng trực tiếp vào sự tổng hợp của androgène. Đã được đề nghị cho những bệnh nhân bị bệnh nghiêm trọng nhất với những kết quả đặc sắc, thuốc này bây giờ được đánh giá trong các ung thư di căn nhưng chưa được điều trị bởi hóa học liệu pháp ”, thầy thuốc chuyên khoa ung thư tiết niệu thuộc viện Gustave-Roussy (Villejuif) đã xác nhận như vậy. Mặt khác, đang được đánh giá ở Hoa Kỳ trong những ung thư không đáp ứng với điều trị, một loại thuốc khác, MDV 3100, có tác dụng phong bế thụ thể của các androgène của khối u. “ Bởi vì MDV 3100 tác động lên trên cao của thượng nguồn, nên loại thuốc này hẳn phải có hiệu quả ngay ở các giai đoạn sớm của ung thư tuyến tiền liệt và góp phần rất nhiều trong điều trị loại ung thư này ”, GS Cussenot đã phấn khởi phát biểu như vậy. Theo ông, những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên ở Pháp có thể bắt đầu vào năm 2011.

Ung thư tuyến tiền liệt từ lâu đã được xem như đề kháng hóa học liệu pháp (chimiorésitant). “ Ý niệm này đã thay đổi từ 10 năm qua, trước hết với sự xuất hiện của docétaxel (Taxotere) ; thuốc này, vào năm 2004, đã cho thấy tính hiệu quả của nó đối với những bệnh nhân bị các thể di căn trầm trọng nhất, mà thuốc làm gia tăng tỷ lệ sống sót 20% đồng thời làm giảm sự đau đớn. Một loại thuốc khác, cabazitaxel, đã đến bổ sung kho điều trị của chúng ta vào năm 2010. Một câu hỏi từ nay được đặt ra : có phải sử dụng nó sớm hơn nhiều hay không, trong những ung thư khu trú có nguy cơ cao bị di căn ? Những kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi, nhưng chúng ta sẽ có câu trả lời từ nay đến một năm nữa, GS Fizazi, người điều hành công trình nghiên cứu này ở Viện Gustave-Roussy, đã xác nhận như vậy.

Trong điều trị các di căn xương, điều trị chuẩn bằng acide zoledronique (Aclasta, Zometa) làm giảm các biến chứng và sự đau đớn. Những kết quả của dénosumab, một chất ức chế sự chuyển hóa xương đang được phát triển, lại còn tốt hơn, theo công trình nghiên cứu được trình bày bởi GS Fiazi ở hội nghị mới đây của ASCO. Một loại thuốc khác, zibotentan, điều trị nhắm đích của các ung thu di căn trong trường hợp thất bại hormone liệu pháp, cũng được đánh giá ở Viện Gustave-Roussy. Các kết quả sẽ được biết trong 6 tháng nữa.

Trong miễn dịch liệu pháp (immunothérapie), Provenge, một vaccin điều trị mới mà lợi ích có thể so sánh với hóa học liệu pháp, được phát triển duy nhất ở Hoa Kỳ. Với sự bào chế cá thế hóa phức hợp, vaccin điều trị này đạt phí tổn quá đỗi 93.000 dollars cho mỗi bệnh nhân.
(LE FIGARO 14/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN (PROSTATE CANCER) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

6/ NGUY CƠ UNG THƯ PHỐI SAU PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP.

Sự cải thiện của các phương tiện điều trị về ung thư vú cho phép các bệnh nhân sống lâu hơn, nhưng đồng thời làm gia tăng các nguy cơ bị một ung thư khác. Trong một duyệt xét tư liệu y học, Paul Lorigan và các cộng sự viên (Manchester, Vương quốc Anh) đã phân tích nguy cơ bị một ung thư phổi nơi những phụ nữ trước đó đã được điều trị vì một ung thư vú được phát hiện ở một giai đoạn sớm. Họ đã nghiên cứu hậu quả của liệu pháp được sử dụng (phẫu thuật, kỹ thuật phóng xạ liệu pháp đặc biệt, hóa học liệu pháp bổ trợ...) và vài yếu tố riêng cho các bệnh nhân (tuổi, hành vi nghiện thuốc lá...) trên nguy cơ phát triển một ung thư phổi, vào một giai đoạn sau này,

Các dữ kiện gợi ý rằng các kỹ thuật phóng xạ liệu pháp xưa cổ hơn được liên kết với một nguy cơ gia tăng quan trọng phát triển một ung thư phổi nơi phổi cùng bên (phổi bị nhận phóng xạ). Tuy nhiên không có bằng cố rõ ràng rằng các kỹ thuật hiện đại được liên kết với cùng nguy cơ này. Mặc dầu vậy, chứng nghiện thuốc lá tạo nên một nguy cơ quan trọng và làm gia tăng nguy cơ ung thư phổi nơi những người chịu một phóng xạ liệu pháp.

Về hóa học liệu pháp bổ trợ (chimiothérapie adjuvante), nó không được liên kết một cách đáng kể với một sự gia tăng của nguy cơ. Mặc dầu nguy cơ bị ung thư phổi gia tăng với thời gian trôi qua từ khi điều trị, nhưng yếu tố “ tuổi tác ” vào lúc trị liệu dường như không đóng một vai trò.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ PHỔI (LUNG CANCER) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

7/ NHỮNG ĐIỀU TRỊ GÂY ĐAU ĐỚN NƠI CÁC TRẺ SINH NON LÀM CHÚNG VỀ SAU TRỞ NÊN TĂNG NHẠY CẢM.

Bởi vì các em bé sinh non chịu những điều trị gây đau đớn ở đơn vị hồi sức, nên sau đó chúng trở nên nhạy cảm hơn với sự đau đớn so với các trẻ sinh đủ tháng. Đó là điều được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 8 nhũ nhi sinh đủ tháng và 7 trẻ sơ sinh sinh non đã chịu những điều trị tăng cường (soins intensifs) trong ít nhất 40 ngày. Cuộc thí nghiệm, được tiến hành bởi Rebeccah Slater và nhóm nghiên cứu của ông ở đại học Londres, nhằm so sánh các phản ứng của chúng đối với những kích thích không đau đớn (stimuli non douloureux) (bằng cách sờ nhẹ các gót chân của chúng), với những kích thích đau đớn (stimuli douloureux) (bằng cách chích vào gót chân để trích lấy một mẫu nghiệm máu) (một động tác y khoa thông thường). Những kết quả, được ghi bởi điện não đồ, cho thấy rằng đáp ứng não bộ với sự đụng chạm là như nhau đối với tất cả các em bé, nhưng nơi các trẻ sinh non, đáp ứng này đối với đau đớn cao hơn. Những điều được quan sát này gợi ý rằng, sự kiện bị tiếp xúc quá sớm với một sự đau đớn vật lý gây nên một sự biến đổi trong đáp ứng với đau đớn, điều này giải thích những khác nhau về cảm giác được quan sát nơi những trẻ sinh non. Công trình nghiên cứu này hẳn phải cho phép một thái độ hợp lý hơn trong việc cho các thuốc giảm đau, cũng như một sự tối ưu hóa của điều trị đau đớn nơi nhóm các trẻ sinh non dễ bị thương tổn này.
(SCIENCE ET VIE 7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về THAI PHỤ VÀ THAI NHI - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

8/ SINH ĐẺ TẠI NHÀ GÂY NGUY CƠ CHO EM BÉ.

Những trường hợp tử vong quá mức chủ yếu là do những vấn đề hô hấp và một sự thất bại trong hồi sức, theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ.

OBSTETRIQUE. Những năm qua, càng ngày càng hợp thời trang trong các nước phương Tây, những trường hợp sinh đẻ tại nhà có lẽ dễ chịu hơn đối với các phụ nữ, nhưng chúng có thể nguy hiểm hơn cho các em bé.

Đó là kết luận phần nào gây lo ngại của một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa được công bố on line trong American Journal of Obstetrics & Gynecology. Tỷ lệ tử vong sơ sinh được nhân lên gấp 3 lần lúc sinh tại nhà, so với một cuộc sinh đẻ ở nhà hộ sinh, BS Joseph Wax (Maine Medical Center, Portland) và các đồng nghiệp đã ước tính như vậy. Họ đã phân tích toàn bộ các dữ kiện có được về chủ đề này, ở Bắc Mỹ và châu Âu. Tổng cộng, công trình phân tích méta của họ đã bao gồm gần 550.000 trường hợp sinh đẻ, trong đó 342.056 đã được dự kiến sinh tại nhà và 207.551 được dự kiến sinh tại bệnh viện. Các kết quả rất là tương phản tùy theo ta quan tâm đến người mẹ hay em bé.

Điều chứng thực thứ nhất, các phụ nữ chọn sinh ở nhà, thường có sức khoẻ tốt hơn, họ có ít những yếu tố nguy cơ sản khoa hơn những phụ nữ dự kiến đẻ ở khoa sản bệnh viện. Các tác giả cũng ghi nhận rằng các cuộc sinh đẻ ở nhà thoải mái hơn đối với các bà mẹ, bởi vì ít bị médicalisé hơn so với ở bệnh viện.

Các động tác như péridurales, mổ lấy thai hay cắt tầng sinh môn như thế hiếm xảy ra hơn, điều này làm giảm tỷ lệ các biến chứng do sinh đẻ và sổ thai(nhiễm trùng, xuất huyết). Về các em bé được sinh ở nhà, chúng có một tỷ lệ sinh non và trọng lượng thấp lúc sinh hơi thấp hơn.

“ GIỚI HẠN, ĐÓ LÀ SỰ AN TOÀN ”

Tuy nhiên có một mặt trái, thế mà lại có tầm cỡ : nguy cơ tử vong sơ sinh (mortalité néonatale) (trong 4 tuần lễ đầu tiên sau khi sinh) là cao hơn nhiều. Mặc dầu biến chứng này là hiếm (tỷ lệ tử vong sơ sinh là khoảng 0,3 đối với 1000 trường hợp ở bệnh viện), nhưng tần số tăng lên gấp hai nơi các trẻ sinh ở nhà, và ngay cả gấp ba đối với những em bé không có các bất thường bẩm sinh. Những trường hợp tử vong quá mức ở nhà chủ yếu là do những vấn đề hô hấp và một thất bại trong hồi sức, theo các tác giả của công trình nghiên cứu.

“ Những kết quả này đặt ra câu hỏi về mối liên hệ giữa tỷ lệ tử vong sơ sinh cao sau khi sinh ở nhà và tỷ lệ thấp nhờ đến những can thiệp sản khoa trong nhóm này ”, BS Joseph Wax đã kết luận như vậy. “ Tỷ lệ quá mức tử vong sơ sinh hoàn toàn xác minh cảm tưởng của các thầy thuốc chuyên khoa sản, BS Jean Marty, tổng thư ký của Công doàn quốc gia các thầy thuốc chuyên khoa phụ sản ở Pháp, phàn nàn, cũng như những đồng nghiệp của ông ta, phải đối đầu với những trường hợp bi thảm đáng lý ra có thể tránh được. “ Chúng tôi thông hiểu mong ước của các phụ nữ muốn có một môi trường ít médicalisé hơn và ngoài ra đã có nhiều cố gắng nhân bản hóa trong các khoa sản trong những năm gần đây, Jean Mary đã tiếp tục phát biểu như vậy. Nhưng mặt hạn chế, đó là sự an toàn. Trong trường hợp có vấn đề, sự kế cận với các phương tiện là một yếu tố thiết yếu.” Một ý kiến phần lớn được chia sẻ bởi GS Philippe Descamps, trưởng khoa phụ sản của CHU d’Angers. “ Trong sản khoa, ta không thể thấy trước tất cả mọi chuyện. Ngay cả khi tất cả các đèn báo ở màu xanh, vẫn có thể xảy ra một thảm họa ”, ông đã nhấn mạnh như vậy. Để tôn trọng mong ước của các bệnh nhân mình muốn được sinh đẻ một cách ít médicalisé hơn, GS Descamps đã tạo ra trong khoa của ông một “ khoảng sinh lý ” (espace physiologique), trong đó thái độ điều trị nhẹ nhàng hơn, “ nhưng rất an toàn vì lẽ nhóm y tế vẫn ở kế cận các bệnh nhân ”.

Ở Pháp, mặc dầu một nhu cầu gia tăng, các sinh đẻ tại nhà dường như không nhiều. Trong Pays de la Loire, những trường hợp sinh tại gia là khoảng 100 lần sinh mỗi năm, hoặc 0,25% của các trường hợp sinh đẻ trong vùng.

Một công trình nghiên cứu khác, được tiến hành cuối năm 2008 bởi Conseil national de l’Ordre des Sages femmes nơi 1.600 nữ hộ sinh hành nghề tự do kết luận rằng chỉ 4% trong số các nữ hộ sinh này thực hiện sinh đẻ tại nhà, hoặc 1000 trường hợp sinh mỗi năm. “ Trên nguyên tắc chúng tôi không chống đối việc làm này trong một bối cảnh an toàn, nhưng ngày nay có nhiều lạm dụng ”, Conseil de l’Ordre des sages-femmes đã nói như vậy.

Hiện nay, các nữ hộ sinh muốn thực hiện sinh đẻ tại nhà đụng phải hàng rào từ phía các nhà bảo hiểm nghề nghiệp : số tiền đóng bảo hiểm khoảng 19.000 euro, gần 20 lần nhiều hơn để bảo hiểm những cuộc sinh đẻ trong một cơ sở y tế.
(LE FIGARO 3/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về THAI PHỤ VÀ THAI NHI - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

9/ TIỀN SẢN GIẬT : VITAMINE KHÔNG ÍCH LỢI.

Đó là một hy vọng hão : những công trình nghiên cứu đầu tiên đã cho thấy rằng lúc sử dụng các vitamine C và E giữa tuần thứ 8 và 22 của thai nghén, một bộ phận quan trọng của những bà mẹ tuơng lai bị một bệnh đái đường loại 1 (bẩm sinh) sẽ tránh được nguy cơ tiền sản giật (prééclampsie). Bệnh này được đặc trưng bởi một huyết áp tâm thu trên 140 mmHg hay một huyết áp tâm trương trên 90, phối hợp với một protéine-niệu (protéinurie : protéine quá mức trong nước tiểu). Đó không phải là một nguy cơ bình thường : trong thể nghiêm trọng của nó, bệnh này gây nên những rối loạn thần kinh-cảm giác (trouble neuro-sensoriel) như đau đầu, rối loạn thị giác và những rối loạn thận như vô niệu hay suy thận mãn. Nguy cơ đối với trẻ em cũng rất cao, do sinh thiếu tháng (hay sinh trước dự kiến để cứu người mẹ).

Người ta vẫn không biết một cách chính xác tại sao, nhưng nguy cơ này, liên hệ đến 5% các sinh đẻ “ bình thường ”, được nhân lên gấp ba nơi những bệnh nhân có bệnh đái đường loại 1. Đó là một biến chứng đôi khi khiến những bệnh nhân này không muốn có thai, mặc dầu họ thành công làm chủ được bệnh đái đường của họ. Một quyết định khó khăn gây nên sự đau khổ tâm lý, điều mà ta có thể tưởng.

Người ta biết rằng bệnh đái đường loại 1 là một bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune) : cơ thể chống lại các thành phần của chính mình, mà nó không nhận ra đó là những thành phần lạ. Một trong những hướng nghiên cứu là chống lại stress oxydatif, có thể góp phần vào bệnh đái đường nhưng cũng làm gia tăng các nguy cơ tiền sản giật. Vậy ý tưởng là cho 1g vitamine C và 400 đơn vị vitamine E giữa tuần lễ thứ 8 và 22, nhằm làm sụt giảm nguy cơ và mang nguy cơ trở lại nguy cơ của một “ người mẹ bình thường ”.

Trong 25 trung tâm tiền sinh (centre anténatal) ở Anh, 379 phụ nữ đã nhận những chất bổ sung này. Nhưng những kết quả đã gây thất vọng : tỷ lệ tiền sản giật là tương tự (15%) với nhóm kiểm chứng (groupe contrôle) (nhóm này không nhận một chất bổ sung nào). Tỷ lệ cao huyết áp vẫn không thay đổi (11%). Chỉ có tỷ lệ trọng lượng thấp lúc sinh (6% thay vì 10%) dường như đã giảm nơi những bà mẹ đã nhận các vitamine.

“ Nhưng những kết quả nhìn chung gây thất vọng này che dấu rằng nơi các người mẹ vốn đã có một tý lệ các chất chống oxy hóa (antioxydant) thấp rất rõ rệt trước khi sử dụng các chất bổ sung, tỷ lệ tiền sản giật đã giảm một cách đáng kể, David McCance, thuộc Trung tâm nội tiết học và bệnh đái đường thuộc Royal Victoria Hospital (Belfast), tác giả chính của công trình nghiên cứu này, được công bố trong The Lancet, đã nói như vậy

Một chế độ ăn uống đa dạng nhiều chất chống oxy hóa (antioxydant) có thể mang lại những lợi ích không thể được thực hiện bởi các chất bổ sung. Rõ ràng là việc sử dụng các chất bổ sung bắt đầu từ tuần lễ thứ tám của thai nghén dầu sao dường như cũng can thiệp quá muộn để làm biến đổi quá trình bệnh lý của phần lớn các bệnh nhân bị bệnh đái đường.
(LE SOIR 6/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về THAI PHỤ VÀ THAI NHI - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ MỘT THIẾU NỮ KHÔNG GIÀ.

Trường hợp, duy nhất trên thế giới, của một thiếu nữ đã giữ bề ngoài của một em bé, có thể cho phép nhận diện tốt hơn các gène của sự lão hóa.

Chúng ta sẽ có thể khám phá ra bí mật của sự lão hóa ở trong lòng của ADN của một thiếu nữ ? Câu trả lời trong một năm nữa, Richard F.Walker, giáo sư thuộc đại học y khoa miền nam Florida (Hoa Kỳ), đã trình bày các công trình rất hứa hẹn nhân colloque của Royal Society de Londres. Người thầy thuốc đã nghiên cứu một trường hợp duy nhất trên thế giới : một bệnh nhân nữ tên gọi Brooke Greenberg. Sinh ngày 8 tháng giêng năm 1993 trong tiểu bang Maryland, vào năm 17 tuổi, cô ta vẫn giữ bề ngoài vật lý của một em bé 1 tuổi.

Từ khi bố mẹ của cô ta tiết lộ tình trạng của con mình (cô ta không già đi), các công trình nghiên cứu đã gia tăng. Năm 2009, Richard đã công bố một tổng hợp đầu tiên. Ngoài những kết quả khác ra, ông ta đã cho thấy rằng mặc dầu bề ngoài của cô ta (76 cm đối với 7,3kg), cô Brooke có bộ răng và các tế bào xương của một đứa bé từ 8 đến 10 tuổi. Do khả năng vận động của cô ta bị hạn chế, cô không thể bước nếu không có ai giúp đỡ. Chụp ảnh não bộ đã cho thấy một sự khiếm khuyết trong sự thành thục của thể chai (corps calleux) (các sợi thần kinh nơi hai bán cầu đại não) và sự myéline hóa của các neurone (myélinisation : sự che phủ các sợi thần kinh bởi myéline để làm gia tăng tính hiệu quả của sự truyền thần kinh). “ Sự phát triển nhận thức (développement cognitif) của Brooke ở mức tối thiểu. Cô ta có thể nhận biết bố mẹ mình, có thể nhìn mình trong gương, có thể phát âm để gây sự chú ý và mỉm cười hay cười năm thì mười họa.” Nhưng tuổi trí tuệ (âge mental) được ước tính dưới 12 tháng.

Những bất thường này phát xưất từ đâu ? Bí mật. Sự phân tích 46 nhiễm sắc thể của Brooke đã cho thấy rằng chúng đều bình thường. Nhưng các télomère của những nhiễm sắc thể của các fibroblaste là ngắn hơn so với những télomère của các trẻ cùng lứa tuổi. “ Tất cả những yếu tố này cho thấy rằng thân thể của cô ta không phát triển như một đơn vị được điều phối (une unité coordonnée) mà đúng hơn là như các bộ phận độc lập bị làm mất đồng bộ (désynchronisé) ”, người thầy thuốc đã tóm tắt như vậy. Nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết cho rằng một sự biến dị di truyền nơi một “ chef d’orchestre của sự phát triển ” có thể là nguyên nhân của sự “ làm mất đồng bộ ” (désynchronisation) này. Vấn đề còn lại là phải nhận diện nó. “ Chúng tôi đang séquencer bộ gène của Brooke để định vị trí của biến dị này, Richard Walker đã giải thích như vậy. Sau đó cúng tôi sẽ hành xử với cùng các gène nơi chuột để xem ta có thu được những con vật với tuổi thanh xuân kéo dài vĩnh viễn hay không. ” Richard Walker sẽ loan báo sự nhận diện của biến dị này trong những tháng đến. Ngược lại, “ trắc nghiệm và xác định vai trò của các gène được nhận diện cần ít nhất một năm. Sự biến dị được khám phá sẽ được sử dụng như một chỉ dấu để nhận diện các gène kiểm soát sự lão hóa bình thường ”. Quá chậm đối với Brooke, người thầy thuốc đã lấy làm tiếc phát biểu như vậy. “ Cô ta sẽ không được hưởng khám phá này bởi vì sự biến dị đã gây nên nơi cô ta quá nhiều tổn hại không thể sửa chữa được. ”
(SCIENCE ET AVENIR 7/2010 )

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/7/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#59 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 20 July 2010 - 12:12 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ BỆNH VIÊM ĐỘNG MẠCH (ARTÉRITE) KHÔNG ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN NHIỀU.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

VIÊM ĐỘNG MẠCH (ARTÉRITE). Bệnh động mạch gây tắc (artériopathie oblitérante) của các chi dưới là một bệnh đang trong thời kỳ bành trướng. Bệnh viêm động mạch gây bệnh cho 27 triệu người ở châu Âu và Bắc Mỹ, trong đó 800.000 người ở Pháp. Một cách chính thức. Bởi vì số bệnh nhân không biết là mình có bệnh ba lần cao hơn. Bệnh này, được đặc trưng bởi một sự tắc dần dần của một hay nhiều động mạch của chi dưới bởi một mảng xơ mỡ (plaque d’ahérome), được thể hiện bởi những chuột rút, những đau đớn nơi các bắp chân lúc bước, để cuối cùng gây tàn phế khi buộc bệnh nhân phải dừng lại một cách đều đặn. Khi đó người ta gọi là sự đi khập khiễng đoạn hồi (claudication intermittente).

CHẨN ĐOÁN. Khi các bệnh nhân có những triệu chứng như thế, người thầy thuốc phải đảm bảo rằng sự tuần hoàn đuợc thực hiện tốt ở các cẳng chân, bằng cách nhìn màu sắc, nhiệt độ của chúng. Ngoài ra, nếu tỷ suất giữa huyết áp nơi mắc cá chân (IPS : index de pression systolique à là cheville, chỉ số áp suất thu tâm ở mắc cá chân) và áp suất đo được nơi cánh tay dưới 0,90, khi đó các thầy thuốc đánh giá rằng có một viêm động mạch.

PHÒNG NGỪA. Chứng nghiện thuốc lá là một yếu tố nguy cơ quan trọng của viêm động mạch cũng như bệnh đái đường, tăng cholestérol-huyết, bệnh béo phì, bệnh cao huyết áp. Tất cả những yếu tố này phải được điều trị bằng cai thuốc lá, tập thể dục và các loại thuốc, thí dụ như các statine.

ĐIỀU TRỊ. Đó là tránh không để cho sự hẹp của các động mạch trở nên trầm trọng, bằng cách xử trí các yếu tố nguy cơ, và cũng bằng cách giúp máu lưu thông tốt hơn nhờ các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégants plaquettaires). Bước đi đều đặn được khuyến nghị. Một sự theo dõi là cần thiết để phát hiện sớm những biến chứng như tắc hoàn toàn một động mạch, khi đó sẽ cần phải thực hiện một điều trị ngoại khoa nội huyết quản (traitement chirurgical endovasculaire).

Bệnh viêm động mạch gây tắc (artérite oblitérante) của các chi dưới, thường không có triệu chứng, trong những trường hợp thái quá dẫn đến sự cắt cụt chi.

CARDIOLOGIE. Ở Pháp, 800.000 bệnh nhân bị một viêm động mạch, còn được gọi là bệnh động mạch gây tắc (artériopathie oblitérante) của các chi dưới, đã tiến triển nhiều, được biết và được điều trị. Nhưng có đến 3 lần nhiều hơn những người trưởng thành với một viêm động mạch cũng nguy hiểm, nhưng không được chẩn đoán hoặc đang tiến triển nhưng không gây triệu chứng. Đặc biệt có nguy cơ là những người đàn ông trên 50 tuổi (chiếm 80% các bệnh nhân ) , những người hút thuốc (hay những người đã từng hút thuốc) và những người bị bệnh đái đường.

Bệnh viêm động mạch không tha miễn các phụ nữ lẫn những người trẻ tuổi nhất. “ Thế mà vấn đề không phải sự kiện một động mạch bị bít ở một chi dưới tự bản thân nó là trầm trọng, mà sự kiện không có một lý do gì để các động mạch khác được tha miễn mới là nghiêm trọng, BS Jean-Laroche, thầy thuốc chuyên khoa mạch máu, chủ tịch của Hội đồng quốc gia y khoa huyết quản, và BS Jean –Marie Cardon, chủ tịch của Hiệp hội ngoại khoa, đã tổ chức hội nghị lần thứ 25 từ 12 đến 15 tháng sáu ở Nimes, đã nhấn mạnh như vậy.Trong tất các các chỉ dấu nguy cơ tim-mạch, một viêm động mạch của một chi là nghiêm trọng nhất. Thật vậy, cứ hai viêm động mạch thì một có những thương tổn động mạch trên một địa phận khác của cơ thể.”

ĐAU ĐỚN.

Lúc khởi đầu, có thể có một viêm động mạch mà không có một triệu chứng nào. Rồi thì, chính một sự đau đớn hay một vướng víu khó chịu nơi bắp chân, xuất hiện sau khi đã bước nhiều trăm mét, được gọi là sự đi khập khiễng đoạn hồi (claudication intermittente), lúc đi lên dốc hay khi bước nhanh, lên tiếng báo động. Nhưng, vì sự đau đớn biến mất sau khi nghỉ vài phút, nên nhiều người nghỉ rằng đó là một chuột rút (crampe musculaire) không quan trọng và không nói cho thầy thuốc của mình về triệu chứng này. Họ chỉ cần bước ít xa hơn và tự sử dụng những thuốc chống đau.

Đối với BS Laroche, đó là thái độ tệ hại nhất. “ Bởi vì, mặc dầu không có gì đã xảy ra, nhưng sự đau đớn sẽ xuất hiện với những khoảng cách bước càng ngày càng ngắn dần. Thật vậy, khẩu kính của các động mạch tưới nuôi các cơ của các cẳng chân bị hẹp lại dần dần, điều này giải thích chứng chuột rút ở bắp chân và tiến triển đưa đến tắc động mạch. ” Để không phải đi đến tình trạng như vậy và để bệnh tiến triển với nguy cơ mất một cẳng chân vì phải cưa cụt, trong những trường hợp cực kỳ, điều chủ yếu là phải báo cáo với thầy thuốc mọi chứng chuột rút được nghi ngờ. Và ở tuổi 45, phải đi thăm khám ngay, nếu là người nghiện thuốc lá (kể cả cannabis) và/hay bị bệnh đái đường, để được kiểm tra các động mạch ở cẳng chân. Mục đích của người thầy thuốc là tìm kiếm những yếu tố nguy cơ khác. Đó là trường hợp nếu như bạn là người bị bệnh cao huyết áp, nếu như bạn có quá thừa cholestérol xấu, nếu như bạn bị tăng thể trọng hay sống nhàn rỗi không hoạt động. Cũng vậy nếu như bạn đã từng bị một nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não, nếu như bạn đã bị những đợt kẹt máy sinh dục (pannes sexuelles) đối với những người đàn ông hay lại nữa nếu như có những tiền sử gia đình tim-mạch. Sự thính chẩn các mạch ở cẳng và chân, cũng như sự đo huyết áp ở mắc cá chân là điều bắt buộc : một thầy thuốc gia đình có thể phụ trách điều đó nếu ông ta có một doppler.

NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ.

Khi tỷ số giữa huyết áp ở mắc cá chân (IPS : index de pression systolique à là cheville) và huyết áp được đo ở cánh tay dưới 0,90, có một viêm động mạch. Trong trường hợp này, ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa huyết quản và chuyên khoa tim là cần thiết bởi vì một thương tổn của các động mạch cảnh tưới máu não và của các động mạch vành tưới máu tim lần lượt được phát hiện trong 15% và trong 50 % các trường hợp.

Như thế, những nạn nhân của bệnh viêm động mạch có một nguy cơ tử vong tim mạch nhân lên gấp mười lần : 10 năm sau khi xuất hiện một chứng chuột rút ở bắp chân, tỷ lệ tử vong là 60% nếu không làm gì cả, trong khi nếu được điều trị thích ứng, nguy cơ gia tăng này có thể được kiểm soát. Thí dụ, chỉ cần kê đơn một thuốc kháng ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant plaquettaire) cũng làm giảm 15% nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não và làm giảm 30% nguy cơ bị di chứng do những tai biến này. Lại còn tốt hơn nếu, như Haute Autorité de santé đã khuyên, thuốc chống ngưng kết tiểu cầu được phối hợp với một statine có tác dụng kiểm soát nồng độ cholestérol xấu (LDL) và gia tăng khoảng cách bước (périmètre de marche), cùng với một thuốc thuộc loại inhibiteur de l’enzyme de conversion, một tác nhân bảo vệ tim mạch.

3 loại thuốc này phải được dùng mỗi ngày và suốt đời, cũng như sự điều chỉnh của các yếu tố nguy cơ. Không có lựa chọn nào khác. “ Vài thử nghiệm đã được bắt đầu trên những nhóm nhỏ các bệnh nhân, với các loại thuốc sinh huyết quản (médicament de l’angiogenèse) (được gọi như thế bởi vì chúng kích thích sự tăng sinh của những huyết quản mới ) và với những tế bào gốc (liệu pháp tế bào : thérapie cellulaire) để chế tạo những mạch máu mới đến thay thế nhưng mạch máu bị tắc. Nhưng mặc dầu các loại thuốc này có thể sẽ có dùng trong 4 hay 5 năm nữa, nhưng chúng sẽ vẫn được dành cho những bệnh nhân có một bệnh viêm động mạch tiến triển, với một nguy cơ quan trọng bị cắt cụt chi ”, BS Laroche đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 28/6/2010).

2/ ALZHEIMER VÀ PARKINSON : NHỮNG HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA CỦA VITAMINE D.

Hai công trình nghiên cứu tiết lộ rằng những người bị thiếu vitamine D dễ bị hơn những bệnh thoái hóa thần kinh này (maladie neurodégénérative).

[g]NEUROLOGIE. [/g] Vitamine D có những tác dụng bảo vệ đối với các gãy xương, các bệnh tim mạch, vài loại ung thư, bệnh đái đường, chứng trầm cảm...Gần một thế kỷ sau khi được khám phá trong những năm 1930, vitamine D không ngừng tiết lộ những lợi ích của nó. Những lợi ích sau hết : hai công trình được công bố tuần này làm nổi rõ vai trò khả dĩ của vitamine D trong sự phòng ngừa các bệnh lý thoái hóa thần kinh như bệnh Parkinson và bệnh Alzheimer. Những kết quả này càng đáng quan tâm nhất là khi sự thiếu hụt, thậm chí sự thiếu thật sự vitamine này thường xảy ra ở Bắc bán cầu. Ở Pháp, tỷ lệ được ước tính là 30% trong số những người trưởng thành sống ở phía bắc Paris. Tỷ lệ này leo lên 50% nơi những phụ nữ mãn kinh, 75% trong trường hợp loãng xương và gần 100% nơi những người già sống trong các nhà dưỡng lão. Trên thế giới, một tỷ người bị liên hệ.

David Llewellyn, thuộc đại học Exeter (Vương quốc Anh) và các đồng nghiệp Hoa Kỳ và Ý đã thăm dò những mối liên hệ giữa nồng độ vitamine D trong máu và sự suy đồi khả năng nhận thức (déclin cognitif) nơi 858 người Ý hơn 65 tuổi. Sự tiến triển của các hiệu năng trí tuệ đã được theo dõi bởi 3 trắc nghiệm trong đó có trắc nghiệm cổ điển MMSE (Mini Mental state evaluation), đánh giá sự định hướng trong không gian và thời gian, khả năng học tập (apprentissage), trí nhớ, sự chú ý, khả năng tính toán...

Sau 6 năm nghiên cứu, những người với một sự thiếu hụt nghiêm trọng vitamine D (nồng độ trong máu dưới 25 nanomole mỗi lít), có một nguy cơ được nhân lên 1,6 lần bị một sự sa sút của số điểm vào lúc trắc nghiệm MMSE, so với những người có nồng độ bình thường (hoặc 75 nmol/l). Những trắc nghiệm khác trong đó có trắc nghiệm về tính uyển chuyển của trí tuệ (flexibilité mentale) cũng bị rối loạn, ở một mức độ ít hơn, nơi những nhóm người bị thiếu hụt. “ Các thiếu hụt vitamine D là một mục tiêu điều trị rất đầy hứa hẹn để phòng ngừa các sa sút trí tuệ (bệnh Alzheimer), BS Llewellyn đã đánh giá như vậy. Huống hồ là việc cho bổ sung này ít tốn kém, không nguy hiểm và nhất là nó đã chứng tỏ các lợi ích để làm giảm nguy cơ té ngã, gãy xương và tử vong.” Đối với các nhà nghiên cứu, cần phải khẩn trương tiến hành những nghiên cứu mới trong lãnh vực này, xét vì dịch bệnh Alzheimer đã được loan báo. Trên thế giới, khoảng 35 triệu người bị bệnh Alzheimer (trong đó hơn 800.000 ở Pháp), một con số theo dự kiến sẽ tăng gấp đôi từ nay đến 2030. “ Đó là công trình nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này và đáng quan tâm, GS Jean-Marc Orgogozo (thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, CHU de Bordeaux) đã xác nhận như vậy.

NHỮNG KẾT QUẢ CHỨNG MINH..

Song hành, các tác giả Phần lan vừa công bố trong Archives of Neurology một công trình nghiên cứu quan sát rộng lớn về những mối liên hệ giữa nồng độ vitamine D và bệnh Parkinson. Trong nước Phần Lan, là nơi sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời bị thu giảm, và những sự thiếu hụt vitamine D thường xảy ra, BS Paul Knekt và nhóm nghiên cứu đã tuyển mộ, vào cuối những năm 1970, hơn 3.000 người tuổi từ 50 đến 79. Khởi đầu tất cả không bị bệnh Parkinson. Sau đó, nhóm người này được theo dõi trong gần 30 năm. Sau cùng, độc lập với các yếu tố khác, số các bệnh nhân đã phát bệnh Parkinson là 3 lần nhiều hơn trong nhóm với nồng độ vitamine D trong máu thấp nhất, so với nhóm có nồng độ vitamine D cao nhất.

Đứng trước những kết quả chứng minh này, các thầy thuốc có phải khuyên các bệnh nhân mình sử dụng những liều bổ sung vitamine D một cách hệ thống nơi những người quá 65-70 tuổi hay không ? “ Các nhà nghiên cứu chưa biết nồng độ tối ưu nào của vitamine D để có được một hiệu quả bảo vệ thần kinh, cũng không biết bắt đầu từ nồng độ nào, vitamine D có thể gây độc hại, GS Marian Evatt, thuộc đại học Emory (Hoa Kỳ) đã nhấn mạnh như thế trong bài xã luận liên quan đến công trình nghiên cứu Phần lan. Các dữ kiện cũng chưa khá vững chắc trong lãnh vực ung thư. Ở Pháp, các bổ sung vitamine D được khuyên nơi các người già là 10 mcg mỗi ngày (400 đơn vị). Nhưng hiệu quả phòng ngừa các gãy xương được nhận thấy đúng hơn giữa 400 và 800 đơn vị mỗi ngày, theo những công trình nghiên cứu mới đây.
(LE FIGARO 14/7/2010)

Đọc thêm :

3/ UNG THƯ VÚ : HƯỚNG VỀ MỘT VACCIN ?

Cái khó khăn chủ yếu trong việc chế tạo một vaccin chống ung thư là tính chất đặc hiệu (spécifique) để kích thích sự tạo thành các kháng thể chống lại một chất (protéine) chỉ hiện diện trong những tế bào ác tính mà thôi.

Cho mãi đến hôm nay, chúng ta đã không đạt được điều đó bởi vì việc nhận diện các protéine chỉ thuộc một ung thư duy nhất vẫn là khó khăn. Một cánh cửa được mở ra với GS Vincent Touhy (đại học Cleveland) đối với ung thư vú. Nhóm nghiên cứu của ông đã chế tạo một vaccin chống lại một protéine (alpha-lactalbumine) được sản xuất với số lượng lớn bởi những tế bào tuyến vú ác tính, nhưng không bởi những tế bào lành mạnh (trừ trong thời kỳ cho bú). Được tiêm vào các con chuột phát triển một cách ngẫu nhiên các ung thư vú, sự tiêm chủng này đã cho những kết quả ly kỳ : những con chuột đã nhận một placebo tất cả đều bị một ung thư, so với không có trường hợp ung thư nào nơi những con chuột đã nhận vaccin. Đây là lần đầu tiên điều trị phòng ngừa một ung thư có hiệu quả như vậy. Được trắc nghiệm nơi các con chuột bị bệnh, nó cũng có một tác dụng chữa lành bệnh (làm giảm kích thước các khối u). Các thử nghiệm trên phụ nữ được dự kiến.
(PARIS MATCH 24/6-30/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ VÚ (Breast Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

4/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ : CUỘC CÁCH MẠNG LASER FEMTOSECONDE.

GS Joseph Coli, trường khoa mắt, CHU Pellegrin (Bordeaux), giải thích kỹ thuật mới nhất này đã làm tối ưu mức độ chính xác ngoại khoa như thế nào.

Hỏi : Ở lứa tuổi nào thường xuất hiện sự biến đổi này của thủy tinh thể (Bệnh đục thủy tinh thể : cataracte).
GS Joseph Colin. Lứa tuổi trung bình xoay quanh 72 tuổi. Bệnh đục thủy tinh thể được chương trình hóa vẻ mặt di truyền (génétiquement programmé), cũng như sự xuất hiện của các sợi tóc bạc vậy. Sự trong suốt của thủy tinh thể vì bị biến đổi, nên chất lượng của thị giác bị giảm sút.

Hỏi : Một cuộc giải phẫu cổ điển của đục thủy tinh thể diễn biến như thế nào ?
GS Joseph Colin : Đó là một động tác ngoại khoa thường được thực hiện nhất : ở Pháp, người ta đã liệt kê được 700.000 trong năm 2009 ! Can thiệp được thực hiện ngoại trú, với gây tê tại chỗ, nhờ một gel hay một thuốc nhỏ mắt đặc biệt có hiệu quả. Để có thể đi vào được bên trong nhãn cầu, thầy thuốc ngoại khoa thực hiện một đường xẻ nhỏ nơi giác mạc (cornée), nhờ một vi dụng cụ, rồi làm vỡ ra từng mảnh thủy tinh thể (một lăng kính đường kính 1 mm), nhờ một ống dò siêu âm (sonde à ultrasons). Những mảnh vỡ sau đó được hút bằng một ống thông khác. Giai đoạn cuối cùng : thủy tinh thể được thay thế bằng một implant nhân tạo được cấu tạo bởi một vật liệu mềm (được gấp lại khi được đưa vào). Implant này sẽ triển khai ra ngay khi được thiết đặt tại chỗ. Vài giọt thuốc kháng sinh và kháng viêm…và thế là xong ! Động tác ngoại khoa kéo dài từ 15 đến 20 phút. Trước hết người ta mổ một mắt, rồi sau đó nếu cần mổ con thứ hai vào 8 ngày sau.

Hỏi : Ông trấn an như thế nào những bệnh nhân lo lắng động tác phẫu thuật này ?
GS Joseph Colin : Chúng tôi nói với họ rằng, trong khi mổ, một ánh sáng chói lòa sẽ làm che khuất các động tác giải phẫu, họ sẽ có một cảm giác lờ mờ, phi thực tại...Chúng tôi cũng bảo họ rằng họ sẽ không cảm thấy gì hết : cuộc giải phẫu hoàn toàn không gây đau đớn. Đối với những bệnh nhân đặc biệt lo âu, tốt hơn là trước khi mổ nên cho họ uống một thuốc làm thư giãn.

Hỏi : Hậu phẫu diễn biến như thế nào ?
GS Joseph Colin : Bệnh nhân sẽ ra khỏi phòng mổ một hay hai giờ sau mổ, mắt được bảo vệ bằng một băng nhỏ. Một thị lực đúng đắn được phục hồi hai đến ba giờ sau can thiệp, nhưng phải chờ cho quá trình lành sẹo hoàn toàn chấm dứt (1 đến 15 ngày) để có thể hưởng được một chất lượng tối đa. Nhưng luôn luôn phải đeo gương đối với những người cận thị và lão thị.

Hỏi : Tiến bộ mới nhất của ngoại khoa với laser này là gì ?
GS Joseph Colin : Trước hết tôi phải giải thích rằng mục đích của kỹ thuật mới này là thực hiện một động tác chính xác hơn nhằm đạt được những kết quả thị giác hiệu năng hơn. Và điều đó với, trong cùng một cuộc phẫu thuật, một sự điều chỉnh chứng lão thị và cận thị để cho phép các bệnh nhân không phải mang kính nữa. Với phương thức này, đó là một là một laser femtoseconde, được hỗ trợ bởi một scanner của nhãn cầu (một OCT), thực thi những động tác thường được thực hiện bởi thầy thuốc ngoại khoa. Nhưng một cách chính xác hơn nhiều (một phần ngàn của milimet), làm gia tăng một cách đáng kể sự an toàn của phẫu thuật. Protocole này thể hiện một bước nhảy cách mạng trong thực hành của chúng tôi : laser bắt đầu làm hóa lỏng thủy tinh thể, mở vỏ bọc nó ra và thực hiện đường xẻ trên giác mạc. Bàn tay của nhà phẫu thuật khi đó hút chất chứa bên trong và đưa vào một implant nhiều tiêu cự nhằm điều chỉnh một chứng cận thị hay lão thị. Laser femtoseconde này làm tối ưu các hiệu năng của các implant mới này.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những hiệu năng thị giác này ?
GS Joseph Colin : Ba công ty, phát triển laser femtoseconde này cho bệnh đục thủy tinh thể, đã tiến hành những công trình nghiên cứu quốc tế. Tất cả những tham số được đánh giá đã tỏ ra tốt hơn so với những tham số có được với ngoại khoa cổ điển : một mức độ chính xác lớn hơn khi mở thủy tinh thể và khi thực hiện đường xẻ trên giác mạc, một sự phục hồi chất lượng thị giác hiệu năng hơn.

Hỏi : Tương lai của phương pháp mới này sẽ là gì ?
GS Joseph Colin : Từ nay cho đến hai đến năm nữa, kỹ thuật này sẽ trở thành phương thức chuẩn của ngoại khoa của bệnh đục thủy tinh thể. Nó đã được sử dụng thành công ở (Hoa Kỳ). Ở CHU de Bordeaux, chúng tôi đã hiệu chính một prototype được đánh giá ở phòng thí nghiệm.
(PARIS MATCH 8/7-14/7/2010)

5/ HƯỚNG VỀ MỘT TỤY TẠNG NHÂN TẠO.

Những người bị bệnh đái đường mơ tưởng một thiết bị có khả năng quản lý một cách tự động các mũi tiêm insuline cần thiết. Một thử nghiệm vừa cho thấy rằng chúng ta sẽ không còn xa mục tiêu lắm.

Tụy tạng của chúng ta có nhiệm vụ duy trì nồng độ đường trong máu của chúng ta không thay đổi. Để làm được điều đó, tụy tạng tiết insuline khi nồng độ đường trong máu (glycémie) tăng cao. Nơi những người bị bệnh đái đường, tụy tạng không làm tròn chức năng này và phải nhờ đến những mũi tiêm. Ngoài sự bất tiện của những mũi chích này, thường khó tìm được một liều lượng tốt, khi một bữa ăn làm nhảy vọt lượng đường trong máu, trong khi đó nhiều giờ nhịn đói làm cho nồng độ đường này giảm một cách nguy hiểm. Các thầy thuốc của đại học Cambridge (Anh Quốc) vừa thực hiện một tiến bộ đáng kể hướng về một tụy tạng nhân tạo, một bơm phát ra một cách tự động insuline tùy theo những lượng đường trong máu. Bơm này đã được trắc nghiệm trên 19 bệnh nhân đái đường tuổi từ 5 đến 19. Các kết quả cho thấy một sự giảm số những đột xuất của đường huyết ra ngoài chuẩn mực, và một sự giảm thời gian bị giảm đường huyết ”, Eric Renard, thầy thuốc chuyên bệnh đái đường của CHU de Montpellier, đã viết như vậy trong The Lancet.

Thiết bị được cấu tạo bởi một capteur được đặt dưới da để đo nồng độ đường huyết, một logiciel để tính toán lượng insuline cần phải tiêm và một bơm insuline. Trong nghiên cứu lâm sàng, một cô y tá đọc nồng độ đường huyết mỗi 15 phút và chỉ trị số này trên máy vi tính. Rồi cô ta điều chỉnh, tùy theo trị số tính được bởi ordinateur, lượng insuline mà bơm phải phát ra.

Vậy ta còn lâu mới có đươc một thiết bị tự động. “ Đó là một nghiên cứu về tính khả thi (une étude de faisabilité), David Stocker, người phụ trách nghiên cứu lâm sàng về bệnh đái đường trong công ty Medtronic, đã chỉ rõ như vậy.

NHỮNG VÒNG KÍN (BOUCLES FERMES).

Các thiết bị ghép đôi đo đường huyết và bơm insuline đã được thương mãi hóa, nhưng chúng là những thiết bị “ vòng mở ” (“ à boucle ouverte”) : bệnh nhân quyết định lượng insuline nào cần phải được tiêm. Ở đây, đó là một hệ thống “ vòng kín ” (un système à boucle fermé) : chính máy vi tính tính toán lượng insuline, điều này nhiên hậu cho phép một sự tiêm chích hoàn toàn tự động. “ Các hệ thống vòng kín sẽ biến đổi sự quản lý của bệnh đái đường ”, David Stocker đã đánh giá như vậy. Đối với một thiết bị tự động, capteur để đo đường huyết, máy tính (calculateur) và bơm insuline phải trao đổi với nhau mà không có sự can thiệp từ bên ngoài.

Cải tiến khác liên quan đến lượng insuline cần được tiêm : trong khi những thiết bị “ vòng kín ” khác mỗi phút đo những thay đổi đường huyết để điều chỉnh lượng insuline cần được phát ra tức thời, logiciel được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu Anh “ tiên đoán ” nồng độ đường trong máu. Nó cho phép dự kiến tiến triển của đường huyết và điều chỉnh lượng insuline mỗi 15 phút. Phương pháp này đã tỏ ra có hiệu quả ngay cả khi bệnh nhân có một hoạt động vật lý. Ngược lại trong khi ăn, là lúc nồng độ đường huyết thay đổi nhanh hơn, việc tiêm insuline phải được thực hiện bằng tay.

“ Những cải thiện trong việc quản lý insuline sẽ đến từng giai đoạn, David Stoker đã đánh giá như vậy. Theo các nhà nghiên cứu người Anh, những bơm tiêm sắp đến sẽ làm ngưng một cách tự động sự tiêm insuline khi đường huyết xuống dưới một ngưỡng nào đó, nhằm tránh hạ đường huyết xảy ra ban đêm, một trong những mối lo sợ chính yếu của các bệnh nhân đái đường. ”
(LA RECHERCHE 4/2010)

6/ TA CÓ PHẢI THỰC HIỆN MỘT XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN BỆNH SIDA ?

Professeur Yazdan Yazdanpanah
Service universitaire des maladies
infectieuses et du voyageur.
Centre hospitalier de Tourcoing.


Chính sách phát hiện HIV ở Pháp và trong nhiều nước phát triển dựa trên đề nghị, bởi những người điều trị, xét nghiệm cho nhóm người có nguy cơ : những người đàn ông đồng tính luyến ái, những người sử dụng thuốc ma túy bằng đường tĩnh mạch và những người dị tính luyến ái (hétérosexuels) có nhiều bạn đường phối ngẫu. Chính sách này, được thiết lập vào cuối những năm 1980, ngày nay không còn thích ứng với dịch tễ học cũng như tiến triển của bệnh ở kỷ nguyên của các điều trị antirétroviraux.

Ngày nay, ở Pháp, số những người bị nhiễm bởi HIV nhưng không biết là mình bị nhiễm trùng, được ước tính là 40.000. Giữa ¼ đến 1/3 các bệnh nhân phát hiện căn bệnh mình vào một giai đoạn muộn. Những người dị tính luyến ái có nguy cơ hai lần nhiều hơn, và những người trên 60 tuổi có bốn lần nguy cơ cao hơn, không được phát hiện và điều trị. Một mặt, bởi vì họ tự xem là không phải diện có nguy cơ và mặt khác bởi vì nhiều thầy thuốc không xếp loại họ trong nhóm người bị tiếp xúc HIV.

Thế mà, sự điều tra phát hiện, có thể cho phép thiết đặt sớm một điều trị, sẽ làm giảm một cách đáng kể những nguy cơ bệnh tật và tử vong. Mặt khác, sự điều trị sớm có một tác dụng hữu ích đối với cộng đồng. Thật vậy, do làm giảm lượng virus trong cơ thể, các antirétroviraux làm giảm nguy cơ truyền cho những người khác. Sau cùng, việc biết được tình trạng huyết thanh (statut sérologique) của mình mang lại một sự biến đổi của những hành vi sinh dục có nguy cơ (comportememnt sexuel à risque).

Trong khi phải duy trì và tăng cường sự phát hiện nhắm đích và đều đặn những nhóm người có nguy cơ, giờ đây ta phải mở rộng công tác phát hiện bệnh. Đó là điều được khuyến nghị bởi Haute Autorité de Santé, vào tháng 10 năm 2009, đối với toàn bộ những người tuổi từ 15 đến 70. Một cách cụ thể, mỗi người sẽ được đề nghị một xét nghiệm hay yêu cầu được hưởng xét nghiệm này trong một cơ sở y tế. Ngoài ra, việc đề nghị phát hiện mở rộng (dépistage généralisé) sẽ là cơ hội để minh định rõ rằng, mỗi cá nhân, dầu thuộc cộng đồng nào, đều có khả năng bị nhiễm bởi HIV.

Tuy nhiên, xét nghiệm chỉ được thực hiện bởi những người điều trị trong bối cảnh này không đủ. Nhất là để phát hiện những người trong tình trạng bấp bênh không hay ít thường xuyên lui tới các cơ sở điều trị, hay vài nhóm “ cộng đồng ”. Phải đi đón lấy những nhóm người này ! Sự sử dụng mới đây các xét nghiệm phát hiện có kết quả nhanh, được thực hiện chỉ với một giọt máu lấy nơi đầu ngón tay, mang lại cho chúng ta một khả năng đổi mới tuyệt vời. Ngày nay, với những trắc nghiệm này, việc phát hiện bệnh có thể được thực hiện ở nơi khác với phòng xét nghiệm.

Dầu cho chiến lược phát hiện bệnh là gì, médicalisé hay không, chúng ta hãy nhắc lại rằng công tác phát hiện này vẫn là một phương pháp tiến hành tự nguyện. Điều chủ yếu là các quyền của con người, đặc biệt là tính cách kín mật phải được tôn trọng. Chính trên những nguyên tắc này mà nền dân chủ y tế hoạt động. Hay dân chủ nói chung.
(LE FIGARO 5/7/2010)

7/ BỆNH LOÃNG XƯƠNG : SỰ PHÒNG NGỪA LÀ CÔNG VIỆC CỦA SUỐT CẢ CUỘC ĐỜI.

Không phải bởi vì bệnh loãng xương thường bắt đầu sau 60 tuổi nên phải đợi dến năm 50 tuổi mới bắt đầu phản ứng. Bởi vì chúng ta vốn sinh ra không được bình đẳng và rằng khung xương của chúng ta cũng không thoát khỏi quy tắc đó, nên phải hành động để bù các xương mỏng manh (os fragiles), bằng cách tuân theo một cách rất nhanh chóng những thói quen tốt. “ Cái vốn xương (capital osseux) của chúng ta, ta có được phần lớn là do sự kế thừa của chúng ta (khoảng 70%). Cách dinh dưỡng của chúng ta, hoạt động vật lý của chúng ta,... can thiệp đến 30%. Tuy nhiên điều đó có thể đủ để làm nghiên cán cân của khối lượng xương của chúng ta về phía tốt và như thế ngăn ngừa hay hạn chế sự xuất hiện của một bệnh loãng xương ”, GS Thomas đã đánh giá như vậy.

Trong thời thiếu niên, kẻ thù tệ hại nhất của xương là chứng chán ăn (anorexie). Rối loạn hành vi ăn uống (trouble du comportement alimentaire) này có thể gây nên một bệnh loãng xương thật sự ngay lúc còn rất trẻ, với những hậu quả sẽ kéo dài suốt cả cuộc đời. Lại còn tệ hại hơn khi chứng chán ăn này xảy ra nơi một cô thiếu nữ bởi vì trong trường hợp này, sự sản xuất oestrogène có tính chất bảo vệ bị ngưng lại, như thế cô ta bị mãn kinh. Và sự tiết các hormone khác cũng bị rối loạn, bắt đầu là leptine, một kích thích tố có nhiệm vụ điều hòa sự ăn ngon miệng và có một tác động lên mô xương.

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG, THUỐC LÁ, RƯỢU...

Ngoài chứng chán ăn, vài chế độ ăn uống, ở một mức độ nhỏ hơn, có thể đóng một vài trò có hại. Đó đặc biệt là trường hợp của những chế độ ăn uống quá nhiều muối và đạm (thí dụ quá nhiều thịt) làm dễ sự thất thoát calcium trong nước tiểu. Về thuốc lá và rượu được tiêu thụ quá mức, chúng có một tác dụng độc hại trực tiếp lên xương. Vả lại cũng như lên hầu hết các cơ quan khác..

Một chế độ ăn uống cân bằng, đủ dồi dào calcium (không nhất thiết là calcium phát xuất từ các sản phẩm sữa) là thiết yếu. Thế mà calcium, ta tìm thấy trong nhiều thức ăn : các nước uống, nhưng cũng có trong sardine (khoảng 330 mg đối với 100g), các brocolis (105mg/100g),các rau lá (légumew feuilles) (80mg/100g)…Dĩ nhiên phải ăn uống một cách cân bằng suốt cả cuộc đời, nhưng có lẽ còn hơn thế nữa vào tuổi dậy thì. Và vì vitamine D là cần thiết cho sự hấp thụ và sự gắn của calcium lên xương, nên việc đi ra ngoài vào mùa đông hay dùng các bổ sung vitamine D trong trường hợp thiếu hụt là điều hợp lý. Đó là điều hầu như không thể thoái thác được khi lớn tuổi, bởi vì khả năng hấp thụ của calcium ở ruột bị giảm. “ Vì lý do này, các thầy thuốc thường đề nghị calcium và vitamine D cho những bệnh nhân có một mật độ xương hơi thấp và điều này, trước khi kê đơn những loại thuốc của bệnh loãng xương ”, GS Thomas đã xác nhận như vậy.
(LE FIGARO 31/5/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH LOÃNG XƯƠNG (OSTEOPOROSIS) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây


8/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : MỘT THUỐC CHỦNG ĐƯỢC THÍCH ỨNG CHO TỪNG CÁ THỂ (VACCIN SUR MESURE).

ONCOLOGIE. Hoa kỳ vừa cho phép thương mãi hóa Provenge, mà mỗi liều chứa những tế bào miễn dịch của bệnh nhân. Một đầu tiên trong ung thư học.

Cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ vừa chấp thuận một vũ khí chưa từng có chống lại ung thư. Đó là Provenge, một vaccin điều trị, được hiệu chính bởi công ty Dendreon. Được chỉ định đối với vài trường hợp những ung thư tuyến tiền liệt đề kháng với điều trị chuẩn, vaccin Provenge giúp hệ miễn dịch phá hủy những tế bào ung thư. Việc cho phép sử dụng vaccin này xảy ra sau những thử nghiệm lâm sàng, được tiến hành trên 512 bệnh nhân. Đối với những bệnh nhân này, vaccin đã làm gia tăng thời gian sống trung bình khoảng 4 tháng so với một placebo.

Các tác dụng của Provenge dựa trên khái niệm của miễn dịch liệu pháp (immunothérapie). Thật vậy, đó là một vaccin thích ứng theo từng cá thể (un vaccin “ sur mesure ”), sử dụng những khả năng phòng vệ của chính bệnh nhân. Trong thực tiễn, việc hiệu chính nó được thực hiện thành 3 giai đoạn lớn. Trước hết, bệnh nhân chịu một cytaphérèse, một phương thức cho phép lấy một mẫu nghiệm máu và trích ra từ đó vài tế bào miễn dịch. Những tế bào này sau đó được gởi cho công ty Dendreon. Công ty khi đó phân lập những tế bào “ xuất trình kháng nguyên ” (cellules présentatrices d’antigènes) rồi cho chúng tiếp xúc với PAP (phosphatase acide prostatique), protéine đặc thù của tuyến tiền liệt, liên kết với một phân tử làm hoạt hóa hệ miễn dịch. Giai đoạn thứ ba này cho phép những tế bào “ xuất trình kháng nguyên ” bắt giữ PAP.

Sau rốt, như vậy mới liều lượng cá thế hóa (dose personalisée) chứa chính những tế bào “ xuất trình các kháng nguyên ” của chính bệnh nhân. Những tế bào này đã gắn PAP liên kết với chất hoạt hóa miễn dịch (activateur immunitaire), và những tế bào miễn dịch khác thu được bằng phương thức cytaphérèse. Sau khi được tạo thành như thế, Provenge được tiêm vào cho bệnh nhân. Vai trò của các tế bào xuất trình các kháng nguyên là cho protéine ung thư tiếp xúc với những tế bào miễn dịch “ sát sanh ” (cellules immunitaires “tueuses”) khác. Sự hoạt hóa này phải làm cho những tế bào miễn dịch “ sát sanh ” này có khả năng nhận biết những tế bào ung thư biểu hiện PAP để rồi chúng có thể hủy diệt sau đó.

“ Việc cho phép thương mãi hóa này là thành quả của 20 năm hy vọng trong lãnh vực miễn dịch liệu pháp áp dụng vào ung học, Karim Fiazi, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của viện Gustave –Roussy đã tuyên bố như vậy.

Provenge sẽ bổ sung cho kho vũ khí điều trị đang được sử dụng bởi những bệnh nhân với một ung thư tuyến tiền liệt di căn nơi phần còn lại của cơ thể, đề kháng với điều trị hormone chuẩn nhưng tính miễn dịch vẫn còn có thể được kích thích.” Trong số những liệu pháp mà bệnh nhân có để sử dụng hiện nay, chỉ có hai loại thuốc của hóa học liệu pháp mới thật sự chứng tỏ tính hiệu quả của chúng, nhưng không mang lai một sự sống sót dài lâu như Provenge. Tuy nhiên, vaccin điều trị này cần đến một lực lượng hậu cần nặng nề và tốn kém, không cho phép nó nhanh chóng có thể khả dụng cho toàn bộ vài chục triệu bệnh nhân Hoa Kỳ hội đủ các tiêu chuẩn.“ Những bó buộc này có thể làm cho cho việc cấp giấy phép trở nên khó khăn ở Châu Âu, cũng như sự kiện là vaccin chỉ được trắc nghiệm trên vài trăm người tình nguyện và rằng cơ chế tác dụng của nó không được chứng minh một cách rõ ràng ”, Philippe Beuzeboc, chuyên gia về ung thư cua Viện Curie đã đánh giá như vậy.
(LA RECHERCHE 7-8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN (PROSTATE CANCER) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

9/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : CÓ NÊN TỔ CHỨC MỘT ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CÓ HỆ THỐNG BẰNG ĐỊNH LƯỢNG PSA ?

Giữa năm 1990 và 2006, tỷ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt đã giảm 2,1% mỗi năm, nhưng số các trường hợp mới đã tăng gấp ba với sự phát triển của việc phát hiện bằng định lượng PSA, những thông kê mới đây của viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire) đã chỉ rõ như vậy. “ Ngày nay không thể nói liệu công tác điều tra phát hiện này có phải đã tạo nên một dịch bệnh các chẩn đoán vô ích (une épidémie de diagnostics inutiles) hay phải chăng nó đã góp phần vào sự làm giảm tỷ lệ tử vong ”, bản báo cáo đã nói thêm như vậy.

Vào tháng ba 2009, công trình nghiên cứu Châu Âu ERSPC, được công bố trong New England Journal of Medicine, cho thấy một sự giảm 30% của nguy cơ chết vì ung thư tuyến tiền liệt nơi những người đàn ông được phát hiện bởi PSA, nhưng cũng chỉ rõ rằng đối với mỗi trường hợp tử vong tránh được, phải phát hiện 1400 người đàn ông và điều trị 48 người. Do đó, bài xã luận của NEJM đã viết : “ Sự lợi ích này có một cái giá : sự chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) và sự điều trị quá mức (surtraitement)...vấn đề chủ chốt không phải là việc phát hiện bởi PSA có hiệu quả hay không, mà đúng hơn là nó có mang lại điều tốt hơn là điều xấu hay không.” Công trình nghiên cứu ERSPC đánh giá sự chẩn đoán quá mức này (surdiagnostic : sự phát hiện một ung thư không có một hậu quả tai hại), dẫn đến một điều trị quá mức (surtraitement) là khoảng 50%.

“ Thoạt đầu, người ta xem việc phát hiện bệnh dĩ nhiên là có tính cách tích cực. Nhưng điều này chỉ hợp lý khi sự phát hiện này chứng tỏ được hiệu quả của nó và khi những hiệu quả có lợi vượt quá những hậu quả tai hại, như là trong sự phát hiện của ung thư đại trực tràng và ung thư vú. Đây không phải là trường hợp đối với ung thư tiền liệt tuyến, thế mà lại là ung thư được kê đơn xét nghiệm nhiều nhất.”, GS GU Launoy, chuyên gia y tế cộng đồng đã nói thêm vào như vậy. “ Người ta không phát hiện bệnh để mà xem cho biết, người ta phát hiện là để điều trị. Và bởi bệnh ung thư tuyến tiền liệt phát triển cực kỳ chậm chạp, nên luôn luôn sẽ có một nguy cơ bị chẩn đoán quá mức, và như thế đưa đến tình trạng điều trị quá mức. ”

Haute Autorité de Santé không khuyến nghị sự phát hiện có tổ chức(le dépistage organisé) và chẳng bao lâu nữa sẽ xác định lập trường dưới ánh sáng của công trình nghiên cứu ERSPC và của công trình nghiên cứu Hoa Kỳ PCLO.

“ HÃY TRÁNH NHỮNG ĐIỀU TRỊ QUÁ MỨC, NHƯNG ĐỒNG THỜI CŨNG TRÁNH NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG ”.

Hiệp hội của các thầy thuốc khoa niệu Pháp mong muốn một công tác phát hiện có tổ chức (dépistage organisé: nghĩa là được khuyến khích bởi giới hữu trách y tế), đối với những nhóm có nguy cơ (gốc châu Phi hay những ung thư tiền liệt tuyến xảy ra trong gia đình) từ 45 đến 54 tuổi, và từ 55 đến 69 tuổi trong một chiến dịch phát hiện có tổ chức hàng năm hay mỗi 3 năm tùy theo nồng độ PSA vượt quá 1ng/ml hay không. Từ 70 đến 75 tuổi, việc phát hiện là một chọn lựa cá nhân, vì không còn được khuyến nghị sau tuổi 75. “ Đó là một lập trường phi lý, GS Launoy đã đánh giá như vậy. “ Phải cấm chỉ sự phát hiện này đối với những nguoi không có một nguy cơ cao và phải phát triển sự nghiên cứu để xác định còn tốt hơn nữa những nhóm nguy cơ này.”

Đối với GS Olivier Cussenot, “ chính lương tri mới là thiết yếu. Phải tránh 10.000 điều trị quá mức (surtraitements) mỗi năm nhưng cũng phải tránh 10.000 trường hợp tử vong mỗi năm, nhờ sự phát hiện. Như thế, ta sẽ có thể phát hiện kịp thời những ung thư nhỏ tiến triển chậm, mà một phần lớn không cần điều trị nhưng chỉ cần theo dõi tích cực, và chỉ điều trị những trường hợp khác. Phải thông tin công chúng về công tác phát hiện, mặc dầu PSA không được hoàn hảo, bằng cách giải thích rằng đó là một yếu tố nguy cơ. Và thực hiện sớm định lượng PSA ở lứa tuổi 40-45, là lúc PSA có một giá trị tiên đoán (valeur prédictive) thật sự về nguy cơ ung thư trong 20 năm tiếp theo sau đó, hơn là đo nồng độ PAS ở tuổi 65, là lứa tuổi trung bình hiện nay, mà ta không chắc chắn rằng một điều trị có mang lại một lợi ích hay không.
(LE FIGARO 14/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN (PROSTATE CANCER) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ RƯỢU VÀ CÁC THIẾU NIÊN : CÁC TẾ BÀO THẦN KINH BỊ LÂM NGUY.

Ở các thiếu niên, khuynh hướng các “ cuộc chè chén tốc hành ” (biture express) (hyperalcoolisation), ngoài những nguy cơ xảy ra các tai nạn, là rất có hại cho não bộ của chúng. Một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ vừa cho thấy rằng trên mức nồng độ cồn trong máu 1,7g, việc lập đi lập lại những ngộ độc này gây nên những tổn hại nghiêm trọng cho các tế bào thần kinh của thùy hải mã (hippocampe) (nơi của trí nhớ và học tập).
(PARIS MATCH 1/7-7/7/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/7/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#60 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 27 July 2010 - 05:16 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHIỀU HƯỚNG CHỐNG LẠI BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

TIẾN TRIỂN. Bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques), có liên quan đến khoảng 80.000 người ở Pháp, là một trong những bệnh thần kinh mãn tính thường xảy ra nhất, cứ 1.000 người thì có một người bị bệnh. Được đặc trưng bởi một sự phá hủy của các bao myéline bao quanh các sợi thần kinh của não bộ, lúc khởi đầu bệnh thường tiến triển với các cơn bộc phát và được thể hiện bởi những rối loạn có mức độ trầm trọng thay đổi (thị giác, vận động, cảm giác), hiền tính đối với vài bệnh nhân, nhưng rất gây phế tật đối với những bệnh nhân khác. Nhưng chỉ có tiến triển theo năm tháng mới cho phép phân biệt những người chỉ bị một dạng nhẹ với những dạng khác.

CƠ CHẾ. Đó là một bệnh được xem như tự miễn dịch : một phản ứng viêm nguồn gốc miễn dịch giải thích sự phá hủy của myéline. Vì thế các thuốc nhằm tác động lên hệ miễn dịch được hiệu chính.

NGUỒN GỐC. Từ lâu người ta biết rằng bệnh này có một thành phần di truyền bởi vì những công trình nghiên cứu trên những người sinh đôi thật cho thấy rằng khi một người bị bệnh thì người kia cũng bị bệnh trong 30% các trường hợp. Khi một người bị bệnh, thì anh hay chị của người này (không phải sinh đôi) có 2% xác suất cũng bị bệnh (0,1% đối với dân chúng nói chung). Các gène là nguyên nhân, nhưng được liên kết với những yếu tố môi trường.
Những thuốc mới chẳng bao lâu sẽ xuất hiện trên thị trường với những tiến bộ đáng kể.


NEUROLOGIE. Nói chung, chính giữa năm 20 và 40 tuổi mà bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) xuất hiện, vào đúng lứa tuổi trong đó ta có nhiều dự án trong đầu. Nhưng khi căn bệnh giáng vào (cứ mỗi 4 giờ có mộtnguoi bị bệnh), nó làm phải xét lại vài dự án, mặc dầu điều đó không nhất thiết được biện minh. Ví dụ, sự tiến triển tự nhiên của bệnh không bị ảnh hưởng bởi các thai nghén, do đó bệnh nhân vẫn có thể mang thai.

VAI TRÒ CHIM MỒI (ROLE DE LEURRE).

Trong những năm đầu của căn bệnh, những tế bào miễn dịch, được xem như bảo vệ chúng ta chống lại các vi trùng, đi xuyên qua hàng rào ngăn cách chúng với não bộ (hàng rào huyết-màng não : barrière hémato-méningée) để phá hủy bao myéline bao quanh các dây thần kinh. Khi hàng rào này bị tổn thương, sự truyền của luồng thần kinh bị cản trở và xuất hiện những triệu chứng cảm giác hay vận động, tùy theo những vùng bị thương tổn (những rối loạn vận động của một cẳng chân, nhìn đôi, những khó khăn về giác quan…). Tất cả các loại thuốc, đang có sử dụng hay đang được chuẩn bị, đều nhằm mục đích ngăn cản hiện tượng này. Mỗi loại mỗi cách tác dụng.

Đó là trường hợp của các interféron có tác dụng ngăn cản những tế bào của hệ miễn dịch đi xuyên qua hàng rào máu-màng não. Cũng như trường hợp của copaxone : protéine này, giống với protéine của myéline mà các tế bào miễn dịch tấn công, đóng vai trò mồi giả (leurre). “ Những chất điều biến miễn dịch (immunomodulateur) này làm giảm khoảng 30% nguy cơ bị các cơn bộc phát và phế tật. Ngoài việc đó là những thứ thuốc có thể tiêm chích, chúng cũng được dung nạp khá tốt ”, GS Patrick Hautecoeur, trưởng khoa thần kinh của trung tâm bệnh viện Saint-Philibert (Lille) đã xác nhận như vậy.

Trong trường hợp các kết quả không đủ, các thầy thuốc thần kinh có thể kê đơn những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) như natalizumab (Tysabri). Ở bệnh viện, được tiêm bằng đường tĩnh mạch, theo nhịp độ một nửa ngày mỗi tháng, chúng làm giảm đến 70% số các cơn bộc phát và 90% những đợt viêm mới, có thể thấy rõ trên IRM. Chúng có thể gây nên một nhiễm trùng hiếm hoi nhưng nặng ở não bộ : leucoencéphalite multifocale progressive (LEMP). Trên thế giới, cứ 70.000 bệnh nhân được điều trị, 40 là nạn nhân của biến chứng này và 10 tử vong vì nó. Do đó điều trị này chỉ được kê đơn như là ưu tiên hai. Đó cũng là trường hợp của một thuốc làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur), ngày xưa được sử dụng trong ung thư vú : mitoxantrone (xantrosin). Thuốc này tác dụng bằng cách hủy bỏ những tế bào của hệ miễn dịch có liên hệ. Nhưng không có thể vượt quá một số giới hạn tiêm truyền mà không bị một suy tim và, hiếm hơn, một bệnh bạch cầu (leucémie)...

NHIỀU TÁC DỤNG PHỤ.

Ngay năm sắp đến, sẽ xuất hiện trên thị trường hai loại thuốc làm suy giảm miễn dịch mới : cladribine và fingolimod. Loại thuốc đầu tiên (cladribine) khiến nhiều tế bào của hệ miễn dịch tự hủy hoại và loại thuốc thứ hai (fingolimod) làm tê liệt chúng. Cả hai loại thuốc được sử dụng bằng đường miệng. Những kết quả của các thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng chúng làm giảm70%, tần số của các cơn bộc phát, làm ổn định các thương tổn não bộ.Trên bình diện các tác dụng phụ, chúng được kèm theo bởi một nguy cơ nhiễm khuẩn không phải là không đáng kể, thậm chí một nguy cơ gia tăng nhẹ (không được chứng minh) bị vài loại ung thư : da, buồng trứng, tụy tạng. “ Do đó cần thận trọng, nhất là khi ta chỉ có hai hoặc ba năm nhìn lại với loại thuốc này ”, BS Jean-Christophe Ouallet, thầy thuốc thần kinh của CHU de Bordeaux đã ghi nhận như vậy.

Các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) chẳng bao lâu sẽ đến trên thị trường và nhất là alemtuzumab, sẽ có sử dụng vào năm 2012. Hiệu quả hơn nhiều interféron về mặt các kết quả. Thuốc này vẫn còn nêu lên nhiều nghi vấn về tính dung nạp của nó. Nó có thể gây nên những trường hợp viêm giáp trạng (tuy hiếm) hoặc một sự sụt giảm các tiểu cầu máu (cần thiết cho sự đông máu). Chính vì thế loại thuốc này có lẽ cũng chỉ dành cho các trường hợp xơ cứng rải rác nghiêm trọng tức thời, ít nhất trong những năm đầu được thương mãi hóa.

Còn cần phải giải quyết vấn đề gai góc của những bệnh nhân đã có các di chứng. Ở Hoa Kỳ, dalfampridine đã nhận được giấy phép thương mãi hóa. Điều này sẽ cũng thế ở Pháp vào năm 2011, nhưng bệnh nhân có thể nhận được loại thuốc này qua một đơn xin đặc biệt do thầy thuốc thần kinh cấp. Được chỉ định nơi những bệnh nhân có những rối loạn bước (và không có suy thận), loại thuốc này tác dụng bằng cách ức chế sự thất thoát của potassium vào các sợi thần kinh bị hỏng, nhằm hạn chế sự mất của luồng thần kinh.

“ Lý tưởng dĩ nhiên sẽ là sửa chữa bao của dây thần kinh bị thương tổn, GS Hautecoeur nói tiếp như vậy, chính vì thế công cuộc nghiên cứu về các tế bào gốc được tiếp tục. Được tiêm vào trong não bộ của chuột, chúng đã cho những kết quả tốt. Nhưng những thử nghiệm đầu tiên trên người cho đến nay đã gây thất vọng, điều này chứng tỏ rằng người ta chưa làm chủ được phương pháp. Công cuộc nghiên cứu tiếp tục với hy vọng, trong 5 đến 10 năm đến, sau cùng, đạt được mục đích.
(LE FIGARO 25/3/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC (Multiple Sclerosis = MS) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ SIDA : TIẾN ĐẾN SỰ THANH TOÁN VIRUS VÀO NĂM 2050 ?

Liệu pháp ba loại thuốc (trithérapie) điều trị các bệnh nhân, nhưng cũng làm giảm khả năng gây nhiễm. Từ đó nảy ra ý tưởng điều trị để phòng ngừa.

EPIDEMIE. Nếu như tất cả những người bị nhiễm bởi virus sida được phát hiện và nhận các thuốc kháng virus, có lẽ dịch bệnh có thể biến mất trong vài thập niên. Thật vậy, mặc dầu các thuốc hiện nay không cho phép tiêu hủy virus, nhưng, đối với bệnh nhân được điều trị, chúng làm giảm nhiều nguy cơ truyền virus cho một đệ tam nhân, bằng đường sinh dục hay bằng tiêm chích.

“ Phát hiện và điều trị ” (Test and treat). Từ nay, đó là triết lý hành động của các cơ quan lớn chống bệnh sida và đặc biệt là Onusida, xác định cho mình mục tiêu điều trị các bệnh nhân, đồng thời ngăn cản những lây nhiễm mới. Trong khi Hội nghị quốc tế lần thứ 18 về bệnh sida đã khai mạc hôm qua với hơn 20.000 người tham dự (các nhà nghiên cứu, các thầy thuốc, các hiệp hội), càng ngày càng có nhiều chuyên gia ủng hộ một chiến lược như thế. Ngay cả Tổ chức y tế thế giới nghĩ đến, ở chân trời năm 2050, sự triệt căn của virus VIH, chịu trách nhiệm 25 triệu trường hợp tử vong kể từ đầu đại dịch, vào năm 1892.

“ Chiến lược này dựa trên sự kiện là, khi ta làm giảm trọng tải virus (charge virale) của các bệnh nhân bằng điều trị, thì nguy cơ truyền bệnh có vẻ thấp hơn, GS Jean-François Delfraissy (giám đốc của Cơ quan quốc gia nghiên cứu về bệnh sida, Paris) đã giải thích như vậy. “ Người ta cho rằng việc đảm bảo một sự tiếp cận điều trị cho tất cả những ai cần đến, có thể cho phép làm giảm 1/3 những trường hợp lây nhiễm mới mỗi năm ”, bản báo báo mới nhất của Onusida, được công bố cách nay vài ngày, đã xác nhận như vậy.

Cho mãi đến nay, đó chủ yếu là những mô hình, liên kết với những công trình nghiên cứu quán sát, cho phép dự kiến, nhờ một phương pháp như thế, một khả năng thanh toán virus sida. Hôm qua, nhân Hội nghị quốc tế thế giới về sida, tạp chí Anh The Lancet đã công bố những kết quả của công trình nghiên cứu Canada ít nhất cũng phù hợp phần nào những giả thuyết này. Công trình chứng minh rằng chỉ cần điều trị những người huyết thanh dương tính (séropositifs) cũng cho phép chia đôi số những trường hợp mới nhiễm trùng bởi VIH.

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHÁC ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH.

Nhóm nghiên cứu của GS Julio Montaner (giám đốc của Trung tâm chống bệnh sida ở Vancouver và chủ tịch của International Aids Society, tổ chức hội nghị quốc tế ở Vienne) đã tập trung vào tỉnh Colombie-Britanique (Canada), nơi đây, từ năm 1996, tất các các bệnh nhân bị nhiễm bởi virus sida đều được hưởng một sự tiếp cận điều trị miễn phí. Nhóm nghiên cứu đã có thể quan sát thấy rằng giữa năm 1996 (lúc bắt đầu liệu pháp 3 thứ thuốc, trithérapie) và 2009, số những người được điều trị trong vùng này đã chuyển từ 837 lên 5.413. Trong cùng thời gian, suốt trong 13 năm này, số những trường hợp chẩn đoán huyết thanh dương tính mới mỗi năm đã chuyển từ 702 xuống còn 338, hoặc một sự giảm 52%. “ Cứ thêm 100 người được điều trị bởi liệu pháp 3 thứ thuốc, số những trường hợp mới hạ 3% ”, các tác giả đã tóm tắt như vậy.

Ngược lại, các tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục đã gia tăng trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu, điều này chứng tỏ rằng những kết quả của nó không phải là do một sự giảm các hành vi sinh dục có nguy cơ (conduite sexuelle à risque), mà đúng là do hiệu quả phòng ngừa của các điều trị. Sự giảm số các nhiễm trùng mới đã có thể nhận thấy đối với các cách lây nhiễm và đặc biệt là đối với những người tiêu thụ thuốc ma túy bằng đường tiêm chích. “ Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi xác nhận lợi ích thứ hai của các điều trị, đó là làm giảm sự lan truyền của VIH. Những kết quả này khiến phải xem xét lại sự lưỡng phân được xác lập giữa sự phòng ngừa và sự điều trị của VIH ”, các tác giả đã kết luận như thế. Nhiều công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành để đánh giá tốt hơn ảnh hưởng của điều trị lên sự phòng ngừa. “ Còn có nhiều nghi vấn, GS Delfraissy đã xác nhận như vậy. Trước hết phải cố đạt được sự chấp thuận để được phát hiện bệnh và sự tuân thủ các điều trị. Cũng cần phải theo dõi những đề kháng của virus đối với các loại thuốc. Sau cùng, vấn đề phí tổn của một điều trị đối với tất cả không thể không được nói đến. Hiện nay, trên 33 triệu người bị nhiễm trùng trên thế giới, chỉ 12 triệu được phát hiện và 5 triệu được điều trị. ”

Trong lúc chờ đợi một sự triệt căn khả dĩ của virus VIH trong 40 năm đến, những chiến dịch phòng ngừa bệnh sida bằng bao dương vật được tiếp tục khắp nơi trên thế giới. Các chuyên viên đang nôn nóng chờ đợi những kết quả của một công trình nghiên cứu, được trình bày ngày mai, nhằm đánh giá hiệu quả của một gel âm đạo chứa một chất kháng virus, để phòng ngừa sự lây nhiễm đối với các phụ nữ.
(LE FIGARO 19/7/2010)

3/ THUỐC CHỦNG CHỐNG BỆNH SIDA (VACCIN ANTI-VIH) : SỰ LẠC QUAN CỦA GIÁM ĐỐC VIỆN CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG HOA KỲ.

Sau 20 năm thất bại, công cuộc tìm kiếm một vaccin chống bệnh sida đã trải qua những bước tiến quan trọng, làm tin tưởng hơn nhiều khả năng thắng bệnh nhiễm trùng, Anthony Fauci, giám đốc Viện các bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ, đã đánh giá như vậy.

“ Tôi nghĩ rằng, chúng ta có thể nói một cách thành thật rằng, những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện trong sự phát triển của một vaccin ”, Anthony Fauci đã tuyên bố như vậy, nêu lên sự khám phá mới đây của hai kháng thế mới chống lại virus sida (anticorps anti-VIH), bởi những nhà nghiên cứu của cơ quan ông, Viện quốc gia Hoa Kỳ về các dị ứng và những bệnh nhiễm trùng (Niaid), đang ở hàng đầu trong công cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida. “ Mãi cho đến gần đây, không những các cố gắng để sản xuất một vaccin đã không thu được kết quả, mà chúng ta còn không có chỉ dấu ít ỏi nào cho thấy rằng chúng ta đã đi trên con đường đúng đắn ” ông nói tiếp như vậy. Chúng ta tiến bước hầu như một người mù, với hy vọng gặp được cơ may.”

Tất cả đã bắt đầu thay đổi với những kết quả của một thử nghiệm lâm sàng của một vaccin thí nghiệm ở Thái Lan, vào năm 2009, trên 16.000 người. Những kết quả đã cho thấy một hiệu quả dương tính rất khiêm tốn để ngăn ngừa nhiễm trùng bởi VIH (virus de l’immunodéficience). “ Mặc đầu hiệu quả không đầy đủ, vaccin này đã đánh dấu một bước tiến về quan niệm (une avancée conceptuelle), đã cho chúng ta thấy rằng có thể sản xuất một vaccin có khả năng ức chế VIH, BS Fauci nói thêm như vậy. Tất cả sự khó khăn để sản xuất một vaccin là ở chỗ virus này biến dị một cách nhanh chóng ”.

Tuần vừa qua, các nhà nghiên cứu của Niaid đã loan báo trong tạp chí Science cua Hoa Kỳ là đã thành công nhận diện hai kháng thể (VRCQ1,VRCO2) nơi một người bị nhiễm trùng. Những kháng thể này trong phòng thí nghiệm cũng phong bế hơn 90% những giống gốc VIH được biết trên thế giới. “ Khám phá này đã cho phép chúng tôi phân lập một bộ phận của VIH, mà chúng tôi có thể sử dụng như vaccin, bởi vì chúng tôi biết rằng những kháng thể này luôn luôn tấn công vào đó và phong bế virus ”, ông đã xác nhận như vậy. Mục tiêu sắp đến là thử tiêm nơi người, một trích chất của bộ phận này của virus dưới dạng vaccin, để gây nên một đáp ứng miễn dịch bảo vệ chống lại nhiễm trùng. Tất cả những diễn biến này chỉ mới xảy ra rất gần đây. Vậy thì, mặc dầu không có thể biết khi nào chúng ta sẽ có một vaccin, nhưng chúng ta tin tưởng hơn nhiều so với chỉ cách nay vài năm, khi đó không có gì chỉ cho thấy rằng việc khám phá một vaccin là có thể thực hiện được.”

Tìm ra những kháng thể, có khả năng làm vô hiệu các giống gốc của VIH hiện diện khắp nơi trên thế giới, cho đến nay, đã tỏ ra rất là gay go, bởi vì virus thay đổi protéine bề mặt một cách thường xuyên để thoát khỏi sự phát hiện bởi hệ miễn dịch. Những khám phá như thế tạo nên một điểm khởi đầu lý thú nhưng dầu sao vào giai đoạn này, điều đó dường như không đủ để hiệu chính một vaccin phòng ngừa, GS Jean-François Delfraissy (giám đốc của Cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh sida, Paris) đã phát biểu như vậy.
(LE FIGARO 19/7/2010)

4/ ĐỂ NGĂN NGỪA NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : NHỮNG CHIẾN LƯỢC MỚI.

Những tai biến thiếu máu cục bộ cấp tính (accidents ischémiques aigus), như nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não, là một biến chứng trầm trọng của xơ mỡ động mạch, do sự tạo thành, bởi các tiểu cầu, một cục máu đông nơi một mảng xơ mỡ (plaque d’athérome). Nhóm nghiên cứu của giáo sư Stephen Hanson (đại học Portland) đã quan sát rằng những bệnh nhân mà số các tiểu cầu trong máu nằm trong những giới hạn dưới bình thường, có ít hơn một cách rõ rệt những nguy cơ mạch máu so với những những bệnh nhân có nồng độ tiểu cầu trong những giới hạn cao. Từ đó nảy ra ý tưởng chỉ cần làm giảm số tiểu cầu lưu thông trong máu xuống trong những giới hạn bình thường có thể chấp nhận được cũng đủ để phòng ngừa hữu hiệu. Các nhà nghiên cứu đã hiệu chính một kháng huyết thanh (antisérum) có tác dụng ức chế một phần thrombopoiétine, một hormone đảm bảo sự tăng trưởng của các tiểu cầu trong tủy xương. Nơi khỉ bị xơ mỡ động mạch, chất kháng huyết thanh này đã gây nên một sự hạ vừa phải và được kiểm soát của số các tiểu cầu. So sánh với nhóm động vật chứng, điều trị này tỏ ra có hiệu quả như các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant) để phòng ngừa huyết khối.
(PARIS MATCH 22/7-28/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

5/ TẠI SAO PARACETAMOL LẠI THÀNH CÔNG ĐẾN THẾ ?

Professeur Claude Dubray
Directeur du Centre d’Investigation Clinique
de Clermont-Ferrand


Ai đã chẳng dùng, một ngày nào đó, paracétamol để làm dịu bớt một cơn đau răng, đau khớp...hay để làm hạ sốt em bé ? Loại thuốc này, mà ta nhận thấy trong tất cả các tủ thuốc gia đình, là thuốc chống đau (antidouleur), được sử dụng nhiều nhất trên thế giới từ giữa thế kỷ XX. Những thành công này là do paracétamol nói chung có hiệu quả lên những đau đớn có cường độ trung bình và do ở chỗ nó ít có những tác dụng phụ nếu ta tôn trọng những liều lượng được khuyến nghị. Nhược điểm chủ yếu của nó là trong trường hợp quá liều quan trọng nó có thể gây nên những thương tổn gan có thể dẫn đến tử vong.

HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG.

Ngày nay chúng ta biết rằng paracétamol tác dụng chủ yếu lên hệ thần kinh trung ương và không tác dụng lên, như người ta đã hằng tưởng từ lâu, các tận cùng ngoại biên của các dây thần kinh sinh ra các thông tin về đau đớn. Cũng có một sự nhất trí rộng rãi để cho rằng tác dụng của paracétamol lên hệ thần kinh trung ương góp phần làm tăng cường điều mà ta gọi là những kiểm soát ức chế hướng hạ (CID : contrôles inhibiteurs descendants). Những đường thần kinh này phát xuất từ thân não để điều biến sự dẫn truyền của các thông tin đau đớn ở một nơi chuyển tiếp (relais) nằm trong tủy sống. Sự hoạt hóa của hệ này bởi paracétamol như thế cho phép làm giảm những thông tin đau đớn đi lên về phía não bộ. Bên cạnh vai trò của các CID này trong sự làm giảm một đau đớn cấp tính, cũng dường như rằng hệ thống này ít hiệu quả hơn nơi những bệnh nhân có một sự tăng nhạy cảm với sự đau đớn như ta quan sát thấy trong vài dạng bệnh thần kinh (neuropathie) hay fibromyalgie. Vấn đề là phải khám phá các đích mà paracétamol tác động để làm tăng cường sự kiểm soát ức chế này.

Từ lâu người ta đã nghĩ rằng tác dụng giảm đau của paracétamol là do, cũng như đối với các thuốc kháng viêm, một sự phong bế của cyclo-oxygénase. Enzyme này kiểm soát sự tổng hợp của prostaglandine, mà ta biết rằng nó có vai trò làm nhạy cảm lên vài tận cùng thần kinh.

Trong lúc đi sâu vào các nghiên cứu, người ta đã nhận thấy rằng sự giao thoa (interférence) của paracétamol với enzyme này là phức tạp hơn điều mà người ta hằng tưởng bởi vì nó được thực hiện một cách gián tiếp.

NHỮNG THUỐC MỚI.

Mới đây người ta đã khám phá rằng một sản phẩm phát xuất từ sự chuyển hóa của paracétamol trong cơ thể người, para-aminophénol, kết hợp với một sản phẩm khác để sản xuất một loại thuốc có cấu trúc tương tự với những hoạt chất của cannabis.Vai trò của chất chuyển hóa (métabolite) này, có nòng cốt là những thí nghiệm, được thực hiện nơi động vật, đã cho thấy rằng ta có thể hủy bỏ tác dụng của paracétamol chống đau và sốt bằng những chất phong bế các thụ thể đối với cannabinoides. Vì không có chất thuốc loại này để có thể sử dụng trong nghiên cứu lâm sàng, nên cơ chế tác dụng này, bất hạnh thay, đã chưa có thể được xác nhận trên người.

Phải chăng đó là tận cùng của saga ? Có lẽ là không, bởi vì các nhà nghiên cứu đã lao mình vào việc khai thác những hướng mới, như sự tương tác của paracétamol với những thụ thể nhiệt TRPV1, những thụ thể đối với mélatonine… Điều này giải thích vì sao những nghiên cứu vẫn rất tích cực, không những trong thí nghiệm động vật, mà còn nơi người, với hai lãnh vực áp dụng khả dĩ :
  • sự nhận diện những bệnh nhân đáp ứng tốt với tác dụng chống đau của paracétamol, điều này dường như không phải là trường hợp đối với tất cả mọi người.
  • sự làm rõ nét những đích dược lý (cibles pharmacologiques) của paracétamol có khả năng mở ra con đường tổng hợp các loại thuốc mới, vẫn bảo tồn, thậm chí làm khuếch đại các tác dụng chống đau của paracétamol, đồng thời tránh những nguy cơ độc hại do một sự quá liều.

Những triễn vọng điều trị này tạo động cơ hàng ngày cho các nhà nghiên cứu và các nhà lâm sàng, đang nghiên cứu thứ thuốc “ xưa cổ ” này nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn.
(LE FIGARO 14/6/2010)

6/ BỆNH LOÃNG XƯƠNG : CÁC PHỤ NỮ NÓI CHUNG KHÔNG HAY BIẾT ĐẾN NGUY CƠ.

Có nhiều định kiến lưu hành về bệnh loãng xương. Đó không phải là một bệnh duy nhất xảy ra ở nữ giới vì lẽ dầu sao cũng có 13% các người đàn ông bị liên hệ. Và đó cũng không phải chỉ là bệnh của người già, vì lẽ bệnh loãng xương có thể gây bệnh cho những phụ nữ còn rất trẻ, mặc dầu tuổi tác thật sự là một yếu tố nguy cơ quan trọng.

Sau hết, đó cũng không phải là một bệnh vô hại. “ Căn bệnh này là nguồn của các biến chứng : cứ mỗi 30 giây có một phụ nữ châu Âu là nạn nhân của gãy xương ! Vài gãy xương chủ yếu có giá trị báo động như gãy xương cổ tay, loan báo khả năng gãy một xương khác. Những gãy xương khác như các gãy xương đốt sống (lún đốt sống) và các gãy xương háng có thể gây nên những biến chứng và đôi khi, sự khởi đầu của mất khả năng tự trị ”, GS Roux đã nhắc lại như vậy. Như là, chỉ một mình các gãy cổ xương đùi chịu trách nhiệm 50.000 nhập viện mỗi năm và 10.000 trường hợp đưa vào viện dưỡng lão trong hai năm sau điều trị.

Vài yếu tố nguy cơ điển hình cho phụ nữ như sự việc có thời kỳ mãn kinh sớm hay đã có một tình trạng mất kinh kéo dài trong cuộc sống của mình.

Những yếu tố nguy cơ khác cũng liên quan đến những người đàn ông, như có một tiền sử cá nhân bị gãy xương, xảy ra sau một chấn thương nhỏ hay một tiền sử bố mẹ bị gãy cổ xuống đùi. Sự việc bị chứng chán ăn (anorexie) hay gầy ốm trong nhiều năm, hút thuốc, uống hơn 3 hay 4 ly rượu mỗi ngày, đã sử dụng corticoide trong một thời gian khá dài, có một bệnh viêm mãn tính (bệnh viêm đa khớp dạng thấp, bệnh Crohn,...) hay vài bệnh nội tiết như tăng năng tuyến giáp, cũng làm gia tăng nguy cơ này.

Một điều tra quốc tế trong đó hơn 60.000 phụ nữ trên 55 tuổi được hỏi là họ có nghĩ có những nguy cơ bị gãy xương do bệnh loãng xương hay không, thì những người được hỏi đánh giá thấp rất nhiều nguy cơ này. Ngay cả trong số những người đã từng có một lần gãy xương do chứng loãng xương, thì chỉ 1/3 là nghĩ đến điều đó, thật là quá lắm ! “ Cứ 3 gãy xương đốt sống (lún đốt sống) thì hai đã xảy ra mà không được biết, bởi vì chúng không phải luôn luôn gây đau đớn và bị lầm với một chứng đau lưng thông thường. Tuy vậy, mỗi trong những gãy xương đốt sống này đi kèm theo bởi một sự giảm chiều cao. Vậy chỉ cần tự đo và so sánh với chiều cao lúc 20 tuổi để có một ý tưởng tốt về vấn đề ”, GS Roux, một trong những người điều tra của công trình nghiên cứu, đã nhấn mạnh như vậy.

Khi có một sự nghi ngờ, ostéodensitométrie biphotonique à rayons X , hoặc thậm chí tính chỉ số Frax, được phát triển bởi OMS, có thể giúp thấy rõ hơn.
(LE FIGARO 31/5/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH LOÃNG XƯƠNG (OSTEOPOROSIS) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

7/ CHOLESTEROL : CHÚ Ý CÁC ĐƯỜNG CÓ TÁC DỤNG NHANH.

Khác với những loại đường có tác dụng chậm (các thức ăn có bột và bánh mì toàn phần) có lợi cho sức khỏe, các loại đường có tác dụng nhanh dùng quá mức, kẹo, kem... đã được nhận diện như là những yếu tố làm dễ sự xuất hiện của một bệnh đái đường. Các nhà dịch tễ Hoa Kỳ vừa chứng minh rằng chúng cũng chịu trách nhiệm một profil lipide xấu liên kết với nguy cơ xơ mỡ động mạch. Được chỉ đạo bởi GS Jean Welsh của đại học Emory (Atlanta), một công trình nghiên cứu, được tiến hành giữa năm 1999 và 2006, đã theo dõi hơn 6000 người trưởng thành thuộc hai giới tính. Những kết quả cho thấy rằng sự tiêu thụ đường có tác dụng nhanh càng cao, thì HDL-cholestérol, “ cholestérol tốt ” càng giảm. Ngược lại, các triglycéride và LDL-cholestérol, “cholestérol xấu ” càng gia tăng. Từ 30 năm nay và mặc dầu không có lợi ích dinh dưỡng, thành phần các loại đường được thêm vào các thực phẩm không ngừng gia tăng. Đứng trước điều chứng thực này, các giới hữu trách Hoa Kỳ đã lên tiếng báo động. OMS khuyến nghị giới hạn phần đường có tác dụng nhanh tối đa là 10% của cung cấp toàn bộ calo mỗi ngày.
(PARIS MATCH 8/7-14/7/2010)

8/BỆNH VIÊM ĐỘNG MẠCH : NGOẠI KHOA NHẰM KHAI THÔNG CÁC ĐỘNG MẠCH.

Ngoại khoa, điều trị chủ yếu khi các thuốc men không hiệu quả, tấn công vào hai hậu quả chính của bệnh động mạch. Hậu quả thứ nhất là nguy cơ động mạch bị bít hoàn toàn. Hậu quả thứ hai, ít thường xảy ra hơn, là động mạch bị vỡ tại một phình động mạch (anévrisme) nếu thành động mạch bị giãn ra một cách bất thường. Vậy ngoại khoa tự nó không phải là một mục đích, vì lẽ nó điều trị những hậu quả của một viêm động mạch, nhưng không điều trị nguyên nhân của nó.

Cuộc phẫu thuật bằng đường nội huyết quản (par voie endovasculaire), nhằm đi qua động mạch đùi để đạt đến động mạch bị bệnh, đã góp phần làm giảm thời gian nhập viện (trung bình 48 giờ). Nhưng cũng làm giảm thời gian cần thiết để phục hồi, khi ta gặp phải một viêm động mạch gây tắc (artérite oblitérante) (80% các trường hợp), có nghĩa là một động mạch bị bít một phần nào bởi một mảng xơ mỡ (plaque d’athérome). “ Thường nhất, thầy thuốc ngoại khoa đặt một là xo nhỏ (stent) vào bên trong động mạch, đối diện với mảng xơ mỡ này, để dán nó vào thành. Vi phẫu thuật có thể được thực hiện bằng gây mê tại chỗ và vì sẹo mổ là rất nhỏ, nên người được mổ, ngày hôm sau,có thể buớc đi trở lại và tái tục công việc sau đó ”, GS Cardon đã giải thích như vậy.

Trên bình diện ngoại khoa, vậy đó là một sự thành công. Chỉ có điều các tái phát thường xảy ra, vì lẽ 30% hẹp động mạch được tạo trở lại ở cùng nơi, trong hai năm sau mổ. Nhiều thử nghiệm đã được thực hiện với những lò xo hoạt tính (stent actif), nghĩa là những lò xo được bọc bởi một loại thuốc nhằm ngăn cản sự tái phát. Nhưng mãi cho đến ngày nay, phải thú nhận rằng các kết quả của chúng đều gây thất vọng. Nhiều công trình nghiên cứu với nhiều sản phẩm (quả bóng hay lò xo được ngấm thuốc) còn đang được tiến hành và các kết quả của chúng được dự kiến từ nay đến 2011. Trong lúc chờ đợi, sự theo dõi bằng doppler vẫn là chủ yếu : xét nghiệm này được thực hiện trước khi bệnh nhân được cho xuất viện để kiểm chứng rằng không có sự trở ngại nào nữa đối với tuần hoàn máu, rồi sau đó kiểm tra mỗi 6 đến 12 tháng trong vòng hai năm.

THEO DÕI SÁT.

Vấn đề hơi phức tạp trong trường hợp viêm động mạch kết hợp với giãn thành động mạch, mà người ta gọi là phình động mạch (anévrisme) (20% các trường hợp). Khi đó, nhà phẫu thuật có hai kỹ thuật có thể thực hiện, tùy theo vị trí của phình động mạch : hoặc là thực hiện mở bụng (laparotomie) (ngoại khoa cổ điển) để đến “ may ” một prothèse vào nơi phình mạch. Hoặc đặt vào bên trong động mạch bị bệnh một loại prothèse giả, được triển khai như một chiếc cầu.

Chỉ có những phình động mạch đạt một kích thước nguy kịch 5 cm mới được mổ bởi vì chúng có nhiều nguy cơ bị vỡ hơn. Trong trường hợp endoprothèse, cần theo dõi sát sau 1 tháng, 6 tháng, 12 tháng, rồi mỗi năm, bởi vì có thể xảy ra trường hợp bị một chỗ rò. Và BS Cardon nhấn mạnh : “ Cho mãi đến nay, người ta mổ chủ yếu những phình động mạch ở vị trí động mạch chủ dưới thận. Mặc dầu hiếm hơn, những phình động mạch nằm ở các nhánh tạng của động mạch chủ thật ra mổ khó hơn nhiều. Nhưng nhờ sự xuất hiện các endoprothèse mới được thích ứng tốt hơn, nên phẫu thuật của những phình động mạch này vừa mới được bắt đầu : thêm một thách thức mới, mà các thầy thuốc ngoại khoa hy vọng đối đầu từ nay đến cuối năm 2010.
(LE FIGARO 28/6/2010)

9/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2 : NHỮNG HIỆU NĂNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI.

GS Bernard Bauduceau, khoa nội tiết thuộc bệnh viện Bégin (Saint-Mandé) giải thích những ưu điểm của liraglutide, so sánh với những những liệu pháp cổ điển.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh đái đường loại 2.
GS Bernard Bauduceau : Đó là loại đái đường thường xảy ra nhất : trong đất nước chúng ta, 2.600.000 người bị bệnh này (90% toàn bộ những người bị bệnh đái đường). Những bệnh nhân này có một nồng độ đường trong máu quá cao, vượt quá 1,26 g mỗi lít. Bệnh lý này tiến triển không triệu chứng, và những hậu quả của nó, về lâu dài, có nguy cơ nghiêm trọng : thương tổn mắt (nguyên nhân đầu tiên gây mù lòa), suy thận, nhồi máu cơ tim, thương tổn các dây thần kinh, nhất là nơi các bàn chân.

Hỏi : Protocole điều trị quy ước là gì ?
GS Bernard Bauduceau : Trước hết, cần định lượng, bằng một xét nghiệm máu, hémoglobine glyquée, tương ứng với trị số trung bình của các nồng độ glucose-huyết trong 3 tháng qua (nồng độ bình thường dưới 6%). Chính tùy theo kết quả mà ta quyết định là nên hay không nên bắt đầu một điều trị. Với protocole cổ điển, ta bắt đầu với metformine (hai hoặc ba viên mỗi ngày), nhằm làm giảm sự đề kháng insuline. Khi điều trị tỏ ra có hiệu quả, ta dừng lại ở đó. Nhưng, trong đại đa số các trường hợp, sau nhiều tháng hoặc nhiều năm, trở nên cần thiết phải tăng cường tác dụng của liệu pháp này với một thứ thuốc thuộc một họ khác. Nhiều loại có thể được kê đơn. Nhưng sau một thời gian nào đó, điều trị bằng đường miệng này tỏ ra không đủ : khi đó phải tiêm insuline.

Hỏi : Những tác dụng phụ của những liệu pháp hai thứ thuốc (bithérapie) và của insuline là gì ?
GS Bernard Bauduceau : Hầu hết các loại thuốc này, được dùng ưu tiên hai (ngoại trừ các inhibiteur de la DPP-4), có thể gây nên những tác dụng có hại : một sự giảm đường huyết với nguy cơ khó ở (malaise), mất tri giác hay tăng thể trọng. Insuline, ngoài những tác dụng phụ này, đòi hỏi kiểm tra máu đều đặn để thích ứng các liều lượng của thuốc.

Hỏi : Phương pháp mới với liraglutide là gì ?
GS Bernard Bauduceau : Đó là một loại thuốc đặc biệt có hiệu quả, thuộc một họ vừa mới được thương mãi hóa, họ của các “ chất tương cận của GLP1 ”. Nó được chỉ định trong hai trường hợp : hoặc là trong trường hợp thất bại của metformine phối hợp với loại thuốc này, hoặc trong trường hợp một liệu pháp hai thứ thuốc không có hiệu quả, trước khi phải nhờ đến insuline. Loại thuốc này kích thích tụy tạng để chế tạo insuline, đồng thời kềm hãm sự tiết của một hormone khác làm dễ sự tăng cao đường huyết. Cách tác dụng của liraglutide rất là lý thú, bởi vì nó chỉ tác dụng trong trường hợp cần thiết, khi nồng độ đường trong máu quá tăng cao. Khi nồng độ đường trong máu trở lại bình thường, nó không can thiệp nữa. Do sự việc này, ta tránh được những nguy cơ khó ở và mất tri giác do một sự giảm đường huyết. Lợi ích khác : điều trị này làm giảm cảm giác đói, do đó làm mất vài kilo nơi những người béo phì.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ hiệu quả của phương pháp điều trị mới này ?
GS Bernard Bauduceau : Những công trình nghiên cứu quốc tế nghiêm túc (các công trình LEAD) đã được thực hiện nơi hơn 4.000 bệnh nhân được điều trị trong 6 tháng đến 1 năm (với một mũi tiêm mỗi ngày, được thực hiện bởi chính các bệnh nhân bằng một bút chích chỉ dùng một lần). Các kết quả tỏ ra rất thỏa mãn : tỷ lệ hémoglobine glyquée trung bình đã giảm 1 đến 1,5% nơi toàn thể các bệnh nhân. Những tác dụng phụ gồm có những rối loạn tiêu hóa thường tạm thời.

Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của liraglutide là gì ?
GS Bernard Bauduceau : 1. Tính hiệu quả lớn hơn so với những điều trị bằng đường miệng. 2. Không gây hạ đường huyết. 3. Có khuynh hướng làm mất cân. 4. Cách sử dụng dễ dàng và không cần kiểm tra đều đặn. 5. Trong vài trường hợp là một điều trị thay thế insuline.
(PARIS-MATCH 22/7-28/7/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG (DIABETES) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CÓ ẢNH HƯỞNG LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH TRỨNG CÁ ?

Tôi nhớ những năm thời niên thiếu, bị quấy rối bởi một bệnh mụn trứng cá (acné), làm tôi bị “ sưng phù ” mặt. Mỗi buổi sáng tôi thức dậy với nỗi âu lo rằng một mụn mủ (pustule) mới lại xuất hiện lúc thức dậy. Và trong trường hợp như thế, nghĩa là hai ngày trên ba, tôi biết rằng mối quan tâm chủ yếu của tôi trong ngày là dấu cái hạch xoài (bubon) đó, cái vướng víu ăn thịt người này mà tôi cảm thấy sẽ ngăn cản tôi nhìn đối diện bất cứ ai, đặc biệt là các cô gái mà tôi lưu ý. Bố mẹ tôi đã không biết rằng đã có (vào cuối những năm 1970) những điều trị cho phép tôi tìm lại được một dạng vẻ “ bình thường ” và nhất là sự tự tin, chỉ nhờ vào một buổi thăm khám nơi một thầy thuốc chuyên bệnh ngoài da. Cũng như biết bao thiếu niên ngày nay, tôi đành phải nhờ đến các phương tiện nhỏ và lớn.

Cái khắc nghiệt nhất, khi tôi nghĩ lại điều đó, là chế độ nghiệt ngã mà tôi buộc mình phải theo trong hơn một thập niên. Vững tin là chocolat, đồ thịt lợn (charcuterie), bánh ngọt và tóm lại tất cả những gì ngon miệng đều gây nên các nốt mụn, nên tôi đã tự cấm mình đụng vào chúng. Về sau, khi đã trở thành thầy thuốc chuyên khoa da, câu trả lời của tôi, dành cho 90% các bệnh nhân khi hỏi tôi chế độ ăn uống có một ảnh hưởng lên sự xuất hiện của bệnh mụn trứng cá hay không, là gì ?

Câu trả lời thẳng thừng : không ảnh hưởng một chút nào cả ! Dầu sao trên thực tiễn không có một ảnh hưởng nào. Bởi vì nếu chế độ ăn uống đóng một vai trò trong sự xuất hiện của bệnh trứng cá, đó là một cách toàn bộ. Không có một thức ăn nào đặc biệt bị quy kết và chẳng ích lợi gì khi phải loại trừ một hay nhiều loại thức ăn ra khỏi chế độ ăn uống của mình. Ngược lại, chế độ ăn uống phương Tây ngày nay nói chung dường như có một phần trách nhiệm trong sự xuất hiện của bệnh trứng cá. Những lý lẽ dịch tễ học rất là thuyết phục : ở Tây Phương , bệnh trứng cá ảnh hưởng lên 80% đến 90% các thiếu niên và 25% những người trưởng thành. Trong khi đó, nơi những người Ấn của Paraguay hay những người dân của đảo Kitavan, ở Papouasie-Nouvelle-Guinée, bệnh trứng cá không hiện hữu. Cùng sự quan sát đã được thực hiện nơi những người Inuits và những người dân của đảo Okinawa trước khi người Mỹ đến. Trong cả hai trường hợp, nếu những người dân này theo những thói quen ăn uống phương tây, tần số của bệnh trứng cá tương tự với tần số của các nước phương tây. Chế độ ăn uống của những người dân sống bằng săn bắn và hái lượm này khác biệt với chế độ ăn uống của chúng ta ở chỗ chỉ số đường (index glycémique) thấp : chế độ ăn uống của họ không có hoặc rất ít những thức ăn có tác dụng nâng cao đường huyết một cách quan trọng. Chế độ ăn uống này chỉ gồm có các sợi, đường có tác dụng chậm (sucres lents) và một ít mỡ và các chất đạm động vật.

Những công trình nghiên cứu này có tính cách thuyết phục, đặc biệt là bởi khía cạnh “ trước[*] sau ”. Nhưng trước khi chúng ta xông vào những phương pháp ăn uống của những người săn bắn-hái lượm, phải nhớ rằng hầu như không thể theo một chế độ ăn uống như vậy khi ta sống trong một đất nước công nghiệp hóa, bởi vì các thức ăn quá dồi dào hiện diện khắp nơi.

Thế thì, để kết luận, chế độ ăn uống có ảnh hưởng chăng lên sự phát triển của bệnh trứng cá ? Vâng, trên quy mô của dân chúng, bởi vì nếu chúng ta ăn ít “phong phú ” hơn, và đặc biệt ít đường hơn, bệnh mụn trứng cá sẽ ít xảy ra hơn. Bệnh mụn trứng cá là một bộ phận của các bệnh của nền văn minh phương tây, cũng như bệnh đái đường “ mỡ ” và chứng béo phì.

Nhưng không ở trên bình diện cá nhân, bởi vì chẳng ích lợi gì khi biến đổi chế độ ăn uống để làm giảm mức độ nghiêm trọng của chứng bệnh trứng cá của mình ; sự biến đổi này sẽ không có ảnh hưởng có thể đo lường được.
(LE FIGARO 22/3/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/7/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#61 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 02 August 2010 - 08:04 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ LÀM SAO ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CHỨNG CHÁN ĂN TÂM THẦN (ANOREXIE MENTALE) ?

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CÁC CON SỐ. Trong tất cả các nước phương Tây, bệnh chán ăn tâm thần (anorexie mentale) gây bệnh 0,5 đến 2% các thiếu niên. 9 trường hợp trên 10 liên quan đến các thiếu nữ. Về chứng ăn quá độ (boulimie), căn bệnh này ảnh hưởng, với một tần số gia tăng, 3 đến 4% các thiếu nữ. Nói chung, các triệu chứng của chứng ăn quá độ bắt đầu chậm hơn so với chứng chán ăn, khoảng 19 đến 20 tuổi. Theo Brigitte Remy, thầy thuốc tâm thần trong một trung tâm của MGEN, những rối loạn hành vi ăn uống là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trong tâm thần học. Những người bị chứng chán ăn chủ yếu ngã gục vì bị ngừng tim.

NHỮNG YẾU TỐ LIÊN KẾT. Những công trình nghiên cứu dịch tễ học cho phép nhận diện nhiều tham số liên kết với chứng chán ăn, bắt đầu là những yếu tố văn hóa. Những người chán ăn sống trong những nước kỹ nghệ. Không có một trường hợp nào đã được báo cáo ở châu Phi, và những công trình đã chứng minh rằng, nơi những người di dân châu Á ở Hoa Kỳ, chỉ thế hệ thứ hai mới bị mắc bệnh. Những tiền sử có những rối loạn ăn uống xảy ra trong gia đình, một sự bất hòa với bố mẹ, những kỳ vọng cao của gia đình đối với con mình, sự lạm dụng các thuốc ma túy, một nhân cách “ borderline ” hay những lạm dụng tình dục cũng tương quan với sự xuất hiện của chứng chán ăn.

DI TRUYỀN. Những trường hợp gia đình và những công trình trên các người sinh đôi đã xác nhận vai trò của di truyền trong chứng chán ăn, nhưng các gène de susceptibilité vẫn còn không được biết rõ. Một công trình nghiên cứu nơi những người sinh đôi thật (vraies jumelles) đã cho thấy rằng khi một người bị chứng chán ăn, thì người kia có 55% nguy cơ là như vậy, trong khi tỷ lệ chỉ là 5% nơi những người sinh đôi giả (fausses jumelles).

Tâm lý liệu pháp (psychothérapie), vật lý trị liệu (kinésithérapie)...Điều trị phải nhắm đến tất cả các khía cạnh của căn bệnh.

CÁC RỐI LOẠN ĂN UỐNG (troubles alimentaires). Theo các thầy thuốc tâm thần, đó là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trong tâm thần học. Các rối loạn của thái độ ăn uống (trouble du comportement alimentaire), chứng chán ăn (anorexie) và chứng ăn vô độ (boulimie), gây tàn phá nơi các thiếu niên, nhưng cũng nơi những người trưởng thành (chiếm ½ các trường hợp). Đứng trước bệnh lý phức tạp là sự chán ăn này, bố mẹ và các thầy thuốc rất thường bị bối rối. Sự điều trị thường quá muộn và không hẳn là tối ưu, các chuyên gia đã nhấn mạnh như vậy, nhưng chẳng bao lâu sẽ được cải thiện, nhờ các sáng kiến.

Institut mutualiste de Montsouris (Paris) điều khiển một công trình nghiên cứu quy mô lớn nhiều trung tâm cho phép đánh giá những lợi ích của nhập viện, cần thiết trong những trường hợp nghiêm trọng nhất của chứng chán ăn.

Còn Haute autorité de santé (HAS) sẽ công bố trước cuối hè này những điều khuyến nghị để điều trị căn bệnh này.

BỆNH NHÂN KHÔNG KÊU CA.

Vì sự điều trị chứng chán ăn càng có hiệu quả khi rối loạn được phát hiện càng sớm, nên những điều khuyến nghị sẽ cho phép những người chuyên môn tiếp xúc với các thiếu niên, nhận biết tốt hơn những dấu hiệu đầu tiên phát hiện bệnh lý này. Ở Pháp, cũng như trong tác cả các nước tây phương, từ 0,5 đến 2% các thiếu niên bị ảnh hưởng bởi những rối loạn hành vi ăn uống này, và chủ yếu là những thiếu nữ trẻ, chiếm 95% các trường hợp.

Khởi đầu của rối loạn có thể âm ỉ. Với tuổi dậy thì, các cô thiếu nữ thấy thân hình bị biến đổi và những bộ phận tròn trặn xuất hiện. “ Cô ta hơi phát phì, và một hôm, ông anh hay ông bố nêu nhận xét với cô ta về điều đó. Cô thiếu nữ lo lắng, hỏi các cô bạn ở trường ; các cô này xác nhận là đúng như vậy, bởi vì các cô gái thường khó tính với nhau, GS Bruno Falissard, phụ trách một đơn vị nghiên cứu Inserm ở khoa tâm thần trẻ em thuộc bệnh viện Paul-Brousse, đã kể lại như vậy. Đó là khởi đầu cổ điển của lịch sử của bệnh chán ăn.

Đối với vài cô thiếu nữ, mà profil tâm lý xoay quanh việc kiểm soát, đó là một tình huống không thể chịu được. Các cô phải tự kềm chế, theo chế độ kiêng khem và để mặc sự kích động do sự thiếu dinh dưỡng gây nên. Thế là các cô tự làm chủ lấy mình và gầy ốm đi. Vậy thì trên quan điểm của các cô gái này, mọi việc sẽ tốt đẹp hơn.

Như thế bệnh chán ăn đúng là một bệnh lý nói riêng, bởi vì bệnh nhân không than vãn, bệnh nhân không muốn chữa lành. Bệnh nhân có thể che dấu lâu dài căn bệnh của mình và một khi được chẩn đoán, từ chối các điều trị. Tuy vậy các dấu hiệu là rõ ràng : các bệnh nhân chán ăn tâm thần muốn gầy ốm, tự thấy mình quá béo phì, trong khi không phải là như vậy và sợ lên cân.

Vậy các bố mẹ phải chú ý ngay khi con em mình có một hành vi không như lệ thường vào các bữa ăn và mặc dầu mảnh khảnh hay gầy ốm, vẫn cứ cho là mình bị béo phì. “ Thật vậy, các bố mẹ thường là những người đầu tiên thấy những thay đổi, bởi vì các thầy thuốc khám càng ngày càng ít các bệnh nhân thuộc loại này, nhất là các cô gái lại tỏ ra dè dặt ”, GS Falissard đã nhấn mạnh như vậy.

Khi chứng chán ăn được phát hiện rất sớm, vài can thiệp đơn giản lên sự hoạt động của gia đình nói chung cũng đủ để khai thông tình hình.

Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, khi chứng chán ăn đã xuất hiện từ lâu hơn, các bệnh nhân phải được nhập viện. Một vài bệnh nhân trong tình trạng bi thảm, với một sự mất cân có thể đạt đến 50%. “ Ở giai đoạn này, làm các bệnh nhân căng phồng trở lại về phương diện vật lý không đủ, điều này thường được thực hiện trong những đơn vị không chuyên môn, BS Xavier Pommereau, giám đốc của đơn vị y khoa-tâm lý của thiếu niên thuộc centre Abadie de Bordeaux lấy làm tiếc như vậy. Cần phải điều trị bệnh nhân trên tất cả mọi phương diện. Các nhóm đa khoa (équipe pluridisciplinaire) thu được những kết quả tốt hơn, nhất là nếu có thể theo dõi các bệnh nhân trong một thời gian đầy đủ.”
(LE FIGARO 7/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH TRẦM CẢM (Depression) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ BỆNH TRẦM CẢM VÀ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG.

Người ta đã biết rằng bệnh thiên đầu thống (migraine) có thể làm dễ sự xuất hiện của chứng trầm cảm (dépression). Nhưng một công trình nghiên cứu, được trình bày nhân hội nghị thường niên lần thứ 62 của Hiệp hội thần kinh học Hoa Kỳ, gợi ý ngược lại rằng bệnh trầm cảm là một yếu tố làm nặng thêm đối với bệnh thiên đầu thống. Trong 5 năm, nguy cơ chuyển từ một bệnh thiên đầu thống xảy ra từng cơn (migraine épisodique) thành một bệnh thiên đầu thống mãn tính (hơn 15 cơn mỗi tháng) càng cao khi chứng trầm cảm càng nặng. Nguy cơ tăng gấp đôi đối với một bệnh trầm cảm mức độ trung bình và tăng gấp ba trong trường hợp trầm cảm nặng.
(SCIENCE ET AVENIR 7/2010)

Đọc thêm :
3/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ : MỘT TIA HY VỌNG.

Nhờ liệu pháp gène, các con chuột đã khôi phục lại thị giác.

OPHTALMOLOGIE. Là bệnh di truyền, bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) gây bệnh cho khoảng 40.000 người ở Pháp và 1 triệu rưỡi người trên thế giới. Ngày nay, chỉ có một điều trị chữa tạm (traitement palliatif). Đó là cho bệnh nhân vitamine A suốt đời. Nhưng sự kê đơn này bị chống chỉ định nơi những người hút thuốc. Bệnh lý này được đặc trưng bởi một sự mất thị giác ngay khi chiều xuống. Rồi bệnh tiến triển và thị giác hẹp dần lại : người bệnh có cảm tưởng như trong một đường hầm. Theo dòng thời gian, cái đường hầm này càng ngày càng hẹp dần lại và bệnh nhân thường bị mất vĩnh viễn thị giác. Mặc dầu đàn ông nói chung bị mắc bệnh hơn phụ nữ và mặc dầu bệnh thường được biểu hiện ở tuổi thiếu niên, nhưng bệnh viêm võng mạc sắc tố cũng có thể được phát triển ngay lúc sinh ra đời và cần 15 năm để thoái hóa.

Các công trình (mà những kết quả được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ Science) của các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ thuộc Friedrich Miescher Institute và những công trình của các nhóm của GS José-Alain Sahel và của BS Serge Picaud của Institut de la vision (Paris) có thể sẽ mang lại một hy vọng cho những người bị bệnh viêm võng mạc sắc tố. Thật vậy, nhờ liệu pháp gène, họ vừa trả lại thị giác cho các con chuột bị bệnh và các kết quả của họ đã được xác nhận in vivo trên các canh cấy mô người.

Trong bệnh lý này, các thương tổn ảnh hưởng lên các quang thụ thể (photorécepteur) nhạy cảm với ánh sáng. Đó là những tế bào thần kinh đặc hiệu chuyển đổi ánh sáng thành những xung động thần kinh. Những xung động thần kinh này sau đó được xử lý bởi võng mạc và được gởi đến não bộ nhờ các sợi thần kinh. Thế mà có hai loại quang thụ thể : các thể gậy (bâtonnet) và các thể nón (cône). Sự tiến triển của bệnh trước hết dẫn đến sự thoái hóa của các quang thụ thể thể gậy (photorécepteurs à bâtonnets), chịu trách nhiệm thị giác hoàng hôn (vision de nuit). Trong giai đoạn hai, chính các quang thụ thể thể nón (photorécepteurs à cônes), chịu trách nhiệm thị giác ban ngày, bị ảnh hưởng. Nhưng, mặc dầu các thể gậy bị phá hủy, các thể nón, trở nên không hoạt động, nhưng vẫn sống sót lâu dài trong cơ thể, và điều này, ngay cả sau khi xuất hiện sự mù lòa.

Khám phá này là quan trọng bởi vì mãi đến nay, các nhà khoa học nghĩ điều trái lại. “ Thật vậy, các thể nón không chết nhưng không hoạt động nữa, GS Sahel, giáo sư nhãn khoa Paris-VI và giám đốc của Viện thị giác đã tóm tắt như vậy. Để nói một cách khác, con mắt bị bệnh cũng tương tự một chiếc xe hơi đầy xăng, có một động cơ, có các bánh xe.Tất cả đều ở đó, nhưng thiếu chiếc chìa khóa xe. ” Khi đó, vấn đề là cần biết làm sao để làm tái hoạt động các thể nón“ đang ngủ ” (icône dormante).

Ernst Bamberg, một nhà nghiên cứu của Viện Max Planck ở Francfort, đã nhận diện, cùng với nhóm của ông, những protéine nhạy cảm với ánh sáng và lúc đáp ứng, sinh ra một tín hiệu điện. Rồi các nhà nghiên cứu đã thành công sử dụng quá trình này trên các tế bào thể nón còn lại của các con chuột. Nói một cách khác, họ đã thành công “ rebrancher ” chúng. Để đạt được điều đó, họ đã đưa các protéine vào, qua một vecteur của liệu pháp gène, trong các thể nón nhờ những mũi tiêm trong nhãn cầu dưới võng mạc. Mục tiêu là tái tạo một hệ thống quang-điện sinh học. Kết quả đã có thể được quan sát một tháng sau : các con chuột thấy trở lại và điều này một cách dài lâu.

Vấn đề bây giờ là cần phải biết những công trình này, được tiến hành trên chuột, có thể được áp dụng trên người hay không. Những công trình nghiên cứu đã được tiến hành một cách thành công trên các võng mạc được lấy trên những người chết. “ Những công trình nghiên cứu này đặt cơ sở cho một thử nghiệm lâm sàng tương lai sẽ diễn ra ở Pháp, tại bệnh viện Quinze-Vingts (Paris), trong 3 đến 5 năm nữa, GS Sahel đã đánh giá như vậy.Trước hết chúng tôi phải kiểm tra tốt rằng việc đưa vào các protéine là không nguy hiểm đối với những tế bào của mắt người. ” Khởi đầu, các trắc nghiệm sẽ được thực hiện trên khoảng 20 bệnh nhân trước khi được thực hiện trên những nhóm bệnh nhân quan trọng hơn.
(LE FIGARO 1/7/2010)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Số 131, Đề Mục 7/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ (RETINITE PIGMENTAIRE) : MỘT NIỀM HY VỌNG ĐIỀU TRỊ .

4/ CÁC BỆNH CỦA VÕNG MẠC : ĐẶT MỘT VÕNG MẠC BIONIQUE NHẰM MANG LẠI MỘT “ THỊ GIÁC HỮU ÍCH ”

Để mang lại thị giác cho những người mù bị các bệnh thoái hóa của võng mạc, có gì hợp lý hơn là thay thế võng mạc bị phá hủy bằng một võng mạc“ bionique ” ? Ý tưởng tương lai học (idée futuriste) này, được nảy sinh cách nay 30 năm, không còn thuộc về khoa học viễn tưởng nữa. Vào năm 2002, võng mạc nhân tạo đầu tiên đã đuợc ghép nơi một bệnh nhân bị bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ở Doheney Eye Institute (Californie).

NHỮNG TIẾN BỘ ĐÁNG KỂ.

Từ đó, nhiều thử nghiệm lâm sàng đã cho phép 30 bệnh nhân hưởng được những puce bé xíu này, được đặt ở đáy mắt. Những puce này hoạt động cặp đôi với một camera, được đặt bên ngoài, trên các kính đeo. Camera bắt các hình ảnh và mã hóa dưới dạng các xung động điện. Các xung động điện được truyền bằng vô tuyến đến các điện cực của implant, và implant này đến lượt lại truyền chúng đến các tế bào thần kinh nguyên vẹn của võng mạc, như các quang thụ thể (photorécepteur) đã làm như vậy. Cho đến nay, các kết quả không hẳn là nhiệm màu, nhưng những bệnh nhân “ được ghép ” đã thành công cảm nhận được những điểm sáng và phân biệt được những vật có màu sắc đối chọi nhau (objets contrastés). Nếu kết quả khiêm tốn này gây nhiều hy vọng, đó là bởi vì mức tiến bộ đạt được là đáng kể. Trong khi những prototype đầu tiên chỉ chứa 16 điện cực, truyền một hình ảnh 16 pixel, thì thế hệ thứ hai mang lại một hình ảnh 60 pixel. Ở Pháp, năm 2009, 4 bệnh nhân đã nhận mô hình implant mới này trong khoa của José-Alain Sahel, ở bệnh viện Quinze-Vingts. Sau vài tháng hồi phục chức năng quang học (rééducation optique), các bệnh nhân đã có thể đoán được sự hiện diện của một cánh cửa hay một chướng ngại vật to lớn. Nhưng mục tiêu tối hậu của các nhà nghiên cứu là mang lại một thị giác “ hữu ích ” cho các người mù, cho phép họ định hướng và đọc được những chữ lớn. Và sự nghiên cứu tiến bước nhanh. “ Những implant sắp đến sẽ có 250 pixel, nhưng phải có khoảng 600 mới cho phép đọc được và 1000 để nhận diện các gương mặt ”, Serge Picaud, nhà thần kinh sinh học (neurobiologiste) ở viện thị giác và cộng tác viên của José-Alain Sahel, đã xác nhận như vậy. Những thách thức có nhiều : sự thu nhỏ (miniaturisation) các điện cực, làm cho tinh tế hơn sự mã hóa của các hình ảnh thành các tín hiệu điện và cải thiện tính tương hợp sinh học (biocompatibilité), vì lẽ các implant được dùng hiện nay gây nên một phản ứng phòng vệ của mô võng mạc, làm trở ngại sự truyền của tín hiệu. “ Ngoài ra implant thoái hóa một cách nhanh chóng trong mắt, Serge Picaud đã chỉ rõ như vậy. Do đó chúng tôi đang nghiên cứu những vật liệu tương hợp sinh học (biocompatible) hơn, như kim cương. ” Từ nay đến 3 năm nữa, nhóm nghiên cứu của ông hy vọng trắc nghiệm nơi người một puce mới, kích thước 2mm trên 3mm, được cấu tạo bởi 600 điện cực kim cương. Về phía mình, một nhóm nghiên cứu người Đức đã thành công không cần đến camera, bằng cách tạo nên một implant có khả năng bắt ánh sáng một cách trực tiếp và chuyển hóa nó thành điện. Nhưng võng mạc điện tử sẽ không bao giờ hoàn lại một thị giác bình thường, được sinh ra bởi hàng tỷ các nối kết. Vậy phòng bệnh hơn là chữa bệnh, bằng cách ngăn cản sự thoái hóa của các quang thụ thế.

LIỆU PHÁP GENE

Chính liệu pháp gène (thérapie génique) mang lại hy vọng. Nguyên tắc của nó ? Thay thế gène khuyết tật, gây nên dạng này hay dạng kia của các bệnh võng mạc, bằng một gène nguyên vẹn, được đưa vào trong võng mạc qua một virus vô hại. Vào năm 2008, hai nhóm nghiên cứu đã thành công cải thiện thị giác của 6 bệnh nhân bị bệnh mù bẩm sinh (amaurose congénitale de Leber), một trong những nguyên nhân đầu tiên gây mù lòa của trẻ em. Trong vòng một năm, thị giác của chúng được cải thiện đến độ một trong những đứa trẻ này, ngày xưa gần như mù lòa, giờ đây có thể chơi baseball ! Chỉ có điều, có hơn 300 gène có liên hệ trong các bệnh của võng mạc, và phải phát triển một liệu pháp cho mỗi gène. Để tránh vấn đề này, nhiều nhóm đã chọn đưa vào trong võng mạc các gène đảm bảo sự sống còn của các quang thụ thể. Được trắc nghiệm một cách thành công nơi người, phương pháp này có thể được áp dụng cho tất cả các bệnh thoái hóa võng mạc.
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

5/ GHÉP MẶT: KỶ LỤC MỚI.

Từ nay trên thế giới có 12 người đang sống với một gương mặt mới. Bệnh nhân sau hết, Jérôme, bị bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatose), một bệnh di truyền làm biến dạng mặt. Cuộc giải phẫu đã diễn ra vào cuối tháng sáu và đã được thực hiện bởi đội phẫu thuật của GS Laurent Lantieri, trưởng khoa giải phẫu thẩm mỹ và tái tạo thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil, Pháp). Một thầy thuốc ngoại khoa đã vốn lừng danh trong kỹ thuật sửa chữa này, vì lẽ (một trong những bệnh nhân này, được ghép đồng thời mặt và các bàn tay, đã chết) trong số 13 bệnh nhân đã được hưởng phẫu thuật này trên thế giới đều đã phải qua tay ông. Ngoài ra, trong trường hợp Jérôme, nhà giải phẫu đã thực hiện một kỷ lục đầu tiên trên thế giới nhờ một ghép các mí mắt với chuyển toàn bộ hệ các ống lệ (système lacrymal), một công việc dựa trên các microsuture của các ống dẫn nước mắt (canal lacrymal).

Được tiếp xúc bởi chúng tôi, nhóm phẫu thuật của bệnh viện Vall d’Hebron ở Barcelone, đã thực hiện một giải phẫu khác, cũng được trình bày vào tháng tư vừa qua như là một đầu tiên, đã công nhận là đã không ghép các tuyến lệ. Ngược lại nhóm phẫu thuật này đã thay thế những phần xương, là điều đã không được thực hiện ở Créteil…thật khó phân hơn thua nhóm nào được bước lên bậc đầu tiên của đài danh dự, vì mỗi nhóm gắn bó vào chi tiết cơ thể học bổ sung này hay chi tiết cơ thể học kia… Chẳng hề chi ! Kể từ cuộc ghép mặt thật sự đầu tiên, (ghép một phần), được thực hiện năm 2005 bởi một nhóm phẫu thuật Amiens, các cuộc can thiệp sau này đã tốt hơn về tính hiệu quả, về thời gian, và mức độ chính xác. Chẳng bao lâu nữa những cuộc giải phẫu ghép mặt này, như được dự kiến bởi bác sĩ Lantieri (đã nhận được phép cho năm cuộc phẫu thuật khác), cũng được thực hiện nơi những người bị bỏng nặng.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

6/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI BỆNH TRẦM CẢM KHÔNG ?

Professeur Jean-Pierre Olié
Psychiatre
Membre correspondant de l’Académie nationale de médecine


Những thuốc chống trầm cảm đầu tiên (Tofranil, Anafranil…) đã được khám phá vào năm 1957. Trước đó, người ta chỉ có các opiacés và sốc điện (électrochoc) để làm giảm bớt những trạng thái trầm cảm nặng. Và người ta còn chết vì suy nhược thần kinh (neurasthénie), biến chứng chính của các rối loạn trầm cảm. Bắt đầu từ những năm 1980 đã xuất hiện một số lớn các thuốc chống trầm cảm mới, Prozac đầu tiên được đưa ra thị trường, tiếp theo là Zoloft, Deroxat…Tính chất dễ sử dụng (liều lượng y hệt nhau cho tất cả, một liều duy nhất mỗi ngày, ít hoặc không có những tác dụng phụ so với các thuốc chống trầm cảm thế hệ thứ nhất) và hiệu quả của chúng đã mang lại sự thành công cho các thuốc chống trầm cảm này.

Theo định nghĩa, các thuốc được gọi là chống trầm cảm có khả năng điều chỉnh khí chất trầm cảm (humeur dépressive). Nhưng đó không phải là những viên thuốc mang lại hạnh phúc (pilules du bonheur) : chúng đã không bao giờ làm cho đỡ những tâm trạng có nội hàm trầm cảm mà mỗi người trong chúng ta đã từng trải qua vào những lúc khác nhau trong cuộc sống của mình, phản ứng lại vài biến cố đau đớn. Những thuốc chống trầm cảm chỉ chứng tỏ tính hiệu quả trong những tình huống mà cường độ của rối loạn trầm cảm rõ ràng và tính chất bệnh lý được xác nhận bởi sự dai dẳng của các triệu chứng ngày này qua ngày khác hay tuần này qua tuần kia.

Một thuốc chống trầm cảm được gọi là có hiệu quả khi nó làm thuyên giảm toàn bộ hay một phần những triệu chứng trầm cảm (buồn rầu, đau đớn tâm thần và đau đớn vật lý, mặc cảm phạm tội, ức chế, bi quan, các rối loạn giấc ngủ, của sự ăn ngon miệng). Điều này đòi hỏi một chẩn đoán rối loạn trầm cảm, hiệu quả của thuốc càng rõ ràng khi cường độ của các triệu chứng càng quan trọng, điều này cũng giống như thuốc hạ nhiệt, bình thường có một tác dụng càng rõ rệt khi sốt càng cao. Khoảng 1/3 các bệnh nhân bị một bệnh trầm cảm được chẩn đoán đúng sẽ có một thuyên giảm hoàn toàn các triệu chứng sau 4 đến 6 tuần, thời hạn tác dụng của những thuốc này ; 1/3 các bệnh nhân chỉ có một thuyên giảm một phần và 1/3 không đáp ứng với thuốc chống trầm cảm được kê toa, nhưng điều này không báo trước sự thất bại của một thuốc chống trầm cảm khác.

Nhưng một thuốc trầm cảm có tiếng xấu.Tại sao ?

Những công trình nghiên cứu mới đây đã nghĩ là có thể chứng minh rằng một thuốc chống trầm cảm chỉ là những placebo, nghĩa là những thứ thuốc không có hoạt chất, chỉ tác dụng nhờ sự tự kỷ ám thị (autosuggestion).Tuy nhiên trước hết cần phải xác nhận rằng tất cả các triệu chứng không nhất thiết phải cần đến một điều trị chống trầm cảm. Ví dụ, một phản ứng xúc cảm ngay sau một biến cố đau đớn (ví dụ tình trạng tang chế). Bệnh trầm cảm là một bệnh nói riêng, nhưng với những tiêu chuẩn rất chính xác, không nên lầm nó với những bệnh khác không đáp ứng với một hóa liệu pháp chống trầm cảm (chimiothérapie antidépressive).

Do đó vấn đề sử dụng đúng đắn các thuốc chống trầm cảm được đặt ra bởi vì những thuốc này hiệu quả một cách không chối cãi được để làm dừng những biểu hiện trầm cảm thật sự. Và cũng đặt ra nhu cầu cần những thuốc mới có những tác dụng thần kinh-sinh học và do đó trị liệu còn rõ ràng hơn. Cần biết rằng có hơn 10.000 người chết mỗi năm vì tự tử ở Pháp. Và rằng khoảng 80% trong số những người này bị chứng bệnh trầm cảm được xác nhận.
(LE FIGARO 22/2/2010)

Đọc thêm :
Thông Tin Y Học Về BỆNH TRẦM CẢM (Depression) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

7/ UNG THƯ VÚ : PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP TRONG KHI MỒ.

Điều trị chuẩn của ung thư vú bao gồm một động tác ngoại khoa, được bổ sung bởi một phóng xạ liệu pháp ngoài (radiothérapie externe), được thực hiện trong 3 đến 7 tuần, bằng nhiều buổi hàng tuần, tùy theo các trường hợp. BS Jayant Vaidya (University College de Londres) đã hiệu chính một khái niệm rọi tia X vào vùng khối u, bằng một buổi duy nhất kéo dài, thực hiện trong lúc giải phẫu. Một công trình nghiên cứu quốc tế vừa so sánh phương pháp này với phương pháp truyền thống. Gần 2.000 bệnh nhân bị ung thư vú có đường kính dưới 3,5 cm, đã được đưa vào nghiên cứu. Sự rọi tia X trong khi mổ, sử dụng một nguồn các tia X có năng lượng thấp, được phát ra trong 30 phút ở đầu một ống được đặt trong khối u. Liều lượng được phát ra 4 lần ít hơn liều lượng của phóng xạ liệu pháp cổ điển. Sau 4 năm, hai phương pháp đều có những kết quả như nhau : không có sự khác nhau đáng kể trong tỷ lệ các tái phát tại chỗ, kể cả tần số các biến chứng thông thường, nhưng với ít hơn những biến cố độc tính nghiêm trọng trong nhóm phóng xạ liệu pháp trong khi mổ (radiothérapie peropératoire) (nhưng nhiều tràn dịch bạch huyết tạm thời hơn).
(PARIS MATCH 29/7-4/8/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về BỆNH UNG THƯ VÚ (BREAST CANCER) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

8/LOÉT DẠ DÀY : CÁC THUỐC KHÁNG SINH CÓ NGĂN CẢN TÁI PHÁT ?

Docteur Anne Courillon-Mallet
Hépato-gastroentérologue
CHU Villeneuve-Saint-Georges


Nhiễm trùng do vi khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân của 70% các loét dạ dày hay của tá tràng (tá tràng là phần đầu của ruột ngay sau dạ dày). Chừng nào nhiễm trùng còn tồn tại, loét sẽ tái phát trong 60% các trường hợp trong năm. Sự loại bỏ nhiễm trùng vi khuẩn khiến nguy cơ chuyển từ 60% xuống còn 6%.

Điều trị kháng sinh nhiễm trùng do Helicobacter pylori do đó ngăn ngừa một cách hiệu quả loét tái phát tuy nhiên với điều kiện đảm bảo rằng vi trùng đúng là đã được loại bỏ sau điều trị. Thật vậy, tỷ lệ loại bỏ nhiễm trùng sau một đợt điều trị kháng sinh đầu tiên chỉ là 70%, bởi vì những đề kháng đối với các kháng sinh, được phát triển bởi vi khuẩn. Vậy cần phải kiểm tra tính hiệu quả của điều trị.

Trong trường hợp loét tá tràng (ulcère du duodénum), người ta sử dụng một trắc nghiệm hô hấp (test respiratoire). Trắc nghiệm này phát hiện sự hiện diện của một enzyme, uréase, đặc trưng của vi khuẩn Helicobacter pylori. Trắc nghiệm đơn giản và không gây đau đớn : sau 8 giờ nhịn đói, cho bệnh nhân uống urée được đánh đầu với carbone 13 (không phóng xạ) rồi thu lại khí thở ra 30 phút sau. Trắc nghiệm rất đáng tin cậy với điều kiện đã không dùng kháng sinh trong 4 tuần trước khi xét nghiệm và không sử dụng các thuốc ức chế sự tiết axít trong hai tuần trước khi trắc nghiệm.

Trong trường hợp loét dạ dày, người ta khuyến nghị thực hiện một soi dạ dày sau vài tuần để kiểm tra sự lành sẹo của vết loét (và đừng bỏ qua một ung thư có dạng vẻ của một loét thông thường) và soi dạ dày cho phép kiểm tra đồng thời sự biến mất của nhiễm trùng. Nếu nhiễm trùng vẫn tồn tại, người ta đề nghị một đợt điều trị thứ hai và, có thể, một đợt điều trị kháng sinh thứ ba. Một khi nhiễm trùng đã biến mất, ta có thể xem như rằng sự loại bỏ vi khuẩn là dứt điểm bởi vì nguy cơ tái nhiễm trùng nơi những người trưởng thành hầu như là số không.

Nguyên nhân chính khác của loét là sử dụng thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) hay uống aspirine. Khi người ta dự kiến một điều trị kéo dài bởi loại thuốc này, tốt hơn là tìm kiếm và điều trị một nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori để không kiêm nhiệm hai yếu tố nguy cơ. Nhưng việc loại bỏ nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori không đủ để hủy bỏ nguy cơ loét do các thứ thuốc.

Để tránh những loét trong lúc điều trị bởi AINS hay aspirine, người ta khuyến nghị, trong vài trường hợp, ví dụ sau 65 tuổi hay trong trường hợp điều trị kháng đông, sử dụng một loại thuốc ức chế sự sản xuất axít.
(LE FIGARO 29/3/2010)

9/ CÁC BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP : THUỐC MỚI CÓ TÁC DỤNG KÉO DÀI.

Gs Nicolas Roche, thầy thuốc chuyên khoa phổi thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu, giải thích tiến bộ được thực hiện đối với các bệnh viêm phế quản-phổi với một loại thuốc mới : indacaterol.

Hỏi : Ông định nghĩa như thế nào một bệnh viêm phế quản-phổi (broncho-pneumopathie) ?
GS Nicolas Roche : Tên của bệnh phế quản, mà một điều trị mới đã được hiệu chính, là bệnh viêm phế quản -phổi tắc mãn tính (BPCO : broncho-pneumopathie chronique obstructive). Bệnh này được định nghĩa bởi một sự hẹp lại của các phế quản, làm trở ngại sự đi qua của khí và có khuynh hướng nặng dần với thời gian (ở Pháp, khoảng 3 triệu người bị bệnh, chủ yếu là những người trưởng thành).

Hỏi : Những hậu quả của một bệnh viêm phế quản-phổi tắc mãn tính là gì ?
GS Nicolas Roche : Những triệu chứng đầu tiên là khó thở lúc gắng sức, làm trở ngại những hoạt động hàng ngày. Rồi thì, với dòng thời gian, khi thực hiện những cố gắng càng ngày càng ít mạnh. Bệnh BPCO xuất hiện một cách âm ỉ, và có thể kèm theo mệt, viêm phế quản mãn tính (bronchite chronique)... Những đợt cấp tính với sự trở nặng của các triệu chứng có nguy cơ xảy ra, nhất là khi bị những nhiễm trùng. Trong những trường hợp rất nặng, đôi khi phải được nhập viện.

Hỏi : Nhiều nguyên nhân có thể gây nên khó thở... nhất là khi tiết trời nóng nực. Làm sao đảm bảo một chẩn đoán thật sự ?
GS Nicolas Roche : Bệnh nhân được thăm dò chức năng hô hấp bằng một máy đo hơi thở, cặp với một máy vi tính, cho lưu lượng thật sự của khí thở ra. Do đó chẩn đoán rất là chính xác.

Hỏi : Những nguyên nhân của bệnh này là gì ?
GS Nicolas Roche : Ít nhất 80% các trường hợp là do nghiện thuốc lá.Những phần trăm còn lại, do những tiếp xúc nghề nghiệp, gây nên điều mà chúng tôi gọi là “ một sự nhiễm bụi quan trọng ” (une empoussiérage important). Những nông dân và những nhà chăn nuôi tiếp xúc với các độc tố vi khuẩn cũng có nguy cơ. Có lẽ cũng có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique).

Hỏi : Điều trị được thực hiện như thế nào ?
GS Nicolas Roche : Trước hết phải có một vệ sinh cuộc sống mới : ngừng thuốc lá, các biện pháp bảo vệ chống lại các tiếp xúc do nghề nghiệp, hoạt động vật lý. Bởi vì những bệnh nhân này ít di chuyển, nên họ thường đánh mất các cơ, điều này lại còn làm giảm khả năng đi đứng của họ. Và để tránh mọi nhiễm trùng, các bệnh nhân cần được tiêm chủng chống lại cúm và phế cầu khuẩn.

Hỏi : Tiếp theo, điều trị thuốc cổ điển là gì ?
GS Nicolas Roche : 1. Đối với những trường hợp nặng, người ta thường sử dụng các corticoide phối hợp với một thuốc giãn phế quản dạng hít. 2. Trong những trường hợp ít nghiêm trọng, ta chỉ kê đơn một thuốc giãn phế quản. Những điều trị này giảm khó thở và những đợt trở nặng nhưng không chữa lành bệnh. Chúng cũng có những bất tiện : thuốc thường phải dùng nhiều lần mỗi ngày, điều này tạo nên một sự gò bó. Các corticoide hít với liều lượng mạnh và dùng lâu dài, có thể có những hậu quả có hại như tính dễ vỡ của xương, nhãn cầu...

Hỏi : tác dụng của loại thuốc điều trị mới nhất là gì ?
GS Nicolas Roche : Indacaterol là một loại thuốc kích thích một cách đặc hiệu vài thụ thể phế quản, các thụ thể này, do làm giãn cac cơ của phế quản, sẽ cho phép những phế quản này mở ra, như thế làm dễ sự đi qua của khí. Thuốc này được cho dưới dạng hít nhờ một thiết bị bột (dispositif à poudre) dễ sử dụng. Ưu điểm lớn: tác dụng của nó đồng thời nhanh và kéo dài 24 giờ. Bệnh nhân chỉ cần hít một lần mỗi ngày.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả này ?
GS Nicolas Roche : 5 công trình nghiên cứu quốc tế (nơi hơn 5.000 bệnh nhân) đã chứng minh một sự cải thiện triệu chứng khó thở, khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống cũng như sự giảm đáng kể các đợt trở nặng. Tác dụng phụ duy nhất : một cơn ho khan vài giây khi hít thuốc. Giấy phép đưa ra thị trường đã được cấp cho các nước châu Âu, trong đó có Pháp. Vậy loại thuốc mới này sẽ có sử dụng ngay năm 2011.
(PARIS MATCH 29/7[*] 4/8/2010)

10/ THUỐC CHỐNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG AVANDIA CHẲNG BAO LÂU SẼ ĐƯỢC RÚT RA KHỎI THỊ TRƯỜNG ?

Các chuyên gia Hoa Kỳ vừa công nhận rằng loại thuốc này làm gia tăng những nguy cơ tim-mạch.

SANTE PULIQUE. Thời buổi khó khăn đối với Avandia, thuốc chống bệnh đái đường (loại 2) của Hãng bào chế Glaxosmithkline (GSK), được đưa ra thị trường vào năm 1999 ở Hoa Kỳ và vào năm 2002 ở Pháp. Hôm kia, một ủy ban tham vấn các chuyên gia được triệu tập bởi FDA (Food and Drug Administration), đã đánh giá rằng Avandia làm gia tăng các nguy cơ tim với một tỷ lệ tử vong gia tăng (surmortalité) do nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Ủy ban đã khuyến nghị các giới hữu trách y tế Hoa Kỳ hãy rút loại thuốc này ra khỏi thị trường hoặc tăng cường những biện pháp thận trọng lúc kê toa.

Mặc dầu FDA không buộc phải theo những lời khuyến nghị này, nhưng lịch sử đã cho thấy rằng cơ quan này thường tuân theo.

Những kết luận này càng gây tai hại khi nơi những bệnh nhân đái đường, những vấn đề tim mạch là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong. Cách nay 2 tuần, Journal of American Medical Association đã công bố một công trình nghiên cứu kết luận một nguy cơ gia tăng nhiều bị tai biến mạch máu não hay suy tim với Avandia, so sánh với những thuốc cạnh tranh. GSK đánh giá rằng 210.000 người Pháp sử dụng thuốc này (hoặc một bệnh nhân đái đường trên 10), chiếm 2,3% doanh thu của hãng bào chế ở châu Âu.

Cơ quan các dược phẩm châu Âu sẽ điều nghiên hồ sơ này tuần đến. Về cơ quan an toàn y tế của các sản phẩm y tế Pháp (Afssaps), cơ quan này nhấn mạnh rằng chỉ “ vài trường hợp hiếm hoi cảnh giác dược (pharmacovigilance) ” đã được ghi nhận mà thôi. “ Chúng tôi cũng đã hạn chế nhiều lần, lần cuối cùng vào tháng giêng năm 2008, việc sử dụng thuốc này, đặc biệt nơi những bệnh nhân có một bệnh tim mạch, Anne Castot, thuộc Afssaps đã xác nhận như vậy.

GS André Grimaldi, cựu trưởng khoa chuyên bệnh đái đường thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) thú nhận là đã không còn kê toa Avandia nữa từ vài năm nay. “ Người ta đã loan báo với chúng tôi một lợi ích về tim mạch, thế mà không phải là như vậy, ông đã giải thích như thế. Avandia cũng làm lên cân, điều này dầu sao không thể chấp nhận được đối với những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 2 ! Nó làm gia tăng số các trường hợp gãy xương. Và nó làm dễ sự ứ nước, điều này dĩ nhiên bị chống chỉ định trong trường hợp suy tim.” Mặc dầu “ bằng cớ tuyệt đối ”, theo sự diễn đạt của chuyên gia này, về tính độc hại của Avandia chưa được đưa ra. Vì vẫn còn có sự nghi ngờ, nên vài chuyên gia thích kê toa thuốc của Nhật Bản, Actos, có cùng những bất tiện về sự lên cân và gãy xương. Nhưng có ưu điểm là bảo vệ tim mạch hơn. “ Thật lấy làm tiếc bởi vì Avandia là thuốc rất mạnh để cải thiện tính nhạy cảm đối với insuline của các cơ và của gan. Và đó là thuốc duy nhất làm chậm lại tiến triển của bệnh ”, GS Grimaldi lấy làm tiếc vậy .

“ Câu chuyện với Avandia kéo dài từ 3 năm qua ! GS Patrick Vexiau, trưởng khoa chuyên bệnh đái đường thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) và tổng thư ký của Hiệp hội các bệnh nhân đái đường của Pháp, đã tóm tắt như vậy, không phải là không cay đắng. Nhiều ấn bản khoa học đã lay động thế giới y khoa về việc sử dụng của Avandia.” Vị thầy thuốc này tự bảo là người ủng hộ“ tối thiểu, một sự hạn chế việc kê toa, thậm chí cấm chỉ loại thuốc này ” .
(LE FIGARO 16/7/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG (DIABETES) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (2/8/2010)
-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#62 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 10 August 2010 - 08:25 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BỆNH VẢY NẾN (PSORIASIS) : VIÊM TRONG DA.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

BIỂU BÌ. Với nhiều những mảng đỏ (plaques rouges) lan rộng ít hay nhiều và ở những nơi khác nhau của cơ thể, gây ngứa ngáy đau đớn, bệnh vảy nến gây tác hại cho khoảng 3 triệu người Pháp. Gần 25% các trường hợp là những thể từ trung bình đến nặng và 30% các bệnh nhân phát bệnh trước năm 20 tuổi. Đó thường là những thể nghiêm trọng nhất. Và từ 10 đến 30% các bệnh nhân có một thương tổn ở da, cũng có những thương tổn ở khớp. Các dạng khớp này có thể nghiêm trọng và dẫn đến tàn phế thường trực.

NGUỒN GỐC. Bệnh vảy nến là một tình trạng viêm da mãn tính, dẫn đến một sự bất thường trong sự đổi mới của biểu bì. Mặc dầu người ta không biết một cách chính xác nguồn gốc của nó, nhưng người ta biết rằng một rối loạn miễn dịch dường như đóng một vai trò. Có thể có một thể địa di truyền (terrain génétique) bởi vì một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale) hiện diện trong 30% các trường hợp.

CÁC NGUYÊN NHÂN. Thông thường nhất, bệnh diễn biến bằng các cơn bộc phát. Nguyên nhân đầu tiên, stress làm tăng cường sự “ sợ hãi ” các cuộc tấn công được cảm nhận bởi da và “ kích động ” hệ viêm. Điều đó có thể là một vòng luẩn quẩn, vi sự xuất hiện các mảng đỏ làm tăng thêm stress ban đầu. Nhưng cũng có những cọ sát, những tình trạng choáng, các bệnh nhiễm trùng và ngay cả vài loại thuốc.

CÁC ĐIỀU TRỊ. Cứ hai bệnh nhân thì có một không được điều trị, điều này đôi khi gây nên những hậu quả nặng nề. Tuy vậy, có nhiều điều trị cho phép kềm chế tiến triển của bệnh. Các crème dermocorticoide, các dẫn xuất của các vitamine D và A và những liệu pháp căn cứ trên các tia tử ngoại.

NHỮNG HẬU QUẢ. Ngoài sự bó buộc do điều trị, bệnh lý này có những ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng. Người ta ước tính rằng 40% các bệnh nhân chịu một cách đều đặn những xáo trộn xã hội quan trọng trong những quan hệ gia đình, nghề nghiệp, bạn bè...và ngay cả với các thầy thuốc của họ

Mặc dầu được kiểm soát bởi các điều trị, căn bệnh này vẫn còn bí ẩn.

DERMATOLOGIE. “ Ông/Bà có da bị nhột... ” Chính như thế mà GS Louis Dubertret (CHU Saint-Louis, Paris) đã giải thích bệnh vảy nến (psoriasis) cho các bệnh nhân mình. Căn bệnh mãn tính này được thể hiện bởi sự hiện diện trên da của những mảng đỏ, có bề rộng thay đổi, được phủ bởi những vảy dày chứa da chết. Bệnh tiến triển bằng các đợt bộc phát. Thường khó sống bởi vì với những mảng đỏ màu sắc lòe loẹt gây sự chú ý, bệnh vảy nến lại còn kèm theo triệu chứng ngứa một trường hợp trên hai. Bệnh này, không có tính chất lây nhiễm, vẫn còn nhiều điều chưa biết, mặc dầu người ta bắt đầu hiểu nó tốt hơn.

Rất mới đây, các công trình nghiên cứu, trong đó một của Pháp trên 1.500 bệnh nhân, đã cho thấy rằng ta có thể, chỉ bằng phân tích thống kê các triệu chứng và tiến triển của bệnh, phân chia các bệnh nhân thành 6 nhóm thuần nhất. Đó là một cuộc cách mạng, GS Dubertret đã đánh giá như vậy. Đối với ông “ Phải xác nhận những kết quả này và xem phải có 6 bệnh khác biệt nhau với những tính nhạy cảm khác nhau với các điều trị ”

“ SỰ TU SỬA GẤP ”

Mãi đến nay, người ta cứ tưởng rằng bệnh vảy nến, dầu mức độ nghiêm trọng như thế nào, chỉ là cùng một bệnh lý, mà cái đích bị tấn công là da. “ Da là một cơ quan vùng biên giới, thường trực bị tấn công, đáp ứng bằng làm khởi động một hệ thống tu sửa biểu bì, được cấu tạo bởi nhiều gène. Nơi những người bị bệnh vảy nến, đáp ứng này diễn ra quá mức bởi vì vài trong số những gène này tăng phản ứng, thầy thuốc chuyên khoa đã đã giải thích như vậy. Biểu bì đổi mới quá nhanh. Các tế bào cấu tạo nó, các kératinocyte, tăng sinh và không còn có thể phân hóa một cách hoàn toàn thành lớp sừng. Da bắt đầu bóc vỏ, hàng rào da sụp đổ, một phản ứng viêm phát triển và các bạch cầu của hệ miễn dịch, các tế bào lympho T và các bạch cầu đa nhân, thâm nhiễm và tấn công da. Một vòng luẩn quẩn thành hình : căn bệnh tự duy trì và trở nên mãn tính.

Các đợt bộc phát có thể được gây nên bởi nhiều yếu tố : do gãi, choáng, do cọ xát, do sự thay đổi mùa màng, các bệnh nhiễm khuẩn, các thuốc beta-bloquant…Stress đóng một vai trò quan trọng, “ như thể để đáp ứng lại với mỗi dấu hiệu nguy hiểm được cảm nhận bởi não bộ, hàng rào da bị biến đổi, phát khởi quá trình tu sửa gấp rút này ”.

Mặc dầu bệnh vảy nến dưới dạng các mảng (psoriasis en plaques) là thường xảy ra nhất, căn bệnh cũng có thể xuất hiện dưới dạng các tạng (psoriasis en nappes), các mụn mủ (en pustules) hay các giọt (en gouttes), giới hạn ở các móng tay, các lòng bàn tay và lòng của các bàn chân, ở da đầu, bao phủ rộng lớn cơ thể hay chỉ biểu hiện bởi một thương tổn nhỏ. Gây bệnh cho 2 đến 3% dân số của các nước phát triển, bệnh vẩy nến dường như ít thấy trong vài vùng, như châu Phi. Một tố bẩm gia đình trong 30% các trường hợp.

Bệnh vảy nến là một bệnh lý, trong đó hệ miễn dịch can dự vào một cách mạnh mẽ. “ Ngay da lành mạnh của các bệnh nhân có một trạng thái tiền viêm (état préinflammatoire). Trong các bệnh vảy nến lan rộng, quá trình viêm xảy ra toàn thể và xét nghiệm máu cho thấy toàn bộ hệ miễn dịch hơi bị kích động lên. Vậy bệnh không chỉ diễn ra ở da, GS Hervé Bachelez (bệnh viện Saint-Louis, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Các bệnh vảy nến nghiêm trọng thường được liên kết với chứng béo phì, bệnh cao huyết áp, bệnh đái đường loại II, có lẽ với bệnh tim mạch, nhưng ta không biết đó là một sự gặp gỡ của các tố bẩm di truyền hay là một hậu quả của lối sống của những bệnh nhân này.” Bệnh Crohn, bệnh viêm mãn tính của đường tiêu hóa, cũng thường xảy ra hơn. “ Và 30% các bệnh nhân cũng có một thấp khớp vảy nến (rhumatisme psoriasique), ảnh hưởng lên các đầu chi hay các khớp trung ương. Tất cả những phối hợp này khiến vài tác giả gợi ý một rối loạn có tính cách toàn bộ hơn, GS Jean-Paul Ortonne, trưởng khoa da, CHU de Nice, đã xác nhận như vậy.

Các yếu tố môi trường và di truyền liên kết với nhau như thế nào ? “ Khoảng một chục vị trí trên nhiễm sắc thể đã được nhận diện, mà người ta vẫn chưa biết gène hay những gène chịu trách nhiệm, cũng như không biết chức năng của chúng như thế nào. Cũng có một liên kết mạnh với một gène của hệ miễn dịch, HLA-Cw6 ”, GS Bachelez đã xác nhận như vậy.

TIA TỬ NGOẠI A VÀ TIA TỬ NGOẠI B.

Về mặt điều trị, kho vũ khí hiện nay không cho phép điều trị bệnh mà chỉ kềm hãm nó mà thôi. Trong những thể từ nhẹ đến trung bình, các kem dermocorticoides làm giảm phản ứng viêm. Trong những thể khác, các dẫn xuất của vitamine D hay của vitamine A (rétinoides), điều hòa sự tăng sinh và sự phân hóa tế bào.

Tác dụng có lợi của các tia tử ngoại được biết từ lâu. “ Trong các bệnh vảy nến nghiêm trọng, các tia tử ngoại A (UVA) của puvathérapie (chữ viết tắt của psoralène-ultraviolet A et thérapie ; phép điều trị vài bệnh ngoài da bằng cách hấp thụ một psoralène rồi cho tiếp xúc với các tia tử ngoại A) đã nhường chỗ cho các tia tử ngoại B chọn lọc (UVB sélectifs), làm giảm tính hung dữ của các tế bào lympho T, và có lẽ can thiệp sớm hơn, với các hạn chế do nguy cơ ung thư da ”, GS Ortonne đã xác nhận như vậy.

Những dạng nghiêm trọng này cần một điều trị bằng đường miệng với rétinoides, thậm chí méthotrexate hay ciclosporine, hay thuốc làm suy giảm miễn dịch. Và nếu cần, nhưng liệu pháp sinh học mới, được phát triển từ ít lâu nay nhờ một sự hiểu biết tốt hơn các cơ chế phân tử của bệnh.
(LE FIGARO 5/7/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 159 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/2/2010 )

9/ BỆNH VẨY NẾN (PSORIASIS) THỂ NẶNG : NĂM 2010 ĐIỀU TRỊ MỚI BẰNG SINH LIỆU PHÁP (BIOTHERAPIE).

GS Carle Paul, thầy thuốc chuyên khoa da, trưởng khoa da của CHU de Toulouse, giải thích sự điều trị bằng sinh liệu pháp (biothérapie) đã biến đổi chất lượng sống của bệnh nhân như thế nào.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh vẩy nến (psoriasis) ?
GS Carle Paul : Đó là một bệnh mãn tính của da, không lây nhiễm ; bệnh này ở Pháp gây bệnh cho 3% dân chúng. Bệnh được biểu hiện bởi những mảng đỏ (plaques rouges), được phủ bởi các vảy trắng (squames), xuất hiện chủ yếu ở da đầu, cùi chõ, đầu gối và các bàn tay. Những mảng này là do một sự đổi mới quá nhanh của các tế bào da, trong vòng 3 hay 4 ngày thay vì 3 tuần. Cứ 3 trường hợp vẩy nến thì có 2 gây ngứa ngáy và có thể cả đau đớn nữa. Ngoài da, các khớp đôi khi bị thương tổn.

Hỏi : Có nhiều giai đoạn phải không ?
GS Carle Paul : Vâng, có 3 giai đoạn. Những thể nhẹ được biểu hiện bởi sự xuất hiện hai hoặc ba mảng (plaques). Trong những thể trung bình, các thương tổn lan rộng hơn hay nằm ở những vùng có thể thấy được. Trong những thể nghiêm trọng, vẩy nến bao phủ hơn 10% cơ thể. Bệnh này ảnh hưởng rất to lớn lên chất lượng sống : các bệnh nhân sợ rằng “ những thương tổn gây nên một sự ruồng bỏ bởi những kẻ khác ”.

Hỏi : Người ta có biết nguyên nhân của bệnh vẩy nến không ?
GS Carle Paul : Nguyên nhân chính xác không hoàn toàn được làm sáng tỏ. Có những thể bệnh xảy ra trong gia đình, vậy có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique). Người ta cũng chứng thực một sự viêm của bì và biểu bì, với sự giãn của các huyết quản và sự tích tụ của những tế bào của hệ miễn dịch (những tế bào lympho, những tế bào đa nhân). Những tế bào này gây nên những thương tổn qua những “ sứ giả sinh học ” (messager biologique), được sinh ra quá mức, các cytokine. Chính các cytokine này là nguyên nhân của sự đổi mới gia tốc của da.

Hỏi : Có những yếu tố làm dễ sự xuất hiện của các mảng vẩy nến không ?
GS Carle Paul : Có : một sự căng thẳng tâm thần (stress psychique) hay vật lý, các nhiễm trùng, vài loại thuốc, như những bêta-bloquants.

Hỏi : Tùy theo giai đoạn, những điều trị là gì ?
GS Carle Paul : Trong những thể nhẹ, người ta sử dụng những điều trị tại chỗ (kem, pomat,v…v). Đối với những thể trung bình và nặng, ta kê đơn những buổi quang liệu pháp bằng tia cực tím (photothérapie aux ultraviolets) hay một điều trị bằng thuốc uống (méthotrexate, rétinoides..). Nơi những bệnh nhân đề kháng với những điều trị này, một bước tiến quan trọng đã được thực hiện với sự hiệu chính những điều trị sinh học rất nhắm đích (traitements biologiques très ciblés), bằng đường tiêm (dưới da hay tĩnh mạch), trung hòa các cytokine, nguyên nhân của những thương tổn. Chúng ta đã có nhiều loại thuốc trung hòa tác dụng của cytokine TNF alpha. Một loại thuốc mới sẽ xuất hiện trên thị trường vào năm 2010 : ustekinumab. Những thứ thuốc khác đang được đánh giá và sẽ được thương mại hóa trong hai hay ba năm.

Hỏi : Đối với những bệnh vẩy nến nghiêm trọng và đề kháng này, những kết quả thu được với những điều trị sinh học (traitement biologique) là gì ?
GS Carle Paul : Các sinh liệu pháp (biothérapies) có một hiệu quả bằng hoặc trên các điều trị quy ước. Chúng cho phép, với sự theo dõi y khoa, kiểm soát căn bệnh và tái lập một chất lượng sống bình thường. Nơi 70 đến 80% các bệnh nhân được điều trị, người ta nhận thấy một sự biến mất gần như hoàn toàn của các mảng. Phần lớn các bệnh nhân phải tiếp tục điều trị trong nhiều năm.

Hỏi : Ngoài điều trị sau cùng được thương mãi hóa vào năm 2010, sự đổi mới mới nhất trong điều trị bệnh vẩy nến là gì ?
GS Carle Paul : Mới đây, chúng tôi đã hiệu chính, trong các khoa bệnh ngoài da bệnh viện và cùng với những y tá chuyên môn, một chương trình giáo dục các bệnh nhân để họ có thể quản lý tốt hơn căn bệnh của họ và chính họ tự tiêm lấy thuốc nhờ một stylo hay một ống tiêm da được làm đầy thuốc trước (seringue préremplie).

Hỏi : Phải chăng người ta đã đánh giá những lợi ích của phương pháp tự cho thuốc (autoadministration) mới này ?
GS Carle Paul : Vâng, bởi những công trình nghiên cứu quốc tế, được thực hiện trên nhiều ngàn bệnh nhân. Theo các kết quả, những điều trị này, và đặc biệt cách cho thuốc mới này, mang lại cho bệnh nhân một sự cải thiện rõ rệt chất lượng sống của họ.
(PARIS MATCH 31/12/2009-6/1/2010)


2/ CÁC THIẾU NIÊN NGHIỆN INTERNET CÓ KHẢ NĂNG HƠN BỊ CÁC ĐỢT TRẦM CẢM.

Các thiếu niên phụ thuộc internet có hai lần rưởi dễ bị chứng trầm cảm hơn so với những thiếu niên chơi trên mạng một cách bình thường và có kiểm. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong Archives of Pediatric and Adolescent Medicine. Công trình này được tiến hành trên 1041 thiếu niên của tỉnh Quảng Châu, miền nam Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu đặc biệt muốn nhận diện những người sử dụng bệnh lý mạng internet và tìm kiếm những dấu hieu lo âu và trầm cảm. Đại đa số các thiếu niên lên mạng một cách bình thường nhưng 62 (6,2%) đã được nhân diện như là những người sử dụng internet bệnh lý (internautes pathologiques) và hai (0,2%) như là những người sử dụng “ bệnh lý một cách trầm trọng ”. 9 tháng sau, tình trạng tâm lý của các thiếu niên đã được đánh giá. Kết quả là những thiếu niên sử dụng internet một cách không hợp lý có nguy cơ 2,5 lần chìm vào trong chứng trầm cảm nhiều hơn những trẻ khác.
(LE FIGARO 4/8/2010)

3/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH CROHN ĐƯỢC XÁC NHẬN.

Bệnh Crohn là một bệnh viêm mãn tính của ruột, trong đó hệ thống phòng ngự của bệnh nhân được hoạt hóa một cách không thích ứng. Có nhiều yếu tố nguy cơ di truyền, nhưng những yếu tố khác (di truyền, vệ sinh đời sống, toàn bộ các vi khuẩn ruột hay microbiote intestinal) cũng có can dự vào. Ken Cadwell, thuộc Phòng bệnh lý học và miễn dịch học của Đại học Washington ở Saint-Louis Hoa Kỳ, và các cộng sự viên của ông đã cho thấy rằng 3 yếu tố (một gène, một virus và một phản ứng viêm) cũng đủ làm phát khởi căn bệnh nơi chuột.

Ở Pháp, vào năm 2005, 60.000 người bị bệnh Crohn, gây tác hại chủ yếu các thiếu niên và những người trưởng thành trẻ tuổi. Căn bệnh được biểu hiện bởi một tình trạng ỉa chảy mãn tính, được kèm theo bởi đau bụng, đôi khi sốt, một sự mất cân và một sự mệt mỏi quan trọng. Các điều trị chủ yếu dựa trên các thuốc chống viêm và các thuốc làm suy giảm miễn dịch. Thật vậy, trong ruột, người ta quan sát thấy một sự tăng hoạt hóa của hệ miễn dịch, tấn công các tế bào của ruột : đó là một bệnh tự miễn dịch (maladie autoimmune). Mặc dầu có một sự mẫn cảm di truyền (susceptibilité génétique) (32 gène đã được nhận diện), nhưng các yếu tố môi trường cũng tham gia vào sự phát khởi của bệnh. Những yếu tố này là gì ?

Các nhà sinh học Hoa Kỳ đã khảo sát các con chuột được biến đổi về mặt di truyền, biểu hiện một gène nhạy cảm với bệnh, gène Atg16L1 bị biến dị. Nơi người, tất cả những ai bị bệnh đều mang biến dị này, nhưng tất cả những người mang biến dị không nhất thiết bị bệnh. Các con chuột được làm biến đổi về mặt di truyền có một loạn năng của các tế bào Paneth của ruột non, những tế bào này tham gia vào việc duy trì microbiote của ruột.

Bằng cách nuôi các con chuột này trong một môi trường vô khuẩn, các nhà sinh học đã chứng thực rằng chúng khỏe mạnh và các tế bào Paneth của chúng đều bình thường. Ngược lại, khi chúng bị nhiễm bởi một norovirus, thì tình trạng bất thường xuất hiện. Thế mà virus này thường là nguyên nhân của bệnh viêm dạ dày-ruột nơi người. Ngoài ra, nếu các nhà nghiên cứu làm nhiễm trùng các con chuột được làm biến đổi về mặt di truyền và mang virus, với một độc chất đối với ruột (điều này làm phát khởi một phản ứng viêm bởi microbiote ruột), các con chuột phát triển bệnh. Một virus như thế, sự biến dị di truyền và phản ứng viêm dường như cần thiết để làm phát phát khởi bệnh Crohn nơi các động vật gặm nhấm. Vấn đề còn phải xem virus này có phải là một nguyên nhân khả dĩ nơi người hay không.
(POUR LA SCIENCE 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 161 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 15/2/2010 )

10/ BỆNH CROHN : HƯỚNG CỦA ĐẠI THỰC BÀO.

Bệnh Crohn (60.000 người bị bệnh ở Pháp) là một viêm mãn tính của ruột, có thể dẫn đến những biến chứng trầm trọng. Mặc dầu nguyên nhân của bệnh này vẫn không được biết đến, nhưng bệnh được cho là “ bệnh tự miễn dịch.” Theo nhóm nghiên cứu của GS Anthony Segal (đại học Luân Đôn) thì đó là một sai lầm ! Những công trình của ông và những kết luận của các công trình này, được cho chỉ là một sự khiêu khích đối với những người này, là sự khám phá quan trọng đối với những người khác. Segal và nhóm nghiên cứu của ông đã tiêm các vi khuẩn được làm vô hại vào những bệnh nhân lành mạnh và vào những bệnh nhân bị bệnh Crohn, rồi đã so sánh sự đáp ứng miễn dịch của chúng : nơi những bệnh nhân bị bệnh Crohn, vài tế bào miễn dịch, được gọi là “ đại thực bào ” (macrophage), trong tình trạng giảm hoạt. Hậu quả : chúng sản xuất rất ít cytokine, protéine làm biến đổi hệ miễn dịch để chống lại kẻ thù. Sự suy diễn những kết quả này lên hệ tiêu hóa gợi ý rằng nơi những người có các đại thực bào ít hoạt động, hệ miễn dịch được huy động một cách không đầy đủ cho phép các vi khuẩn trở nên rất hung dữ. Đối với Segal, các vi khuẩn trực tiếp là căn nguyên của của những thương tổn đường tiêu hóa.
(PARIS MATCH 21/1-27/1/2010)

4/ MỘT VI KHUẨN THÔNG THƯỜNG DƯỜNG NHƯ ĐƯỢC LIÊN KẾT VỚI UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.

Đó là một khám phá bất ngờ. Có một mối liên hệ giữa ung thư đại tràng và sự hiện diện trong ống tiếu hóa của Escherichia coli, một vi khuẩn thông thường. Vi khuẩn này bình thường sống một cách rất hài hòa với con người, mặc dầu nó có thể gây nên ỉa chảy, các nhiễm trùng đường tiểu hay những ngộ độc thức ăn. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu của Inra đánh giá rằng vi khuẩn này có thể là căn nguyên của sự xuất hiện của những tế bào ung thư. Cách nay 4 năm, họ đã khám phá ra rằng một giống gốc đặc biệt của E.coli tiết ra một độc tố, được gọi là colibactine. Thế mà, độc tố này dường như gây nên những thương tổn của ADN. Để xác nhận điều này, các nhà nghiên cứu lần này đã cấy giống gốc E.coli với các tế bào ruột non của chuột. Sau một ngày, họ đã nhận thấy các chỗ gãy trên hai dây ADN của những tế bào.Vì không thể phân chia một cách bình thường, những tế bào này đã tích tụ những bất thường trong cấu trúc và số các nhiễm sắc thể của chúng. Đáng lo ngại khi ta biết rằng những thương tổn này và những bất thường nhiễm sắc thể này có thể dẫn đến sự biến đổi ác tính của các tế bào và dẫn đến sự ung thư hóa. Tuy nhiên còn cần phải thực hiện những công trình nghiên cứu sinh ung thư (cancérogenèse) và dịch tễ học để xem mối liên hệ này có được xác nhận hay không. Từ nhiều thập niên nay, các thầy thuốc đều biết rằng vi khuẩn Helicobacter pylori đóng một vai trò trong các ung thư dạ dày hay rằng các papillomavirus gây nên những thương tổn tiền ung thư, nhưng họ đã chưa bao giờ nghi ngờ các vi khuẩn E.coli.
(SCIENCE ET VIE 8/2010)

5/ CÓ MỘT TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN TỐT BẢO VỆ CHỒNG LẠI BỆNH ALZHEIMER.

Một thời gian học vấn lâu dài gìn giữ các chức năng nhận thức (fonctions cognitives) mặc dầu sự hiện diện của những thương tổn não bộ, chịu trách nhiệm chứng sa sút trí tuệ này. Sự xuất hiện căn bệnh sẽ được làm chậm lại 7 đến 10 năm.

VIEILLISSEMENT. Nếu tất cả mọi người đều đi học, thế thì sẽ còn có những người bị bệnh Alzheimer hay không ? Tất nhiên là có, nhưng có lẽ họ sẽ bị bệnh ở một lứa tuổi cao hơn so với hiện nay. Đó là kết quả của những công trình nghiên cứu, được tiến hành phối hợp bởi các nhà nghiên cứu Anh và Phần Lan và được công bố tuần qua trong tạp chí Hoa Kỳ Brain. Theo các nhà nghiên cứu này, sự việc đã đi học cho phép tích trữ những “ năng lực nhận thức ” (aptitudes cognitives) có khả năng chống lại những tác dụng có hại của các thương tổn não chịu trách nhiệm căn bệnh này. Hiện nay không có một thầy thuốc nào đã khám phá ra phương thuốc nhiệm màu chống lại căn bệnh ảnh hưởng lên 800.000 người ở Pháp này.

Đã từ vài năm nay người ta biết rằng một trình độ học vấn tốt có thể bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer hay làm chậm lại sự xuất hiện của nó. Nhưng một câu hỏi vẫn chưa được giải đáp : sự việc đã theo một học trình cao có ngăn cản sự xuất hiện của những thương tổn não bộ liên kết với bệnh Alzheimer hay chỉ cho phép làm giảm bớt tác động của chúng ?

Để làm sáng tỏ sự việc, nhóm nghiên cứu Anh-Phần Lan đã phân tích não bộ của 832 người già, đã tham gia, nhiều năm trước khi chết, vào những cuộc điều tra về vấn đề lão hóa. Nhiều dữ kiện về trình độ học vấn, giáo dục, môi trường xã hội-văn hóa, tình trạng sức khỏe của họ, cũng như những rối loạn trí nhớ hay những chẩn đoán chứng sa sút trí tuệ đã được tích lũy, vào lúc não bộ của họ được giải phẫu tử thi.

NHỮNG THƯƠNG TỔN THOÁI HÓA.

Điều chứng thực đầu tiên : dầu trình độ học vấn là gì đi nữa, các thương tổn cơ thể học đặc trưng của bệnh Alzheimer (các mảng amyloide giữa các tế bào thần kinh, sự tích tụ của protéine Tau bên trong các neurone) đều tương tự nhau. Không có những thương tổn cơ thể bệnh lý ít hơn nơi những người có thời gian học vấn dài lâu. Nhưng tuy vậy, phần lớn những người này không bị bệnh Alzheimer trong lúc còn sống, trong khi những người khác, mặc dầu có cùng các thương tổn nhưng đã không làm mòn đũng quần trên các ghế nhà trường hay đại học, đều đã trở nên bị bệnh.

“ Những kết quả của chúng tôi cho thấy rằng, sự việc đã từng theo đuổi học hành có thể giúp những người già quản lý, trên bình diện lâm sàng, những thương tổn thoái hóa của não bộ, Hannah Keage (đại học Cambridge, Anh), một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Như thể sự học vấn gìn giữ các chức năng não bộ, mặc dầu đã có một sự biến đổi mô học. “ Sự giáo dục là một yếu tố công bằng xã hội. Công trình của chúng tôi ủng hộ thêm nữa cho sự cần thiết phải đầu tư, lúc bắt đầu của đời sống, vào những chương trình có một tác động lên toàn xã hội và trong suốt cuộc đời ”, Carol Brayne, đồng tác giả của công trình nghiên cứu, cũng là giáo sư của đại học Cambridge, đã tuyên bố như vậy.

Công trình nghiên cứu Paquid, được tiến hành ở Pháp dưới sự chỉ đạo của GS Jean-François Dartigues, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHU de Bordeaux, cũng đã đưa đến những kết luận theo chiều hướng này : “ Trình độ học vấn mang lại những khả năng dự trữ nhận thức (capacité de réserves cognitives) rất quan trọng, đặc biệt là qua mạng lưới các nối kết của các tế bào thần kinh và của kích thước của các neurone ”, ông đã giải thích như vậy.

Cùng điều được quan sát như thế đối với Nun Study (nun : tiếng Anh là nữ tu sĩ), một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, căn cứ trên giải phẫu tử thi các não bộ của các nữ tu sĩ đã chết. Lại nữa, những thương tổn tương tự nhau nơi tất cả những người tham gia. Chỉ có khác là những nữ tu sĩ có một trình độ học vấn tốt có những neurone lớn hơn ở thùy hãi mã (một vùng của não bộ có liên hệ trong những hiện tượng ghi nhớ) và đã ít bị chúng sa sút trí tuệ hơn.

MỘT TÁC DỤNG BẢO VỆ.

Dường như không phải tầm quan trọng của hoạt động trí tuệ trong suốt cuộc sống của mình có một tác dụng bảo vệ. Mà đúng là trình độ học vấn, những khả năng trí tuệ được tích lũy trước năm 25 tuổi. “ Sự việc đã theo một học trình làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer từ 7 đến 10 năm, GS Dartigues đã đánh giá như vậy. Khi ta đã từng không đi đến trường, ta có hai lần nguy cơ cao hơn bị bệnh Alzheimer so với khi ta đã từng đi học. Trường học ảnh hưởng lên sự phát triển của các khớp thần kinh não bộ (synapses cérébrales) và kích thước và số lượng của các neurone. Nghề nghiệp đóng một vài trò ít quan trọng hơn.”

Mới đây các du kích quân Colombie đã chấp thuận học đọc. Thăm khám bằng IRM não bộ của họ đã cho phép thấy rằng, chỉ với việc học tập này cũng đã đủ làm phát triển chất xám của họ. Để bảo vệ chong lai sự sa sút trí tuệ, không gì bằng một sự đam mê, hội họa, âm nhạc... “ Phải phát triển những mối liên hệ xã hội, GS Dartigues đã ghi nhận như vậy. Hãy đọc và bàn luận những bài đọc với những người chung quanh mình. ”
(LE FIGARO 2/8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer)- Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây


6/ VIRUS CỦA BỆNH SIDA CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ LIỆU PHÁP GENE.

Các thuốc kháng siêu vi trùng (antiviraux) chống lại virus của bệnh sida phải chăng một ngày nào đó sẽ được thay thế bởi một liệu pháp gène (thérapie génique ? Đó là hy vọng được dấy lên bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu đã lấy các tế bào máu trên 4 người bị nhiễm bởi VIH và bị một ung thư máu, hay lymphome, liên kết với bệnh sida. Sau đó họ đã biến đổi một phần nhỏ của những tế bào này bằng cách đưa vào đó những gène ngăn cản sự phát triển của VIH. Sau cùng, các nhà nghiên cứu đã đưa các tế bào này vào lại trong máu của các bệnh nhân. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng, các triệu chứng của tất cả các bệnh nhân đã được cải thiện và rằng, nơi hai trong số các bệnh nhân này, các tế bào chữa lành bệnh (cellulues guérisseuses) đã tăng sinh. Ngược lại, không có sự bảo đảm về tính hiệu quả của các gène“ thuốc ” này về lâu về dài.
(SCIENCE ET VIE 8/2010)

7/ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT.

Sống trong môi trường đô thị, di dân, tiêu thụ cannabis...Những tình huống này có phải là những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tâm thần phân liệt, căn bệnh tâm thần gây bệnh cho 1% dân số thế giới ? Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu, được phát động bởi Fondation FondaMental (mạng lưới hợp tác khoa học về sức khỏe tâm thần), sẽ mang lại câu trả lời ở Pháp. Bệnh tâm thần phân liệt, xuất hiện giữa 15 và 20 tuổi, gây nên những ảo giác (hallucination), thường nhất là thính giác, và những ý tưởng mê sảng (idées délirantes), dẫn đến một sự cắt đứt tiếp xúc xã hội (rupture du contact social) và một một sự giảm khả năng xúc cảm (une baisse de l’affect). Theo các nghiên cứu dịch tễ học, “ có một yếu tố di truyền làm dễ (un facteur génétique de prédisposition), mà người ta đã chưa có thể nhận diện được các biến dị ”, BS Andrei Szoke, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) và là người đồng phụ trách công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Một tính chất dễ bị thương tổn di truyền (vulnérabilité génétique) được biểu hiện trong vài điều kiện môi trường. “ Một đứa trẻ đã lớn lên trong thành phố, sẽ có một nguy cơ hai lần cao hơn phát triển một bệnh tâm thần phân liệt, so với một trẻ của môi trường nông thôn ”, vị thầy thuốc nói tiếp như vậy. Cũng vậy, các dân di tản cũng sẽ bị ảnh hưởng hơn “ có lẽ là do stress gây nên bởi sự đối xử phân biệt ”. Sau cùng, sự tiêu thụ cannabis sẽ nhân lên gấp 2,5 lần nguy cơ xuất hiện của hợp chứng.

Có bao nhiêu lý thuyết, có bấy nhiêu công trình muốn kiểm chứng.“ Chúng tôi sẽ so sánh 150 trường hợp mới trong các thành phố của Val-de-Marne và trong một vùng nông thôn của Puy-de-Dome, với 100 trong số các anh hay chị của họ, ở trong cùng một môi trường và một phần của các gène của họ và với 150 người chứng.Tất cả sẽ trả lời những bảng câu hỏi, và một xét nghiệm máu sẽ xác định những yếu tố di truyền hay nhiễm trùng.” Cũng cuộc điều tra sẽ được tiến hành ở Tây ban Nha, ở Ý, Anh và ở Hoà lan, tất cả được tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu. Mục tiêu cuối cùng ? “ Hiểu biết tốt hơn nguồn gốc của những bệnh lý này, thiết đặt những biện pháp phòng ngừa và báo động các nhóm dân và những vùng có nguy cơ.” Cac kết quả sẽ có trong 3 năm nữa.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

8/ SỰ SAY RƯỢU CÓ HẠI NGHIÊM TRỌNG CHO TUỔI TRẺ.

Một công trình nghiên cứu trên các động vật linh trưởng (primate) xác nhận ảnh hưởng của rượu lên sự phát triển của thùy hải mã (hippocampe), vùng não bộ cần thiết cho học tập và ghi nhớ.

Nơi các thiếu niên, một ly đã là quá nhiều, còn nhiều ly, thì xin chào các tổn hại trên não bộ ! Ít nhất cũng nơi khỉ macaque. Một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên động vật linh trưởng này, lần đầu tiên mang lại bằng cớ về ảnh hưởng của rượu lên sự phát triển của hồi hải mã (hippocampe), một vùng của não bộ chủ yếu trong việc ghi nhớ và học tập. Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Scripps (Californie) đã tạo khả năng cho hai nhóm khỉ macaque thiếu niên, được uống tha hồ, một lần mỗi ngày : những con khỉ thuộc nhóm thứ nhất uống nước đường, còn những con khỉ thuộc nhóm thứ hai uống nước tương tự nhưng có pha rượu. Và như thế trong 1 tháng. Kết luận : nhóm tiếp cận với rượu đã uống không có mức độ, thường đi đến một tình trạng say thực sự. Hai tháng sau khi cai rượu, bilan đối với thùy hải mã của chúng đã không thể đảo ngược : số các tế bào mới cũng như sự tăng sinh của chúng đã bị sụt giảm một nửa so với những động vật kiêng rượu.

Những kết quả này, than ôi, theo cùng chiều hướng với một công trình nghiên cứu, được công bố bởi American Journal of Psychiatry vào tháng năm năm 2000, lần này được tiến hành trên người. Công trinh nghiên cứu này đã phát hiện, nơi các thiếu niên, một sự nhạy cảm mạnh hơn của thùy hải mã đối với rượu : thể tích của thùy hải mã càng bị thu giảm khi việc uống rượu đã bắt đầu càng sớm và càng kéo dài. Bây giờ chúng tôi biết rằng, não bộ đang được tạo thành của các thiếu niên là rất nhạy cảm với độc tính của rượu, BS Georges Picherot, trưởng khoa nhi đồng của CHU de Nantes đã lấy làm lo ngại như vậy.Thế mà, việc tiêu thụ rượu mạnh lập đi lập lại, càng ngày càng có liên hệ đến các trẻ em dưới 15 tuổi.” Thật vậy, mặc dầu sự tiêu thụ rượu nhìn toàn bộ đang giảm đều đặn từ 50 năm qua, nhưng những hành vi đáng lo ngại như chứng nghiện rượu do nhu cầu giao tiếp xã hội (alcoolisme mondain) của những người trưởng thành và “ những cuộc chè chén tốc hành ” (beuveries express) nơi các vị thành niên. Chúng được liên kết với sự tiêu thụ rượu mạnh càng ngày càng thường xảy. Việc bán rượu whisky đã nhảy vọt 20% trong 5 năm vừa qua. Nơi các thiếu niên, nhìn toàn bộ sự tiêu thụ rượu vẫn ổn định và thấp hơn so với những nơi khác ở châu Âu, Georges Picherot đã nói thêm vào như vậy. Nhung chúng ta không thoát khỏi sự xuất hiện những trường hợp say cấp tính nơi những trẻ em càng ngày càng nhỏ tuổi. ”
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

9/ TA CÓ THỂ HY VỌNG CÓ CON SAU MỘT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỤ KHOA KHÔNG ?

Professeur Roger Henrion
Gynécologue obstétricien
Président de l’Académie nationale de médecine


Ta có nghĩ rằng có thử thách nào đau đớn hơn đối với một phụ nữ trẻ, khi hay tin cùng một lúc rằng, cô ta bị một ung thư và điều trị được sử dụng, mặc dầu càng ngày càng có hiệu quả và cứu mạng, lại có thể gây nên một sự vô sinh vĩnh viễn ? Những tình trạng tiến thối lưỡng nan như thế, nếu xảy ra vào những thời điểm trước đây, là điều không thể quan niệm được, là vì khi đó chẩn đoán ung thư chậm hơn nhiều và tiên lượng nghiêm trọng hơn nhiều, thì từ nay, điều này không còn hiếm hoi nữa, nhất là khi các thai nghén muộn ngày càng gia tăng với sự chậm trễ ngày càng rõ rệt của tuổi thai nghén đầu tiên hay ước muốn có thai sau một cuộc hôn nhân mới.

Đứng trước nỗi thống khổ của các bệnh nhân mình, các thầy thuốc đã tìm cách làm giảm những tác dụng có hại của các điều trị lên chức năng buồng trứng. Ngoài sự làm chủ tốt hơn, bởi các thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến và ung thư, các liều lượng được cho, các trường phóng xạ và tính chất của các tác nhân hóa học và của sự phối hợp chúng lại với nhau, còn được thêm vào những kỹ thuật được sử dụng bởi các thầy thuốc chuyên khoa phụ sản và các nhà sinh học, nhằm bảo tồn các chức năng sinh sản.

Nhưng, nếu ở người đàn ông, sự bảo tồn tinh dịch được quy tắc hóa tốt, với những kết quả được nhận thấy, thì tình huống phức tạp hơn nhiều ở người phụ nữ. Một mặt, bởi vì các noãn bào (ovocyte) được tiếp cận khó khăn hơn và đề kháng kém với quá trình làm đông lạnh-làm tan đông (congélation-décongélation), mặt khác bởi vì phần lớn các kỹ thuật đều cần một sự thành thục sinh dục (maturité sexuelle), một sự kích thích buồng trứng (stimulation ovarienne) và sự hiện diện của một người phối ngẫu.

Trong trường hợp phóng xạ liệu pháp (radiothérapie), kỹ thuật được sử dụng nhất nhằm tách xa buồng trứng khỏi những nguồn bức xạ, bằng cách đặt nó trong bụng, trên vị trí bình thường của nó. Sự bảo toàn của chức năng buồng trứng đat được trong khoảng 80% các trường hợp, với điều kiện người phụ nữ dưới 40 tuổi. Kỹ thuật thứ hai, vẫn còn ở giai đoạn thí nghiệm, là ghép buồng trứng với các cuống mạch máu của nó trong một nơi khác của cơ thể không phải hố chậu, ở dưới cẳng tay hay trong bụng.

Nhưng trong hoá học liệu pháp, xê dịch buồng trứng chẳng ích lợi gì. Ngoài một sự thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro) được thực hiện cấp cứu, ngoài sự hiện diện của một người phối ngẫu và một sự kích thích buồng trứng, làm trì hoãn sự thực hiện điều trị của ung thư, giải pháp an toàn nhất là làm đông lạnh (congélation embryonnaire).

Tỷ lệ sinh bằng chuyển phôi (accouchement par transfert) là khoảng 20%. Nhưng vì sự làm đông lạnh chậm các noãn bào trưởng thành đã không có những kết quả được mong chờ, nên người ta đã đề nghị một loại làm đông lạnh các noãn bào cực nhanh, được gọi là vitrification. Tỷ lệ sinh khi đó sẽ là 30% bằng chuyển phôi, trong khi tỷ lệ này chỉ 10% sau phương pháp làm đông chậm (congélation lente). Mặc dầu sự theo dõi hơn 900 trẻ em sinh ở Ý vào năm 2009 là hoàn toàn làm an lòng, nhưng kỹ thuật này chưa được cho phép ở Pháp.

Một phương pháp khác, đáng lưu ý đối với các thiếu nữ, là sự bảo tồn bằng đông lạnh (cryoconcervation của mô buồng trứng, nhằm bảo tồn các noãn nang nguyên thủy (follicules primordiaux), nằm ở vỏ của buồng trứng. Mô của buồng trứng được đặt lại hoặc ở vị trí hố chậu, hoặc xa vị trí gốc của nó. Thật ra, cho đến ngày nay, chỉ có các ghép ở vị trí hố chậu mới đã cho phép có được các thai nghén. Người ta cũng có thể nhờ đến sự hiến các noãn bào, nhưng với những thời hạn từ hai đến 5 năm, một phần do hiếm có người cho (donneuse), khoảng 200 đến 300 mỗi năm ở Pháp.

Còn về việc có thai cho những kẻ khác, giải pháp duy nhất cho một cặp vợ chồng có một đứa con phát xuất từ các gène riêng của mình khi tử cung đã bị lấy đi nhưng các buồng trứng được bảo tồn. Sẽ là đáng ngạc nhiên khi sự thai nghén này được chấp thuận ở đất nước chúng ta cách nay vài năm. Các lựa chọn càng khó thực hiện khi ta thiếu các công trình nghiên cứu được tiến hành trên một số lớn người, điều này khiến vẫn còn những hoài nghi về các phương thức điều trị tốt nhất của chứng vô sinh và sự xuất hiện của các tái phát. Rõ ràng là các quyết định chỉ nên được thực hiện trong các équipe biết rất rõ nhau. Dầu thế nào đi nữa, mặc dầu các kết quả không hoàn toàn được đảm bảo, nhưng chỉ nội việc loan báo một khả năng có con về sau này cũng là một thông điệp mang lại hy vọng.
(LE FIGARO 28/6/2010)

10/ CÁC KEM CHỐNG NẮNG CÓ THẬT SỰ BẢO VỀ CHỒNG LẠI NHỮNG TÁC DỤNG CÓ HẠI CỦA ÁNH NẮNG MẶT TRỜI.

Docteur Paul Young
Dermatologue (Rouen)


Từ những năm 1970, số các ung thư da gia tăng một cách quan trọng. Điều này phần lớn được liên kết với những thói quen mới khi phơi nắng. Bởi vì các yếu tố nguy cơ của các ung thư da, một phần là di truyền, mà chúng ta không thể tác động được, và một mặt khác được liên kết với sự tiếp xúc với ánh nắng, dầu đó là cấp tính và đoạn hồi hay mãn tính, tình nguyện hay do nghề nghiệp.

Những trường hợp trúng nắng (coups de soleil) và những sự tiếp xúc mãn tính ánh nắng mặt trời là những tác nhân chính chịu trách nhiệm 3 loại ung thư da chủ yếu, các carcinome basocellulaire, các carcinome épidermoide và những u hắc tố (mélanome). Những trường hợp trúng nắng là đặc biệt nguy hiểm khi chúng xuất hiện trong thời thơ ấu. Những sự tiếp xúc mãn tính với ánh nắng mặt trời cũng chịu trách nhiệm sự lão hóa của da (các vết nhằn và các đốm nắng hay actinique) và những dày sừng quang hóa (kératose actinique), là những thương tổn tiền ung thư.

HIỆU QUẢ TRONG 8 GIỜ.

Vậy cần phải thiết đặt một sự phòng vệ ánh sáng (photoprotection) ngay từ tuổi ấu thơ (nhất là giữa 10 giờ và 17 giờ) và như thế suốt cả cuộc đời. Các tia tử ngoại B chịu trách nhiệm các vết bỏng và các đợt trúng nắng, các tia tử ngoại A chịu trách nhiệm sự lão hóa của da và các dày sừng quang hóa (kératose actinique). Sự làm rám da (bronzage) vì là một tác nhân bảo vệ tồi chống lại các tia tử ngoại A, nên sự bảo vệ ánh sáng tốt nhất được đảm bảo bởi quần áo. Các kem và màn ngăn chống nắng (crème et écran solaire) phải được đặc biệt dành cho những vùng khó bảo vệ bởi quần áo.

Những kem chống nắng đầu tiên, được thương mãi hóa vào đầu những năm 1970, chỉ bảo vệ độc nhất và yếu chống lại các tia tử ngoại B (UVB). Dần dần các chỉ tiêu bảo vệ (indice de protection) chống lại UVB đã gia tăng, nhưng hiện nay chúng cũng bảo vệ chống lại UVA. Chỉ đấu SPF (Sun Protection Factor) thể hiện sự bảo về chống lại UVB. Dĩ nhiên, SPF càng cao, sự bảo vệ sẽ càng tốt hơn.

Cùng cách như thế, thời gian bảo vệ liên kết với sự bôi kem chống nắng đã dần dần gia tăng. Thí dụ rất mới đây đã xuất hiện một kem chống nắng có thời gian bảo vệ 8 giờ chỉ cần một lần bôi. Tuy nhiên, phần lớn các kem và màn ngăn chống nắng có hiện nay bảo vệ trong một thời gian khoảng 2 giờ. Sau cùng, cũng có những kem tương đối đề kháng với sự tắm rửa.

Do sự gia tăng của số các ung thư da, và nhiều chiến dịch ngăn ngừa và phát hiện của các thầy thuốc chuyên khoa da, nên dân chúng cũng được thông tin khá tốt về những nguy cơ do phơi nắng. Trong mục đích vừa ngăn ngừa các ung thư da và làm chậm lại sự lão hóa da, việc sử dụng các kem và màn ngăn chống nắng co tầm quan trọng. Các màn ngăn (écran) được chế tạo từ các khoáng chất phản chiếu ánh sáng (oxyde de titane hay oxyde kem), gởi trả lại bức xạ tử ngoại trong khi các bộ lọc (filtre) hấp thụ năng lượng của chúng. Đa số các sản phẩm, bắt đầu từ những SPF 30, chứa đồng thời các màn ngăn và các bộ lọc để trang trải tốt toàn bộ phổ của các tia tử ngoại.

Việc ngăn ngừa các ung thư phải bắt đầu bởi sự hạn chế thời gian tiếp xúc với ánh nắng và nhất là bằng cách giảm bớt số những trường hợp trúng nắng. Điều này phải là một mối lo âu thường xuyên nơi các bố mẹ có con em còn nhỏ tuổi. Việc sử dụng quần áo bảo vệ ánh sáng, bây giờ khá phổ biến và phí tổn phải chăng, là vô cùng hữu ích. Chúng cho phép tắm và chơi thể thao nhưng đồng thời vẫn được bảo vệ. Việc sử dụng kem chống nắng phải đều đặn : phải bôi kem rộng khắp, khoảng mỗi 2 giờ. Các chỉ dấu SPF phải được tăng cao (trên 30).

KEM BAN NGÀY (CREME DE JOUR).

Sự ngăn ngừa quá trình lão hóa da (các vết nhăn và các đốm) cũng cần bôi kem ban ngày chứa những tác nhân bảo vệ chống lại ánh sáng. Những kem này càng ngày càng được phổ biến và được nhận biết dễ dàng. Thật vậy, trên bao bì của chúng, xuất hiện lời ghi chú “ SPF ” . Nói chung chỉ tiêu này bao gồm giữa 15 và 25. Việc bôi các kem này cho phép làm chậm lại sự xuất hiện của những dấu hiệu của lão hóa da, nhưng cũng cho phép, khi những dấu hiệu này rất rõ rệt, một sự cải thiện tương đối những dấu hiệu của nó, do đó việc bôi kem phải là rất nghiêm túc (bôi hai lần mỗi ngày, sáng và trưa).

Cũng đừng quên rằng các tổn hại của các tia tử ngoại không chỉ giới hạn ở da, mà còn có thể ở cả mắt nữa. Sự bảo vệ da chống lại ánh sáng phải được bổ sung bởi việc đeo kính râm (lunettes de soleil) lọc rất tốt các tia tử ngoại A bà B.
(LE FIGARO 22/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 137 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 2/8/2009 )

5/ PHƠI NẮNG : NHỮNG CẠM BẨY KHÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN.

BS Anny Cohen-Letessier, thầy thuốc chuyên khoa da, giảng viên, cảnh cáo về những tác hại, thường không được nghĩ tới, của những tia UVA và UVB.

Hỏi : Những nguy cơ ít được biết đến của phơi nắng (exposition solaire) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Công chúng được thông tin rõ về những tác dụng có hại thông thường nhất : sự lão hóa da, các vết (taches), ung thư da, v...v. Nhưng phần lớn người ta không biết đến những nguy cơ gặp phải trong vài trường hợp... Ví dụ khi họ đang được điều trị bởi các thuốc gây nhạy cảm ánh sáng (traitement médicamenteux photosensibilisant)...Hoặc khi đang mang một vết sẹo có từ dưới hai năm... Hoặc trong một tình huống “ tiếp xúc thụ động ”, như ngồi sau một kính chắn gió xe hơi hay một lỗ kính (baie vitrée). Phải nhớ rằng mặt trời là một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques)... rằng các buổi pique-nique dưới ánh mặt trời, trên bãi cỏ, có thể gây nên (nếu da ẩm ướt) một “ bệnh viêm da của các bãi cỏ ” (dermite des prés), đau đớn, với sự xuất hiện của các nốt rộp da (cloques).

Hỏi : Dưới ánh nắng mặt trời, những điều trị nào có nguy cơ gây nên những biến chứng ?
BS Anny Cohen-Letessier : Vài kháng sinh, các thuốc chống viêm, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống loạn nhịp tim... có nguy cơ gây nên một sự nhạy cảm ánh sáng (photosensibilisation). Do sự tương tác giữa thuốc và các tia tử ngoại, da phản ứng mạnh, gây nên ban đỏ (érythème) (đỏ, bỏng...) và các vết (taches). Lúc được điều trị bởi những thuốc này, phải tránh những giờ nóng nhất và phải bôi lại thường xuyên kem mặt trời (crème soliare), ngay cả lúc tắm (nước có tác dụng của một kính loupe trên da !).

Hỏi : Tại sao phải chờ hai năm mới có thể phơi nắng một vết sẹo mổ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Những tia tử ngoại làm xáo trộn các giai đoạn của tiến trình hóa sẹo, đặc biệt là sự tái sinh của các tế bào của tổ chức da. Phơi nắng sớm có nguy cơ làm sẹo hóa thành màu nâu, điều này sẽ làm nổi rõ dạng vẻ xấu xí của một di chứng giải phẫu. Mỗi vết sẹo, nhỏ hay lớn, đều cần được bảo vệ.

Hỏi : Vì những lý lẽ gì mà mặt trời là một một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Bởi vì những người bị mụn luôn luôn có cảm tưởng rằng tình trạng của họ sẽ được cải thiện dưới ánh nắng mặt trời. Thoạt đầu sự làm rám da (bronzage) làm cho đều nước da mặt, “ ngụy trang ” các nốt mụn. Sự dày lên của da như thế che dấu các vi nang (microkyste), nguồn gốc của các mụn mọc. Những lúc đi hè về, da phản ứng lại rất nhanh chóng bằng một đợt nổi mụn rất quan trọng, với sự tái xuất hiện các thương tổn..

Hỏi : Những trường hợp phơi nắng thụ động là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Trong xe hơi, người ta, như ở tren bờ biển, chịu những tia UVA đi xuyên qua kính : kính của kính chắn gió và kính của các kính bên. Để tránh những ban đỏ thường xảy ra nơi mặt, cần thận trọng bôi một loại kem có tính chất bảo vệ chống nắng cao trước khi đi nghỉ hè. Cũng vậy, vào lúc hoạt động ngoài trời, thể thao hay không (như làm vườn, xén cỏ..), người ta quên rằng những phần hở sẽ chịu những tác dụng có hại do phơi nắng mặt trời quá mức : bỏng, các vết, sự lão hóa da sớm, v..v. Do đó lợi ích mặc quần áo nhẹ thích hợp hay bôi một lớp kem ngăn ánh nắng.

Hỏi : Hiệu quả thật sự của các loại kem chắn toàn thể (crèmes à écran total) là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Thuật ngữ “ chắn toàn thể ” (écran total) là không thích hợp bởi vì một loại kem không bao giờ bảo vệ hoàn toàn cả. Những liều lượng sử dụng trên da không đủ để tạo nên một màng chắn toàn thể, và có thể có một sự hủy hoại các bộ lọc lúc phơi nắng, làm mất khả năng che chở. Mặt khác hiệu quả của thuốc có thể giảm khi ống thuốc nằm dưới ánh nắng. Những tên gọi của những kem chắn toàn thể này sẽ thay đổi : ta sẽ nói là che chở nhẹ, trung bình, cao hãy rất cao (hiệu quả gần hai giờ).

Hỏi : Mặt trời cũng có những lợi ích của nó chứ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Một bức xạ được gọi là “ánh sáng thấy được” có một tác dụng có lợi lên khí chất, làm thư giãn sự căng thẳng. Những tia cực tím cho phép cơ quan tổng hợp vitamine D.
(PARIS MATCH 16/7- 22/7/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/8/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#63 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 16 August 2010 - 11:30 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ VIÊM CỨNG KHỚP ĐỐT SỐNG : MỘT CHỨNG ĐAU LƯNG NƠI 250.000 NGƯỜI PHÁP.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CÁC CON SỐ. Sau bệnh viêm đa khớp dạng thấp(arthrite rhumatoide), bệnh viêm cứng khớp đốt sống (spondylarthrite ankylosante), là bệnh thấp khớp viêm mãn tính thường gặp nhất : 0,2 đến 0,3% dân số bị liên hệ, hoặc khoảng 250.000 người ở Pháp. Căn bệnh âm ỉ này thường khởi phát giữa 14 và 40 tuổi, đàn ông bị bệnh nhiều hơn phụ nữ. Trung bình chẩn đoán được thực hiện sau khi bệnh đã tiến triển từ 6 đến 8 năm.

CÁC TRIỆU CHỨNG. 3 dấu hiệu luôn luôn có mặt : đau, cứng khớp buổi sáng và mệt mỏi. Các cơn đau, thường dữ dội, trong trường hợp điển hình xuất hiện vào nửa đêm thứ hai. Đau thường nhất ở cột sống và khung chậu. Những khớp khác có thể bị liên hệ : chân, đầu gối, háng...Các cơn đau tương ứng với một quá trình viêm ở các nơi bám của các dây gân và của những dây chằng trong xương. Triệu chứng đau thường kèm theo một sưng cứng khớp vào buổi sáng, có thể kéo dài nhiều giờ. Nhiên hậu, sự cứng khớp (ankylose) trở nên thường trực. Bệnh cũng có thể gây thương tổn ở mắt, da, ống tiêu hóa.

CÁC NGHIÊN CỨU. Một công trình nghiên cứu rộng lớn đang được tiến hành ở Pháp từ năm 2007, bao gồm 700 bệnh nhân, sẽ được theo dõi trong 5 đến 10 năm. Được mệnh danh là Desir (Devenir des spondylarthropathies indifférenciées récentes), công trình nghiên cứu có những mục tiêu chính là nghiên cứu bệnh sử tự nhiên của những căn bệnh này, nhận diện những yếu tố nguy cơ tiên liệu cho tiến triển của chúng và đo lường tác động của chúng lên con người và kinh tế.


Có những điều trị hiệu quả cho bệnh viêm cứng khớp đốt sống (spondylarthrite ankylosante), nhưng chẩn đoán bệnh còn quá chậm.

ARTICULATIONS. Đó là một cuộc cách mạng cho phép tránh những năm tháng khổ đau cho hàng trăm ngàn bệnh nhân. Hiện nay, chẩn đoán của bệnh viêm cứng khớp đốt sống trung bình được thực hiện sau 6 năm tiến triển của các cơn đau đớn. Một sự chậm trễ càng gây tổn hại khi những điều trị hiện nay bằng sinh liệu pháp (biothérapie), có sử dụng từ 10 năm nay, đã làm biến đổi tiên lượng của căn bệnh thấp khớp này, tránh tiến triển thành những dạng cứng khớp (formes ankylosnates). Nhiều công trình nghiên cứu, được công bố cuối năm 2009, xác lập một loạt các tiêu chuẩn mới cho phép từ nay thiết lập một chẩn đoán rất sớm các thương tổn khớp. “ Cho mãi đến năm 2009, sự điều trị các bệnh nhân luôn luôn được thực hiện quá chậm bởi vì chẩn đoán phải được xác nhận bởi X quang, chỉ cho phép thấy những thương tổn đã tiến triển từ nhiều năm, GS Pascal Chaudepierre, thầy thuốc chuyên khoa khớp thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) đã xác nhận như vậy. Những tiêu chuẩn mới chấp nhận IRM, cho phép thấy những thương tổn sớm hơn, nhưng cũng cho phép một chẩn đoán mà không cần một hình ảnh nào, điều này thể hiện một tiến bộ to lớn.”

Bệnh viêm cứng khớp đốt sống chiếm một nửa của các bệnh khớp đốt sống (spondylopathie), gây bệnh cho khoảng 250.000 người ở Pháp. Tỷ lệ lưu hành này, tương đương với tỷ lệ gây bệnh của viêm đa khớp dạng thấp (arthrite rhumatoide), nhưng tuy vậy không đủ làm nó nổi tiếng như bệnh này bởi vì bệnh viêm cứng khớp thường không được nhìn thấy. Thật vậy, bệnh viêm cứng khớp đốt sống ảnh hưởng chủ yếu cột sống và các đau đớn mà nó gây nên chỉ được xác nhận bởi những biến dạng xương sau nhiều năm trải qua những đêm mất ngủ.

Căn bệnh, thường nhất phát ra giữa năm 20 và 40 tuổi và gây bệnh nơi đàn ông hơi nhiều hơn nơi đàn bà, gây thương tổn trước hết các khớp nối liền cột sống với khung chậu, chỗ nối cùng-chậu (jonction sacro-iliaque). Bệnh gây nên một quá trình viêm, làm phát khởi sự xuất hiện các mô sẹo, cho phép dẫn đến một sự cốt hóa của khớp. Nếu sự cốt hóa lan rộng, nó dẫn đến sự bất động của khớp, điều này làm giới hạn cử động của các bệnh nhân.

CÁC NGUYÊN NHÂN KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ.

Quá trình này kèm theo những đau đớn tăng dần, nhất là vào ban đêm, thường nhất xuất hiện bằng các cơn bộc phát vào lúc các đợt viêm và những cơn đau này quá dữ dội và xảy ra quá thường xuyên nên không thể cho đó là một chứng đau lưng thông thường được, vì vậy cuối cùng thuyết phục bệnh nhân đi khám bệnh. Viêm cứng khớp đốt sống có thể được phát hiện dưới những dạng khác, được quy tụ dưới thuật ngữ bệnh khớp đốt sống (spondylarthropathie), và gây thương tổn các chi, da, mắt hay bộ máy tiêu hóa. Nguyên nhân chưa được biết rõ, mặc dầu sự hiện diện của vài nhiễm trùng dường như đóng một vai trò cũng như một tố bẩm di truyền.

Những thương tổn xương không xuất hiện ngay giai đoạn đầu của bệnh và phải nhiều năm để xác lập chẩn đoán. “ Chỉ dấu chính là một quá trình viêm của các khớp ở khung chậu, viêm cùng-chậu (sacro-iliite), nhưng nó cần một thời gian rất lâu để xuất hiện. Một hội chứng viêm sinh học cũng có thể xuất hiện nhưng nó chỉ hiện diện nơi 50% các bệnh nhân ”, GS Pascal Claudepierre, đã chỉ rõ như vậy. Một gène cũng đã được nhận diện, HLA B27. Gène này hiện diện trong 90% các trường hợp viêm khớp đốt sống trong khi nó chỉ hiện diện nơi 8 đến 9% dân chúng nói chung. Điều này có nghĩa là gène HLA B27 đóng một vai trò nhưng một mình nó không đủ để giải thích căn bệnh, GS Claudepierre đã nhấn mạnh như thế. Do đó, chẩn đoán chủ yếu dựa trên một bilan hoàn toàn, bao gồm những thăm dò bằng hình ảnh, những phân tích sinh học cũng như một bảng câu hỏi về gia đình và một phân tích di truyền, bởi vì bệnh viêm khớp vảy nến (rhumatisme psoriasique), viêm khớp phản ứng (arthrite réactionnellle) hay bệnh Crohn đều chia sẻ một nguồn gốc di truyền với bệnh viêm khớp đốt sống.

Sự xuất hiện những tiêu chuẩn mới hẳn phải làm dễ và làm nhanh chẩn đoán và cho phép đề nghị nhanh hơn những sinh liệu pháp (biothérapie), mà các tác dụng càng ngoạn mục khi chúng được thực hiện càng sớm. Tuy nhiên hiện nay, các loại thuốc này (cũng được sử dụng trong viêm đa khớp dạng thấp) không thể được kê đơn một cách chính thức nếu không có một chẩn đoán được xác nhận bởi chụp hình ảnh. Giới hữu trách phải nhanh chóng chấp thuận những tiêu chuẩn mới và mở rộng sự cho phép đưa ra thị trường các sinh liệu pháp, GS Claudepierre đã nhấn mạnh như vậy. Hiện nay, thời gian chờ đợi chẩn đoán trung bình vẫn là 6 năm và Hiệp hội bệnh viêm khớp đốt sống của Pháp ước tính rằng 25 đến 30 các bệnh nhân vẫn trong tình trạng tàn phế.
(LE FIGARO 10/5/2010)

2/ BỆNH ALZHEIMER : MỐI HY VỌNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ BẰNG SỰ KÍCH THÍCH NÃO BỘ.

Trí nhớ có thể được hưởng lợi nhờ một sonde cắm vào trong não bộ.

NEUROLOGIE. Bệnh Alzheimer tác hại lên hơn 800.000 người ở Pháp, thế mà chúng ta vẫn chưa có những điều trị hiệu quả. Nhiều thử nghiệm điều trị đang được tiến hành, nhiều chiến lược phòng ngừa được dự kiến, nhưng hiện nay không có gì cho phép ngăn cản sự suy thoái của trí nhớ. Tuần này, tạp chí Hoa Kỳ trình bày những kết quả của những công trình nghiên cứu hoàn toàn đổi mới, được thực hiện trên 6 người bị bệnh Alzheimer ở giai đoạn khởi đầu và được điều trị giữa năm 2005 và 2008 bởi sự kích thích vùng sâu não bộ (stimulation cérébrale profonde) nhờ một sonde. Mặc dầu sự cải thiện được chứng thực sau một năm chỉ được nhận thấy nơi một nửa các bệnh nhân được điều trị, tuy nhiên nếu công trình này được xác nhận (mặc dầu hiện nay đang còn trong thí nghiệm), thì một kỷ nguyên mới sẽ được mở ra, không những trong nghiên cứu mà còn trong điều trị bệnh này. Nên biết rằng sự kích thích não bộ cần một động tác ngoại khoa trên não và do đó đòi hỏi một plateau technique.

Chính vào năm 2003 mà Andres M.Lozano (khoa thần kinh chức năng, đại học Toronto, Canada) đã có trực giác rằng một sự kích thích não bộ có thể có một tác dụng lên bệnh Alzheimer, sau khi các thử nghiệm đã phát hiện tính hiệu quả của nó trong bệnh Parkinson và trong vài chứng trầm cảm ...Vào năm đó, lần đầu tiên, một bệnh nhân béo phì bị rối loạn trí nhớ đã được hưởng một implantation cérébrale thuộc loại này dưới sự giám sát của ông.

Giả thuyết khởi đầu là sự kích thích của vài vùng của não bộ, đặc biệt là thùy hải mã và fornix, được biết có can dự trong những hiện tượng ghi nhớ, có thể có một tác dụng kềm hãm lên căn bệnh. Với điều trị kích thích não bộ, bệnh nhân này đã có thể tìm lại được những yếu tố của tiểu sử cá nhân mình, đặc biệt với một sự cải thiện các kỹ niệm và các năng lực thể hiện chúng bằng lời nói. Nhờ thí nghiệm đầu tiên này, nhóm nghiên cứu Canada khi đó nhận được sự cho phép để trắc nghiệm phương pháp này trên 6 bệnh nhân tuổi từ 40 đến 80, bị bệnh Alzheimer mới được chẩn đoán (dưới hai năm) và đã được điều trị bởi những thuốc hiện có.

Trước hết sự can thiệp nhằm xác định vị trí vài vùng chính xác của não bộ đặc biệt bị thương tổn trong chứng bệnh này nhờ kỹ thuật chụp hình ảnh bằng cộng hưởng điện từ (résonnance mégnétique). Rồi những điện cực kích thích phần sâu của não bộ đã được cắm vào hai bên nơi những vùng đã được xác định vị trí của não. Các điện cực đã cắm được kích thích trong khi bệnh nhân đang thức tỉnh, để kiểm tra rằng sự kích thích này đã không làm biến đổi những vùng chức năng và không gây nên những triệu chứng bất ngờ. Sau cùng, các điện cực đã được nối với một máy phát được cắm ở ngực, lần này với gây mê toàn thân.

Tất cả các bệnh nhân được hưởng thí nghiệm này đã trở về nhà sau đó.“ Sự đánh giá những dấu hiệu của bệnh Alzheimer bằng những trắc nghiệm khác nhau gợi ý một sự cải thiện khả dĩ hay một sự làm chậm lại của sự suy thoái của các chức năng nhận thức, sau 6 tháng hay sau một năm, đối với một số các bệnh nhân ”, các tác giả của thử nghiệm lâm sàng này đã kể lại như vậy. Đã không có những biến chứng đặc biệt.

Dầu sao đi nữa, những nhà nghiên cứu này chủ trương một thử nghiệm điều trị mới nhằm so sánh những hiệu quả của kỹ thuật này với một placebo. “ Công trình này được thực hiện tốt, nhưng vẫn còn rất sơ bộ, Françoise Forette (giáo sư lão khoa, bệnh viện Broca, Paris) đã đảm bảo như thế. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng chính những bệnh nhân ít bị thương tổn nhất lúc ban đầu đã được hưởng những kết quả tốt nhất. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát thấy một sự cải thiện của chuyển hóa não bộ, điều này hoàn toàn đáng phấn khởi.
(LE FIGARO 9/8/2010)

3/ TA CÓ THỂ TRÁNH ĐƯỢC CÁC NẾP NHĂN DA ?

Không, cuối cùng rồi chúng sẽ luôn luôn xuất hiện. Nhưng tùy theo loại các nếp nhăn, ta có thể làm giảm bớt, làm che khuất chúng hay làm chậm sự xuất hiện của chúng.

Các nếp nhăn da làm quan tâm đến nhiều người. Vài ngôi sao lớn tuổi lại dường như không có các nếp nhăn ? Hay chỉ làm che khuất chúng ? Trước hết ta hãy xác định một nếp nhăn là gì trước khi xem có những phương thuốc điều trị hay không ?

Da được cấu tạo bởi ba lớp : biểu bì (épiderme), bì (derme) và hạ bì (hypoderme), nằm dựa trên các cơ và các cơ này chịu trách nhiệm những biểu hiện của gương mặt. Biểu bì là một lớp các tế bào được gọi là sừng (cellules cornées), được đổi mới một cách thường trực và tạo thành một hàng rào da (barrière cutanée). Bì (derme), dày hơn, chứa các rễ của các lông, các mạch máu, các tế bào mỡ, các tuyến mồ hôi và các tận cùng thần kinh. Bì được cấu tạo bởi các bó sợi collagène (protéine dồi dào nhất của cơ thể con người, chịu trách nhiệm sự kết hợp chặt chẽ của các mô), được nối với nhau bởi các sợi đàn hồi (chịu trách nhiệm về tính đàn hồi của da). Lớp hạ bì (hypoderme) là một mô mỡ, nằm dựa trên các cơ.

Những nếp nhăn da là những đường rãnh (sillon) của bì, do một sự biến đổi của cấu trúc làm nó giãn ra. Các nếp nhăn có 4 loại. Những nếp nhăn biểu lộ (rides d’expression) được liên kết với những biểu lộ của gương mặt (nụ cười, sự lo lắng ...). Mỗi khi các cơ của mặt co lại để biểu lộ một sự xúc cảm, da căng hay giãn ra. Với sự lặp đi lặp lại của các biểu lộ (do đó với tuổi tác gia tăng), những nơi da vốn được cố định vào các cơ, bị lõm xuống : các nếp nhăn xuất hiện. Những nếp nhăn biểu lộ thường là những nếp nhăn đầu tiên ghi dấu ấn trên gương mặt.

Những nếp nhăn được thấy rõ nhất được gọi là cấu trúc (rides de structure) ; ví dụ đó là những rãnh mũi-cằm (sillons nasogéniens), ở mỗi bên mũi, nối các lỗ mũi với các góc miệng. Chúng phát triển dần dần, bởi vì bề mặt của da tiếp tục phát triển một ít trong khi sự tăng trưởng của của gương mặt đã kết thúc. Đó là một sự thặng dư da.

Những nếp nhăn da thứ ba là những nếp nhăn gãy (rides de fracture) : thí dụ đó là những nếp nhăn nhỏ chung quanh miệng, tạo thành những khe (fentes) thẳng góc với môi nơi những người già (trên 70 hay 80 tuổi). Những nếp nhăn này là do những chỗ gãy nhỏ xíu (microfracture) của mô đàn hồi trong bì.

Những nếp nhăn loại thứ tư, được gọi là những nếp nhăn của élastose solaire, là những nếp nhăn nhỏ rải rác khắp nơi trên da. Chúng xuất hiện (nói chung sau 50 tuổi) khi các sợi đàn hồi của bì bị phá hủy bởi ánh sáng (các tia tử ngoại) và ...bởi thuốc lá.

Làm sao tránh được những nếp nhăn này ? Có hai cách để làm giảm các nếp nhăn biểu lộ (rides d’expression) ; người ta tiêm dưới da hoặc là những vật liệu được gọi là lấp đầy (matériaux de comblement), (như acide hyaluronique, một thành phần tự nhiên của bì sẽ tự tan biến đi), làm căng phồng bì, hoặc là toxine botulique. Độc chất này làm liệt các cơ trong khoảng 6 tháng ; nó hủy bỏ những nét biểu lộ của gương mặt và những nếp nhăn tương ứng. Những nếp nhăn cấu trúc (rides de structure) lớn được điều trị bằng những “ lifting ”, nghĩa là những kéo giãn (étirements) của da hoặc bằng những mũi tiêm chất làm đầy (produits de comblement). Những vết nhăn gãy (microrides de fracture) nhỏ quanh môi được che khuất bởi những mũi tiêm làm căng phồng các môi. Ta cũng có thể thực hiện các “ abrasion ” (hớt da) : người ta lấy đi một ít biểu bì và bì để cho da mới được nhẵn hơn.

Các nếp nhăn nông của élastose solaire là mục tiêu của các kem chống nhăn (crème antiride). Mục tiêu là tăng cường trong bì sự tổng hợp collagène và protéoglycane (những protéine giữ nước và cho phép bì giữ được tính dẻo (plasticité) của nó). Theo Louis Dubertret, giáo sư bệnh ngoài da thuộc bệnh viện Saint-Louis, Paris, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã cho thấy rằng một số chất nào đó có khả năng làm đầy trở lại lớp biểu bì và gây nên sự tổng hợp collagène trong bì. Chất chuẩn là vitamine A (hay acide rétinoique).

Làm sao phân tử này tác dụng ? Nó điều biến sự biểu hiện của các gène trong da hay nó thực hiện một kiểu “ lóc ” (peeling) hóa học (một sự phá hủy lớp sừng), mà hậu quả là làm đổi mới lớp biểu bì và sự tổng hợp của collagène. Những chất khác có tính chất “ kích thích ” (irrtitant), như các axít trái cây, sẽ có cùng các tính chất. Ngoài ra, vài chất như vitamine C có thể làm gia tăng sự tổng hợp collagène trong bì.

Vậy ngày nay, chúng ta có cả một kho vũ khí có hiệu quả làm giảm hoặc làm che khuất các nếp nhăn. Tuy nhiên, lý tưởng là ngăn ngừa sự tạo thành chúng bằng cách tránh ánh nắng mặt trời và thuốc lá.
(POUR LA SCIENCE 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 65 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/2/2008 )

9/ TẠI SAO HÚT THUỐC LÁ LÀM TĂNG NHANH SỰ LÃO HÓA CỦA DA

Một công trình nghiên cứu trên hai chị em sinh đôi, một hút thuốc, còn người kia thì không, xác nhận những tác hại của thuốc lá. Những người hút thuốc kinh niên chối điều đó, nhưng chính những lời cảnh cáo trên những gói thuốc lá lại xác nhận điều này : thuốc lá góp phần một cách rõ ràng vào sự lão hóa của da. Mãi đến ngày nay, không có nhiều công trình khoa học hổ trợ cho lời xác nhận này. Các thầy thuốc chuyên khoa da của bệnh viện đại học Ohio, vừa công bố một bài báo mang lại một bằng chứng khá rõ ràng về những tác dụng tai hại của thuốc lá lên da. Công trình này, được công bố tháng 12 năm 2007 trong tạp chí Archives of Dermatology, có thể góp phần vào việc làm cho các phụ nữ ghê tởm về sự nghiện ngập thuốc lá của họ. Nếu nguy cơ bị ung thư phổi đối với họ có vẻ như xa vời và không thực, thì sự biến đổi của làn da là một lý lẽ mà những ông hay bà hút thuốc lá sẽ nhạy cảm.

Các thầy thuốc bệnh ngoài da của Cleveland đã có cơ hội cùng thăm khám hai chị em sinh đôi. Hai người sinh đôi thật sự. Nhưng một người đã không bao giờ hút thuốc trong khi người kia thì trái lại, từ năm 20 tuổi đã hút một bao thuốc mỗi ngày. Hai chị em sinh đôi này năm nay 52 tuổi và vẫn luôn luôn sống trong cùng một vùng ở miền nam Hoa Kỳ từ thuở ấu thơ, cả hai đã có cùng một hoạt động nghề nghiệp.

Theo các câu trả lời của hai chị em sinh đôi này cho một bảng câu hỏi rất chính xác, họ có một thể trọng tương đương, có một chế độ ăn uống tương tự và tiếp xúc với ánh nắng mặt trời một cách tương đương trong suốt cuộc đời họ.

Tuy vậy, các thầy thuốc đã có thể chứng nhận, nơi bệnh nhân đã hút thuốc đều đặn, một sự gia tăng rõ rệt kích thước và độ sâu của các vết nhăn so với cô em đã không bao giờ hút thuốc. Nếu chúng ta chấp nhận sự kiện là điểm dị biệt duy nhất giữa hai chị em về lối sống là việc nghiện thuốc lá, thì phải xác nhận rằng sự nghiện ngập này có thể giải thích sự lão hóa gia tăng của người sinh đôi này so sánh với người kia.

Kết luận, các tác giả của nghiên cứu được công bố này cho rằng sự khác nhau trong quá trình lão hóa của da, chỉ có thể được giải thích ở đây là do việc nghiện thuốc lá, có thể được sử dụng như một lý do thêm nữa trong việc khuyên những người hút thuốc bỏ thuốc.

Bây giờ người ta biết nhiều yếu tố giải thích sự lão hóa của da. Trước hết là tuổi: với thời gian, sự đổi mới của các tế bào không còn đủ hoạt động nữa. Kế đó là mặt trời. Những người tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, hoặc lúc vui chơi hoặc lúc hoạt động nghề nghiệp, sẽ có một sự lão hóa sớm, với các vết nhăn, những vết đốm và những thương tổn tiền ung thư. Sau cùng, thuốc lá từ nay chắc chắn phải ngồi trên ghế các bị cáo. Nguồn:
(LE FIGARO 14/2/2008)

4/ BỆNH LAO : TAI ƯƠNG TRƯỚC KHI NHỮNG NGƯỜI THỰC DÂN CHÂU ÂU ĐẾN..

Việc khám phá những dấu vết của bệnh lao trên các di hài của các trẻ iroquois của thế kỷ thứ 10, xác nhận rằng bệnh này đã hoành hành ở châu Mỹ trước khi những người châu Âu đầu tiên đến lục địa này.

“ Bệnh lao đã hiện diện ở Châu Mỹ đúng trước khi những người châu Âu đi đến ”, Olivier Dutour, nhà cổ nhân loại học (paléoanthrologue) thuộc đại học Aix-Marseille-II đã đề xuất như vậy. Điều chứng thực này làm lung lay vài giáo điều muốn làm trùng hợp việc xuất hiện tai ương này với sự đi đến của những người châu Âu đầu tiên trên lục địa Châu Mỹ. Trong lúc làm việc ở Toronto (Canada), trên một hầm hài cốt thuộc thời kỳ trước Colomb, có từ thế kỷ thứ X, nhà nghiên cứu người Pháp và các đồng nghiệp đã quan sát thấy những dấu vết của bệnh lao trên các chiếc sọ phát xuất từ một địa điểm iroquois cổ, đặc biệt là trên rất nhiều di hài của trẻ em. “ Các thương tổn đặc hiệu của các bệnh viêm màng não mãn tính do lao đã được phát hiện ”, Olivier Dutour đã nói thêm vào như vậy, chứng cớ của một tỷ lệ tử vong trẻ em rất cao. Những người Iroquois, cũng được gọi là dân của Cinq-Nations, đã trải qua một dịch bệnh lao địa phương rất mạnh. Dịch bệnh này có phải là do lối sống của họ hay không ? Sự chung đụng và sự xông khói (enfumage) của các bếp lửa (nhiều gia đình sống trong những ngôi nhà dài nổi tiếng) trong mùa đông khắc nghiệt có lẽ đã có thể tạo nên một trong những yếu tố làm dễ sự lan tràn qua không khí của sự nhiễm trùng bởi vi khuẩn này. Không kể đến tầm quan trọng của thuốc lá, một loài cây không được biết đến ở Tây Phương vào thời kỳ đó.

Theo nhà nghiên cứu, bệnh lao được gặp ở loài người từ thời nguyên thủy của nó. Ngoài ra, một sự phát sinh loài vi khuẩn (une phylogenèse du bacille) đã được thực hiện vào năm 2005 ở Viện Pasteur, chứng minh rằng tuổi của vi khuẩn này ít nhất là 3 triệu năm. “ Vi khuẩn lao không những đã cùng tiến hóa với con người mà còn với các họ người (hominidés) có trước nó ”, nhà chuyên gia đã xác nhận như vậy. Vậy, những người Mỹ đầu tiên đến từ Cựu Thế Giới đã mang những vi khuẩn này.

Còn về những dấu hiệu xương của tréponématose, được phát hiện trên một chiếc sọ người lớn, hiện nay không thể nói được đó là một dạng bệnh phong tình (bệnh giang mai) hay không. Vào lúc tiếp xúc, các người dân amérindien chủ yếu đã bị tàn sát bởi các virus như cúm và đậu mùa, những vi trùng này đúng là đã được truyền bởi những người châu Âu.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 62 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/2/2008 )

6/ CÁCH NAY 500.000 NĂM, LOÀI NGƯỜI ĐÃ BỊ BỆNH LAO

Một mẫu Homo Erectus, cách nầy 500.000 năm, mang dấu vết những thương tổn của bệnh lao dạng màng não, đã được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ. Mãi đến tận bây giờ, những trường hợp xưa cổ nhất được biết đến (các xác ướp Ai Cập và Pérou) có cách nay vài ngàn năm. Khám phá này là kết quả của một công trình nghiên cứu di truyền học được tiến hành năm 2005 bởi Cristina Gutierrez (Viện Pasteur, Paris). Công trình nghiên cứu này gợi ý rằng tất cả các vi khuẩn Koch đều là hậu duệ của một tổ tiên chung có cách nay 3 triệu năm. Đối với John Kappelman (đại học Texas), việc nhận diện các dấu vết của dạng màng não của bệnh lao trên những phần còn lại của hộp sọ (bình thường là rất hiếm xảy ra) hàm ý rằng vào thời đó dạng bệnh này rất là phổ biến. Nhà nghiên cứu giải thích điều đó là do một sự thiếu hụt vitamine D, sinh tố chủ chốt trong sự điều hòa của hệ miễn dịch : các nồng độ thấp vitamine D làm dễ sự phát triển của nhiều bệnh lý. Thế mà sự tổng hợp vitamine D lại cần đến tia tử ngoại và điều này càng quan trọng khi da càng sẫm màu. Sau khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ở châu Phi, Homo Erectus (mà da khi đó có màu đen) đã không có thể thích ứng hoàn toàn với khí hậu ôn đới. Mặt khác, người ta đánh giá rằng hiện nay, một vài sắc dân có da sẫm màu có nhiều nguy cơ phát triển bệnh lao hơn. Ngày xưa, người ta gởi các bệnh nhân lao đến các nhà điều dưỡng (sanatorium) để được tiếp đầy trở lại ánh sáng mặt trời và khí trời, và do đó vitamine D.
(SCIENCE ET VIE 2/2008)


5/ CÁC GIA VỊ VÀ NHỮNG CHẤT KÍCH DỤC.

Mặt trời và mùa nghỉ hè trở lại thường kèm theo những bữa ăn nhiều màu sắc. Trong các chất gia vị và cây cỏ được sử dụng trong những dịp này, ta thường tìm thấy những chất được cho là “chất kích dục ” (aphrodisiaque). Nhưng có thật là có những chất có khả năng tăng dục tính hay không ? Các thức ăn, thuốc bột, thuốc viên, nước hãm (infusion)...Điểm lại những chất nổi tiếng nhiệm màu.

Khởi thủy, các chất kích dục là những chất có trong thiên nhiên, được sử dụng để chống lại bệnh vô sinh (infertilité) và làm dễ sự sinh sản. Được gợi ý bởi Aphrodite, nữ thần của tình yêu, sau đó, các chất tăng dục này đã được cho là kích thích sự ham muốn (désir sexuel). Phải ghi nhớ rằng trong tâm trí của các người đàn ông, sự ham muốn (désir) và sự cương cứng (érection) thường bị lẫn lộn với nhau.

Sự lộn xộn này làm cho mọi chất gây nên hay làm dễ sự cương cứng, đều được tức thì xem như là chất kích dục. Thường ngay cả sự việc giống với một bộ phận sinh dục đang cương cũng đủ tạo tiếng tốt của nó, như đối với chất nghiền sừng tê giác (corne de rhinocéros pilée) hay cây khoai ma (mandragore).

NHỮNG CHẤT DANH TIẾNG..

Củ gừng (gingembre), nhân sâm (ginseng), ớt của Jamaique, đinh hương (girofle), quả nhục đầu khấu (muscade), nghệ tây (safran), cây thị là (aneth), cây cúc tía (sarriette) và “ cần tây (céleri) cho các ông chồng già ”. Thường thường, dược lý khám phá ra những chất hóa học, hiệu quả ở những nồng độ cao đến độ những công thức pha chế thông thường chỉ có thể tương tự với một placebo. Dầu sao vài ngoại lệ đáng được nêu ra. Ngày nay, được trồng chủ yếu ở Ấn Độ, gừng (gingembre) có nguồn gốc ở Mã Lai, cách nay hơn 3.000 năm, là nơi nó đã được sử dụng như là cây thuốc và gia vị. Đó là thân rễ (rhizome), thân nằm dưới đất giàu amidon, protéine và lipide, sản xuất một tinh dầu có vị rất đặc biệt hơi cay và có mùi thơm dễ chịu. Tác dụng của nó (còn phải bàn cãi) dựa trên sự giàu các chất sesquiterpène và aldéhyde. Trái lại, nhân sâm (ginseng) đỏ của Triều Tiên, giàu saponine và ginsénoside có tác dụng giãn mạch, đã qua thử nghiệm cương một cách dương tính, so với placebo (1g, 3 lần mỗi ngày). Được thử nghiệm năm nay, cùng liều lượng, nhân sâm cũng đã chứng tỏ hiệu quả của nó trong một thử nghiệm trên sự ham muốn của các phụ nữ mãn kinh.

VÒNG QUANH THẾ GIỚI CỦA DỤC TÌNH.

Khắp nơi trên thế giới, các chất khác nhau được đề nghị, thuộc về 3 loại : chúng làm gia tăng, hoặc là dục tình (libido), sự cường dục (puissance sexuelle) hay khoái lạc (plaisir). Trong lãnh vực ham muốn (désir), những người Ả rập sử dụng ambréine, một cấu chất chính của long diên hương (ambre gris) (chất tiết của cá nhà táng (cachalot). Chất cồn ba vòng (alcool tricyclique) triterpène này làm gia tăng nồng độ của vài hormone của não thùy trước, cũng như những nồng độ của testostérone. Ở Trung Hoa, thuốc “ chân sư ”, được biết ở miền đông Ấn Độ dưới tên “ love stone ”, chứa bufoténine (và những bufadiénolide khác), được trích ra từ da và các tuyến của cóc bufo, chất đối kháng của sérotonine, có đặc tính gây ảo giác. Để cải thiện sự cương, Trung Hoa dùng Panax ginseng, và châu Phi là cái nôi của yohimbine, chất giãn mạch dương vật, trích từ vỏ của một cây địa phương. Tuy nhiên, chất độc với liều cao này bị cấm chỉ trong trường hợp bệnh gan, suy thận hay cao huyết áp.

Còn về khoái lạc (plaisir), thú nhục dục này được làm gia tăng bởi một phương thuốc Tây Ban Nha, cantharidine, được sử dụng từ nhiều thiên niên kỷ. Phương thuốc này có được là do quá trình chế biến một sâu bọ cánh cung (coléoptère), được gọi sai lầm là ruồi Tây Ban Nha (spanish fly), thành bột cantharidine ! Với liều quá mạnh, sự uống vào chất này, độc, có thể gây nên xuất huyết thận, thậm chí tử vong và gây nên một sự kích thích viêm các đường tiểu, với sự sung huyết của dương vật, và sự cương cứng đôi khi kéo dài. Cách tác dụng của nó là do sự ức chế của hoạt tính của phosphodiestérase, với sự kích thích các thụ thể bêta, gây nên xung huyết quản và viêm. Việc nuốt vào các côn trùng sống Palembus dermestoides ở Đông nam Á và Triatomides ở Mễ Tây Cơ cũng có một cơ chế tương tự và cũng nguy hiểm như thế. Chú ý ; những niềm tin này không phải là lạc hậu và có thể lôi kéo các khách du lịch.

NHỮNG NGHIÊN CỨU TIỀN PHONG.

Luôn luôn giàu tưởng tượng, nhiều công trình nghiên cứ mới đây mang lại những điều mới. Đó là trường hợp của một thử nghiệm của Iran trên Crocus sativus (safran : nghệ), được trắc nghiệm trên người đàn ông với các viên thuốc nhỏ 200 mg. Một bảng câu hỏi chuẩn về chức năng cương, kèm theo một sự đo lường sự cương dương vật vào ban đêm (tumescence pénile nocture), đã theo dõi 20 người tình nguyện trong 10 ngày. Tuy số người tham dự ít ỏi, nhưng các kết quả là đáng phấn khởi về sự cải thiện của sự cương cứng cũng như mức độ thỏa mãn chủ quan. Ở Ý các nhà nghiên cứu đã điều nghiên Lepidium meyenii (maca), chất kích dục có tiếng của Pérou, dưới dạng cao khô (extrait sec) 2,4g so sánh với placebo, nơi 50 người đàn ông không bằng lòng về sự cương của họ. 3 tháng điều trị đã hữu ích về phương diện tâm lý, kể cả trong nhóm placebo, với maca hơi lợi thế hơn, nhưng trên cơ sở một thang thỏa mãn (une échelle de satisfaction) không có những trắc nghiệm lâm sàng. Maca cũng đã được trắc nghiệm ở General Hospital de Boston để làm đảo ngược loạn năng sinh dục gây nên bởi các thuốc chống trầm cảm. 1,5 g mỗi ngày đã không có hiệu quả trong khi liều lượng 2g đã có tính cách thuyết phục, không những về sự cương cứng mà còn về dục tình (libido), và không có độc tính. Dường như đó không phải là một tác dụng androgénique trực tiếp, mặc dầu sự nổi tiếng của maca cũng gán cho nó một tác dụng dương tính lên khả năng sinh sản (fertilité). Thật vậy, nó làm gia tăng sự sản xuất và tính di động của tinh dịch mà không có liên hệ với những nồng độ hormone của LH, FSH, prolactine, testostérone và œstrogène. Những nồng độ này vẫn không thay đổi. Hoàn toàn bí ẩn.

NHỮNG HƠI XÔNG KÍCH DỤC (EFFLUVES EROTIQUES).

Sự khám phá, bởi các nhà di truyền học của đại học Rockfeller, các gène mã hóa đối với một thụ thể của phéromone nơi người, được thực hiện vào năm 2001. 8 gène đặc biệt mã hóa cho sự tạo thành, ở bề mặt các tế bào, của điều giống hệt với các thụ thể của phéronome nơi động vật. Mặt khác, một trong những gène này được biểu hiện và rất hoạt động trong niêm mạc khướu giác người. Mặt khác, các nhà sinh học đã khám phá một vùng rất nhỏ nơi mũi (organe voméro-nasal), ở đó các tế bào phản ứng với những kích thích mùi rất tinh tế. Vấn đề là còn phải biết một cách chính xác thông tin hóa học nào được vận chuyển trong não bộ, và bằng con đường nào. Trong lúc chờ đợi, nhiều điều chứng thực đã được xác nhận. Thí dụ, người ta nhận xét rằng các phụ nữ, được cho ngửi các miếng vải thấm mồ hôi đàn ông, đôi khi lại ưa chuộng những mùi rất quyến rũ này. Lời giải thích khoa học được đề nghị bởi các thầy thuốc của đại học Stockholm.

Nghiên cứu nước miếng phát hiện rằng mồ hôi giàu androstadiénone gởi một tín hiệu hóa học làm gia tăng sự sản xuất cortisol nơi người phụ nữ. Hít mồ hôi giàu androstadiénone gây nên, theo những hình ảnh của PET-scan, một sự khởi động các vùng hoạt động trong tình dục như vùng dưới đồi trước (hypothalamus antérieur).

Ghi chú :

  • Phéromone : chất hóa học, được phát ra trong môi trường bên ngoài, với liều lượng rất nhỏ, bởi một động vật, gây nên nơi những động vật cùng loài những hành vi đặc biệt.
  • Aphrodisiaque : nói về một chất được cho là gây nên hay kích thích sự ham muốn.

(LE GENERALISTE 8/7/2010)

6/ CÁC UNG THƯ TỪ NAY GIẾT NGƯỜI HƠN TRONG NHỮNG NƯỚC NGHÈO.

Từ lâu được xem là một bệnh của các nước giàu, ung thư từ nay ảnh hưởng nhiều hơn các nước đang phát triển, theo Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (CIRC : centre international de recherche sur le cancer). Trung tâm này đã khảo sát 27 loại ung thư. Vào năm 2008, các nước nghèo kiêm nhiệm 56% trong số 13 triệu trường hợp ung thư mới được chẩn đoán, và 63% trong 7,6 triệu tử vong do tai ương này. “ Mặc dầu nguy cơ mắc phải một ung thư là thấp hơn trong các nước đang phát triển, tuy vậy các ung thư thường xảy ra nhất ở những nước này lại là những ung thư người ta điều trị ít tốt nhất, Jacques Ferlay, nhà nghiên cứu thuộc CIRC đã ghi nhận như vậy. Những ung thư nguồn gốc nhiễm trùng (cổ tử cung, dạ dày, gan), chiếm 20% các trường hợp trên thế giới, cùng với những ung thư vú và ung thư phổi, là 5 ung thư phổ biến nhất trong các nuớc nghèo. Nguyên nhân : một sự bảo vệ không đầy đủ chống lại virus của viêm gan B và C (ung thư gan) và của papillomavirus (ung thư cổ tử cung). Ở phương Bắc, những bệnh lý này bị vượt qua bởi các ung thư đại trực tràng (do một chế độ ăn uống giàu thịt đỏ) và tuyến tiền liệt (dễ phát hiện nhờ một xét nghiệm máu). Theo CIRC, vào năm 2030, ung thư sẽ giết chết 6 triệu người nhiều hơn so với năm 2008.
(SCIENCE ET VIE 8/2010)

Đọc thêm:

Quote

Thời Sự Y Học Số 93 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/9/2008 )

6/ UNG THƯ KHÔNG PHẢI CHỈ DÀNH CHO CÁC NƯỚC GIÀU

2.500 chuyên gia về ung thư đã đến Genève để họp Hội nghị của Hội quốc tế chống ung thư (UICC). Franco Cavalli, chuyên gia về Ung thư học và chủ tịch của UICC trình bày quan điểm của ông.

Hỏi: Ông đã là chủ tịch của UICC trong 2 năm qua và năm nay ông sẽ trao ngọn đuốc thay thế cho David Hill. Điều gì đã thay đổi trong thời gian qua?
Đáp: Trái với điều mà người ta tưởng, ung thư không phải là bệnh của các nước giàu. Trong những năm qua, chúng ta đã nhận thức rằng ung thư trở nên một vấn đề to lớn. Đặc biệt trong những nước nghèo, là nơi người ta nhận thấy một sự bùng nổ của các trường hợp ung thư. Người ta tính rằng 75% các tử vong do bệnh này xảy ra trong các nước đang phát triển. Mặt khác, Tổ chức y tế thế giới đã đặt việc chống ung thư vào hàng ưu tiên cuối năm 2005. Trước đây, OMS nhấn mạnh vào cuộc đấu tranh chống lại các bệnh truyền nhiễm. Thế mà ung thư giết còn hơn bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét hợp lại. Chính vì thế mà UICC đã quyết định dành nỗ lực chính vào các nước đang phát triển. Và hội nghị kỳ tới của chúng ta sẽ tổ chức ở Pékin.

Hỏi: phải chăng sự phòng ngừa đã có nhiều tiến bộ ?
Đáp: chúng ta đã luôn luôn biết rằng một nửa những trường hợp ung thư có những nguyên nhân có thể tránh được. Nhưng mới đây hơn, người ta đã nhận thức rằng sau thuốc lá và các bệnh nhiễm trùng (gây nên 1/3 các trường hợp ung thư trong những nước nghèo), chứng béo phì và sự thiếu hoạt động vật lý chịu trách nhiệm phần lớn các trường hợp ung thư.

Hỏi: Vậy thì những vấn đề này có liên quan đến những nước giàu có phải không?
Đáp: Hoàn toàn không phải vậy. Chính đặc biệt trong các nước nghèo, được kỹ nghệ hóa mới đây, mà chứng béo phì mới gây những tàn phá, như các ung thư, nhưng còn cả bệnh đái đường và những vấn đề tim nữa. Tất cả xảy ra như thể, trong những nước này, thân thể con người đáp ứng ít tốt hơn đối với chứng béo phì.

Hỏi: còn thuốc lá thì sao.
Đáp: Chúng ta đã ghi nhận những tiến bộ quan trọng. Đặc biệt trong chiến dịch của OMS chống thuốc lá, được ký bởi 178 nước. Trong các nước giàu có, tần số của các ung thư phổi đã giảm nơi đàn ông nhưng vẫn còn gia tăng nơi các phụ nữ. Nhưng người ta đã tính toán rằng nếu các người Hoa vẫn tiếp tục hút thuốc theo cùng nhịp độ như hiện nay, thì vào năm 2020 sẽ có 3 triệu người chết vì ung thư mỗi năm. Ở châu Phi hiện nay có ít các nạn nhân của ung thư này, nhưng công nghiệp thuốc lá đang ra sức để phát triển hoạt động trên lục địa này.

Hỏi: thế thì giải pháp cần phải thực hiện là giải pháp nào?
Đáp: Vào năm 2000, đã có 11 triệu trường hợp ung thư ; vào năm 2020, sẽ có 18 triệu trường hợp ; và năm 2030 số trường hợp sẽ là 27 triệụ Đó là không nói về sự gia tăng của các mối nguy cơ. Chúng ta sẽ ra một tuyên bố nói rằng các kế hoạch quốc gia là vũ khí tốt nhất để chống lại sự tiến hóa này, đặc biệt là trong các nước nghèo.

Hỏi: Còn về các thuốc men thì sao?
Đáp: Đó là một trong những vấn để lớn cần phải thảo luận. Tổn phí các điều trị đang bùng nổ ngay cả ở Tây Âu, khó mà kham nỗi. Trong các nước có lợi tức giới hạn, thì không có khả năng trả nỗi. Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với vaccin cho phép phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Một nửa triệu ung thư cổ tử cung được chẩn đoán mỗi năm và 300.000 phụ nữ chết vì những ung thư này. Điều này cũng gần giống với sida, là bệnh mà hàng triệu người mắc phải và không thể trả nỗi những điều trị.
Chính Financial Times mới đây đã xác nhận rằng công nghiệp dược phẩm không thể biện minh giá của các thuốc mới chống ung thư bằng phí tổn sản xuất. Nguồn:
(LE SOIR 28/8/2008)


7/ RẮN CẮN : NHỮNG ĐỘNG TÁC CỨU SỐNG.

Các dược phẩm chống nọc độc đuợc bán ở các hiệu thuốc chẳng ích lợi gì. Trong trường hợp bị rắn cắn, phải khẩn cấp đến bệnh viện.

SANTE PUBLIQUE. Như mọi người đều biết, nếu rắn nước (couleuvre) là vô hại, thì không phải là như thế đối với rắn lục (vipère). Thế mà sự phân biệt giữa hai loại rắn này không phải là hiển nhiên, như Xavier Bonnet, người phụ trách nghiên cứu của CNRS và là đại chuyên gia về rắn, đã giải thích như vậy.“ Trên hiện trường, những tiêu chuẩn duy nhất đáng tin cậy, như đồng tử thẳng đứng của các con rắn lục, không có thể sử dụng được. Cũng như vậy đối với kích thước, màu sắc, hình dáng của thân thể và của đuôi : trừ phi được đào tốt , ít người có khả năng phân biệt hai loại rắn ”, chuyên viên về bò sát (herpétologue) đã giải thích như vậy. Dẫu sao cũng có một mẹo : ở Pháp rắn lục không dài quá 1 m và chúng không lặn dưới nước.

Trong trường hợp rắn cắn (rắn độc đúng là có móc), điều cơ bản là phải biết ta đã bị nhiễm nọc độc (envenimé) hay không. Bởi vì rắn có thể cắn mà không chích nọc độc (venin), khi đó ta nói là “ vết cắn trắng ” (morsure blanche). Ngược lại, thường những người đi dạo nghĩ là đã bị rắn cắn trong khi đó chỉ là bị chích bởi các cây ngấy (piqure de ronces) mà thôi... Nếu đúng là đã bị nhiễm nọc độc, một sự đau đớn tại chỗ xuất hiện trong 4 giờ cũng như những vết bầm tím, BS Patrick Harry, giám đốc của trung tâm chống độc chất Angers (Pháp) đã xác nhận như vậy. Trong trường hợp này, chắc chắn là tình hình sẽ trầm trọng, vậy nhất thiết phải đến bệnh viện để được thăm khám và nếu cần được hưởng một huyết thanh chống nọc độc ” (sérum antivenimeux). Dầu sao, hoàn toàn vô ích khi tự sử dụng những dược phẩm bán ở hiệu thuốc, kể các bơm hút nọc độc (pompes à venin), mà những người đi dạo thường lo lắng mang theo mình. “ Những dược phẩm này đã không bao giờ chứng tỏ được hiệu quả của chúng, chúng chẳng có lợi ích gì ”, BS Harry đã đánh giá như vậy. “ Tất cả các máy móc này hoàn toàn chẳng ích lợi gì, ngoại trừ chỉ làm người ta không chú ý đến những động tác cứu sống, nghĩa là phải chạy nhanh đến phòng cấp cứu, Xavier Bonnet đã nói thêm vào như vậy.

Bởi vì ngay cả những phản ứng dị ứng trầm trọng vẫn vô cùng hiếm hoi (dưới một trường hợp rắn cắn trên 100 trường hợp), do đó điều quan trọng là phải được thăm khám bởi một thầy thuốc càng nhanh càng tốt. Một khi đến bệnh viện, hoặc là sự phù nề vẫn được khu trú và tình hình không có nguy cơ trở nặng. Hoặc là phù nề lan rộng, điều này có nghĩa rằng có một lượng quan trọng nọc độc (venin) trong máu. Khi đó cần phải tiến hành tiêm huyết thanh chống nọc độc (sérum antivenimeux), chỉ được thực hiện ở môi trường bệnh viện với sự theo dõi y tế.

ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ CÀNG SỚM CÀNG TỐT.

Mửa, khó ở, đau bụng là những dấu hiệu của một sự lưu thông quan trọng của nọc độc trong máu, có thể là nguồn gốc của một sự sụt huyết áp, một phù phổi và những rối loạn đông máu. “ Trước khi các huyết thanh chống nọc độc xuất hiện ở Pháp, loại những biến chứng này là thường thấy. Khi đó không phải là hiếm thấy những bệnh nhân bị cắn bởi một con rắn lục phải nằm trong phòng hồi sức ba tháng với những vấn đề ở thận. Vài bệnh nhân bị tàn phế rất lâu sau đó ”, BS Harry đã nhớ lại như vậy. Ngày nay, ngay những dấu hiệu đầu tiên báo hiệu một biến chứng xuất hiện, các thầy thuốc đều tiêm huyết thanh chống nọc độc. Và cần được điều trị càng sớm càng tốt. Một mũi tiêm, 3 giờ sau khi bị rắn cắn, chỉ mang lại từ một ngày đến một ngày rưỡi nhập viện để theo dõi tiến triển. Vào khoảng ngày thứ tư hay thứ năm, một xét nghiệm máu được thực hiện để kiểm tra xem có những rối loạn đông máu hay không.

Vậy, khi đi dạo trên núi, trong rừng hay nơi những đầm lầy, chẳng ích lợi gì khi tự cho là mình đã tiên liệu với những dược phẩm được bán tự do ở các hiệu thuốc. Trong trường hợp bị rắn lục cắn, cần gọi ngay centre antipoison gần nhất trước khi đến nhanh bệnh viện. Còn đối với những người đi chơi xa, tốt hơn là nên quay trở về. Dầu sao đi nữa, khiêu khích một con rắn lục là điều chẳng bao giờ cần thiết. “ Không nên hoảng sợ, mà nên lẩn đi một cách nhẹ nhàng ”, Xavier Bonnet chủ xuớng như vậy. Ông cho rằng việc sợ rắn “ được thổi phồng ghê gớm ”. Trong khi các con chó lại đặc biệt nguy hiểm hơn nhiều, ông đánh giá như vậy. Thế nhưng, lại không có huyết thanh điều trị.
(LE FIGARO 2/8/2010)

8/ BỆNH TRẦM CẢM : HƯỚNG MỚI CHỐNG LẠI CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.

PSYCHIATRIE. Một nhóm các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa công bố một bài báo trong Archives of General Psychiatry, mang lại một cái nhìn mới về điều trị của một loại bệnh trầm cảm. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát những hiệu quả chống trầm cảm của một thuốc gây mê để điều trị bệnh hưng phấn-trầm cảm (maniaco-dépression), một bệnh tâm thần bị mắc phải bởi các nghệ nhân như Vincent Van Gogh, Virginia Woolf, nhưng cũng những chính trị gia như Churchill.

Các rối loạn lưỡng cực có liên quan đến khoảng 4% dân số. Căn bệnh mãn tính này, được đặc trưng bởi nhưng rối loạn khí chất, thường được chẩn đoán vào khoảng năm 30 tuổi. Bệnh nhân luân phiên các đợt hưng phấn (épisodes maniaques) và những lúc trầm cảm với những giai đoạn “ bình thường ” giữa các cơn, có thể kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng. Trong giai đoạn hưng phấn,, đó là một sự tăng hoạt tính (trí tuệ, sinh dục), có thể gây nên những xài phí không cân nhắc. Nó có thể được cặp đôi với những hành vi nghiện ngập (comportements addictifs), với một sự tiêu thụ quá mức rượu và các chất ma túy. Nhũng giây phút mà người bệnh nhân hưng phấn (maniaque) cảm thấy mình trở nên vô địch và có một sức mạnh vô song, luân phiên với những đợt trầm cảm.

Khi đó bệnh nhân có những ý nghĩ đen tối, thậm chí muốn tự tử, chịu một sự trì chậm tâm-vận động (ralentissement psychomoteur). Điều trị cổ điển dựa trên lithium (hay một thuốc làm ổn định khí chất khác) và trên vài thuốc chống trầm cảm. Ở giai đoạn kích động, các thuốc chống loạn tâm thần (antipsychotiques) cũng có thể được kê đơn.

Đi từ điều chứng thực rằng một số bệnh nhân nào đó không đáp ứng với những điều trị này, các nhà nghiên cứu của viện quốc gia Hoa Kỳ về sức khoẻ tâm thần (Bethesda, Maryland) đã có ý tưởng trắc nghiệm các tác dụng chống trầm cảm của kétamine, một thuốc gây mê. Hiện nay, các nhà nghiên cứu chỉ có một kiến thức giới hạn về nguồn gốc sinh-thần kinh của những rối loạn lưỡng cực. Tuy nhiên, những công trình mới đây gợi ý rằng một sự loạn năng trong hệ thống glutaminergique của não bộ (đóng một vai trò trong việc xử lý thông tin và trí nhớ) góp phần vào sự xuất hiện của những rối loạn tâm thần. BS Nancy Diazgranados và các đồng nghiệp đã trắc nghiệm tính hiệu quả của một loại thuốc, kétamine, có khả năng kiểm soát các khớp thần kinh (synapses) này.

“ MỘT THUỐC GÂY SẢNG KHOÁI ”

Từ tháng mười 2006 đến tháng Sáu 2009, một thử nghiệm được thực hiện trên 18 bệnh nhân. Tất cả trung bình đã theo 7 điều trị chống trầm cảm khác nhau mà chất cơ bản là lithium hay valproate (một thuốc chống trầm cảm điều hòa khí chất), nhưng không mang lại sự cải thiện. Ngoài ra, hơn một nửa trong số những bệnh nhân này đã không đáp ứng dương tính với sốc điện (électrochoc). Tất cả đã nhận hai mũi tiêm tĩnh mạch cách nhau 15 ngày, một mũi là kétamine, còn mũi kia là một placebo. Hiệu quả đã được đánh giá nhờ một thang xếp loại bệnh trầm cảm trước mỗi mũi chích rồi 40, 80, 120, 230 phút rồi một, hai, ba, bảy, mười và 14 ngày sau. Trong chưa được 40 phút, những bệnh nhân đã nhận kétamine đã được một sự cải thiện đáng kể các triệu chứng trầm cảm của họ so với những bệnh nhân đã nhận placebo. Lợi ích quan trọng nhất đã được chứng thực sau hai ngày là vẫn đáng kể cho đến ngày thứ ba.“ Những khám phá này là rất đáng lưu ý bởi vì phần lớn các người tham gia trước đó đã nhận những điều trị khác nhau nhưng đã không có hiệu quả ”, các tác giả đã đánh giá như vậy.

“ Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng kétamine cải thiện một triệu chứng khí chất trầm cảm (humeur dépressive) nhưng không cải thiện bệnh trầm cảm, BS Xavier Laqueille, trưởng servive addictologie, bệnh viện Sainte-Anne (Paris) đã nhận xét như vậy. Mặc dầu sau khi được chích thuốc kétamine, các bệnh nhân ít buồn bã hơn, nhưng không vì thế mà được chữa lành. Dầu sao điều này cũng hợp lý vì lẽ đó là một dược phẩm gây khoan khoái (euphorisant) hơn là một thuốc chống trầm cảm ”. Chất này có những tác dụng thuộc loại morphine và có thể đưa đến sự lạm dụng. Hiện nay, đó là một hướng nghiên cứu đáng lưu ý để tìm ra những thuốc chống trầm cảm mới, hiệu quả lâu dài nhưng không có những tác dụng gây nghiện.
(LE FIGARO 4/8/2010)

Đọc thêm:

Quote

Thời Sự Y Học Số 156 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2010 )

5/ TÂM THẦN HỌC : LITHIUM VẪN LÀ ĐIỀU TRỊ CĂN BẢN CỦA CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.

Một công trình nghiên cứu lớn xác nhận vai trò của Lithium trong căn bệnh xen kẽ những giai đoạn kích động và trầm cảm này.

Bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), còn được gọi là bệnh lưỡng cực loại 1 (maladie bipolaire de type 1), gây bệnh 1% dân chúng trong dạng “ thuần nhất ” nhưng 4% bị một dạng nhẹ (“ édulcorée ”), tuy nhiên không phải là kém phần đau khổ. Những rối loạn được gọi là lưỡng cực này, được thể hiện bởi những giai đoạn trầm cảm xen kẽ với những lúc kích động, mất ngủ, cảm giác khoái trá, những ý nghĩ vĩ đại… được phân biệt với những trầm cảm phản ứng (dépressions réactionnelles) bởi sự thiếu những yếu tố khởi động rõ ràng. Và nhất là bởi những khác nhau trong điều trị và xử trí. Đã từ nhiều năm nay, một tố bẩm di truyền mạnh có thể là nguyên nhân của những bệnh này. Một vài gia đình có vẻ bị ảnh hưởng hơn so với những gia đình khác.

Trái với những bệnh tâm thần nghiêm trọng khác, đối với loạn tâm thần hưng-trầm cảm và các rối loạn lưỡng cực, có những điều trị tỏ ra có hiệu quả và đảm bảo một đời sống gần như bình thường đối với một tỷ lệ không phải nhỏ các bệnh nhân. Nhưng rất thường những rối loạn này không được chẩn đoán tốt, gây nên một sự chậm trễ trong việc xử lý. Điều trị cơ bản không dựa vào các thuốc chống trầm cảm mà vào các thuốc điều hòa tính khí (régulateurs de l’humeur). Tuần này, tạp chí Anh The Lancet đã xuất bản những kết quả của một thử nghiệm điều trị rất quan trọng, thử nghiệm Balance, mà những kết luận chứng minh một cách chính thức rằng điều trị hiệu quả nhất đối với các rối loạn lưỡng cực là ở chỗ kết hợp của hai thuốc điều hòa tính khí, lithium và valproate. “ Những kết quả này rất là quan trọng, GS Chantal Henry, giám đốc trung tâm chuyên gia về những rối loạn lưỡng cực, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) đã giải thích như vậy. Trước hết, những kết quả này đã có được nhờ một công trình nghiên cứu độc lập của công nghiệp dược phẩm. Sau đó, chúng cho phép mang lại những câu trả lời cụ thể bằng cách xác định một loại “ gold standard ” trong điều trị những rối loạn lưỡng cực.

Thử nghiệm, được công bố trong The Lancet, đã được tiến hành bởi một mạng thế giới các thầy thuốc tâm thần chuyên về căn bệnh này. Thử nghiệm được thực hiện trên 330 bệnh nhân trong 41 trung tâm điều trị ở Anh, Ý, Pháp và Hoa Kỳ. Các bệnh nhân được chia thành 3 nhóm : những bệnh nhân của nhóm đầu tiên chỉ nhận lithium, những bệnh nhân của nhóm thứ hai chỉ nhận valproate (một thuốc chống động kinh đã tỏ ra có hiệu quả chống lại những rối loạn tính khí) và những bệnh nhân của nhóm thứ ba nhận một phối hợp của hai thứ thuốc. Tất cả những bệnh nhân này đã được điều trị và theo dõi trong hai năm.

Những kết quả cho thấy rằng 46% các bệnh nhân nhận hai loại thuốc đã không bị tái phát, đặc biệt là không có một đợt hưng phấn (manie) hay trầm uất (dépression) trong hai năm điều trị, so với 41% những bệnh nhân chỉ nhận lithium và 31% đối với những bệnh nhân chỉ nhận valproate. “ Nếu những kết quả này chỉ rõ rằng sự kết hợp của lithium và valproate cho những kết quả tốt nhất, phân tích thống kê cho thấy rằng, sự khác nhau giữa sự sử dụng hai loại thuốc kết hợp với nhau và lithium được dùng riêng rẽ, là không đáng kể, GS Chantal Henri, đã góp phần vào công trình nghiên cứu này cho Pháp, đã xác nhận như vậy.

Những tác dụng ngoạn mục của lithium lên các loạn thần kinh hưng[*] trầm cảm đối với một số bệnh nhân nào đó (nhưng không phải tất cả) đã được khám phá trong những năm 1970. Tuy vậy thuốc này vẫn không được sử dụng đầy đủ nhất là bởi vì hơi khó quản lý. “ Những liều lượng điều trị không xa lắm những liều lượng gây độc, GS Henry đã nói thêm như vậy. Phải theo dõi đều đặn bệnh nhân. Ngoài ra, sức ép thương mãi của các hãng được phẩm khiến các thầy thuốc cho toa những thuốc mới, dễ quản lý hơn, nhưng có vẻ ít hiệu quả hơn. Các bệnh nhân, đáp ứng tốt với lithium, thấy đời sống mình thật sự thay đổi, với một sự thoái lui các giai đoạn hưng phấn và trầm cảm, thậm chí một sự biến mất đối với vài bệnh nhân. Tất cả các phân tích méta đều cho thấy rằng lithium làm giảm tỷ lệ tự tử và nhập viện nơi những bệnh nhân bị nhưng rối loạn lưỡng cực. Trong công trình nghiên cứu Balance, một số quan trọng các bệnh nhân đã không tái phát chút nào.” Lithium được thương mãi hóa ở Pháp dưới tên Téralithe. Sử dụng liều lượng không đúng đắn, thuốc gây nên một cảm giác khát dữ dội và một nguy cơ bị thương tổn thận và giáp trạng.

Cái khó khăn điều trị là ở chỗ sự trì chậm trong chẩn đoán bệnh này, nhất là trong những thể ít điển hình. “ Công trình nghiên cứu Balance xác nhận rằng ngày nay lithium vẫn là điều trị chọn lựa của những rối loạn lưỡng cực.”, GS Chantal Henry đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 28/12/2009)


9/ CUỘC TRANH CÃI CHUNG QUANH PHUƠNG PHÁP LÀM ĐÔNG LẠNH CÁC NOÃN BÀO (CONGELATION D’OVOCYTES)

Dành cho các phụ nữ vô sinh, một kỹ thuật mới “ vitrification ” mặc dầu đã chứng tỏ hiệu quả, lại bị cấm chỉ ở Pháp.

PROCREATION. Một bên, các thầy thuốc chuyên khoa trong hỗ trợ y khoa sinh sản (AMP : assistance médicale à la procréation). Còn bên kia, chính quyền. Đối tượng của sự tranh chấp ? Một kỹ thuật mới có tính chất cách mạng, “ vitrification ”, nhằm làm đông lạnh một cách cực kỳ nhanh và không tạo nên những tinh thể nuớc đá, những tế bào sinh sản phụ nữ, các noãn bào (ovocytes). Các thầy thuốc tin chắc rằng đó là một bước ngoặt trong AMP. Kỹ thuật này có liên quan đến những phụ nữ, ví dụ, phải chịu một điều trị trong bối cảnh của một ung thư, nhưng sau đó lại muốn có con. Các chuyên gia không hiểu tại sao kỹ thuật này, mặc dầu được sử dụng trong nhiều nước (Nhật Bản, Canada, Đức, Tây Ban Nha, Ý, Bỉ), và đã thấy chào đời hơn một ngàn em bé, nhưng lại không được cho phép ở Pháp. Lại còn tệ hại hơn, họ không hiểu tại sao lại không được phép đánh giá phương thức hỗ trợ sinh đẻ này. Vài thầy thuốc không do dự gởi các thành viên đi đào tạo ở nước ngoài.

Ở Pháp, từ những năm 1940, có thể làm đông lại (congeler) các tinh trùng. Ngược lại, việc làm đông lạnh những tế bào sinh sản của phụ nữ lại bị cấm chỉ. Đất nước của chúng ta bị đối đầu với một tình trạng thiếu người hiến các noãn bào. Vào năm 2006, chỉ có 220 phụ nữ đã hiến noãn, cho phép thực hiện 400 thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro), trong khi 1.300 cặp vợ chồng phải chờ đợi. Kỹ thuật vitrification này đúng là “ giải pháp cho những vấn đề dự trữ buồng trứng bị biến đổi và cho những tình trạng mãn kinh xảy ra sớm ”, BS Jean-Michel Dreyfusn, phó chủ tịch của nghiệp đoàn các thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản, đã đánh giá như vậy.

Nếu các thầy thuốc cũng ủng hộ việc làm đông lạnh các noãn bào, đó là vì phương pháp này cho phép để dành noãn bào của các phôi thai, điều này được cho phép từ những năm 1980. Nhưng phải công nhận rằng hệ thống này đặt ra một số vấn đề nào đó. Chúng ta còn nhớ câu chuyện nổi tiếng chẳng hay ho gì của Evans ở Anh, đã trở thành chủ đề thời sự của năm 2006. Nathalie Evans bị một khối u ung thư buồng trứng. Vì biết rằng cô ta sẽ phải theo một điều trị làm cô trở thành vô sinh, nên Evans quyết định cùng với chồng làm đông lạnh các phôi thai. Nhưng rồi cặp vợ chồng ly dị. Sau khi đã được chữa lành bệnh, cô đòi lại các phôi thai của mình. Nhưng chính quyền Anh từ chối vì cho rằng các phôi thai không thuộc về Nathalie mà là sở hữu của cặp vợ chồng. Sau đó Tòa án Châu Âu cũng đưa ra một quyết định theo cùng chiều hướng này.

BS Pierre Boyer là nhà sinh học thuộc bệnh viện Saint-Joseph de Marseille. Vào năm 2007, ông tham dự một cuộc trình bày về đông lạnh các noãn bào tại một hội nghị. Tức khắc, ông hiểu được lợi ích của vấn đề này. “Với sự đông lạnh của các noãn bào, chỉ có người mẹ mới quyết định, cũng theo cách như có một sự đông lạnh của các tinh trùng đối với những người cha ”, ông đã nêu lên như vậy. Một lý lẽ cũng được sử dụng bởi BS Pierre Tourane, thầy thuốc phụ khoa ở Marseille. “ Kỹ thuật này sau cùng cho phép tránh được gánh nặng của sự đông lạnh các phôi thai. ” Rất phấn chấn, GS Claude Sureau, cựu trưởng khoa phụ sản của bệnh viện Cochin, ủy viên của Hội hàn lâm y học và của Comité national d’éthique, tố cáo một “ sự ngu xuẩn hành chánh ” làm cho nước Pháp phải trụt hậu một cách lố bịch trong vấn đề này ”.

NHỮNG “ PHƯƠNG THUỐC ” KHÁC NHAU.

Vậy thì, tại sao giới hữu trách lại từ chối không cho phép kỹ thuật này chào đời ? “ Các kỹ thuật mới của AMP bị cấm chỉ. Thế thì không thể trắc nghiệm phương pháp đông lạnh này mà không thay đổi luật đạo đức sinh học(loi de bioéthique) năm 2004. ”, François Thepot, phó giám đốc của Agence de biomédecine đã tóm tắt như vậy. Ở Bộ y tế, người ta công nhận rằng sự cấm đoán này tạo nên một sự “ kềm hãm ” đối những người chuyên nghiệp và rằng vấn đề này đang được nghiên cứu. Ở Afssaps, Fabienne Bartoli, phó tổng giám đốc, giải thích rằng những phương thức tiến hành vitrification là “ phức tạp vì lẽ chúng không được tiêu chuẩn hóa trong tất cả các phòng thí nghiệm ”. Vấn đề, các nhà sinh học chuyên về AMP đã trả lời như vậy, là mỗi phòng thí nghiệm có “ phương thức chế biến ” (recette de cuisine) của riêng mình. Ví dụ, các thầy thuốc Canada khi thực hiện vitrification, không sử dụng cùng protocole như các đồng nghiệp ở Nhật Bản. Và tất cả các thầy thuốc Canada cũng không sử dụng cùng kỹ thuật… “ Đất nước của chúng ta bị chấn thương bởi vụ máu ô nhiễm, BS Jean-Michel Dreyfus đã phân tích như vậy. Người ta vẫn còn sợ cái bóng ma của sự vụ này. Như thế, người ta áp dụng nguyên tắc thận trọng (principe de précaution) khắp mọi nơi. ”

Luật đạo đức sinh học (loi de bioéthique) sẽ có vài thay đổi trong thời gian tới. Nhưng những điểm liên quan đến những phương pháp mới của AMP có được thay đổi hay không ? Trong lúc chờ đợi, các thầy thuốc cho rằng chúng ta đã mất khá nhiều thời gian. Một điều không thể chấp nhận được đối với một đất nước đã luôn luôn ở mũi nhọn trong lãnh vực này.
(LE FIGARO 26/3/2010)

10/ NHỮNG NGUY CƠ CỦA ĐIỀU HÚT THUỐC LÀO ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ.

Lần đầu tiên, một phân tích méta, được thực hiện trên 23 nghiên cứu lâm sàng, chỉ rõ nhưng những nguy cơ y tế của việc sử dụng điếu ống (narguilé), những điếu hút (pipe à eau) lớn dùng để hút thuốc lá, cũng được gọi arguileh (Syrie và Liban), hookah nơi thổ dân da đỏ hay chicha (Ai cập và Maghreb). Từ đầu những năm 1980, cách hút thuốc này cũng đã trở thành phổ biến ở Châu Âu và Hoa Kỳ. Các kết quả cho thấy rằng điếu ống (narguilé) làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện một ung thư phổi hay một bệnh đường hô hấp cao như viêm mũi, cũng như nguy cơ có trọng lượng thấp lúc sinh nơi các trẻ được sinh ra từ những phụ nữ đã sử dụng loại điếu ống này. Nó tăng gấp ba nguy cơ bị các bệnh nha chu (affections périodontales) (ảnh hưởng các mô nâng đỡ của các chiếc răng).

Ngược lại, không có một sự liên kết nào được nhận thấy đối với ung thư bàng quang, ung thư thực quản, các loạn sản miệng (dysplasies buccales) hay nguy cơ bị viêm gan C (có thể được liên kết với tính cách mời mọc giao tế của việc sử dụng phương cách này).
(SCIENCE ET AVENIR 8/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (16/8/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#64 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 23 August 2010 - 07:42 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BÁO ĐỘNG NHỮNG VI KHUẨN MỚI CỰC KỲ ĐỀ KHÁNG.

Đến từ Ân Độ, những vi khuẩn này đề kháng hầu hết các kháng sinh và đã lưu hành trong nhiều nước.

INFECTIONS. Những giống gốc vi khuẩn (souches bactériennes) mới, đề kháng với hầu hết tất cả các kháng sinh, đã được phát hiện từ năm 2003 ở Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Một công trình nghiên cứu được công bố tuần qua nhấn mạnh rằng những vi khuẩn mới cực kỳ đề kháng (bactéries ultrarésistantes) này có thể có mặt khắp nơi trên hành tinh trong những năm tới. Nhóm nghiên cứu, được lèo lái bởi Timothy Wallsh, thuộc đại học Cardiff, kêu gọi một sự giám sát quốc tế (The Lancet on line).

Thật vậy, các công trình của họ cho thấy rằng tỷ lệ lưu hành đã gia tăng rất nhanh ở Ấn Độ : từ chỗ rất hiếm hoi cách nay ba năm, từ nay các vi khuẩn cực kỳ đề kháng này có liên hệ trong gần 3% các nhiễm trùng ruột đề kháng (infections intestinales résistantes). Lại còn đáng lo ngại hơn, những vi khuẩn này đã ra khỏi tiểu lục địa. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy chúng nơi 37 bệnh nhân người Anh đến Ấn Độ vì những phẫu thuật khác nhau : ghép các cơ quan, thẩm tách thận, điều trị thẩm mỹ …nhiều trường hợp đã được ghi nhận trên thế giới, trong đó một ở Pháp.

NHỮNG NGƯỜI LÀNH MANG TRÙNG.

Hiện tượng này rất là đáng quan ngại, nhất là bởi vì các vi khuẩn ruột biến dị (entérobactéries mutantes) này đề kháng với carbapénème, một lớp các thuốc kháng sinh, ngày nay là thành lũy cuối cùng chống lại các vi trùng đa đề kháng khó điều trị nhất. Ở Châu Âu, mỗi năm, gần 25.000 trường hợp tử vong liên quan với những vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes), vì lẽ thiếu các kháng sinh có hiệu quả.

“ Mối đe dọa là có thật ”, Patrice Nordmann, giám đốc của đơn vị Inserm, chuyên về những vi khuẩn mới phát khởi và đa đề kháng, đã xác nhận như vậy. Trước hết, bởi vì các cơ chế đề kháng được quan sát ở Ấn Độ là hiệu quả một cách đáng sợ. Thật vậy, cơ chế này là do một gène đi qua dễ dàng từ vi trùng này qua vi trùng khác. “ Paris sẽ không bị xâm chiếm trong một sớm một chiều ”, tuy nhiên Patrice Nordmann vội vã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, sự khuếch tán của những vi khuẩn này không có liên hệ gì với một dịch bệnh virus, ví dụ như cúm H1N1, đi vòng quanh thế giới trong vài tháng.

Yếu tố khác chẳng thuận lợi chút nào, gène của khả năng cực kỳ đề kháng (ultrarésistance) này, được mệnh danh “ blaNDM-1” (New Dehli métallo-bêtalactamase), hiện diện nơi những loài vi khuẩn, trong điều kiện tự nhiên, có rất dồi dào trong khuẩn chí ruột và hệ hô hấp (Escherichia Coli và Klebsiella pneumoniae), trong đó một vài loài sinh bệnh. Sự chung đụng của chúng với người do đó làm gia tăng các nguy cơ lây nhiễm, nhất là trong một quốc gia có 1,1 tỷ dân, trong đó điều kiện vệ sinh và chất lượng nước uống không được thỏa mãn. Thật vậy, trong tiểu lục địa Ấn Độ, gène blaNDM-1 không bị giam hãm trong các bệnh viện, nơi đây hiện diện phần lớn những bệnh nhân bị những nhiễm trùng đa đề kháng. Gène này lưu hành trong môi trường và trong nước.

Do đó du lịch y khoa (tourisme médical) không phải là đường lây nhiễm khả dĩ duy nhất. Ở Ấn Độ, là nơi hoạt động du lịch chữa bệnh mang lại thu nhập ngoại tệ ngày càng nhiều, giới cầm quyền cực lực phản đối, cho rằng công trình nghiên cứu Ấn Độ là một sự mạ lị vu khống và rằng gène blaNDM-1 vốn có khắp nơi trên quả địa cầu. “ Hiện nay, không gì chỉ rõ rằng các giống gốc đa đề kháng là độc lực hơn những giống gốc khác ”, Patrice Nordmann đã xác nhận như vậy. Noi chung, chúng gây nên những nhiễm trùng đường tiểu và ruột, nhưng vài người bị lây nhiễm có thể không phát triển bệnh, điều mà ta gọi là những người lành mang trùng (porteurs sains).

Vấn đề gay gắt nhất được đặt ra đối với những bệnh nhân yếu ớt và bị thiếu hụt miễn dịch (immunodéficient). Chỉ có hai kháng sinh dường như có hiệu quả : “ colimycine, một kháng sinh xưa khó sử dụng và độc, cũng như một thứ thuốc mới, tigecycline, mà liều lượng chưa được xác lập ”, Jean Carlet, cựu chủ tịch của Ủy ban kỹ thuật quốc gia về những nhiễm trùng bệnh viện và ngày nay là tham vấn của OMS, đã giải thích như vậy. Không có một loại thuốc mới nào hiện nay được dự kiến phát triển. Các kháng sinh không sinh lợi dưới mắt của các hãng bào chế lớn.

Nước Anh, có những trao đổi rất chặt chẽ với cựu thuộc địa của mình, là chịu nhất sự xuất hiện của những vi khuẩn mới này. Gần 4 triệu người có nguồn gốc tiểu lục địa sống ở Anh. Tuy nhiên vài trường hợp đã được ghi nhận ở Hòa Lan, ở Canada, ở Hoa Kỳ, ở Kenya và ở Oman. NMD-1 đã gây nên tử vong cho một người ở Suède cũng như ở Bỉ và Úc đại lợi. Trường hợp duy nhất được ghi nhận ở Pháp có liên quan đến một người được nhập viện vì một vết thương ở bàn tay. “ Người này đã không phát triển một nhiễm trùng nào ”, Patrice Nordmann đã nhấn mạnh như vậy. Dầu sao đó là những người có nguồn gốc Ấn Độ-Pakistan, hoặc là những du khách đơn thuần, hoặc là những người đã lưu trú ở đó trong một bệnh viện.

Mối đe dọa nghiêm trọng nhất trước hết liên quan đến nguy cơ thấy các đề kháng với các kháng sinh gia tăng do sự lạm dụng chúng. “ Rất là nghiêm trọng. Chính những kháng sinh này vốn đã cứu nhiều mạng người nhất cho đến ngày nay. Đó không phải là những loại thuốc như những loại thuốc khác. Chúng tấn công các vi sinh vật biết tự bảo vệ, do đó chỉ nên dùng chúng một cách có ý thức và một cách dè sẻn, Jean Carlet đã giải thích như vậy. Chúng ta đang đứng trước một vấn đề sinh thái y học (écologie médiacle) : phải xem các kháng sinh như là một gia sản điều trị (patrimoine thérapeutique) bị đe dọa.” Cùng với những chuyên gia khác, năm qua, ông đã thảo một kế hoạch hành động khẩn cấp nhằm làm giảm tình trạng đề kháng đối với các kháng sinh ở Pháp. Sự tiêu thụ kháng sinh lại đang tăng cao trong đất nước chúng ta ”, ông đã phàn nàn như vậy. Dầu cho tình hình không có liên hệ gì với tình hình ở Ấn Độ hay các nước khác phía nam, là nơi các kháng sinh có thể được bán không cần toa bác sĩ và không bị kiểm soát, đất nước chúng ta vẫn còn tụt hậu.
(LE FIGARO 16/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 60 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 21/1/2008 )

5/ SỰ ĐỀ KHÁNG CỦA CÁC VI KHUẨN ĐỐI VỚI CÁC KHÁNG SINH ĐÃ ĐẠT ĐẾN MỘT QUY MÔ HÀNH TINH

Một công trình nghiên cứu của Thụy Điển xác lập rằng các con chim hiện hiện ở các vùng xa xôi khác nhau của Bắc Cực mang một loại vi khuẩn đã trở nên đề kháng với hầu hết tất các các thuốc kháng sinh.

Phải chăng ngày nay những hiện tượng đa đề kháng (multirésistance) của các vi khuẩn đối với các kháng sinh có thể được quan sát trên quy mô hành tinh ? Đó là điều mà chúng ta có thể quan ngại, theo một công trình của những nhà nghiên cứu Thụy Điển được công bố trong số báo vừa qua của Emerging Infectious Diseases Journal, một tạp chí của những Trung tâm kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật của Hoa Kỳ. Được lãnh đạo bởi BS Bjorn (đại học Uppsala), các nhà khoa học này đã muốn biết xem các vi khuẩn Escherichia coli hiện diện nơi các con chim sống ở Bắc Cực có đề kháng với các kháng sinh hay không, như là điều này thường xảy ra trong các nước công nghiệp.

Được tổ chức trong khung cảnh của Année polaire internationale, công trình điều tra của họ đã được tiến hành trong ba vùng xa xôi : đông bắc Sibérie, Alaska và bắc Groenland. Những mẫu nghiệm sinh học đã được lấy trong các chất phế thải hay ống tiêu hóa của 97 con chim. Các giống gốc vi khuẩn sau đó đã được trắc nghiệm đối với 17 loại thuốc kháng sinh có tác dụng lên toàn bộ khuẩn lạc thường được sử dụng trong y khoa. Các nhà nghiên cứu Thụy Điển giải thích là họ đã có thể phát hiện những hiện tượng đề kháng vi khuẩn đối với 14 trong số 17 kháng sinh. Công trình nghiên cứu này tiếp theo nhiều công trình khác nhau đã làm sáng tỏ một hiện tượng tương tự nơi các loài chim di trú hiện diện ở Bắc Mỹ và Châu Âu.

Nhiều giả thuyết có thể được đưa ra để giải thích sự xuất hiện của một sự đề kháng kháng sinh nơi các loài chim hoang dã trong những vùng mà ở đó con người hầu như vắng bóng. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng hiện tượng này là hậu quả của những biến dị ngẫu nhiên trong bộ gène của vi khuẩn Escherichia coli, hoặc là của sự chuyển gènes đề kháng từ bộ gène của các vi khuẩn khác thường hiện diện trong môi trường (sự truyền được gọi là “ngang”).

Vùng eo biển Béring là một vùng có rất nhiều loài chim đến kiếm ăn. Đó cũng là một vùng đi qua của nhiều chim di trú từ 6 lục địa.Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng hiện tượng đa đề kháng của vi khuẩn đối với các kháng sinh được quan sát ở các loài chim ở Bắc Cực là đã có được dưới các vĩ độ khác, trước khi được truyền cho các loài chim tại chỗ.

“ Công trình nghiên cứu chứng tỏ rõ ràng rằng có một sự phát tán thụ động các vi khuẩn bởi các chim di trú, do đó lý thuyết về sự đốt biến ngẫu nhiên có thể được loại trừ, Patrice Courvalin, giám đốc của đơn vị của các tác nhân kháng khuẩn của Viện Pasteur, đã đánh giá như vậy. Những đề kháng quan sát được cũng là những đề kháng thường được thấy nhất nơi các vi khuẩn sinh bệnh đối với người. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng sự toàn cầu hóa của các trao đổi, kết hợp tính chất đa dạng và hiệu quả của các đường phát tán các giống gốc vi khuẩn đa đề kháng, làm cho không một ai, dầu ở bất cũ nơi đâu, dầu lối sống và môi trường sống như thế nào, cũng không tránh khỏi hiện tượng đề kháng này.”

Theo ông, tình hình này lại càng đáng quan ngại khi chúng ta càng ngày càng có những dữ kiện chỉ rõ ràng các vi khuẩn bình thường hiện diện trong ống tiêu hóa tạo nên một chỗ chứa các gènes đề kháng đối với các vi khuẩn gây nhiễm trùng nơi người.

“ Một khía cạnh quan trọng được làm sáng tỏ bởi công trình nghiên cứu này là nó xác nhận rằng sự đề kháng rất là ổn định, bởi vì ở Bắc Cực không có áp lực của sự chọn lọc kháng sinh, Patrice Courvalin nói thêm như thế. Trong lúc chọn lọc các giống gốc đề kháng, đặc biệt do sự sử dụng không hợp lý các kháng sinh, chúng ta tạo ra những vấn đề đối với các thế hệ tương lai. Ở đây, đó là một nguy cơ xã hội thật sự với quy mô hành tinh. Một lần nữa phải nói rằng những vấn đề y tế công cộng phải được ưu tiên so với sự toàn cầu hóa của các trao đổi.” Nguồn:
(LE FIGRO 17/1/2008)


2/ CÁC NHIỄM TRÙNG LẬU CẦU TIẾN TRIỂN MẠNH Ở PHÁP.

Sự tăng cao của những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục này phản ảnh sự tiến triển của những giao hợp có nguy cơ (rapports à risque).

SANTE PUBLIQUE. Tất cả các chỉ dấu đều đi theo cũng chiều hướng : các nhiễm trùng lậu cầu (infections à gonocoques) đang tiến triển mạnh ở Pháp. Thế mà khuynh hướng càng gây báo động khi những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles) này là phản ảnh của những hành vi tình dục có nguy cơ (comportements sexuels à risque). Giữa năm 2008 và 2009, các bệnh lậu (gonorrhée, còn được gọi là blennorragie hay thân mật hơn bệnh đái nóng (chaude-pisse) nơi đàn ông) đã nhảy vọt lên 52% ở Pháp, Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de veille sanitaire) đã đánh giá như vậy. Cơ quan này căn cứ trên hai mạng lưới theo dõi đặc biệt. Điều chứng thực của hai hệ thống theo dõi này phù hợp với điều chứng thực của các thầy thuốc đa khoa thuộc mạng lưới Sentinelles, theo dõi những bệnh viêm niệu đạo (urétrite) của nam giới.

Theo IVS, sự tiến triển hơi ít quan trọng hơn ở Il-de-France (+38%) với một sự ổn định tương đối nơi các phụ nữ. Trong những vùng khác, sự gia tăng số các trường hợp (+54%) ngược lại rõ ràng nơi hai giới : + 51% nơi đàn ông và +75% nơi phụ nữ. “ Các lậu cầu khuẩn đã bắt đầu gia tăng vào khoảng năm 1996, nhưng sự tăng trưởng của chúng gia tốc, BS Anne Gallay, thuộc IVS đã xác nhận như vậy. Những người dị tính luyến ái (hétérosexuels) dường như càng ngày càng bị liên hệ, cũng như đối với những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục (IST) khác, như bệnh giang mai.

NGUY CƠ VÔ SINH.

Ở người đàn ông, một nhiễm trùng bởi các lậu cầu khuẩn gây nên một viêm niệu đạo cấp tính (với tiểu ra mủ, đau rát khi đi tiểu), hiếm mà không nhận biết được. Thời hạn giữa lúc bị lây nhiễm và lúc bắt đầu các triệu chứng rất ngắn, giữa 3 và 5 ngày. Tổng cộng, ở Pháp giữa 15.000 và 20.000 người đàn ông (thường là trẻ) bị liên hệ bởi nhiễm trùng này.

Những đánh giá rõ rệt phức tạp hơn đối với nữ giới, ở đối tượng này các nhiễm trùng, ít gây triệu chứng, hiếm khi khiến phải đi thăm khám. “ Chúng ta không biết tần số mắc bệnh nơi các phụ nữ là bao nhiêu, và đó là một mối âu lo bởi vì, khi những phụ nữ bị lây nhiễm này không tự phát hiện, họ sẽ tham gia vào sự làm lây truyền những vi khuẩn này ”, Anne Gallay đã tiếp tục phát biểu như vậy.

Mặc dầu các bệnh lậu (gonococcies) thường là những nhiễm trùng hiền tính, được chữa lành với một điều trị kháng sinh thích ứng, nhưng sự tiến triển của chúng đặt ra hai vấn đề về y tế công cộng. Không được điều trị hay điều trị kém, chúng có thể tiến triển thành những nhiễm trùng mãn tính, với một nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ, và chúng làm dễ những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục khác.

Nhất là các bệnh lậu là một chỉ dấu tốt về những hành vi tình dục có nguy cơ. Vậy sự tiến triển của chúng tiết lộ một sự gia tăng các thói quen tình dục mang nhiều nguy cơ. Vào đầu những năm sida, những hành động phòng ngừa (bằng cách mang các túi dương vật) đã cho phép làm giảm tần số các nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. Từ đó, các điều tra đã mô tả sự lơi lỏng của các hành vi, đặc biệt là trong các giới đồng tính luyến ái. “ Ngoài ra, bối cảnh của tình dục đã tiến triển nhiều nơi những người dưới 30 tuổi, BS Gallay đã nói thêm vào như vậy. Có nhiều cuộc gặp gỡ bất ngờ hơn và nhiều bạn đường phối ngẫu hơn, điều này có thể làm dễ những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. ”

Đứng trước sự tiến triển này, những thông điệp phòng ngừa bằng túi duơng vật vẫn là cần thiết, “ nhưng khó mà hướng tất cả mọi chuyện vào đó ”, nhà dịch tễ học đã đánh giá như vậy. Cũng phải nhấn mạnh việc phát hiện sớm, bằng cách đốc thúc giới trẻ thăm khám trong trường hợp bị phải nguy cơ hay trong trường hợp có triệu chứng.

Theo BS Gallay, người ta đang suy nghĩ để tái tổ chức hệ thống phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục hiện nay. Với sự khó khăn là những nhiễm trùng này không gây bệnh cho cùng lứa tuổi và rằng thời gian tiềm phục của chúng rất là biến thiên.
(LE FIGARO 22/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 65 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/2/2008 )

6/ BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC LẠI BÙNG NỔ Ở PHÁP.

Việc gia tăng trở lại những nhiễm trùng bởi lậu cầu, bởi chlamydia và của bệnh giang mai là hậu quả của sự tái tục các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).

Chính sách ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục (MST : maladies sexuellement transmissibles) đang bị nguy ngập. Tất cả các yếu tố chỉ báo cho thấy có một sự gia tăng trở lại các bệnh nhiễm trùng (lậu cầu, chlamydia, giang mai), được lây truyền lúc giao hợp (dù cho đó là giao hợp đồng tính hay dị tính). Thật vậy, bảng thông báo dịch tễ hàng tuần của Viện theo dõi y tế đã công bố tuần này các con số xác nhận về sự gia tăng các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ở Pháp. Ngoài các hậu quả về mặt y tế riêng cho các nhiễm trùng này (các bệnh mãn tính nơi người, nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ), các dữ kiện này thể hiện sự tái tục những hành vi tính dục có nguy cơ, nói lên việc sử dụng phương tiện bảo vệ ít hơn và do đó mang lại một nguy cơ truyền virus bệnh Sida gia tăng.

Các nhiễm trùng do lậu cầu có đặc điểm là có một thời gian tiềm phục ngắn và cho những triệu chứng “ ồn ào ” nơi đàn ông. Do đó những nhiễm trùng này là một chứng tỏ rất rõ về các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).

Một mạng lưới 200 phòng xét nghiệm phân tích mỗi năm số giống gốc các lậu cầu được phân lập. Suốt trong 3 năm qua, sự gia tăng số trường hợp xảy ra một cách thường xuyên, với 50% được thêm vào trong năm 2006 so sánh với năm 2005. Với một sự gia tăng rất rõ rệt nơi các phụ nữ (thêm 264%) và ở tỉnh (thêm 94%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân này là 30 tuổi đối với đàn ông và 23 tuổi đối với phụ nữ. Sau cùng phải ghi nhận một sự tiến triển của các giống gốc đề kháng với ciprofloxacine, một trong những kháng sinh chuẩn trong điều trị bệnh này.

Nhiễm trùng do chlamydia trachomatis thường xảy ra nhất ở phụ nữ. Nhiễm trùng này chỉ gây ít triệu chứng nhưng nếu không được điều trị, có thể gây nên những thương tổn nơi các vòi trứng, nguyên nhân của vô sinh hoặc có thai ngoài tử cung. Từ đầu những năm 2000, một sự gia tăng các nhiễm trùng do chlamidia được quan sát ở Pháp, cũng như trong tất cả các nước công nghiệp hóa khác.Thí dụ ở Anh, sự gia tăng này có thể được quy cho công tác điều tra phát hiện được thực hiện một cách có hệ thống trong chiến dịch chống vô sinh nơi những người dưới 25 tuổi. Phải nhấn mạnh rằng ở Pháp, từ năm 2003 đến 2006, số các trường hợp nhiễm trùng do chlamydia đã gia tăng 55% nơi đàn ông và 62% nơi phụ nữ. Nhưng còn cần phải biết xem một sự gia tăng như thế là do sự tiến triển của bệnh hay chỉ do sự cải thiện của công tác điều tra phát hiện và của chẩn đoán.

ĐẨY MẠNH TRỞ LẠI CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA

Bệnh giang mai gần như đã biến mất ở nước Pháp trong những năm 1990 để rồi lại xuất hiện trở lại vào đầu những năm 2000, hầu như chỉ xảy ra ở những người đồng tính (homosexuel) hay lưỡng tính (bisexuel), đặc biệt là ở những người bị nhiễm đồng thời bởi virus sida. Mặc dầu những chiến dịch thông tin và phòng ngừa được phát động, bệnh có tiềm năng nghiêm trọng này vẫn không tỏ dấu hiệu lùi bước.Từ năm 2000 đến 2006, có 2.305 trường hợp giang mai đã được chẩn đoán ở Pháp. Sau một đợt giảm nhẹ vào năm 2005, số các trường hợp lại tăng lên năm 2006, đặc biệt là ở Ile-de-France và trong vùng Bắc Pas-de-Calais. Số các trường hợp giang mai bắt đầu xuất hiện ở những người dị tính (hétérosexuel) mà mãi đến nay phần lớn không bị nhiễm bệnh. Việc công bố những dữ kiện này hẳn phải khiến chính quyền cần phải phát động trở lại những chiến dịch phòng ngừa nhằm vào các hành vi tính dục có nguy cơ. Nguồn:
(LE FIGARO 6/2/2008)


3/ TẠI SAO PHẢI UỐNG ĐỦ NƯỚC ?

Professeur Raymond Ardaillou
Néphrologue
Membre de l’Académie nationale de médecine


Cơ thể chúng ta chứa 60% nước. Như thế, một người cân nặng 72kg được cấu tạo bởi 42 lít nước. Nước được nhận vào là nước uống, nước được chứa trong các thức ăn và, một phần rất nhỏ nơi người, nuớc nội tại (eau endogène), nghĩa là nước phát xuất từ sự oxy hóa của hydrogène, được chứa trong các glucide và lipide. Chúng ta hãy nhắc lại rằng không phải như thế đối với con lạc đà, trong thời kỳ bị hạn chế nước, oxy hóa mỡ của bướu (bosse de chameau) để thu được nước mà nó thiếu.

Ngược lại, con người không có một dự trữ nước nào và phải bù những thất thoát hàng ngày bằng những thu nhập tương ứng. Trong điều kiện bình thường, những lượng nước xuất chủ yếu là nước tiểu và mồ hôi ; lượng nước xuất trong mồ hôi tùy theo những điều kiện khí hậu (nhiệt độ và hygrométrie). Những lượng xuất này có thể gia tăng trong các bệnh kèm theo nôn mửa hay ỉa chảy. Việc thiếu nước là không thể chịu đựng được và gây nên tử vong do mất nước tế bào (déshydratation cellulaire).

NHỮNG NGƯỜI GIÀ : COI CHỪNG !

Không nên chờ đợi có cảm giác khát rồi mới uống nước. Lý tưởng là không phải chỉ bù những lượng nước bị mất bắt buộc (pertes d’eau obligatoires), mà còn phải uống vào một lượng bổ sung để đi tiểu mỗi ngày ít nhất 1.500 ml.Có rất nhiều lý do :

  • Ngăn ngừa sự tạo thành các sỏi trong những đường bài tiết nước tiểu, là nguồn gốc của những cơn đau quặn thận (colique néphrétique) và, nếu sỏi không được bài xuất hay lấy đi, sẽ gây nên sự ứ đọng nước tiểu ở phía trên chướng ngại vật.
  • Ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu bằng cách duy trì một lưu lượng nước tiểu cao, làm dễ sự bài xuất các vi trùng và bởi vì kích thích tố kháng lợi tiểu (hormone antidiurétique), được tiết ra dư thừa trong trường hợp mất nước, làm dễ sự dính (adhérence) của các trực khuẩn ruột (colibacilles) vào biểu mô đường tiểu và làm dễ sự xâm nhập các tế bào bởi những vi khuẩn này.
  • Cho phép bài tiết urée và các muối khoáng một cách thỏa mãn ; Thật vậy, ngươi ta đã chứng tỏ rằng khả năng bài tiết urée (clairance de l’urée) gia tăng v