Nhịp cầu y khoa: ThỜi SỰ Y HỌC - Nhịp cầu y khoa

Jump to content


Chào Mừng bạn ghé thăm Diễn Đàn NHỊP CẦU Y KHOA. Nơi trao đổi thông tin, học hỏi, giao lưu của Sinh Viên Y Khoa, Bác Sĩ, Dược Sĩ và Bệnh nhân.

Mời bạn đăng ký thành thành viên để cùng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, và những thắc mắc, những nghi vấn về Y, Dược, bệnh tật. Nếu bạn đã là thành viên Nhịp Cầu Y Khoa, xin hãy đăng nhập để cùng trao đổi và trợ giúp nhau. Nếu bạn yêu thích website này, xin giới thiệu đến các bạn bè, người thân quen !!!

Các chủ đề nổi bật

CÁC CHỨC NĂNG CĂN BẢN CẦN BIẾT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

Nhà trọ sinh viên - cùng chia sẻ thông tin để giúp nhau tìm nơi trọ hợp lý

Bệnh Lý Suy Tĩnh mạch Mạn Tính - Tư vấn và khám miễn phí

Đại Học Y Toronto - Canada Nhận Sinh Viên Nước Ngòai …

Du học Mỹ Cần Biết ... / XKCX To America ...

CẤP CỨU - Chuyên Ngành Cấp Cứu

THỜI SỰ Y HỌC - Tin Tức Y Học Trên Thế Giới (SỐ 190 - 06/09/2010)




  • (2 Pages)
  • +
  • 1
  • 2
  • You cannot start a new topic
  • You cannot reply to this topic

ThỜi SỰ Y HỌC Tin Tức Y Học Trên Thế Giới - BS NGUYỄN VĂN THỊNH Rate Topic: -----

#1 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 10 May 2009 - 05:08 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ VIRUS A (H1N1) KÉM ĐỘC LỰC HƠN DỰ KIẾN.

EPIDEMIE. Việc không có những trường hợp tử vong ngoài Mexico và sự phân tích virus khiến người ta nghĩ rằng tác nhân gây nhiễm có thể chỉ gây nên một bệnh cúm hiền tính.

Đứng trước mối đe dọa của một trận đại dịch mới, những biện pháp phòng ngừa nghiêm túc phải được thực hiện, ngay cả khi không có sự chắc chắn về mức độ độc lực thật sự của tác nhân gây nhiễm mới phát khởi. Nhiều thông tin virus học và dịch tễ học, trong những ngày qua, khiến người ta phỏng đoán rằng virus của bệnh cúm A (H1N1) mới, đã gây bệnh cho gần 800 người trên thế giới đến nay, ít gây lo ngại hơn điều mà chúng ta đã tưởng.

Chuỗi di truyền hoàn toàn được giải mã, được đặt dưới quyền sử dụng của các nhà khoa học trên toàn thế giới cuối tuần qua, đã mang lại một loạt thông tin rất quý giá về độc lực của virus này. “ Vào khi virus của cúm gia cầm H5N1 xuất hiện cách nay vài năm, chúng ta đã nghiên cứu nhiều để nhận diện các chỉ dấu của độc lực của virus cúm, G.S Bruno Lina, giám đốc của trung tâm nghiên cứu bệnh cúm ở miền nam nước Pháp (Lyon) đã giải thích như vậy. Điều đó cho phép chúng ta hiểu rằng, virus H1N1 mới, không có những trang bị cần thiết để chúng trở nên đặc biệt có độc tính. ”

Ví dụ như protéine bề mặt, được gọi là hémagglutinine (H), phải được tách đôi để có khả năng gây bệnh. Trong trường hợp H5N1, điều này được thực hiện một cách ngẫu nhiên. Đối với H1N1, thì khó khăn hơn nhiều. Cũng vậy, protéine bề mặt kia, neuraminidase (N), có một cấu trúc “ hình que ” khá dài trong H1N1, trong khi những que ngắn (như trong H5N1) là một chỉ dấu của độc lực. Mặt khác, tất cả các virus cúm có một hoạt tính kháng interféron, phong bế những phòng ngự miễn dịch.

SỐ TRƯỜNG HỢP TỬ VONG HẠ XUỐNG.

Hoạt tính này càng quan trọng thì chúng càng có độc lực. Đó không phải là trường hợp của H1N1. “ Dưới ánh sáng của những thông tin mới này, virus H1N1 có vẻ không có những yếu tố độc lực đặc biệt. Nhưng đó là một phân tích được thực hiện trên một virus hôm nay. Mọi chuyện có thể thay đổi trong những tuần đến ”, G.S Lina đã xác nhận như vậy.

Ở Hoa Kỳ, nước thứ hai bị ảnh hưởng nhất bởi cúm mexico, Richard Besser, giám đốc của CDC, hôm qua đã đánh giá là đáng phấn khởi, khi chứng thực rằng virus mới này, đến nay đã không có vẻ nghiêm trọng hơn một giống gốc của cúm mùa.

Cũng trên bình diện dịch tễ học, hôm nay tình hình dường như ít đáng lo ngại hơn cách nay một tuần. Thật vậy có vẻ như số các trường hợp tử vong đã hạ xuống ở Mexico, vì lẽ, trái với điều đã được loan báo, số các trường hợp tử vong đã sụt giảm, từ 100 cách nay 8 ngày xuống còn 20 ngày hôm nay ! Những trường hợp cúm khác đã không được xác nhận với phân tích virus học. Mặt khác, không có trường hợp tử vong nào đã được quan sát trong 18 nước khác, đã khai báo những trường hợp cúm xảy ra nơi người. Những bệnh nhân này có một bệnh cúm cổ điển, với mệt mỏi, sốt, đau cơ, ho, không có khó thở. Tỷ lệ tử vong ở Mexico khó có thể giải thích được, trừ phi nghĩ rằng các bệnh nhân đã không được điều trị đúng đắn.
( LE FIGARO 4/5/2009)

2/ MỘT XÉT NGHIỆM CHO PHÉP PHÁT HIỆN VIRUS TRONG 12 GIỜ.

Viện Pasteur vừa hiệu chính một xét nghiệm cho phép phát hiện virus A H1N1 giống mới, trong vòng 12 giờ. Trắc nghiệm này chẳng bao lâu sẽ được đặt dưới sự sử dụng của các phòng xét nghiệm. Trắc nghiệm gồm 3 thao tác đồng thời : xác nhận việc phát hiện một virus loại A, loại bỏ sự hiện diện của virus cúm mùa và phát hiện sự hiện diện của virus mới.
( LE FIGARO 6/5/2009)

3/ H1N1 : PROFIL ĐIỂN HÌNH CỦA NHỮNG NGƯỜI BỆNH Ở MỄ TÂY CƠ.

EPIDEMIE. Những nạn nhân chính là những thanh niên gốc Mexico và vùng phụ cận.

Ở Mễ Tây Cơ, trung tâm điểm của dịch cúm heo, bilan của các nạn nhân hôm qua vẫn không thay đổi với 24 người chết. Nhà cầm quyền ước tính rằng từ nay dịch bệnh đang thoái trào trên đất nước. Trường hợp tử vong cuối cùng được xác nhận là ngày 29/4. Tổng số bệnh nhân là 866 người, trong đó có 64 trường hợp mới. “ Đỉnh cao của trận dịch nằm giữa 23 và 28 tháng tư và virus đã gây nhiễm cho đàn ông cũng như phụ nữ ”, hôm qua bộ trưởng y tế Mễ tây cơ đã nhấn mạnh như thế. Hầu hết các nạn nhân gốc Mexico và ở lứa tuổi từ 20 đến 39. Những dữ kiện dịch tễ học chính xác hơn sẽ được công bố trong một tạp chí khoa học.

Trong thủ đô, các tiệm buôn sẽ lần lượt mở cửa lại bắt đầu từ hôm nay sau khi đã đóng cửa trong hơn một tuần để tránh sự lan tràn của virus. Hậu quả của cúm đã là rất nặng nề đối với đất nước Mễ tây cơ, lên đến 2,3 tỷ dollars, theo bộ trưởng tài chánh. Tuy nhiên OMS vẫn giữ báo động đại dịch ở mức độ 5. “ Ở Châu Âu vẫn không có ổ gây nhiễm tự trị, Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc của OMS, hôm qua đã ghi nhận một cách thỏa mãn như vậy. Tuy nhiên, ông xác nhận rằng tổ chức y tế thế giới đang theo dõi rất sát tình hình ở Tây Ban nha và Vương Quốc Anh.

Hôm qua ở phi trường Roissy (Pháp), việc bố trí tiếp đón các hành khách đến từ Mễ Tây Cơ đã được thiết đặt, với các thầy thuốc và một nhóm Hồng Thập Tự, được tập hợp lại trong một vùng được quy định. Tất cả các đôi mắt giờ đây đều hướng về các nhà virus học để biết những kịch bản nào chúng ta sẽ phải trông chờ trong những tháng tới. Tạp chí Hoa Kỳ Science đã phỏng vấn BS Yi Guan. Năm 2003, nhà nghiên cứu gốc Hong Kong này đã cho phép dập tắt nhanh chóng trận dịch SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng : syndrome respiratoire aigu sévère) sau khi đã phân lập nơi một con mèo nhỏ (civette), một siêu vi trùng rất gần giống với coronavirus, nguyên nhân của căn bệnh.

THEO DÕI CÁC BIẾN DỊ.

“ Chúng ta đã chưa nhận được một yếu tố nào cho phép chúng ta nói virus H1N1 mới, một ngày nào đó sẽ trở nên độc lực. Chúng ta cũng không biết ngay cả tại sao sự lan truyền của virus giữa người và người đã có thể xảy ra ”, B.S Yi Guan đã công nhận như thế.

Tuy nhiên dưới mắt ông, sự việc phần lớn con người không có đề kháng miễn dịch chống lại virus mới, tạo nên điều kiện chính yếu để phát khởi một trận đại dịch. Khi hè đến, bình thường, virus H1N1 sẽ tạm thời nằm yên trong Bắc bán cầu, Vincet Enouf, người phụ trách của trung tâm quốc gia bệnh cúm đã xác nhận như vậy. Ngược lại, virus có thể gặp những điều kiện thuận lợi trong Nam bán cầu.

Trong những vùng mà cơ sở hạ tầng y tế bị thiếu hụt như trong vài vùng châu Phi, đảm bảo một công tác theo dõi để biết xem H1N1 có biến dị bằng cách tái phối hợp với những virus người khác của bệnh cúm hay không là điều quan trọng. Sự gặp gỡ giữa H1N1 và H5N1 của cúm gia cầm, có khả năng gây bệnh hơn nhiều đối với người, là một kịch bản tai họa khả dĩ nhưng ít có xác suất xảy ra, theo BS Yi Guan.
( LE FIGARO 6/5/2009)

4/ CHỨNG BÉO PHÌ = NGHIỆN THUỐC LÁ.

Những thiếu niên béo phì có cùng nguy cơ chết sớm ở tuổi trưởng thành như những người hút thuốc lá. Nhận xét này, đã được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu của Viện Karolinska, Thụy Điển, đã căn cứ trên quá trình theo dõi y khoa, trong 38 năm, nơi 45.000 thiếu niên ở tuổi 18 lúc bắt đầu công trình nghiên cứu. Chỉ dấu khối lượng cơ thể (index de masse corporelle), đơn vị đo lường của sự gia tăng thể trọng, đã được đánh giá, cũng như chứng nghiện thuốc lá. Chứng béo phì (obésité), cũng như sự tiêu thụ hơn 10 điếu thuốc mỗi ngày, gia tăng gấp đôi nguy cơ chết sớm, so với một thiếu niên không hút thuốc và có một trọng lượng bình thường.
( LA RECHERCHE 5/2009)

5/ UNG THƯ VÚ : BIPHOSPHONATE CHỐNG TÁI PHÁT ?

BS Marc Spielmann (trưởng khoa ung thư học, bệnh học vú của Viện Gustave-Roussy) bình luận những kết quả dương tính của một thử nghiệm điều trị rộng rãi để ngăn ngừa tái phát ung thư vú.

Hỏi : Một công trình nghiên cứu mới đây, được công bố trong tạp chí khoa học “ New England Journal of Medicine ”, báo cáo những lợi ích của một loại thuốc, zolédronate, để ngăn ngừa sự tái phát của những ung thư vú phụ thuộc hormone (cancers du sein hormono-dépendants). Trước hết, ông có thể giải thích cho chúng tôi những đặc điểm của những khối u ung thư này ?
B Marc Spielmann : Có hai loại ung thư vú : loại phụ thuộc hormone (hormono-dépendants) (60-70% các ung thu vú) và loại không phụ thuộc hormone (non hormono-dépendants). Trong loại phụ thuộc hormone, các ung thư này có những thụ thể (récepteurs, một loại antenne) oestrogène, mà hormone sẽ gắn vào đó để xâm nhập vào trong nhân của tế bào. Và một khi đã vào trong tế bào, các oestrogène này làm dễ sự tăng sinh tế bào, nghĩa là một quá trình ung thư. Vậy, loại ung thư phụ thuộc hormone này có thể được chống lại bằng một điều trị kháng hormone (traitement anti-hormonal), sẽ làm phong bế các thụ thể oestrogène. Trong công trình nghiên cứu này của Áo, tất cả các phụ nữ đều đã có một ung thư phụ thuộc hormone (cancer hormono-dépendant) và sau khi được phẫu thuật, đã nhận một liệu pháp kháng hormone (và một vài bệnh nhân cũng đã nhận hóa học liệu pháp). Ngoài những điều trị này, công trình nghiên cứu nhằm cấp cho các bệnh nhân một điều trị bởi biphosphonate, mà được sử dụng trong trường hợp này là zolédronate.

Hỏi : Thường thường sau phẫu thuật, một điều trị kháng hormone có đủ để ngăn ngừa sự tái phát xuất hiện hay không ?
BS Marc Spielmann : Mặc dầu những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong 20 năm qua, một bộ phận nhỏ các bệnh nhân đã tái phát. Do đó lợi ích cần hiệu chính những trị liệu phòng ngừa mới.

Hỏi : Công trình nghiên cứu của Áo đã diễn biến như thế nào ?
BS Marc Spielmann : Thử nghiệm rộng lớn này đã được thực hiện trên 1803 bệnh nhân không ở trong thời kỳ mãn kinh và đang được điều trị kháng hormone (hoặc bởi tamoxifène, hoặc bởi anti-aromatase + huỷ bỏ buồng trứng bằng hoá học). Cứ hai bệnh nhân có một đã nhận, mỗi 6 tháng, một tiêm truyền tĩnh mạch zolédronate. Những kết quả đầu tiên, ghi nhận được sau 4 năm, đã cho phép nhận xét rằng, nơi những bệnh nhân đã được tiêm truyền biphosphonate, người ta nhận thấy nguy cơ tái phát giảm nơi một phụ nữ trên ba ! Thế là nhiều. Và người ta đã nhận thấy rằng, thuốc này, được cho là chỉ tác dụng độc nhất trên xương, cũng đã tránh được sự tạo thành các di căn nơi những cơ quan khác.

Hỏi : Thật ra tác dụng của biphosphonate là gì ?
BS Marc Spielmann : Điều trị bởi biphosphonate có mục đích là làm giảm sự phá hủy xương. Zolédronate mặt khác đã được sử dụng để chống lại bệnh loãng xương (ostéoporose) bằng cách làm giảm nhiều hoạt tính của những tế bào xương : các hủy cốt bào (ostéoclastes) (xương, cơ quan sống, ở trong tình trạng đổi mới liên tục do sự hoạt động của hai loại tế bào : các tạo cốt bào xây dựng xương và các hủy cốt bào phá hủy xương). Để trả lời câu hỏi của ông, zolédronate có một tác dụng chống di căn bằng cách ngăn cản những tế bào ung thư lưu thông trong máu xâm nhập xương hay những cơ quan khác. Mặt khác, người ta đã khám phá ra rằng, thuốc này, trong những trường hợp di căn xương, tăng cường tác dụng của hóa học liệu pháp. Người ta cũng cho rằng (đó là một giả thuyết) zolédronate ngăn cản ung thư tiến triển bằng cách phong bế các huyết quản nuôi dưỡng nó : hiện tượng kháng sinh huyết quản (phénomène d’anti-angiogenèse).

Hỏi : Trong công trình của Áo này, những tác dụng phụ được nêu lên là những tác dụng nào ?
BS Marc Spielmann : [/b]Người ta chỉ ghi nhận hai trường hợp hoại tử xương (ostéonécrose) của xương hàm và không có một biến chứng nào khác (trên bình diện thống kê, những trường hợp này được xem là ngoại lệ). Phải ghi nhận rằng đó là những phụ nữ trẻ, có thể có ít nguy cơ hơn những phụ nữ mãn kinh lớn tuổi hơn.

Hỏi : Những nguy cơ hoại tử xương này của xương hàm đã không được nêu lên thường xuyên với các điều trị di căn xương hay sao ?
BS Marc Spielmann : Vâng, nhưng đó là một tỷ lệ thấp được quan sát khi các tiêm truyền tĩnh mạch được thực hiện mỗi 3 hay 4 tuần, chứ không phải mỗi sáu tháng. Do đó trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân cần được thăm khám miệng-răng hoàn chỉnh.

Hỏi : Ông có nghĩ rằng những lợi ích được quan sát trong công trình nghiên cứu này của Áo có thể cũng tương tự nơi các phụ nữ mãn kinh hay không ?
BS Marc Spielmann : Vâng, bởi vì nó xác nhận những kết quả của 4 thử nghiệm khác, được thực hiện cách nay vài năm với các biphosphonate khác (được cho bằng đường miệng hay tiêm truyền), trên một số lượng ít quan trọng hơn các bệnh nhân, mãn kinh hay không. Điều trị tỏ ra có lợi trong nhóm nhận biphosphonate.

Hỏi : Hiện nay có những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành với các biphosphonate trên các phụ nữ đã bị ung thư hay không ?
BS Marc Spielmann : Vâng, 3 công trình nghiên cứu (mỗi công trình được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân), được tiến hành từ nhiều năm nay trên những phụ nữ mãn kinh hay không. Những công trình nghiên cứu này nhằm so sánh tác dụng phòng ngừa của 3 loại thuốc của họ biphosphonates : clodronate (mỗi ngày, bằng đường miệng), ibandronate (bằng đường miệng) và zolédronate (bằng đường tĩnh mạch). Những thử nghiệm này sẽ đánh giá sự dung nạp, những nguy cơ gây những tác dụng phụ và hiệu quả của mỗi điều trị. Những kết quả đầu tiên (những kết quả của công trình nghiên cứu với clodronate) sẽ được công bố vào năm 2010, những kết quả khác có lẽ một hay hai năm sau.
( PARIS MATCH 16/4-22/4/2009)

Đọc thêm :


6/ TÔI NHÌN, VẬY THÌ TÔI BƯỚC.

Hãy giữ đứng một trẻ mới sinh ra được vài ngày, đôi chân bé nhỏ đặt trên mặt đất, và hãy quan sát : nó bước ! Mãi đến ngày nay, người ta gọi điều đó là “ phản xạ bước nguyên thủy ” (réflexe de la marche primitive ), được cho là một vết tích của một bước đi cổ (marche archaique ), không được điều khiển bởi não bộ nhưng được phát khởi bởi kích thích xúc giác của đất dưới đôi bàn chân.

Không chắc như vậy, các nhà nghiên cứu của CNRS và của đại học Paris- V-René-Descartes, liên kết với các nhà nghiên cứu của đại học Californie, đã đánh giá như vậy : Họ đã chứng minh rằng khả năng bước này có thể được kích thích bằng thị giác !

Bằng cớ : 48 trẻ sơ sinh đã được nâng lên 50 cm khỏi một mặt phẳng. Rồi thì, lại được nâng lên khỏi một tấm thảm có in hình những hạt đậu đen và trắng, mà em bé có thể phân biệt được. Nếu tấm thảm bất động , em bé không động một ngón chân nào. Trái lại, nếu tấm thảm chuyển động, khi đó em bé bắt đầu đạp chân trong khoảng không !

“ Như thế, lần đầu tiên, người ta chứng tỏ rằng sự nối kết giữa các hệ thị giác và vận động, cần thiết cho cử động bước, được thiết đặt ngay từ lúc sinh ra đời ”, Marianne Barbu-Roth, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.

“ Vậy thì, theo những kết quả này, những rối loạn của hệ thị giác-vận động của đứa bé có thể được phát hiện sớm hơn nhiều so với hiện nay, nhà nữ nghiên cứu đã đảm bảo như vậy. Rồi thì người ta có thể quyết định một điều trị sớm căn cứ trên những kích thích thị giác.”
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009)

7/ GHÉP TẾ BÀO GỐC ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

Phương thức tự ghép (autogreffe) các tế bào gốc lấy trong tủy xương của những bệnh nhân bị bệnh đái đường phụ thuộc insuline (loại 1) đã cho phép những bệnh nhân này tái sản xuất insuline.

Hy vọng mới trong điều trị của bệnh đái đường loại 1. Nhờ một phương thức tự ghép những tế bào gốc (autogreffe de cellules souches), lấy trong tủy xương của chính mình, 23 bệnh nhân đái đường tự nguyện, đã có thể không cần phải nhận các mũi tiêm insuline mỗi ngày, trong 14-50 tháng liên tiếp. Một trong những bệnh nhân đái đường, đã đứng vững trong hơn 4 năm không cần tiêm insuline, 4 bệnh nhân trong 3 năm liên tiếp và 3 bệnh nhân khác trong hai năm. 15 bệnh nhân mới được tuyển mộ nhất, đã được hưởng những cải thiện mới nhất về kỹ thuật do nhóm của G.S Richard Burt, của Northwestern University de Chicago, Illinois, đã luôn luôn không cần đến insuline 19 tháng sau khi can thiệp.

Sau các phương thức ghép những tế bào tụy tạng (greffe de cellules pancréatiques) sản xuất insuline, được thí nghiệm vào đầu những năm 2000, các kỹ thuật ghép tế bào gốc tủy xương (greffe de cellules souches de la moelle osseuse) đã đánh dấu một bước ngoặt mới. Richart Burt công bố trong Journal of the American Medical Association (JAMA) công trình nghiên cứu, được theo dõi trong 3 năm, trên một nhóm 23 bệnh nhân đái đường, tất cả đều đã nhận một kỹ thuật ghép những tế bào gốc.

Ưu điểm đầu tiên của kỹ thuật ghép này : vì bệnh nhân nhận các tế bào của chính mình, nên không cần phải theo đuổi một điều trị nhằm hủy bỏ miễn dịch (traitement immunosuppresseur), trái với điều đã xảy ra với phương pháp ghép những tế bào tụy tạng, điều này cho phép tránh mọi tác dụng phụ. Công trình nghiên cứu hoàn toàn tiền phong và nhiều câu hỏi vẫn chưa được trả lời.

Thí dụ, người ta không biết những tế bào nào của tủy xương có thể được biệt hóa thành những tế bào tụy tạng và có khả năng sản xuất insuline. Có thể đó là những tế bào gốc sinh huyết (cellule souche hématopoiétique) của tủy xương, được biết là biến hóa thành tế bào gan. Một ứng viên khác là một tế bào vừa mới được khám phá, MAPC (cellule progénitrice adulte multipotente) : tế bào này có thể cho những tế bào con của hầu hết tất cả các mô và cơ quan của cơ thể. Người ta cũng không biết những tế bào gốc này sẽ nằm ở đâu.

Đối với những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 1 (số bệnh nhân lên đến khoảng 150.000 người ở Pháp), bệnh được đặc trưng bởi một sự thiếu hụt sản xuất insuline, hormone đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các chất sinh năng lượng, trong đó có glucose của cơ thể. Nói chung, chính sự phá hủy của các tế bào bêta của tụy tạng (trong các đảo nhỏ Langerhans) giải thích sự sụt giảm sản xuất insuline, đôi khi ngay từ tuổi ấu thơ. Nhưng bệnh đái đường cũng có thể do sự đề kháng của các tế bào đối với insuline như trong trường hợp bệnh đái đường loại 2.

CÁC CHẤT CHỈ DẤU ĐẶC HIỆU.

Tụy tạng phải luôn luôn giữ số lượng tế bào bêta không thay đổi, nếu không sẽ xảy ra bệnh đái đường. Do đó vấn đề chủ yếu là sự đổi mới những tế bào này. Thế mà, ngay năm 2003, Markus Stoffel (Rockfeller University, Nữu ước) trong Journal of Clinical Investigation đã đưa ra khả năng rằng trong tủy xương có một nguồn các tế bào tiền bối của những đảo nhỏ Langerhans. Thật vậy, một vài trong những tế bào phát xuất từ tủy xương này biểu hiện các chất chỉ dấu đặc hiệu (marqueurs spécifiques) của các tế bào Langerhans : một gène vận chuyển (Glut-2) và nhiều protéine đặc hiệu của những tế bào tụy tạng này (giúp “ sao chép lại ” ADN thành ARN trong tế bào).

Kết quả của thử nghiệm lâm sàng, được thực hiện bởi G.S Richart Burt có thể làm đảo lộn hoàn toàn việc nghiên cứu trong lãnh vực này. Thật vậy, từ năm 1988, hơn 500 trường hợp ghép những tế bào tụy tạng của những người cho trên những bệnh nhân đái đường phụ thuộc insuline, đã được thực hiện trên thế giới. Nhưng việc giữ gìn và chọn lọc những tế bào được ghép vẫn rất là tế nhị, và các kết quả lâm sàng vẫn ở mức tầm thường : khoảng 11% những bệnh nhân được ghép không cần chích insuline một năm sau khi được ghép. Và tất cả bệnh nhân phải được điều trị hủy bỏ miễn dịch suốt đời, đây không phải là trường hợp của kỹ thuật tự ghép mà Richart Burt đã cổ xướng.
( LE FIGARO 15/4/2009)

8/ NGƯỜI TA TÌM RA NGUYÊN NHÂN CỦA TÓC BẠC.

Thủ phạm gây nên sự bạc trắng mái tóc của chúng ta đã được vạch mặt : đó là peroxyde d’hydrogène (H2O2), cũng còn được gọi là eau oxygénée !.

Các nhà nghiên cứu của đại học Mainz (Đức) và của đại học Bradford (Anh) đã chứng tỏ rằng eau oxygénée, được sử dụng bởi phụ nữ để làm mất màu tóc của họ, được tiết tự nhiên bởi cơ thể con người, và ức chế sự tổng hợp các sắc tố màu, trong đó có mélanine. Bình thường chất này được trung hòa bởi các enzyme, biến đổi nó thành nước và oxy. “ Nhưng với tuổi tác, nồng độ của những enzyme này bị giảm, và do đó nồng độ H2O2 gia tăng ”, Karin Schallreuter, một trong những nhà khoa học của nhóm nghiên cứu đã giải thích như vậy. Peroxyde d’hydrogène khi đó tấn công tyrosinase, một enzyme khác làm phát khởi quá trình tổng hợp mélanine, và ngăn cản nó hoạt động. Đó là điều mang lại hy vọng cho những người bị bệnh bạch biến (vitiligo) (sự mất sắc tố của da), và cho những ai sợ sự xuất hiện của những sợi tóc bạc !
( SCIENCE ET VIE 5/2009)

Đọc thêm :


9/ GHÉP HAI BÀN TAY : BÀN TAY TRÁI PHỤC HỒI NHANH HƠN.

NEUROSCIENCES. Sau khi ghép, não bộ thích nghi và nhận biết các vật ghép (greffons) như là một bộ phận của cơ thể. Những người nhận (receveur) tỏ ra khéo léo tay trái hơn, mặc dầu anh ta thuận tay phải.

Week-end tuần rồi, một bệnh nhân 30 tuổi, bị bỏng nặng sau một tai nạn, đã được ghép mặt và hai bàn tay bởi giáo sư Laurent Lantiéri ở bệnh viện Henri-Mondor de Créteil.

Ngày hôm sau, một công trình nghiên cứu, được đăng tải trong tạp chí của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, và được công bố bởi một nhóm nghiên cứu do Angela Sirigu lãnh đạo, thuộc trung tâm khoa học thần kinh nhận thức (neurosciences cognitives) của CNRS ở Lyon, giải thích làm sao não bộ của người nhận (receveur) có thể hội nhập các chi đã được ghép cho ông ta.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát vỏ não vận động (cortex moteur), nghĩa là vùng não bộ kiểm soát những cử động và biểu hiện bình diện của cơ thể của chúng ta. Giáo sư Jean-Michel Dubernard, người đã thực hiện ở Lyon, vào tháng giêng năm 2.000, phẫu thuật ghép đôi hai bên (greffe double bilatérale) của các bàn tay và cẳng tay đầu tiên, trên Denis Chatelier, cũng đã tham dự vào những công trình này. Kết quả cho thấy rằng, khi một bệnh nhân bị cắt cụt, phần não bộ liên kết với các cơ của bàn tay bị biến mất, dần dần được tái phân phối cho các cơ của cánh tay. Nói một cách khác, các neurone nguyên thủy điều khiển bàn tay, một khi bị cắt cụt, sẽ phụ trách những cử động của cánh tay. Vậy có thể nói có một sự tái phối trí (réaffectation) của các neurone.

KỸ THUẬT KÍCH THÍCH ĐIỆN TỪ XUYÊN SỌ

Khám phá khác : khi một bệnh nhân được ghép một bàn tay, các neurone, không còn phụ trách bàn tay nữa bởi vì bàn tay đã không còn hiện hữu, sẽ được tái hoạt hóa dần dần và phụ trách bàn tay được ghép. “ Những kết quả này rất là gây ấn tượng, Jean-Michel Dubernard đã giải thích như vậy, Tôi nhớ rằng trước phẫu thuật ghép bàn tay đầu tiên vào cuối những năm 1990, các nhà sinh lý thần kinh đã nói rằng bàn tay biến mất khỏi não bộ sau khi bị cắt cụt và rằng nó không thể tái xuất hiện trong vỏ não ! ”. Thế mà, các nhà nghiên cứu đã cho thấy các neurone đã tái hội nhập những bàn tay mới như thế nào.

Nhưng điểm đáng chú ý nhất của công trình nghiên cứu, đó là hai bệnh nhân được ghép, cả hai nguyên thủy thuận tay mặt, lại phục hồi tay trái nhanh hơn nhiều. Đối với bệnh nhân trẻ hơn, việc ưu tiên tay trái này kèm theo một sự hoạt hóa các cơ được ghép sớm hơn nhiều (10 tháng sau khi ghép) trong vỏ não vận động bên phải so với sự hoạt hóa được quan sát trong vỏ não vận động bên trái (26 tháng sau ghép). Đối với bệnh nhân kia, tất cả các cơ được ghép của bàn tay trái đã xuất hiện trong vỏ não vận động bên phải 51 tháng sau phẫu thuật ghép nhưng không như thế trong bàn tay phải (ít khéo léo hơn). Các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật kích thích điện từ xuyên sọ (stimulation magnétique transcrânienne), nhằm gởi những kích thích điện từ vào trong vỏ não vận động của bệnh nhân.

“ Những kết quả này cho thấy những khả năng tạo hình của não bộ (capacité plastique). Hoạt động vỏ não báo trước những năng lực vận động của bàn tay ”, Angela Sirigu đã giải thích như vậy. Tính chất tạo hình (plasticité) khác nhau, được nhận thấy sau ghép, giữa vỏ não vận động bên phải và bên trái, có lẽ là do sự kiện rằng các bệnh nhân sau khi bị cắt cụt đã sử dụng một bàn tay giả (prothèse) đặc biệt là cho bàn tay phải. Việc mang bàn tay giả này có lẽ gây nên khả năng tạo hình ít hơn sau phẫu thuật ghép, các nhà nghiên cứu đã đề xuất ý kiến như vậy. Nhưng lại càng đáng ngạc nhiên khi bàn tay giả cho phép các neurone kiểm soát bàn tay phải tiếp tục hoạt động.

Nhưng nói rằng những bệnh nhân được ghép này đã thay đổi bên thuận tay là hơi nhanh. “ Họ sử dụng bàn tay đã phục hồi nhanh nhất và có hiệu năng nhất ”, Angela Sirigu đã phân tích như vậy. Kết luận của những công trình nghiên cứu này vượt quá phạm vi ghép và có thể giúp thiết lập tốt hơn những phục hồi chức năng, ví dụ đối với những bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Hoạt động vỏ não có thể tiên đoán một bệnh nhân sẽ phục hồi như thế nào. Tính đến ngày hôm nay, người ta đếm được 16 ghép đôi (greffes doubles) và 22 phẫu thuật ghép cho chỉ một bàn tay
(LE FIGARO 11/4-12/4/2009)

Đọc thêm :

10/ KHI THAI NGHÉN LÀM RỐI LOẠN GIẤC NGỦ.

Có thai không luôn luôn ăn nhịp với ngủ ngon. Tỷ lệ mắc phải hội chứng ngừng thở (syndrome d’apnées), liên kết những đợt ngừng hô hấp xảy ra nhiều lần và chứng ngáy về đêm (ronflements nocturnes), với những rối loạn thức tỉnh (troubles de la vigilance) và chứng ngủ gà ban ngày (somnolence nocturne), ảnh hưởng lên khoảng 5% các phụ nữ có thai. Sự lên cân, sự đẩy cơ hoành về phía ngực và sự sung huyết mũi, liên kết với những biến đổi hormone, là bấy nhiêu yếu tố khiến cho những bà mẹ tương lai dễ bị loại rối loạn này.

Ngoài ra, những dữ kiện hiện có gợi ý rằng hội chứng ngừng thở với chứng ngáy về đêm này làm dễ cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén. Tuy nhiên, vấn đề nguy cơ chậm tăng trưởng trong tử cung (retard de crossance intra-utérin), có thể là do một quá trình tiếp vận oxy cho thai nhi thiếu hụt, không được xác lập.

Một chế độ ăn uống và kiêng rượu và những thuốc an thần là hữu ích nhưng điều trị chuẩn vẫn là thông khí dưới áp lực dương liên tục (ventilation en pression positive), nhờ một máy sử dụng về đêm, nhất là trong trường hợp được liên kết bởi chứng béo phì.
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009).


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/5/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#2 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 16 May 2009 - 12:20 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh


1/ TRUNG QUỐC BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP CÚM HEO ĐẦU TIÊN

Một người Hoa trở về nước sau khi theo học tại một đại học Hoa Kỳ, đã trở nên trường hợp cúm heo được nghi ngờ đầu tiên ở Trung Hoa lục địa, Bộ Y Tế đã nói như vậy hôm chủ nhật.

Bộ y tế đã nhận diện bệnh nhân tên là Bao, 30 tuổi, theo học tại một trường ở Hoa Kỳ không được xác định rõ. Anh ta đã được điều trị tại một bệnh viện tỉnh, Chengdu, và đã được cách ly, bộ y tế đã nói như vậy trong một thông báo.

Nếu được xác nhận, trường hợp của Bao sẽ là trường hợp đầu tiên ở Trung Hoa lục địa và trường hợp thứ hai của Trung Hoa trong trận dịch cúm heo toàn cầu. Trước đó, lãnh thổ Hồng Kông của Trung Hoa đã báo cáo một trường hợp cúm heo, được chẩn đoán nơi một người Mễ 25 tuổi, đã bay đến đô thị qua ngã Thượng Hải.

Trong quá khứ, Trung Hoa đã bị cáo buộc là không hành động đủ nhanh chóng để chống lại sự lan tràn của bệnh tật, đặc biệt là trận dịch toàn cầu SARS vào năm 2003. Bị trừng phạt bởi kinh nghiệm này và những đe dọa sau đó bởi cúm gà, lần này chính phủ Trung Hoa đã hành động nhanh chóng và cương quyết để chận đứng sự bùng phát, nhưng một vài biện pháp được đưa ra, gồm việc cấm nhập cảng heo và đình chỉ những chuyến bay trực tiếp từ Mễ Tây Cơ, đã bị chỉ trích là quá đáng. Người Hoa, được báo cáo bị nhiễm cúm heo, đã bay từ Hoa Kỳ qua Nhật Bản. Tuần qua, Nhật đã loan báo những trường hợp được xác nhận của cúm giống gốc mới H1N1 đầu tiên : một thầy giáo và 3 sinh viên trở về nước sau khi đã theo học một trường ở Canada.

Hiện nay, 29 nước đã chính thức báo cáo 4.379 trường hợp cúm heo, Tổ chức y tế thế giới đã nói như vậy hôm chủ nhật trên Web site. Mễ Tây Cơ đã báo cáo 1.626 trường hợp cúm được xác nhận, bao gồm 45 trường hợp tử vong, trong khi Hoa Kỳ đã báo cáo 2.254 trường hợp được xác nhận bởi xét nghiệm, bao gồm 2 trường hợp tử vong.

Úc đã báo cáo trường hợp đầu tiên hôm thứ bảy nơi một phụ nữ được nói là không còn gây nhiễm nữa. Bà ta ghi nhận những triệu chứng đầu tiên khi đi du lịch ở Hoa Kỳ. Tân Tây Lan ghi nhận thêm hai trường hợp hôm thứ bảy, đưa tổng số lên 7 trường hợp. Hai học sinh trung học tháng rồi đã trở về sau khi du học ở Mexico. Na Uy đã báo cáo hai trường hợp đầu tiên được xác nhận : một đàn ông và một phụ nữ đã lưu lại ở Mexico. Ở Canada, các viên chức đã nói rằng 500 con heo bị cúm heo đã bị hạ sát.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 11/5/2009)

VIRUS H1N1 ĐANG THẮNG THẾ Ở HOA KỲ.

Sự thoái bộ của H1N1 đã được xác nhận ở Mễ Tây Cơ, tổng số các trường hợp hôm qua là 1319. Từ nay Hoa Kỳ ghi nhận nhiều trường hợp được xác nhận hơn Mễ Tây Cơ. CDC d’Atlanta hôm qua đã tính được 1639 trường hợp được xác nhận, hoặc 743 trường hợp nhiều hơn hôm qua và trong 43 tiểu bang.

“ Sự gia tăng gần như gấp đôi này không phản ảnh một sự gia tốc của dịch bệnh mà đúng hơn là một công tác điều tra phát hiện được thực hiện tốt hơn ”, Dave Daigle, phó giám đốc của CDC đã tuyên bố như vậy.

Virus cũng tiến triển trong phần còn lại của thế giới, 25 nước đã bị liên lụy. OMS hôm qua đã kiểm kê được 2384 trường hợp và 44 tử vong : hai ở Hoa Kỳ và phần còn lại ở Mễ Tấy Cơ.

Đứng trước nguy cơ đại dịch thế giới, các nhà lãnh đạo các nước Á Châu đã huy động và quyết định hợp tác với nhau. Họp hôm qua ở Bangkok, 10 vị bộ trưởng Y Tế của Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (Asean), kể cả Trung Quốc, Nhật bản và Nam Triều Tiên, đã thoả thuận gia tăng trữ lượng thuốc men của họ để chống lại cúm A. Các vị bộ trưởng đã ghi nhận rằng phần lớn các nhà máy sản xuất 350 triệu liều mỗi năm nằm ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Họ đã nhấn mạnh rằng “ sự tiếp cận được với những vaccin hiệu quả là một vấn đề quan trọng trong vùng ”, và kêu gọi sự chuyển giao kỹ thuật, cho phép châu Á sản xuất những vaccin cho chính họ.

Các nước châu Á đã loan báo rằng họ sẽ chia xẻ những phương tiện của họ trong trường hợp cấp cứu. Hiện nay, Á Châu tương đối không bị ảnh hưởng bởi H1N1, nhưng một sự biến dị khả dĩ của virus H1N1 với H5N1 có độc lực cao, làm lo ngại những nhà khoa học.
(LE FIGARO 9/5-10/5/2009)

BỈ CŨNG KHÔNG THOÁT KHỎI SỰ LAN TRÀN CỦA CÚM MEXICO.

Như đã dự đoán : nước Bỉ đã không thoát khỏi sự lan tràn của cúm mexico. Trường hợp đầu tiên đã được phát hiện hôm thứ tư nơi một người đàn ông 28 tuổi . Anh thanh niên này đã đi Hoa Kỳ ngày 27/4 và lưu lại khoảng 10 ngày ở Nữu Ước rồi ở Chicago. Khi anh đáp máy bay xuống Bruxelles ngày 11/5, anh đã cảm thấy những triệu chứng đầu tiên của cúm. Anh ta đã thăm khám thầy thuốc ngày hôm sau và phân tích dương tính : đúng là virus A (H1N1). Bệnh nhân vẫn còn ở tại nhà sau khi tin xấu được được loan ra, và sau đó anh ta tức thời được chuyển đến bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles (trung tâm điều trị được quy định đối với loại cúm này). Anh ta đã được cách ly, theo đúng thủ tục được dự kiến bởi OMS. Hiện nay Thanh tra vệ sinh đang tìm kiếm tất cả những người đã tiếp xúc với anh ta, gia đình, bạn bè, nhưng cũng những hành khách khác. Trường hợp này tức thời được Bỉ báo cáo cho giới hữu trách châu Âu có nhiệm vụ theo dõi sự lan tràn của bệnh cúm.
(LE SOIR 14/5/2009)

2/ VACCIN CHỐNG BỆNH CÚM CÓ LẼ SẼ BAO GỒM VIRUS H1N1.

[i]Pandémie. G.S Bruno Lina, giám đốc của trung tâm nghiên cứu bệnh cúm ở miền nam nước Pháp (Lyon), giải thích rằng thuốc chủng chống cúm sắp đến “ có lẽ ” sẽ chứa một giống gốc chống lại virus H1N1 mới. Tất cả những phòng bào chế lớn chuyên về các vaccin sẽ thực hiện việc chế tạo này.

Hỏi : Vaccin chống cúm mùa sắp đến có sẽ bảo vệ chống lại virus H1N1 vừa xuất hiện ở Mễ Tây Cơ hay không ?
G.S Bruno Lina : Có lẽ là như vậy. Thành phần của vaccin chống cúm được xác định mỗi năm bởi OMS, tùy theo các giống gốc của virus cúm lưu hành trên thế giới. Vaccin hiện nay bảo vệ chống lại 3 loại virus : H1N1 (một virus phát xuất từ cúm Tây Ban Nha), H3N2, và một virus thứ ba của nhóm B. Kể từ lúc một giống gốc mới H1N1 lưu hành, cần phải đưa giống gốc mới này vào trong vaccin sắp đến. Vào giai đoạn đó, có thể có hai chiến lược chính yếu. Hoặc người ta thay thế một trong 3 giống gốc của vaccin chống cúm mùa hiện nay. Hoặc người ta chỉ sản xuất một vaccin duy nhất chống giống gốc mới H1N1. Giải pháp sau này có thể được thực hiện nếu một trận đại dịch cúm giống gốc mới H1N1 lan rộng. Vào lúc đại dịch dày đặc với một giống gốc mới, những virus khác sẽ ngừng lưu hành rõ rệt, như thể không còn đủ chỗ cho tất cả virus. Chính OMS sẽ quyết định việc lựa chọn này. OMS hiện còn từ 15 ngày đến 3 tuần để quyết định, và sẽ căn cứ trên tiến triển của dịch bệnh.

Hỏi : Có phải người ta đã bắt đầu công tác chế tạo một vaccin chống giống gốc mới H1N1 này ?
G.S Bruno Lina : Ứng viên vaccin chống lại H1N1 đang được bào chế trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu làm việc với OMS. Giống gốc, được dùng cho vaccin, sẽ sẵn sàng trong khoảng một tuần nữa. Sau đó vaccin sẽ được gởi cho các nhà công nghiệp dược phẩm và họ sẽ bắt đầu phát động sản xuất, nghĩa là nơi các Hãng Sanofi, GlaxoSmithKline, Novartis… Một khi quá trình sản xuất được phát khởi, còn phải cần 15 tuần hoặc 4 tháng thì vaccin mới có sẵn sàng để sử dụng. Nhiều nước đã đề nghị để mua một số lượng vaccin. Thí dụ Pháp đã ở trong tư thế sẵn sàng để tiêm chủng cho 40 triệu người chống lại H1N1. Còn phải nhiều bàn cãi để xác định chiến lược cần thực hiện và để biết xem người ta sẽ quyết định sản xuất một vaccin đơn chủng (vaccin monovalent) hay tam chủng (trivalent) (với giống gốc mới). Chỉ có tiến triển của đại dịch trong những tuần đến, và nhất là số những trường hợp được báo cáo trong nam bán cầu (sẽ là một dấu hiệu xấu nếu số trường hợp cao), sẽ cho phép có một quyết định như vậy.

Hỏi : Tại sao chúng ta không thể sản xuất hai loại vaccin đồng thời để có sự lựa chọn tùy theo tình hình ?
G.S Bruno Lina : Khả năng sản xuất vaccin trên thế giới không phải là vô giới hạn. Các khả năng của các nhà công nghiệp dược phẩm không có thể giãn rộng lắm. Có thể nói, chúng ta đang ở trong một hệ thống bình thông nhau : nếu người ta chế tạo nhiều hơn loại vaccin này thì sẽ phải làm ít hơn với loại vaccin kia. Để có được một vaccin, phải có một số lượng lớn trứng gà phôi thai. Virus hoàn toàn sống được tiêm vào trong trứng, ở đó nó tăng sinh rất nhanh chóng. Sau một khoảng thời gian nào đó, chất dịch chứa các virus được thu lượm và được tinh lọc bằng những phương pháp rất nghiêm túc. Sau cùng, virus “ bị đập vỡ ” (cassé), điều này cho phép có được một vaccin được cấu tạo bởi virus đã bị giết chết. Thoạt đầu, kỹ thuật sản xuất này có hiệu quả đối với H1N1. Nhưng hiệu năng của phương pháp này thay đổi tùy theo virus.

Hỏi : Ông có chắc là một đại dịch sẽ phát khởi hay không ? Tại sao tỷ lệ tử vong ở Mễ Tây Cơ cao như vậy ?
G.S Bruno Lina : Chúng ta còn đứng trước một hiện tượng mới, với nhiều điều không chắc chắn. Chỉ có thời gian mới cho phép biết được là trận đại dịch sẽ xảy ra lâu dài hay không. Về số tử vong cao ở Mễ Tây Cơ, có lẽ là do sự việc đã có nhiều người bị lây nhiễm hơn nhiều những trường hợp đã được báo cáo. Nếu người ta cho rằng bệnh cúm này là nguyên nhân của một tử vong trên 1000 người bị nhiễm trùng, và rằng đã có 42 trường hợp tử vong, ta có thể nghĩ rằng đã có một số người quan trọng hơn nhiều đã bị nhiễm bởi bệnh cúm này ở Mễ Tây Cơ, trước khi căn bệnh mới được nhận diện.

(LE FIGARO 7/5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay...gNguaCumHeo.htm
http://www.yduocngay..._News_nr101.htm (TSYH 101, bài số 7)

3/ TỪ VIRUS ĐẾN VACCIN…QUA TRỨNG GÀ.

BA GIAI ĐOẠN
  • Xác định vaccin : OMS xác định thành phần của vaccin trên cơ sở các giống gốc chiếm ưu thế của mùa đông vừa qua.

  • Chủng trứng gà :Các phòng bào chế dược phẩm bắt đầu điều chế các vaccin từ trứng gà được thụ thai.

  • Làm trở nên vô hại : Sau thời gian ủ 4-5 ngày, vaccin được thu hoạch và được làm trở nên vô hại.

Từ một giống gốc mới của virus cúm, cho đến khi chế tạo vaccin cho phép bảo vệ chống lại nó, các chuyên gia ước tính rằng sẽ cần một thời hạn 6 tháng.

Đó là thời gian, được đòi hỏi bởi các công nghiệp dược phẩm mỗi năm, để sản xuất vaccin chống lại cúm mùa (grippe saisonnière). Thật vậy vaccin này phải được thích ứng suốt trong năm, vì lẽ các virus influenza biến dị nhanh chóng và thường xuyên, do đó cấu trúc sinh kháng nguyên của chúng cũng bị biến đổi. Hiện tượng này, được gọi là “ trôi giạt sinh kháng nguyên ” (dérive antigénique), là nguyên nhân của sự xuất hiện những giống gốc mới của virus cúm. Việc chế tạo một vaccin chống lại những giống gốc này phải qua một số giai đoạn bắt buộc, do đó cần phải có một thời gian tối thiểu là điều không thể tránh được.

Tổ chức Y tế thế giới, vào tháng hai tháng ba mỗi năm, sẽ xác định, trên cơ sở các giống gốc nổi trội đã lưu hành trong suốt mùa đông năm trước, những giống gốc nào sẽ có mặt trong thành phần của vaccin sắp đến. Luôn luôn đó là hai virus influenza loại A, H1N1 và H3N2, cũng như một giống gốc loại B. Đối với mùa đông 2009-2010, trong bắc bán cầu, ba thành phần này đã được biết : A/ Brisbane/59/2007, A/Brisbane/10/2007 và B/Brisbane/60/2008, hai giống gốc đầu đã hiện diện trong vaccin đang dùng hiện nay.

Chỉ khi các giống gốc này đã được nhận diện, các phòng bào chế dược phẩm mới có thể phát động sự bào chế các vaccin. Để làm được điều này, họ phải dùng hàng triệu trứng gà được thụ tinh. Xuất phát từ chim, các virus loại influenza tăng sinh rất có hiệu quả nơi gà tơ và nhất là càng tốt hơn nơi các phôi thai của những động vật này. Vậy trứng gà là một chất nền lý tưởng và kinh tế để có được những lượng lớn virus : một quả trứng có thể chứa hàng triệu các hạt virus, sẽ được dùng để chế biến hàng chục liều vaccin.

Nhưng các virus không thể được cho nguyên như vậy nơi các bệnh nhân. Trước hết chúng phải được làm vô hại. Thật vậy, tất cả sự tinh tế của một vaccin là ở chỗ nó sinh miễn dịch (immunogène) nhưng phải không sinh bệnh (apathogène). Nói rõ hơn : vaccin phải gây nên một đáp ứng miễn dịch khiến cơ thể sản xuất các kháng thể chống lại các virus được nhắm vào, nhưng không gây nên nhiễm trùng bởi virus này.

Như vậy, sau 4-5 ngày tiềm phục trong trứng, các hạt siêu vi trùng (particules virales) được thu nhận và xử lý trước khi được làm bất hoạt. Hợp chất hóa học, được sử dụng với những liều lượng thấp cho mục đích này, cho phép “ giết chết ” con virus nhưng đồng thời gìn giữ cấu trúc sinh kháng nguyên của nó. Các phòng bào chế dược phẩm sau đó tiền hành thanh lọc và tách rời các hạt virus bằng phương pháp ly tâm để tách riêng các kháng nguyên cần đưa vào vaccin.

Một khi giai đoạn này đã được thực hiện đối với 3 giống gốc virus được chọn lọc bởi OMS, các kháng nguyên của mỗi trong 3 giống gốc này được trộn lẫn với nhau theo những tỷ lệ thích đáng. “ Hỗn hợp ” thu được như thế sau đó được tích trữ từng liều trong các ống tiêm. Trước khi được thương mãi hóa, chắc chắn là vaccin phải được trắc nghiệm. Nếu vaccin tỏ ra có hiệu quả, thì chính giới hữu trách sẽ bật đèn xanh cho các phòng bào chế dược phẩm đưa vaccin ra thị trường.

Từ lúc cúm gia cầm H5N1 phát khởi vào cuối năm 2003, các nghiên cứu để tìm một vaccin chống lại một cúm đại dịch đã được tăng cường mạnh mẽ. Nhưng các chuyên gia phải chăng đã bị lầm mục tiêu ? Những nghiên cứu nhằm vào H5N1 phải chăng cũng có lợi để chống lại sự phát sinh của những giống gốc khác có tiềm năng nguy hiểm ? Theo Etienne Thiry, G.S Đại Học Liège, sự nghiên cứu và phát triển một vaccin chống cúm đại dịch đã được hướng vào sự chế tạo các vaccin có thể thích ứng “ theo mong muốn ”, trong đó các phòng bào chế có thể đặt kháng nguyên của bất cứ giống gốc nào của virus cúm.
(LE SOIR 29/4/2009)

Đọc thêm :
http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenthuongc...mheodotbien.htm

4/ BA KHÁNG THỂ CÓ THỂ MANG LẠI MỘT VŨ KHÍ CHỐNG CÚM.

Các nhà nghiên cứu của Havard Medical School, Boston, Hoa Kỳ, có lẽ đã khám phá một vũ khí mới chống cúm. Vũ khí này dựa vào việc hiệu chính của 3 kháng thể tổng hợp hoạt động chống lại nhiều loại virus cúm. Thật là đúng lúc, bởi vì Tamiflu, một trong những thứ thuốc duy nhất hiện có, đang càng ngày càng trở nên mất tác dụng : 98% các mẫu của giống gốc đã tấn công vào Hoa Kỳ mùa đông này, đề kháng với nó. 3 kháng thể được sản xuất liên kết với hémagglutinine, một protéine bề mặt của virus. Protéine này có một cấu trúc di truyền tương đối ổn định, điều này làm cho 3 kháng thể hiệu quả chống lại nhiều giống gốc. Những trắc nghiệm đầu tiên trên chuột cho những kết quả dương tính.

Trong trường hợp thành công trên người, những kháng thể này có thể được sử dụng như là một điều trị khẩn cấp nhằm dập tắc một khởi đầu đại dịch cúm gà hay điều trị những người có nguy cơ (những người già, những người bị suy giảm miễn dịch..) trong dịch cúm mùa.
( SCIENCES ET AVENIR 4/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay..._News_nr120.htm (TSYH 120, bài số 7)
http://www.yduocngay..._News_nr115.htm (TSYH 115, bài số 1)

5/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : HƯỚNG VỀ NHIỀU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH ĐỐT SỐNG (VERTEBROPLASTIE) HƠN.

Một kinh nghiệm lâu dài trong kỹ thuật tiêm chất ciment vào trong một đốt sống bị loãng xương đã cho phép chứng minh những lợi ích của phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie). BS Valérie Bousson, thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến can thiệp (radiologue interventionnel) khớp xương thuộc bệnh viện Lariboissière, giải thích kỹ thuật này.

Hỏi : Các “ gãy lún đốt sống ” hay “ tassements vertébraux ” có thường xảy ra không ?
BS Valérie Bousson : Vâng, ở Pháp người ta ghi nhận được 50.000 trường hợp mỗi năm. Trong suốt cuộc đời mình, cứ 6 phụ nữ trên 50 tuổi thì có một sẽ có một hay nhiều gãy đốt sống (fracture vertébrale), sau thời kỳ mãn kinh (sự hạ thấp nồng độ œstrogène đưa đến sự mất xương dần dần).

Hỏi : Những hậu quả của những gãy xương này là gì ?
BS Valérie Bousson : Những gãy đốt sống không phải luôn luôn gây đau. Có khi người ta khám phá tình cờ nó trên một phim chụp quang tuyến. Thường thường, các gãy đốt sống gây nên những đau đớn dữ dội, làm giới hạn các cử động và, khi các cơn đau quá mạnh, bệnh nhân phải nằm liệt giường.

Hỏi : Người ta điều trị gãy đốt sống như thế nào ?
BS Valérie Bousson : Bệnh nhân được khuyên bất động lưng bằng cách nằm dài trên giường và mang một áo nịt (corset). Thời gian nghỉ ngơi trên giường phải càng ngắn càng tốt vì, nếu kéo dài, sự liệt giường làm dễ sự mất xương, tan cơ và dễ gây những biến chứng. Đồng thời cho các thuốc giảm đau.

Hỏi : Những kết quả thu được với điều trị đầu tiên này là gì ?
BS Valérie Bousson : Trong hầu hết các trường hợp, gãy xương dính (consolider) và các cơn đau biến mất trong ba tuần hay một tháng. Những đốt sống bị thương tổn, lúc bị xập xuống, mất đi chiều cao. Và nếu nhiều đốt sống bị gãy, chứng gù lưng (cyphose) sẽ xuất hiện.

Hỏi : Khi nào có chỉ định phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie) ?
BS Valérie Bousson : Chỉ định được đưa ra bởi những thầy thuốc chuyên khoa về khớp và được bàn bạc với nhóm quang tuyến can thiệp (radiographie interventionnelle). Nói chung phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie) được chỉ định trong 3 trường hợp. 1. Khi các thuốc chống đau không đủ hiệu quả hay khi chúng bị chống chỉ định hay gây nên những tác dụng phụ khó chịu. 2. Khi người ta sợ những biến chứng do tình trạng nằm liệt kéo dài. 3. Khi những đau đớn kéo dài hơn một tháng, điều này chứng tỏ gãy xương không dính (consolidation). Nhưng trước khi dự kiến một phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie), sau khi chụp quang tuyến, bệnh nhân phải được chụp IRM, sẽ cho phép xác nhận rằng gãy lún đốt sống (tassement vertébral) đúng là do sự loãng xương (ostéoporose) và cho phép thấy rất chính xác thương tổn của đốt sống do sự hiện diện của phù nề. Sự vắng mặt của phù nề chứng tỏ rằng gãy xương đã cũ, nghĩa là không phải là nguyên nhân của sự đau đớn.

Hỏi : Cuộc phẫu thuật diễn ra như thế nào ?
BS Valérie Bousson : Bệnh nhân được đặt nằm ngửa. Loại gây mê tùy thuộc vào tình trạng tổng quát của bệnh nhân và số các đốt sống phải dính (consolider) : chỉ cần gây tê tại chỗ nếu chỉ có một đốt sống. Khi có nhiều, gây mê toàn thân mang lại sự thoải mái tốt hơn. Trước hết, phẫu thuật viên thực hiện hai đường xẻ da nhỏ 5 mm, ở hai bên đốt sống. Sau đó, dưới sự kiểm soát quang tuyến, ông ta đưa hai chiếc kim vào trong thân đốt sống và qua trung gian những chiếc kim này, trong vài phút, ông ta sẽ tiêm dần dần chất ciment. Trên màn ảnh, người ta có thể theo dõi rất chính xác sự phân bố của chất ciment.

Hỏi : Những hậu phẫu có thể xảy ra là gì?
BS Valérie Bousson : Thường thường những đau đớn, đã biện minh cho can thiệp ngoại khoa, dừng lại ngay sau khi bệnh nhân trở về phòng. Những công trình nghiên cứu đã cho phép nhận thấy, trong 80 % các trường hợp, một sự giảm mạnh, hay một sự biến mất những đau đớn và một sự cải thiện của khả năng vận động. Những lợi ích này khuyến khích các thầy thuốc khoa thấp khớp, tin tưởng hơn, thường nhờ đến kỹ thuật này. Với những phẫu thuật viên có kinh nghiệm, tỷ lệ những nguy cơ của phẫu thuật tạo hình đốt sống là tối thiểu. Các rò ciment ra ngoài các thân đốt sống thường không có những hậu quả nghiêm trọng.

Hỏi : Có một cải thiện kỹ thuật để tránh nguy cơ rò này không ?
BS Valérie Bousson : Vâng. Mới đây, một kỹ thuật, cyphoplastie, đã được hiệu chính. Vào lúc đầu can thiệp, phương thức này nhằm đưa vào trong đốt sống hai quả bóng nhỏ, sau đó được bơm phồng lên để mang lại chiều cao cho đốt sống, rồi được rút ra để phẫu thuật viên bơm ciment vào trong khoang mới được tạo ra. Sự can thiệp này (cyphoplastie) hiện nay là đối tượng của một công trình nghiên cứu quốc gia nhiều trung tâm rộng rãi, so sánh những kết quả của nó với những kết quả của phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie).
( PARIS MATCH 23/4-29/4/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay..._News_nr117.htm (TSYH 117, bài số 3)
http://www.yduocngay..._News_nr104.htm (TSYH 104, bài số 5).

6/ ¼ NHỮNG NGƯỜI VỚI HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH BỊ NHỮNG RỐI LOẠN NHẬN THỨC.

SIDA. Mặc dầu một nhiễm trùng được kiểm soát tốt bởi điều trị, 24% những người huyết thanh dương tính (séropositifs) bị những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs). Nơi những người trên 60 tuổi, cứ hai người có huyết thanh dương tính thì có một bị liên quan bởi vấn đề này.

Người ta biết từ lâu rằng nhiễm trùng bởi virus sida có thể gây nên những chứng sa sút trí tuệ. Ngày nay, loại rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) quan trọng này đã giảm sút nhiều nhờ các điều trị kháng rétrovirus, kiểm soát tốt sự nhiễm trùng. Nhưng theo những kết quả sơ khởi của nhiều công trình nghiên cứu được trình bày đầu tháng hai nhân Hội nghị thế giới về rétrovirus, thì không phải như vậy đối với những rối loạn nhận thức mức độ trung bình, ảnh hưởng lên sự chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, hay cả khả năng thực hiện một kế hoạch. Những rối loạn này có thể ảnh hưởng lên đời sống hàng ngày bằng cách gây nên, thí dụ, những lãng quên trong việc uống thuốc.

“ 80% những người huyết thanh dương tính đang được điều trị kháng rétrovirus, có loại rối loạn này, theo những kết quả đầu tiên của công trình nghiên cứu của chúng tôi, được thực hiện trên 230 người huyết thanh dương tính, tuổi trung bình 46 ”, Genevière Chene, nhà dịch tễ học chuyên về virus sida của đại học Bordeaux đã loan báo như vậy. Nhóm nghiên cứu của Jacques Gasnault, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh chuyên về virus, thuộc bệnh viện Bicêtre trong vùng Paris, đã tập trung vào những người huyết thanh dương tính lớn tuổi. “ Chúng tôi đã quan sát thấy những rối loạn nhận thức mức độ trung bình nơi 49% trong số 37 bệnh nhân hơn 60 tuổi được khảo sát, trong khi chỉ 3% những người ở lứa tuổi này bị những rối loạn nhận thức trong dân chúng nói chung , ông đã xác nhận như vậy. Sự khác nhau rất là quan trọng.” Làm sao giải thích những con số đáng hãi hùng này ?. Mặc dầu sự nhiễm trùng nơi những bệnh nhân này được kiểm soát tốt bởi các thuốc kháng rétrovirus đến độ phần lớn virus không thể được phát hiện trong máu với những phương pháp chuẩn.

Hai giả thuyết đáng lưu ý. Trước hết, người ta biết rằng virus gây bệnh sida, ngay với lượng nhỏ, cũng có thể duy trì một phản ứng viêm não. Phản ứng viêm này có thể là nguồn gốc của những rối loạn nhận thức. Mặt khác, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ tiết lộ rằng những người huyết thanh dương tính mặc dầu được điều trị, nhưng virus vẫn còn có thể phát hiện được với lượng rất nhỏ trong nước não tủy bao quanh não bộ và tủy sống, có nhiều rối loạn nhận thức hơn.

Nhưng những thuốc kháng rétrovirus cũng bị nghi ngờ. Thật vậy, một vài trong những thuốc này được biết là gây nên những phản ứng oxy hóa mạnh mẽ, hoặc một sự lão hóa tế bào bị tăng nhanh, cũng có thể góp phần vào sự xuất hiện những rối loạn loạn nhận thức này. Theo Jacqueline Capeau, thuộc trung tâm nghiên cứu Saint-Antoine, Paris : “ Nếu những giả thuyết này được kiểm tra là đúng như vậy, thì chiến lược điều trị sẽ phải nhằm cho những thuốc kháng rétrovirus đi vào tốt hơn trong não bộ để chống lại virus ở đó, nhưng với những tác dụng phụ nói trên được giới hạn hơn.”
(LA RECHERCHE 5/2009)

7/ NHỮNG “ THỨC ĂN CHỐNG UNG THƯ ” : GIỮA HỨA HẸN VÀ THỰC TẾ

NUTRITION.

Ăn quả hồ đào (noix) làm giảm nguy cơ bị ung thư, uống rượu vang kéo dài tiên lượng của vài loại ung , v…v. Bấy nhiêu lời quảng cáo cần phải thận trọng.

Các ấn bản khoa học thường báo cáo những lợi ích đối với sức khỏe của thức ăn này hoặc thức ăn kia, đôi khi gieo sự bối rối vào trong đầu óc của những người tiêu thụ. Tuần này, nhiều báo cáo, được trình bày ở Denver (Colorado), tại hội nghị hàng năm của Hiệp hội nghiên cứu về ung thư Hoa Kỳ, đã gây nhiều tiếng vang.

Một công trình nghiên cứu của đại học Yale gợi ý rằng một sự tiêu thụ có mức độ rượu vang cải thiện tiên lượng của những lymphome non hodgkinien, một dạng ung thư của hệ bạch huyết. Trong số 546 phụ nữ bị những ung thư này, những phụ nữ, đã uống một ít rượu vang (6 ly mỗi tháng) trước khi xuất hiện bệnh, đã có một tỷ lệ sống còn 76% sau 5 năm, so với 68% nơi những phụ nữ không uống.

Một công trình nghiên cứu khác của Hoa Kỳ, được trình bày ở cùng hội nghị, đã kết luận rằng một chế độ ăn uống giàu quả hồ đào (noix) sẽ làm giảm sự xuất hiện của những ung thư vú. Trong một nhóm các động vật gặm nhấm, được chương trình hóa để làm phát triển những ung thư tuyến vú, một vài con đã được cho một chế độ ăn uống giàu hồ đào (tương đương với 56g/ngày đối với một con người). Sau một thời gian năm tháng, tất cả các động vật chứng đều có một khối u, trong khi sự xuất hiện của những ung thư này đã bị làm chậm lại ít nhất 3 tuần trong nhóm hồ đào. Tác dụng bảo vệ là do hồ đào có nhiều chất phytostérols (chất kháng cholestérol có trong thiên nhiên) và các axit béo oméga 3.

Hai thí dụ trong số những thí dụ khác. Văn liệu y học mới đây đầy dẫy những bài báo nói về những đặc tính chống ung thư của brocolis, nhiều con chủ bài của canneberge hay là tác dụng kháng cholestérol của những quả hồ đào macadamia.

KHÔNG NÊN ĐÓNG VAI NHỮNG NGƯỜI HỌC NGHỀ PHÙ THUỶ.

Nhưng một trong những trục nghiên cứu tích cực nhất về những mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sức khỏe, liên quan đến những thức ăn giàu axít béo oméga 3. Một mặt, đó là những dầu thực vật như dầu colza hay huile de noix, chứa axít alpha linolénique và, mặt khác, những hải sản, nguồn gốc của hai axit béo khác (EPA và DHA).

Những tác dụng bảo vệ tim của các oméga 3 được xác lập. Các nhà nghiên cứu cũng khảo sát vai trò của chúng trong sự phát triển não bộ của thai nhi và trong sự ngăn ngừa chứng béo phì trẻ em, nhờ những công trình nơi các phụ nữ có thai. Người ta biết rằng các ung thư vú, đại tràng và tiền liệt tuyến được liên kết với một sự bất quân bình do sự cung cấp năng lượng thặng dư, và chế dò ăn uống quá nhiều mỡ, GS Philippe Bougnoux, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của CHU de Tour đã giải thích như vậy. Thí dụ, đối với ung thư vú, hơn 70 công trình nghiên cứu dịch tễ học đã được thực hiện, nhưng không có một công trình nào da có thể xác nhận một cách chính thức rằng một axít béo được liên kết với một nguy cơ cao hơn hay thấp hơn mắc phải ung thư.

Nhưng trong lúc khảo sát, nơi các phụ nữ được mổ ung thư vú, những mẫu mô mỡ mà các axít béo phản ánh các cung cấp dinh dưỡng đã qua, G.S Bougnoux đã xác định các profil lipide có nguy cơ làm tái phát ung thư.Nguy cơ này tỷ lệ nghịch với sự dồi dào trong mô mỡ acide linolénique, oméga 3, thí dụ được chứa trong quả hồ đào (noix). Với nguyên tắc này, nhóm nghiên cứu của G.S Bougnoux đã hiệu chính một trắc nghiệm định lượng vai trò của dinh dưỡng đối với nguy cơ mắc phải ung thư vú. “ Công trình khảo sát này có thể cho phép thực hiện sự phòng ngừa nguyên phát của ung thư này, bằng cách nhận diện những phụ nữ có nguy cơ dinh dưỡng cao và bằng cách biến đổi chế độ ăn uống của họ, nhà nghiên cứu đã đánh giá như vậy.

“ Ăn nhiều quả hồ đào, cá hay dầu colza, tại sao không. Không có gì là nguy hiểm , G.S Bougnoux đã kết luận như thế. Ngược lại, không nên học làm phù thủy khi sử dụng các viên thuốc oméga mà không kiểm soát. ”
(LE FIGARO 24/4/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay..._News_nr113.htm (TSYH 113, bài số 10)

8/ VIÊN THUỐC NHỎ VÀ HIỆU QUẢ LỚN LÊN TIM.

Một cocktail gồm các hoạt chất, được chứa trong một viên thuốc duy nhất, được đặt tên là Polycap để ngăn ngừa những bệnh tim mạch, một giấc mơ của thầy thuốc khoa tim ? Vâng, nhưng là một giấc mơ có thể trở thành hiện thực. Sự công bố và trình bày, tại American College of Cardiology (Orlando, 4/2009), những kết quả đầu tiên của công trình nghiên cứu Tips (The Indian Polycap Study) đã xác nhận phương thức này. Theo một công trình, được tiến hành ở Ấn Độ, 2.000 người không có tiền sử tim mạch nhưng có ít nhất một yếu tố nguy cơ (thuốc lá, béo phì...), đã uống trong nhiều tháng Polycaps, một viên thuốc chứa 5 hoạt chất (một chất kháng cholestérol, 3 chất chống cao áp, và aspirine). Kết quả : một sự giảm quan trọng của huyết áp (- 7mmHg), của nồng độ cholestérol và của triglycéride. Ngoài ra Polycaps cũng hiệu quả như 5 viên thuốc được uống riêng rẻ và những tác dụng phụ cũng đã không gia tăng.

Tác giả chính của công trình nghiên cứu này, BS Salim Yusuf, thuộc đại học McMaster ở Hamilton (Canada), đưa ra giả thuyết cho rằng viên thuốc này có thể làm giảm một nửa các tai biến tim mạch. Tuy nhiên đó là một phỏng đoán còn cần được chứng minh. Dầu sao đi nữa, viên thuốc này sẽ không có thể thay thế sự phòng ngừa dựa trên một chế độ ăn uống lành mạnh, sự thực hiện một hoạt động vật lý và sự giảm nghiện thuốc lá. Nhóm nghiên cứu dự kiến theo đuổi công trình nghiên cứu của mình. Nhưng vẫn còn phải cải thiện việc dùng thuốc lâu dài trong điều trị : 18% các bệnh nhân đã bỏ thuốc nửa chừng.
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay..._News_nr120.htm (TSYH 120, bài số 1)

9/ NHỒI MÁU CƠ TIM : ĐỪNG LƠ LÀ NHỮNG CƠN ĐAU NGUC ĐẦU TIÊN.

CARDIOLOGIE.

Những người đàn ông tuổi từ 50 đến 60 và những phụ nữ trên 75 tuổi, ngay những dấu hiệu báo động, vẫn còn chờ đợi dài lâu trước khi gọi Samu.

Việc gọi cấp cứu số 15 còn ít được sử dụng, điều trị thuốc men không được đầy đủ, đặc biệt là nơi những người trên 75 tuổi. Vẫn còn nhiều điều phải làm để tối ưu hóa việc điều trị nhồi máu cơ tim ở Pháp, theo những dữ kiện được trình bày cách nay vài ngày bởi HAS (Haute Autorité de santé). Vào năm 2007, HAS đã thiết đặt một chương trình rộng lớn để cải thiện việc điều trị những bệnh tim này, liên quan mỗi năm ở Pháp 100.000 người. “ Trong 10 năm, tỷ lệ tử vong sụt giảm một nửa, nhưng vẫn còn quá cao : 13% trong năm đầu tiên. Người ta cũng còn có thể làm giảm tỷ lệ các biến chứng và những tái phát, BS Armelle Desplanques, trưởng phòng các chương trình tiền phong ở HAS đã đảm bảo như vậy.

Ở giai đoạn cấp tính, mục tiêu chính là “ gagner du temps pour gagner du coeur ”, theo lời của GS Laurant Degros, chủ tịch HAS. Chẩn đoán phải được thiết đặt càng nhanh càng tốt, để khai thông động mạch vành bị tắt nghẽn trong những giờ đầu. Trong thực tiễn, sự tái tưới máu (reperfusion) có thể được thực hiện tại chỗ bằng liệu pháp tan huyết khối (thromolyse) : tiêm thuốc làm tan sợi huyết (thrombolytique) vào trong tĩnh mạch để làm tan cục máu đông, hay trong môi trường chuyên khoa, bằng tạo mạch (angioplastie : can thiệp lên động mạch vành).

Vấn đề là các bệnh nhân bị liên hệ phải có phản xạ tốt. Mỗi cơn đau ngực dữ dội kéo dài hơn 20 phút đều phải gọi 15. Nhưng không hẳn đã đạt được như vậy. “ Mặc dầu tất cả những chiến dịch thông tin, chỉ có 55% các bệnh nhân là gọi con số này ”, BS Patrick Goldstein, chủ tịch Hiệp hội y khoa cấp cứu của Pháp đã thở dài phát biểu như vậy.

KINH NGHIỆM TIỀN PHONG.

Theo ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa cấp cứu này, sự ít sử dụng số điện thoại cấp cứu 15 đặc biệt có liên quan những người đàn ông tuổi từ 50-60, bị đánh thức dậy vào sáng sớm bởi một cơn đau ngực, nhưng lại không muốn tin đó là nhồi máu cơ tim. Những người trên 75 tuổi, nhất là các phụ nữ, cũng thường chờ đợi hàng giờ trước khi gọi Samu. Tổng cộng, chỉ một bệnh nhân trên 4 là làm đúng khi gọi ngay 15 và được Samu truyền lại cho khoa tim ; và khoảng hai bệnh nhân trên ba được hưởng một can thiệp tái tưới máu (reperfusion coronaire). Trung bình, một giờ trôi qua giữa lúc bắt đầu cơn đau ngực và lúc gọi cấp cứu 15.

“ Ngoài ra, nếu bệnh nhân hay những người thân gọi trước hết các thầy thuốc gia đình, điều này làm tăng gấp ba thời gian cần thiết trước khi được điều trị thích ứng (và tăng lên gấp 6 nếu gọi thầy thuốc chuyên khoa tim) ”, HAS đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên các thầy thuốc gia đình có thể đóng vai trò quan trọng trên tuyến đầu, nhất là ở vùng nông thôn và miền núi, nơi mà Samu phải cần có thời gian mới đến được.

Điểm yếu khác trong việc xử trí bệnh nhồi máu cơ tim : điều trị thuốc, được thiết lập ở bệnh viện. Trong những năm qua, các đơn thuốc statines (kháng cholestérol), kháng ngưng kết tiểu cầu (antiagrégants plaquettaires : thuốc làm loãng máu), các bêta-bloquants và inhibiteurs de l’enzyme de conversion (cải thiện chức năng của tim) được kê đơn nhiều. Nhưng khoảng 30% các bệnh nhân, nhất là nếu là những người già, không được hưởng toàn bộ những điều trị này. Trong vài trường hợp, các thầy thuốc đã hành động vì thận trọng, để không làm gia tăng nguy cơ gây những tác dụng phụ nơi những người vốn đã sử dụng nhiều thứ thuốc. Nhưng như thế các bệnh nhân sẽ không được điều trị đẩy đủ chỉ vì lý do tuổi tác, trong khi những tác dụng có lợi của các loại thuốc này lên tỷ lệ tử vong đã hoàn toàn được xác lập nơi những người trên 75 tuổi.Trong lãnh vực này cũng như trong những lãnh vực khác, những người hoạt động ngành y phải giải quyết một phương trình phức tạp : mang lại tất cả các cơ may cho những người già mà không gây cho họ những nguy cơ quá đáng.
(LE FIGARO 6/4/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay...h_News_nr77.htm (TSYH 77, bài số 2)
http://www.yduocngay..._News_nr107.htm (TSYH 107, bài số 5)

10/ CAO HUYẾT ÁP, SUY THẬN, NHỮNG KẺ GIẾT NGƯỜI THẦM LẶNG.

Néphrologie. Các bệnh thận không được công chúng biết đến và được chẩn đoán chậm. Chúng gây bệnh cho một số người ngày càng tăng, ở Pháp và trên thế giới.

Một vài bệnh phát triển âm thầm và gây nên những thương tổn nhỏ xíu, không tiếng động, không triệu chứng trong nhiều năm trời. Đó là trường hợp cao huyết áp, có khả năng tiến triển trong nhiều chục năm, không được chẩn đoán hay điều trị. Và roi hầu như trong một sớm một chiều, một suy thận giai đoạn cuối xuất hiện : bệnh nhân suy kiệt, bị nhưng rối loạn khác nhau, nhất là thần kinh.

Một bilan sinh học cho phép chẩn đoán suy thận mãn giai đoạn cuối. Vào giai đoạn này chẳng có lựa chọn nào khác hơn là thẩm tách (dialyse) và ghép thận. Khoảng 30% những người bị suy thận giai đoạn cuối đã khám phá ra bệnh trong bối cảnh cấp cứu.

Hôm qua, nhân dịp giới thiệu ngày quốc tế của thận 12/3 sắp đến, giáo sư Eric Rondeau (bệnh viện Tenon, Paris) đã nêu rõ vai trò quan trọng của cao huyết áp trong sự phát sinh của suy thận. Đặc biệt ông đã xác nhận rằng việc thăm khám đều đặn nhằm phát hiện suy thận nơi những người có nguy cơ (cao huyết áp, đái đường, tiền sử gia đình bị bệnh thận...) liên kết với một điều trị sớm, cho phép tránh được bệnh này của thận hoặc làm chậm sự tiến triển của nó. Ở Pháp, 35.000 người cần thẩm tách thận(dialyse rénale) và 25.000 người khác sống với một quả thận được ghép.

Với bệnh đái đường thường được liên kết, cao huyết áp là một trong những nguyên nhân chính của suy thận. Ở Pháp, có 7 triệu người bị cao huyết áp, chỉ một nửa là theo đuổi điều trị và chỉ 35% trong số những người này có một con số huyết áp được cân bằng một cách đúng đắn. Huyết áp được biết là một yếu tố nguy cơ tim mạch. Những tác dụng của nó lên thận phần lớn không được dân chúng biết đến. Dường như có một sự nhạy cảm cá nhân của thận đối với cao huyết áp. Không phải tất các mọi người cao huyết áp đều bị suy thận.

THĂM DÒ PHÁT HIỆN.

Nơi vài người có một sự nhạy cảm di truyền đặc biệt, cao huyết áp dẫn đến sự tạo thành bệnh xơ cứng mạch máu thận tiến triển từ từ (néphroangiosclérose progressive) : các huyết quản đặc biệt bị liên hệ bởi quá trình xơ cứng (sclérose). Bệnh xơ cứng mạch máu thận thường xảy ra hơn nơi những người già, nhưng đôi khi được quan sát, mặc dầu hiếm, trước tuổi 30. “ Điều trị nội khoa cao huyết áp, nếu được theo dõi tốt và nếu có hiệu quả lên việc kiểm soát huyết áp, sẽ cho phép ngăn ngừa sự xuất hiện các biến chứng não và tim mạch, nhưng cũng ngăn ngừa những biến chứng mãn tính và nhất là suy thận mãn ”, GS Eric Rondeau đã đảm bảo như vậy.

Tất cả những yếu tố cho phép kiểm soát huyết áp, cũng làm giảm nguy cơ suy thận. Đó là những loại thuốc. Nhưng không phải chỉ có thuốc men không thôi. Làm giảm trọng lượng 5 kg sẽ làm giảm mức huyết áp, cũng như sự tập thể dục đều đặn và sự giảm tiêu thụ rượu và muối.

Có nên thực hiện thăm dò một cách hệ thống nhằm phát hiện suy thận bằng những xét nghiệm sinh học được thực hiện đều đặn hay không ? Có lẽ là không, các chuyên gia đã xác nhận như thế, nhưng phải đặc biệt lưu ý đến những người có nguy cơ cao. Vào tháng 10 năm qua, Fondation du rein, với sự tham gia cùa những phòng xét nghiệm công và tư, đã phát động một tuần chiến dịch thăm dò phát hiện bệnh suy thận. Hơn 9.000 người đã tham dự. Chẳng bao lâu nữa, những kết quả sẽ được công bố.
(LE FIGARO 3/3/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/5/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#3 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 22 May 2009 - 10:52 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh )


1/ CÚM A (H1N1) BÙNG NỔ Ở NHẬT BẢN VỚI 80 TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC XÁC NHẬN.

EPIDEMIE. Sự phát triển của virus ở Nhật Bản có thể khiến OMS gia tăng mức báo động.

Virus H1N1 tiếp tục tiến triển trên thế giới. Mới còn vô sự vào đầu tháng năm, hôm chủ nhật, Nhật Bản đã ghi nhận 80 trường hợp cúm heo được xác nhận, gây bệnh cho đại đa số những học sinh và thầy giáo, trong vùng Osaka và Kobe. Những trường hợp đầu tiên, được khám phá cách nay 10 ngày, liên hệ đến một giáo sư và 3 học sinh người Nhật, đã mắc bệnh lúc đi du học ở Canada. 4 người bệnh đã được chữa lành. Từ đó, bệnh cúm này ở Nhật Bản, hiện nay, dường như được lan truyền phần lớn trong giới học đường.

Tuy nhiên, Shigeru Omi, trước đây là người hữu trách cao cấp của OMS, từ nay đứng đầu ủy ban chính phủ chống bệnh cúm ở Nhật Bản, đã cảnh cáo : “ Chúng tôi ước tính rằng nhiễm trùng bắt đầu lan tràn trong khắp nước ”, ông đã tuyên bố như vậy. Một người hữu trách của Osaka tuyên bố rằng hiện nay, chính quyền đã không thể xác lập một cách rõ ràng sự hiện hữu của những mồi tiếp xúc giữa các học sinh của Osaka và Kobe, và đã xác nhận rằng những học sinh của Kobe mới đây đã không đi du lịch ra nước ngoài.

1000 TRƯỜNG HỢP MỚI TRONG 24 GIỜ.

Ở Osaka, thêm 100 học sinh đã phát triển các triệu chứng đáng nghi và đã được làm xét nghiệm. 7 người dân của tỉnh Hyogo cũng có thể bị bệnh cúm. OMS đã tuyên bố theo dõi “ rất sát ” diễn biến tình hình ở Nhật Bản cũng như ở châu Âu đối với cúm heo. Việc xuất hiện một ổ tự trị truyền bệnh cho người trong một vùng khác với lục địa châu Mỹ, nơi đã phát xuất virus mới H1N1, có thể biện minh cho sự phát động giai đoạn báo động tối đa của OMS ; giai đoạn 6 là dấu hiệu của trận đại dịch cúm toàn cầu của thế kỷ XX.

Trong khi 1000 trường hợp mới đã được thống kê trong 24 giờ và gần 8.500 người bệnh đã được nhận diện, và trong khi bệnh vừa xuất hiện ở Án Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, những người hữu trách cao cấp và các chuyên viên quy tụ về Genève để xem xét những phương tiện nhằm chận đứng trận dịch.
( LE FIGARO 18/5/2009)

2/ BÓNG MA CỦA MỘT SỰ BIẾN DỊ VIRUS.

“ Chúng tôi đã có tất cả các lý do để lo ngại những tác dụng hỗ tương của virus mới với những virus khác, trong đó có virus cúm gà, hiện nay đã được xác lập chắc chắn nơi các gia cầm trong nhiều nước. ”. Lời tuyên bố của BS Margaret Chan, nữ tổng giám đốc của OMS, ngoài lề đại hội đồng đang diễn ra ở Genève, đã làm các con tim nhảy xổ lên trong lồng ngực.

Nếu theo dõi sát, chúng ta thấy bà tổng giám đốc đã không nói gì khác từ hai tuần nay : “ Có lẽ virus đã ban cho chúng ta một thời gian hưu chiến, nhưng chúng ta không biết được thời gian tạm nghỉ này sẽ kéo dài bao lâu ”, bà đã nói dằn từng tiếng như vậy, không muốn rằng việc khám phá mức độ tương đối ít nghiêm trọng của virus so với những e ngại đầu tiên sẽ biến thành sự lơi lỏng cảnh giác y tế và sự tháo bỏ những biện pháp theo dõi và sự định mức nhằm làm giảm mối nguy cơ.

Bởi vì cái nguy cơ mà bà nói đến, hoặc là khả năng của một sự trao đổi gène của virus mới A (H1N1) với virus của cúm gà, đã được biết rõ bởi các chuyên gia virus. Trên nguyên tắc, đó là chuyện thường tình : đó là một sự sắp xếp lại di truyền (réarrangement génétique) giữa một virus cúm gà và một virus người. Trong quá trình tái phối hợp này, một virus người sẽ có được một số những khúc đoạn gène nào đó của một virus cúm gà trong lòng một tế bào bị nhiễm bởi cả hai virus.

“ Nhưng tuyệt đối không có gì có thể cho rằng sự tái phối hợp mà bà lo ngại lại không có thể xảy ra hơn một sự tái phối hợp khác, thí dụ giữa H1N1 mới và một giống gốc H3N1, thường xảy ra hơn. Cái điều mà BS Chan đã muốn nói, đó là, một sự tương tác như thế có thể làm phát sinh một virus có khả năng lây nhiễm cao đối với người như H1N1 có nguồn gốc từ heo, và cùng độc lực như H5N1 của cúm gà. Khi đó ta sẽ có một virus vừa lan truyền dễ dàng và lại vừa có khả năng giết người nhiều hơn.. Thật vậy, đó là một khả năng... trong số nhiều khả năng khác ”, G.S Yves Van Laethem, chuyên gia các bệnh nhiễm trùng ở bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles, đã giải thích như vậy.

B.S Chan có quyền quyết định mức độ báo động đại dịch tối đa sau khi đã tham vấn một ủy ban các chuyên viên. “ Tất cả chúng tôi đều dưới áp lực để thực hiện những biện pháp khẩn cấp và có tầm quan trọng trong một bầu không khí được mang dấu ấn bởi một điều rất khó dự kiến về mặt khoa học ”, bà đã công nhận như thế. Nhiều quốc gia đã năn nỉ, trong hành lang, để đừng nâng cao mức báo động, vì lo sợ những hậu quả nặng nề đối với kinh tế và du lịch.
( LE SOIR 19/5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1VuVDzi_CumH...umGa_DaiHoa.htm

3/CÚM A (H1N1) : CÁC CHUYÊN GIA VIRUS VẪN TỎ RA BI QUAN.

EPIDEMIE. Họp ở Helsinki, các chuyên gia không loại bỏ những kịch bản rất đáng quan ngại.

“ Mối đe dọa của virus H1N1 là nghiêm trọng. Virus sẽ có 3 phương thức. Hoặc là nó có thể biến mất một cách ngẫu nhiên, nhưng tôi không tin chắc rằng điều đó sẽ xảy ra. Cũng có thể nó sẽ gây nên một đại dịch “ nhẹ ” như cúm Á Châu năm 1957-1958 ”, Albert Osterhaus, chuyên gia virus của đại học Rotterdam đã đánh giá như vậy. Cúm Á Châu năm 1957-1958 đã giết chết từ 1 đến 4 triệu người. Để dễ so sánh, cúm mùa (grippe saisonnière) giết chết từ 250.000 đến 500.000 người mỗi năm. Albert Osterhaus đã phát biểu như thế tại Hội nghị châu Âu về vi trùng học lâm sàng và các bệnh truyền nhiễm, đã diễn ra hôm chủ nhật ở Helsinki. Chính ông là người đầu tiên đã cho thấy rằng virus cúm gia cầm có thể được truyền cho người.

“ Trong một kịch bản đại họa thứ ba, G.S Osterhaus đã nói tiếp như vậy, chúng ta sẽ có một trận đại dịch nghiêm trọng, tương tự với cúm Tây Ban Nha, có thể phát xuất từ sự biến dị của virus.” Sự phân tích này giống với sự phân tích của nhiều chuyên gia : thật vậy, những biến dị đúng lúc có thể làm gia tăng độc lực của virus, sự tăng sinh của nó trong tế bào, thậm chí sự thích ứng của nó đối với ký chủ người, hoặc gây nên những phối hợp của toàn thể các yếu tố di truyền (recombinaison d’éléments génétiques entiers), có thể làm cho sự lan truyền được dễ dàng hon và những triệu chứng nặng hơn.

Đối với G.S Javier Garau, thuộc đại học Barcelone, cũng là thuyết trình viên ở Helsinki, tốc độ lan truyền của virus H1N1 hơi lớn hơn tốc độ lan truyền của một virus cúm thông thường : mỗi cá nhân bị lây nhiễm truyền bệnh cho từ 1,4 đến 1,6 người.

Những ước tính của các nhà dịch tễ học của OMS, được công bố hôm thứ hai 11/5 trong Science, tính được số người Mễ bị nhiễm bởi H1N1 từ cuối tháng tư là 23.000, với một tý lệ tử vong trung bình 0,4%. Hãy ghi nhớ rằng virus đại dịch 1918-1920 đã gây 20 triệu người chết, “ chỉ đã giết chết ” 1-2% những người bị nhiễm bệnh.

Ổ BỆNH ĐỘC LẬP MỚI Ở NHẬT BẢN.

Yếu tố mới đang quan ngại khác : virus chủ yếu tấn công những người trưởng thành trẻ tuổi và mạnh khỏe. Điều này gợi ý rằng những lão niên có một dạng miễn dịch (ngay cả bị giảm bớt), do những tiếp xúc trước đây với những virus tương tự. Giới trẻ không có được hình thức miễn dịch này.

Thí dụ : trong làng Mễ La Gloria, trong vùng Vera Cruz, tỷ lệ tấn công của virus hai lần quan trọng hơn nơi những trẻ em dưới 15 tuổi, so với những người trưởng thành.

Các chuyên gia virus họp ở Helsinki cũng đã nhất trí kết luận rằng mặc dầu một vaccin chỉ chống H1N1 có thể được sản xuất, nhưng tính hiệu quả của nó có thể bị xét lại, trong trường hợp có biến đổi di truyền quan trọng từ nay đến tháng 11 đến. Kết luận của BS Osterhaus : “ Chúng ta phải cải thiện khả năng sản xuất vaccin chống cúm của chúng ta.Theo ước tính thì những liều có sẵn sử dụng hiện nay là 1 tỷ. Nhưng với một dân số thế giới 6,7 tỷ người, điều đó rõ ràng là không đủ ”.

Hôm chủ nhật, lần đầu tiên, Nhật bản đã khai báo 80 trường hợp được xác nhận và virus cũng hiện diện ở Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ.

Ổ dịch tự trị mới này, được báo cáo bởi chính phủ Nhật đã làm gia tăng căng thẳng week-end này ở Genève. Thật vậy, nếu đúng đó là một ổ được chứng tỏ có khả năng lan truyền (không có liên quan với các du khách) trong một vùng khác với lục địa châu Mỹ, thì tình hình Nhật Bản, theo những tiêu chuẩn của OMS, sẽ khiến phải nâng mức báo động lên tối đa (giai đoạn 6), tức là mức báo động loan báo sự xuất hiện của trận đại dịch cúm đầu tiên của thế kỷ XX.

Tuy vậy, hôm qua trước đại hội hàng năm của 193 nước thành viên của OMS, bà giám đốc Chan đã quyết định vẫn giữ mức báo động hiện nay (giai đoạn 5).
(LE FIGARO 19/5/2009)

4/ CÚM : NĂM 2009 KHÔNG PHẢI LÀ NĂM 1918.

Tuy nhiên, nhà sử học y khoa Patrick Zylberman, chuyên gia về cúm Tây Ban Nha, cho rằng giới hữu trách y tế đã không “ phản ứng thái quá ” đứng trước virus mới A (H1N1).

Là nhà sử học y khoa và y tế công cộng, thuộc Trung tâm nghiên cứu y học, khoa học, sức khỏe và xã hội, Patrick Zylberman đã nghiên cứu những đại dịch lớn, và nhất là phương cách nước Pháp đã phản ứng đối với dịch cúm Tây Ban Nha, căn bệnh đã gây hơn 50 triệu người chết trên thế giới vào năm 1918 và 1919. Ông bình luận phương cách mà giới hữu trách y tế đã nắm hiểu được những thời kỳ khủng hoảng y tế và cảnh giác những cạm bẫy trong việc so sánh giữa các thời kỳ khác nhau.

Hỏi : Ông nhìn như thế nào về đợt dịch bệnh cúm A (H1N1) hiện nay ?
Patrick Zylberman : Điều lạ lùng nhất là ở Mễ Tây Cơ những trường hợp tử vong xảy ra nơi các người trưởng thành trẻ tuổi. Điều này làm nghĩ ngay đến trận đại dịch năm 1918, đã tấn công vào lứa tuổi từ 16 đến 40 tuổi, hơn là nhằm vào những người già hay các trẻ em rất nhỏ tuổi.

Hỏi : Thế thì không có một sự khác nhau giữa hai thời đại khi so sánh hai đợt dịch bệnh này ?
Patrick Zylberman : Nhất thiết là như vậy. Trận đại dịch 1918 đã trở thành một hình thái tu từ (figure de rhétorique). Từ khi xảy ra SARS (syndrome respiratoire aigu sévère), vào năm 2003, tất cả các thầy thuốc, các chuyên gia dịch tễ học và những người phụ trách y tế công cộng, trình bày sự trở lại của cúm Tây Ban Nha như là một lễ thiêu sinh (holocauste) sắp đến. Người ta hiểu rõ tại sao cần phải đánh mạnh vào các trí tưởng tượng, để những người hữu trách chính trị, các công dân phải chịu bỏ tiền ra để tập thể có thể ở trong tư thế sẵn sàng đương đầu.

Nhưng mà thế giới năm 1918 và thế giới hôm nay không thể so sánh với nhau chút nào cả. Virus và khả năng sinh bệnh của nó không phải là tham số duy nhất của một trận dịch hay của một đại dịch, dầu đó là tỷ lệ bệnh tật hay tỷ lệ tử vong.

Ngày nay, chúng ta có những kiến thức khoa học về virus, trái với năm 1918 (H1N1 chỉ được phân lập nơi người vào năm 1933). Chúng ta có những thuốc kháng virus và các vaccin. Các kháng sinh cho phép điều trị những bội nhiễm. Đó là chưa nói về sự theo dõi dịch tễ học, được thiết lập từ năm 1955, và những kế hoạch ứng đối dịch bệnh được dự kiến, mặc dầu tất cả không được hoàn hảo.

Hỏi : Chúng ta đã học được gì về năm 1918 ?
Patrick Zylberman : Các anh hãy nhìn phản ứng rất đặc sắc của chính quyền Hồng Kông vào năm 1997, khi phải đối phó với cúm gà. Sau vài trường hợp tử vong nơi người, họ đã hạ sát toàn bộ các gia cầm, điều này lúc đó là một quyết định rất tốt. Vào lúc đầu, phản ứng đối với SARS diễn biến khá tồi, nhưng sau đó các chánh phủ, ở châu Á và Canada, đã biết cầm cương trở lại và đã xoay xở khá giỏi.
Có được một thành tựu, đó là điều không thể tranh cãi được. Nhưng có phải như thế là đủ chưa ? Công trình nghiên cứu mới nhất về việc chuẩn bị chống đại dịch, được thực hiện vào năm 2006 bởi London School of Hygiene and Tropical Medicine, đã kết luận rằng nếu vài nước như Pháp hoặc Anh tương đối đã chuẩn bị tốt, nhưng ở Châu Âu không phải tất cả đều như vậy.

Hỏi : Có phải vào năm 1918, người ta đã có ý thức ngay phải đương đầu với một đại dịch ?
Patrick Zylberman : Các nhà chức trách đã hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng ta đừng quên rằng chiến tranh lúc đó chưa chấm dứt. Các nước ở xa vùng chiến trận, như Hoa Kỳ, cũng không biết là họ đang gặp phải cái gì nữa. Cái điều đã góp phần vào tỷ lệ tử vong rất cao (4% ở châu Âu, cho đến 22% ở Đông Samoa), là tình trạng rất hỗn loạn của các công quyền và những phương tiện hành động ít ỏi của họ (đóng cửa các nơi công cộng).

Hỏi : Thí dụ trường hợp năm 1976 há không phải là sự minh họa cho thấy rằng một phản ứng quá mức của các nhà cầm quyền có thể gây nên nhiều thiệt hại hơn là chính bản thân trận dịch hay sao?
Patrick Zylberman : Thật ra, trận dịch năm 1976 ở Hoa Kỳ là trận dịch “ đã chưa bao giờ xảy ra ”. Lúc đó có vài trường hợp trong một đồn lũy ở New Jersey. Ngay tức khắc chúng tạo nên một sự hoảng sợ, chính là bởi vì những hồi ức về năm 1918 vẫn đang còn dai dẳng. Đó là một giống gốc H1N1, đã không lưu hành ở Hoa Kỳ từ năm 1920 và chính điều này đã khiến tổng thống Gerald Ford ra lệnh cho tiêm chủng toàn dân Mỹ. Chiến dịch tiêm chủng bị dừng lại sau hai tháng bởi vì những tai biến do tiêm chủng đã xảy ra, và cũng bởi vì virus đã biến mất một cách ngẫu nhiên. Vào lúc đó quyết định tiêm chủng được thực hiện vì những lý do cảm xúc nhiều hơn là vì những lý đo khoa học.

Hỏi : Phản ứng hiện nay của giới hữu trách y tế phải chăng còn nặng về cảm xúc ?
Patrick Zylberman : Hôm nay, một số người trách Tổ chức Y Tế Thế Giới là đã phản ứng quá mức. Điều đó không đúng : tất cả các chính phủ, khi thiết đặt những kế hoạch đối ứng, đều đã dựa trên kế hoạch của OMS. OMS chỉ nâng cao mức báo động lên để có một ảnh hưởng hơi lớn hơn trên các chính phủ liên hệ : tăng cường các ban chỉ đạo vùng, gọi các đội công tác đến hiện trường...Từ năm 2003, tất cả các cuộc thảo luận về sự chuẩn bị chống các dịch bệnh, khủng bố sinh học (bioterrorisme)... đều đặt vấn đề nóng bồng về cách ứng phó tập thể cần phải tuân theo : OMS phải chăng phải là một bộ tham mưu cho những hoạt động này ? Châu Âu cũng khá ủng hộ điều đó, Bắc Mỹ thì hơi ít hơn, còn châu Á lại còn ít hơn nhiều.

Hỏi : Ảnh hưởng nào có thể có của trận tiền đại dịch (prépandémie) này lên các nước nghèo đang bắt đầu bị lây bệnh ?
Patrick Zylberman : Đó là mối ưu tư lớn. Một làn sóng dịch bệnh trở nặng thứ hai ở Bắc bán cầu vào mùa thu đến, sẽ gây thiệt hại nhiều hơn trong những nước không có một hệ thống y tế thích đáng hay không có những thuốc kháng virus, so với những nước giàu có được trang bị tốt để đối phó với nhiễm trùng. Có những phương cách để làm chậm lại sự lan tràn của bệnh, bằng cách chia xẻ một phần (từ 10% đến 20% theo lời các chuyên gia) các dự trữ thuốc kháng virus, với những nước có lợi tức thấp. Về mặt chính trị, điều đó có vẻ tế nhị : về việc đó, công luận có thể không muốn “ chia xẻ ” lắm.

Hỏi : Nỗi lo lắng chung đối với việc quản lý các nguy cơ có phải là dấu hiệu của một sự tiến hóa của xã hội của chúng ta ?
Patrick Zylberman : Hoàn toàn đúng như vậy. Bước chuyển từ những vấn đề của lãnh vực kỹ thuật sang lãnh vực chung là một sự tiến hoá đáng chú ý, là một trong những lý do giải thích vì sao thế giới hiện nay hoàn toàn khác với thế giới của năm 1918. Bước ngoặt diễn ra trong những năm 1980 với những mối lo âu gia tăng đứng trước các bệnh mới phát khởi (maladies émergentes), nhất là trận dịch VIH/SIDA, cũng như với những cuộc khủng hoảng an ninh dinh dưỡng vào cuối thế kỷ XX.

Hỏi : Đâu là vai trò của giới truyền thông trong sự tiến hóa của những nhận thức này ?
Patrick Zylberman : Giới truyền thông đóng một vai trò chủ yếu và các chính phủ đều biết điều đó. Trong thời kỳ khủng hoảng, thông tin là một thực phẩm để giới hạn hậu quả của một trận dịch, cũng quan trọng như các thuốc kháng virus, nhưng là một thực phẩm của những vấn đề được đặt ra cần phải quản lý. Công tác truyền thông dự phòng (communication préventive) nhằm hạn chế hiện tượng hoảng sợ, nhưng đồng thời phải khuyến khích người ta đừng thụ động. Về mặt chuẩn bị, có lẽ đó là một trong những lãnh vực mà chúng ta ít tiến bộ nhất.

Hỏi : tại sao vậy ?
Patrick Zylberman : Các chính phủ miễn cưỡng không muốn tách rời một phần của việc kiểm soát thông tin, còn giới truyền thông thì đã ít lý thuyết hóa những vấn đề này.
(LE MONDE 9/5/2009)

5/ VACCIN CHỐNG H1N1 : OMS VẪN CÒN THONG THẢ.

VIROLOGIE. Một buổi họp các chuyên gia đã không cho phép quyết định khi nào sản xuất vaccin.

Nhất định là họ sẽ không rời nhau được nữa ! Các nhà công nghiệp chế tạo vaccin một lần nữa được triệu tập hôm thứ năm cho một hội nghị được tổ chức bởi BS Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc của OMS. Cuộc họp nhằm xem xét khả năng phát động sự sản xuất quy mô lớn một vaccin chống lại H1N1, virus đã làm lây nhiễm hơn 7.500 người trên thế giới (trong đó 65 tử vong). Cuối cùng ông quyết định phải đợi chờ : “ Không thể nói vào ngày tháng nào chúng ta sẽ quyết định, đó là một quá trình thật tỉ mỉ và khó khăn ”, Dr Fukuda đã tuyên bố như vậy, nhưng không xác định rõ gì hơn. Tò mò muốn biết thêm, Figaro được trả lời bởi phòng báo chí của OMS rằng ông ta không có quyền thông báo về chủ đề nhạy cảm này…

Theo thông tin của chúng tôi, 24 nhà chế tạo “ đại bài và tiểu bài ”, trong đó có các hãng bào chế khổng lồ GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi Pasteur, đều hiện diện trong hội nghị. Trước đó, mỗi hãng chế tạo đã cung cấp cho OMS những con số về khả năng sản xuất vaccin trong những nhà máy riêng của mình.

Như thế, nhiều kịch bản sẽ có thể được dự kiến. Hoặc là virus H1N1 vui lòng chờ đợi đến giữa tháng 8 để thật sự trở thành đại dịch (giai đoạn 6). Và vào thời gian này, các nhà chế biến vaccin đã sản xuất xong vaccin truyền thống của cúm mùa mùa đông (grippe saisonnière hivernale).

“ THEO DỖI NAM BÁN CẦU ”

Hoặc virus trở nên độc lực hơn trước khi mùa hè chấm dứt. “ Khi đó có thể xuất hiện những biến dị (mutation) làm virus trở nên đề kháng với Tamiflu, hoặc virus có thể thụ đắc các gènes de “ fitness ”, cải thiện việc chuyển qua và lan truyền nơi người, Vincent Enouf, thuộc Viện Pasteur Paris đã chỉ rõ như vậy. Chúng ta cũng phải theo dõi tình hình ở Nam Bán cầu bởi vì vùng này là nơi tốt nhất để các virus thực hiện sự tái phối hợp (recombinaison).

Trong trường hợp giả thuyết thứ hai, khi đó sẽ phải ngưng các dây chuyền sản xuất vaccin chống cúm mùa để chế tạo vaccin chống H1N1. Nhưng để được như thế, OMS phải đã phải để cho các nhà sản xuất sử dụng một “ hạt giống virus ”, có cở sở là những yếu tố di truyền của virus H1N1, được tô điểm bởi những chuỗi (séquences) làm cải thiện khả năng nẩy mầm trên trứng gà, kỹ thuật hiện nay được sử dụng để sản xuất vaccin.

Theo Alain Bernal, phát ngôn viên của Sanofi Pasteur, giống gốc này sẽ có sẵn sàng để sử dụng, “ có thể vào cuối tuần tới ”. Và ông nói thêm : “ Đã có lúc người ta dự kiến thêm vào vaccin cúm (chứa 3 giống gốc khác nhau), giống gốc mới H1N1, thế cho cho giống gốc cũ. Nhưng hôm nay điều đó có vẻ không phải là một giải pháp tốt, bởi vì như thế buộc phải làm trì hoãn việc đưa ra thị trường vaccin cúm mùa và điều đó buộc pha trộn một giống gốc mà chúng ta không biết được những tác dụng của của nó lên vaccin truyền thống. “
(LE FIGARO 17/5/2009)

6/ VIRUS A (H1N1) : CHUỖI DI TRUYỀN CỦA VIRUS ĐÃ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH.

Các nhà nghiên cứu Canada đã thực hiện bước tiến được cho là quan trọng này, vì việc xác định toàn thể chuỗi di truyền (séquençage) của virus H1N1 từ nay cho phép hiệu chính một vaccin.

Bắt đầu từ các mẫu phân lập virus cúm xuất phát từ hai tỉnh Ontario và Nouvelle-Ecosse của Canada, các nhà khoa học của phòng thí nghiệm vi trùng học quốc gia của Cơ quan y tế công cộng của Canada ở Winnipeg, đã thành công phân tích hoàn toàn chuỗi di truyền (séquence génétique) của virus cúm A (H1N1). Bộ trưởng Y tế, Leona Aglukkaq, đã khen ngợi các nhà khoa học về thành quả được gọi là ngoại lệ này. “ Đó là một đầu tiên trên thế giới ”, bà Bộ trưởng đã hoan hỉ phát biểu như vậy.

Nhất là khám phá này giờ đây chỉ rõ cho các nhà nghiên cứu rằng mặc dầu căn bệnh đến nay ở Mễ Tây Cơ độc lực hơn nhiều so với Canada và Hoa Kỳ, nhưng tác nhân gây bệnh đều cùng giống gốc virus. “ Cấu trúc di truyền trong các mẫu nghiệm không cho thấy một khác nhau nào giữa các virus ”, B.S Frank Plummer, tổng giám đốc khoa học của Phòng thí nghiệm vi trùng học quốc gia, đã tuyên bố như vậy. Nhóm nghiên cứu của ông đã làm việc ngày đêm trong một tuần lễ để có thể xác định chuỗi di truyền của virus.

Đó cũng là một bước quan trọng để hiểu được nguồn gốc của virus, cách truyền bệnh của nó và những biến dị có thể xảy ra, BS David Butler-Jones, quản trị trưởng của Sở y tế công cộng của Canada đã giải thích như vậy. Kiến thức về bộ gène (génome) này từ nay cho phép xác định vị trí các protéine đặc hiệu của virus H1N1 và do đó cho phép bắt đầu việc hiệu chính một vaccin. Ở Hoa Kỳ, nơi có 3 trường hợp tử vong, những bước đầu tiên theo chiều hướng này đã được thực hiện, một người hữu trách của Viện Y tế đã tuyên bố như vậy tại Hội Nghị.

Mặt khác, ở Luân Đôn, Trung tâm các bệnh nhiễm trùng của Cơ quan bảo vệ y tế, cơ quan nhà nước Anh, đã loan báo là lần đầu tiên đã thực hiện việc phân tích chuỗi di truyền (séquençage génétique) của giống gốc châu Âu của virus H1N1. Các đôi mắt từ nay hướng về công nghiệp chế biến vaccin để vaccin được sản xuất với lượng đầy đủ càng nhanh càng tốt.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 15/5/2009)

7/ UNG THƯ THẬN VÀ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN.

G.S Bertrand Dufour, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu của Hôpital américain, ủy viên của Viện hàn lâm ngoại khoa, bình luận những công trình nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả của một phương thức phẫu thuật vi xâm nhập đối với những trường hợp ung thư thận kích thước nhỏ được phát hiện sớm.

Hỏi : Tần số mắc bệnh của ung thư thận là gì ?
G.S Bernard Dufour : Tỷ lệ mắc bệnh của các ung thư này tương ứng với 3% của tất cả các ung thư. Chỉ riêng ở bệnh viện Necker, Paris, 1.219 bệnh nhân ung thư thận đã được mổ trong mười năm qua ! Tần số này đang gia tăng và thường nhất là ở những người trên 50 tuổi.

Hỏi : Những triệu chứng nào có thể làm báo động ?
G.S Bernard Dufour : Ngày nay, người ta khám phá 70% các trường hợp ung thư một cách tình cờ, trong lúc thực hiện một bilan, nhất là bằng một siêu âm. Bệnh tiến triển thầm lặng và khi nó gây nên những triệu chứng như xuất huyết hay đau bụng, thì giai đoạn đã tương đối tiến triển. Scanner và siêu âm đủ để mang lại tất cả những xác nhận về vị trí, thể tích và mức độ lan rộng của khối u, cũng như tình trạng của chiếc thận kia, hiếm khi bị thương tổn cùng một lúc.

Hỏi : Người ta xếp loại khối u theo giai đoạn tiến triển của chúng như thế nào ?
G.S Bernard Dufour : Có 3 giai đoạn trầm trọng (stade de gravité). Những khối u nhỏ dưới 4 hoặc 5 cm, không lan ra ngoài thận (không xâm nhập bao nang thận cũng như các hạch) được xếp giai đoạn 1. Giai đoạn 2 gồm những khối to lớn hơn với bao nang của thận bị xâm nhập. Những khối u to lớn này thuộc giai đoạn 3 khi các hạch bị xâm nhập. Mức độ trầm trọng của khối u cũng tùy thuộc vào loại và cấp độ tế bào (grade cellulaire).

Hỏi : Bình thường, tùy theo các giai đoạn trầm trọng, người ta áp dụng điều trị nào ?
G.S Bernard Dufour : Phương thức cổ điển là ngoại khoa. Có hai kỹ thuật : giải phẫu cổ điển, nặng nề, phải mở bụng, và ngoại khoa soi ổ bụng (coeliochirurgie), khi thể tích khối u không quá quan trọng (không hơn 10 cm), không xâm nhập tĩnh mạch. Với kỹ thuật ngoại khoa soi ổ bụng, phẫu thuật viên thực hiện 5 đường xẻ rất nhỏ, qua đó các dụng cụ và một minicaméra được đưa vào. Một đường xẻ lớn hơn, khoảng 5 cm, sau đó được thực hiện để lấy thận bị bệnh ra. Trong cả hai trường hợp, hậu phẫu đều đơn giản. Nhưng với ngoại khoa soi ổ bụng, thời gian nhập viện ngắn hơn (4 hay 5 ngày thay vì 10) và sự hồi phục của bệnh nhân nhanh hơn.

Hỏi : Những kết quả có được với hai kỹ thuật giải phẫu này là gì ?
G.S Bernard Dufour : Ngoại khoa “ mở bụng ” (chirurgie à ventre ouvert) và ngoại khoa soi ổ bụng (coeliochirurgie) mang lại cùng kết quả. Nhưng những kết quả này thay đổi tùy theo giai đoạn ban đầu của khối u. Đối với những ung thư có kích thước nhỏ và không có một xâm nhập nào các mô kế cận, người ta ghi nhận được tỷ lệ chữa lành là 85%. Khi chẩn đoán muộn, tiên lượng trên nguyên tắc ít thuận lợi hơn... nhưng ngày nay, với những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới, các triển vọng đã được cải thiện đáng kể.

Hỏi : Trong những trường hợp nào có chỉ định bảo tồn quả thận ?
G.S Bernard Dufour : Khi ta có cơ may khám phá một khối u rất ít lớn, không vượt quá 4 cm. Nhờ có scanner, ngày nay chúng ta có thể đảm bảo rằng một khối u là đơn độc, kích thước nhỏ và không lan rộng (trường hợp một hạch bị xâm nhập là hiếm). Không nên quên rằng cắt bỏ thận mang lại những hậu quả không phải là không đáng kể, do đó lợi ích một điều trị bảo tồn chừng nào có thể được. Tốt hơn là giữ một quả thận dự phòng trong trường hợp xảy ra tai nạn.

Hỏi : Chúng ta có thể sợ điều gì sau khi cắt bỏ một quả thận ?
G.S Bernard Dufour : Trong 4-5 % các trường hợp, có một nguy cơ, trong những năm sau đó, một khối u sẽ phát sinh trên thận còn lại. Mặt khác, suy thận (mặc dầu trường hợp này ít xảy ra) phát triển nhiều hơn nơi những người chỉ có một quả thận. Thật là đáng tiếc khi phải hy sinh một quả thận nếu ta có khả năng bảo tồn nó, đồng thời chỉ cắt bỏ khối u mà thôi !

Hỏi : Những kỹ thuật nào được sử dụng đối với ngoại khoa bảo tồn này ?
G.S Bernard Dufour : Phương tháp phẫu thuật là phức tạp, chỉ có thể được thực hiện bởi những phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Nhà giải phẫu thực hiện một đường xẻ ở một bên bụng (lombotomie) để có một lối trực tiếp vào thận. Khi khối u rất nhỏ (dưới 4 cm), nằm đúng trong phần ngoại biên của quả thận, thì động tác phẫu thuật có thể được thực hiện với ngoại khoa soi ổ bụng (coelioscopie).

Hỏi : Những kết quả thu được với phẫu thuật vi xâm nhập, tùy theo kỹ thuật này được sử dụng là gì ?
G.S Bernard Dufour : Những kết quả rất là tốt : tỷ lệ chữa lành hơn 90% ! Do đó lợi ích của việc phát hiện ung thư càng sớm càng tốt. Đứng trước những kết quả này, dĩ nhiên người ta đã tự Hỏi : chúng ta có thể làm hoại tử khối u mà không cần phải mổ hay không ?

Hỏi : Khi đó chúng ta đã hiệu chính những điều trị nào ?
G.S Bernard Dufour : Một điều trị bằng sức nóng (làm tăng nhiệt bằng tần số phóng xạ) và bằng sức lạnh (cryothérapie). Nhưng, theo ý kiến của tôi, với hàn liệu pháp (cryothérapie), chúng ta còn có quá ít kinh nghiệm để có thể nói đến.

Hỏi : Phương pháp điều trị bằng tần số phóng xạ (traitement par radiofréquence) diễn ra như thế nào ?
G.S Bernard Dufour : Phương thức này nhằm cắm một hay nhiều điện cực (những chiếc kim mảnh), dưới kiểm tra siêu âm và IRM, đến tận lòng của khối u. Sau đó khối u được sưởi nóng với một nhiệt độ từ 50 đến 100 độ. Bệnh nhân được gây tê tại chỗ nên không cảm thấy gì hết. Thường thường, chỉ cần một buổi can thiệp là đủ. Ở bệnh viện Necker, G.S Correas đã tiến hành một công trình nghiên cứu với phương pháp điều trị này trên 123 bệnh nhân bị một ung thư thận nhỏ, dưới 4 cm, đã ghi nhận được tỷ lệ chữa lành 80%. Những kết quả của ông đã tương ứng với những công trình nước ngoài khác, đặc biệt là của Hoa Kỳ.
( PARIS MATCH 30/4-6/5/2009)

8/ BỆNH PARKINSON : “ NIỀM HY VỌNG CỦA MỘT KỸ THUẬT KÍCH THÍCH ĐIỆN NHẸ NHÀNG ”

Được thử nghiệm thành công nơi chuột, phương pháp kích thích điện tủy sống (stimulation électrique de la moelle épinière) dấy lên niềm hy vọng đối với những bệnh nhân bị bệnh Parkinson. Niềm hy vọng một ngày nào đó phương pháp kích thích điện tủy sống thay thế phương pháp kích thích vùng sâu trong não bộ (stimulation intracérébrale profonde), phương pháp đòi hỏi một phẫu thuật nặng nề.

Hỏi : Kích thích điện tủy sống là gì ?
David Grabli : Cũng như phương pháp kích thích sâu trong não bộ, phương pháp này nhằm tạo một dòng điện để làm biến đổi hoạt động của vài vùng của hệ thần kinh. Nhưng, thay vì đặt các điện cực vào trong não bộ, người ta cắm chúng tiếp xúc với lớp vỏ bảo vệ tủy sống, bằng một đường dễ tiếp cận hơn.

Hỏi : Kỹ thuật này được trắc nghiệp trên chuột như thế nào?
David Grabli : Các tác giả đã chọn những con chuột thường được dùng như mô hình động vật đối với bệnh Parkinson. Não bộ của chúng được làm thương tổn một cách cố ý để làm giảm sự sản xuất dopamine trong striatum. Khả năng vận động của chúng bị giảm. Và chúng có những đặc tính riêng của bệnh Parkinson xảy ra nơi người : một sự gia tăng những dao động tần số thấp trong vỏ não vận động và một sự đồng bộ hóa quá mức của hoạt động neurone trong vùng này. Trước hết các tác giả đã kiểm tra hai tham số này bằng cách ghi hoạt động não của vỏ vận động của các con chuột. Rồi họ đã kích thích với một dòng điện có tần số cao (400 hertz) các cột sau (colonnes dorsales) của tủy sống ngực của chúng, những vùng có những bó sợi thần kinh vận chuyển những thông tin cảm giác từ các chi dưới lên đến não bộ. Lý thuyết của họ là, bằng cách điều biến những đường thần kinh hướng thượng này, họ sẽ tái lập hoạt động của não bộ của những con chuột này, vốn bị rối loạn tổ chức vì căn bệnh.

Hỏi : Các tác giả đã đạt được điều gì ?
David Grabli : Hiệu quả đã xảy ra tức thời : Họ đã quan sát nhận thấy một sự gia tăng hoạt động vận động của các con chuột và sự phục hồi hoạt động bình thường của não bộ chúng trong vùng vỏ não vận động, nghĩa là sự biến mất những nhịp chậm và sự mất đồng bộ bình thường của các neurone.

Hỏi : Người ta có thể suy diễn ra điều gì nơi người ?
David Grabli : Đó là điều rất đặc sắc cho người, bởi vì can thiệp ngoại khoa dễ thực hiện hơn nhiều so với phương pháp kích thích vùng sâu trong não bộ. Nhưng nhất thiết phải kiểm tra tính hiệu quả và vô hại của kỹ thuật này nơi khỉ, mô hình động vật tương cận với người hơn chuột.
( LA RECHERCHE 5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay..._News_nr123.htm (TSYH 123, bài số 9)

9/ NƠI TRẺ EM, BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LÀ DO VIRUS.

Các virus đúng là có thể làm phát khởi bệnh đái đường loại I nơi các trẻ em. Đó là điều được xác nhận bởi một công trình nghiên cứu của Anh. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các entérovirus, những virus thông thường của những bệnh sốt nhi đồng, trong tụy tạng của 60 những trẻ em đái đường, so với 6% những trẻ em không bị bệnh. Mặc dầu những trường hợp đái đường này là do di truyền, người ta biết rằng môi trường đóng một vai trò trong sự xuất hiện của các triệu chứng : ví dụ, nơi những trẻ sinh đôi có cùng các gène, thường chỉ có một trẻ là phát triển bệnh đái đường. Lý thuyết của nhiễm trùng virus đã có từ lâu, nhưng công trình nghiên cứu này là công trình đầu tiên mang lại những chứng cớ xác thực. Bởi vì chính ngay trong những tế bào sản xuất insuline, bị phá hủy trong trường hợp đái đường, mà người ta đã tìm thấy các virus ! Như là nơi những trẻ có tổ bẩm di truyền đối với bệnh đái đường, các virus sẽ phát khởi một phản ứng phòng ngự bất thường, gây nên sự phá hủy không đảo ngược của những tế bào bị nhiễm siêu vi trùng. Nhưng không phải là tất cả : các virus này cũng đã được nhận thấy nơi 40% các bệnh nhân đái đường loại 2. Nếu những dấu hiệu này được xác nhận, việc nhận diện các entérovirus gây bệnh trong số 100 loại hiện có sẽ cho phép nghĩ đến một vaccin khả dĩ làm giảm tần số mắc phải những chứng bệnh này.
(SCIENCE ET VIE 5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay..._News_nr118.htm (TSYH 118, bài số 8)
http://www.yduocngay..._News_nr102.htm (TSYH 102, bài số 8)

10/ TRẺ CON CÓ LÝ : ĂN BẨN CÓ THỂ TỐT CHO SỨC KHOẺ.

Hãy hỏi các bà mẹ tại sao các em bé thường nhặt các đồ vật lên từ sàn nhà hay mặt đất và bỏ chúng vào miệng, và xác suất là các bà mẹ này sẽ nói rằng đó là do bản năng, rằng đó là cách thức các trẻ con thăm dò thế giới. Nhưng tại sao lại là miệng, trong khi thị giác, thính giác, xúc giác và ngay cả khướu giác còn tốt hơn nhiều để nhận diện các đồ vật ?

Vì lẽ các hành vi bản năng có một ưu điểm tiến hóa, nếu không, chúng đã không được giữ lại trong hàng triệu năm, do đó điều này cũng có thể đã giúp chúng ta tồn tại với tư cách là một loài. Thật vậy, bằng chứng tích lũy rất gợi ý rằng ăn bẩn là tốt cho các bạn.

Trong những nghiên cứu của điều được gọi là giả thuyết vệ sinh (hygiene hypothesis), các nhà nghiên cứu kết luận rằng những sinh vật, như hàng triệu vi khuẩn, virus và đặc biệt là các ký sinh trùng, vào cơ thể cùng với “ đồ bẩn ”, kích thích sự phát triển của một hệ miễn dịch lành mạnh.Vài công trình nghiên cứu đang tiếp tục được thực hiện, gợi ý rằng các ký sinh trùng có thể giúp tái chỉ đạo một hệ miễn dịch đã bị hỏng và đưa đến những rối loạn tự miễn dịch, các dị ứng và hen phế quản. Những công trình nghiên cứu này, cùng với những quan sát dịch tễ học, dường như giải thích tại sao các rối loạn miễn dịch như bệnh xơ cứng rải rác (multiple slerosis), bệnh đái đường loại I, bệnh viêm ruột (inflammatory disorder), hen phế quản và các dị ứng đã gia tăng đáng kể ở Hoa Ky và các nước phát triển khác.

“ Những gì mà một đứa trẻ đang làm khi nó đưa các đồ vật vào trong miệng là cho phép đáp ứng miễn dịch của nó thăm dò môi trường xung quanh nó,” Mary Ruebush, nhà vi trùng và miễn dịch học đã viết như vậy trong cuốn sách mới xuất bản của bà “ Why Dirt is Good ”. Không những điều này cho phép “ thực hành ” các đáp ứng miễn dịch sẽ cần thiết cho sự bảo vệ cơ thể, mà nó còn đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy cho đáp ứng miễn dịch chưa trưởng thành những gì là tốt nhất đừng lưu ý đến.”

Một nhà nghiên cứu chủ đạo, BS Joel Weinstock, trưởng khoa Gastroenterology và Hepatology ở Tufts Medical Center, Boston, đã nói trong một cuộc phỏng vấn rằng, hệ miễn dịch lúc mới sinh ra đời “ cũng như một computer chưa được chương trình hóa. Nó cần được huấn luyện.

Ông nói rằng, những biện pháp y tế cộng đồng như làm sạch thức ăn và nước uống bị ô nhiễm, đã cứu mạng vô số trẻ em, nhưng chúng “ cũng loại bỏ sự tiếp xúc với nhiều vi sinh vật, có thể có lợi cho chúng ta ”.

“ Các trẻ em được nuôi lớn trong một môi trường cực kỳ sạch sẽ ”, ông nói thêm như vậy, “ không được tiếp xúc vối các vi sinh vật sẽ giúp chúng phát triển những vòng điều hòa miễn dịch (immune regulatory circuits) thích hợp.”

Những công trình nghiên cứu mà ông đã tiến hành với BS David Elliot, một thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa và miễn dịch của Đại học Iowa, chỉ cho thấy rằng những ký sinh trùng ruột, đã hầu như được loại bỏ trong những nước phát triển, “ có thể là tác nhân lớn nhất trong việc điều hòa hệ miễn dịch để đáp ứng một cách thích đáng, Elliot đã nói như vậy trong một bài phỏng vấn. Ông nói thêm rằng những nhiễm trùng do vi khuẩn và virus dường như ảnh hưởng lên hệ miễn dịch cùng một cách như vậy, nhưng không mạnh mẽ như trong trường hợp ký sinh trùng.

Nhiều ký sinh trùng là vô hại, đặc biệt là nơi những người có dinh dưỡng tốt, Weinstock đã nói như vậy. Có rất ít bệnh mà người ta mắc phải do ký sinh trùng,” ông đã nói như vậy. “ Con người đã thích nghi với sự hiện diện của hầu hết các con sâu này.”

Trong những công trình nghiên cứu trên chuột, Weinstock và Elliot đã dùng các ký sinh trùng để ngăn ngừa hay chữa bệnh tự miễn dịch (autoimmune disease). Elliot nói rằng ở Argentina, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng những bệnh nhân bị xơ cứng rải rác (multiple slerosis), khi bị nhiễm trùng bởi trùng roi người (human whipworm), đã có những trường hợp bệnh nhẹ hơn và ít những cơn bộc phát bệnh hơn trong một thời gian 4 năm rưỡi. Ở Đại Học Wisconsin, Madison, một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đang trắc nghiệm để xem các con trùng roi heo (pig whipworm) có thể làm dịu bớt những triệu chứng của xơ cứng rải rác hay không.

Ở Gambia, nơi một vài ngôi làng, việc loại bỏ các con ký sinh trùng đã khiến cho các trẻ em có những phản ứng da đối với các dị nguyên gia tăng, Eliot đã nói như vậy.

Và những con trùng roi heo, cư ngụ một thời gian ngắn ngủi trong ruột người, đã có “ tác dụng tốt ” trong điều trị những bệnh viêm ruột (inflammatory bowel diseases), bệnh Crohn và viêm loét đại tràng (ulcerative colitis), ông đã nói như vậy.

Các con ký sinh trùng có thể ảnh hưởng hệ lên miễn dịch như thế nào ? Elliot giải thích rằng ngày nay sự điều hòa miễn dịch được biết là phức tạp hơn những gì mà các nhà khoa học đã nghĩ, khi lý thuyết vệ sinh lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1989 bởi một nhà dịch tễ học người Anh, BS David Strachan. Strachan đã ghi nhận một sự liên kết giữa những gia đình đông con và sự giảm tỷ lệ hen phế quản và dị ứng. Các nhà miễn dịch học bây giờ công nhận một hệ thống đáp ứng gồm 4 tế bào helper T : đó là những tế bào Th 1, Th 2, Th 17 và những tế bào T điều hòa (regulatory T cells).

“ Nhiều bệnh viêm (xơ cứng rải rác, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng và hen phế quản) là do hoạt động của Th 17 ”, ông đã giải thích như vậy. “ Nếu anh gây nhiễm chuột với các ký sinh trùng, thì những tế bào Th 17 giảm rất nhiều, và hoạt động của các tế bào T điều hòa tăng cao.”

Trả lời câu hỏi “ Chúng ta có quá sạch lắm không, Elliot nói : Sự bẩn thỉu có một cái giá. Nhưng sự sạch sẽ cũng có cái giá. Chúng tôi không đề nghị trở lại môi trường đầy vi trùng của những năm 1850. Nhưng nếu chúng ta hiểu một cách thích hợp các vi khuẩn trong môi trường bảo vệ chúng ta như thế nào, có lẽ chúng ta có thể tạo một thuốc chủng hay bắt chước tác dụng của chúng bằng một kích thích vô hại nào đó.”

Ruebush, tác giả của “ Tại sao bẩn là tốt ”, cũng không gợi ý trở về lối sống bẩn. Nhung bà chỉ rõ một cách đúng đắn rằng vi khuẩn có mặt khắp nơi : trên chúng ta, trong chúng ta và quanh khắp chúng ta. Hầu hết những vi khuẩn này không tạo nên vấn đề, và nhiều vi khuẩn, như những vi khuẩn bình thường sống trong đường tiêu hóa và sản xuất những chất dinh dưỡng duy trì đời sống, là thiết yếu để có sức khoẻ tốt. “ Một con người tiêu biểu có lẽ chứa khoảng 90 ngàn tỷ vi trùng.” bà đã viết trong tác phẩm của bà như vậy. Chính sự việc anh có quá nhiều vi khuẩn thuộc nhiều loại khác như thế là những gì khiến cho anh luôn luôn được khỏe mạnh.”

Ruebush phàn nàn thái độ tôn sùng hiện nay đối với hàng trăm các kháng sinh, mặc dầu mang lại một cảm giác an toàn giả tạo nhưng thật ra có thể duy trì sự phát triển của những vi khuẩn sinh bệnh, đề kháng với kháng sinh. Xà phòng đơn thuần và nước là tất cả những gì cần thiết để trở nên sạch, bà đã ghi nhận như vậy. Khi không có nước máy và cần phải làm sạch bàn tay, bà gợi ý dùng thuốc sát trùng bằng cồn.

Weinstock lại còn đi xa hơn. “ Các đứa trẻ nên được cho phép đi chân trần trong đất, chơi trong đất, và không rửa tay khi chúng đi ăn ”, ông đã nói như vậy. Ông và Elliot đã chỉ rõ rằng những trẻ em lớn lên trong nông trại và thường tiếp xúc với các ký sinh trùng và những vi trùng khác từ những động vật nông trại, ít có khả năng phát triển dị ứng và những bệnh tự miễn dịch hơn.

Cũng là hữu ích, ông nói như vậy, “ khi để cho con trẻ có hai con chó và một con mèo, điều này sẽ làm cho chúng được tiếp xúc với ký sinh trùng ruột, như thế có thể phát triển một hệ miễn dịch lành mạnh.
( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 29/1/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/5/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#4 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 28 May 2009 - 05:25 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ “ TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẠI DỊCH TOÀN CẦU, CÓ PHƯƠNG TIỆN KHÔNG THÔI VẪN KHÔNG ĐỦ ”.

Đối với G.S Jean-Philippe Derenne, nước Pháp đã khá được trang bị để đương đầu với một cuộc khủng hoảng y tế quy mô lớn. Nhưng người ta vẫn chưa biết những hậu quả xã hội của một biến cố như thế.
Trưởng khoa phổi và hồi sức của bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Jean-Philippe Derenne ngày nay là thầy thuốc tham vấn của bệnh viện này.

Hỏi : Vào năm 2005, khi ông cùng với François Bricaire, xuất bản “ Pandémie, la grande menace ” (Đại dịch, mối đe dọa lớn) (Fayard), ông đã khá gây lo sợ về chủ đề cúm gia cầm. Ông có vẫn như vậy hay không với cúm A (H1N1)?
G.S Jean-Philippe Derenne : Chúng tôi đã không gây lo sợ, 90% các chuyên gia virus chuyên về bệnh cúm đều đã nói rằng virus A (H5N1) sẽ biến dị. Khi đó chúng tôi là các trưởng khoa của một trong hai bệnh viện Paris, phải chịu làn sóng đầu tiên những bệnh nhân trong trường hợp đại dịch. Trách nhiệm của chúng tôi là có thể điều trị các bệnh nhân và bảo vệ các nhân viên điều dưỡng. Nếu hôm nay chúng ta có được các phương tiện để chống lại cúm A (H1N1), đó chính là nhờ sự huy động này. Nhiều người đã rất là tích cực : Xavier Bertrand, khi đó là Bộ trưởng y tế, Jacques Chirac, khi đó là tổng thống của nước cọng hòa. Chính sách này đã được kế tục bởi tổng giám đốc y tế hiện nay, Didier Houssin. Trận dịch cúm A (H1N1) hiện nay dường như ít nghiêm trọng hơn điều mà chúng ta đã có thể e sợ trong trường hợp biến dị của virus A (H5N1).

Hỏi : Thế thì tại sao trận dịch lại làm sợ hãi đến thế ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Trước hết là bởi vì lứa tuổi bị bệnh : 60% các bệnh nhân ở tuổi 18 hoặc ít hơn. Điều này giống với trường hợp cúm Tây Ban Nha đã giết chết 70 triệu người giữa năm 1918 và 1920. Mặt khác, những công bố đầu tiên chỉ rõ rằng, ở Hoa Kỳ, 5% các bệnh nhân đã phải bị nhập viện. Nếu như thế, trong trường hợp đại dịch, ta phải e sợ rằng các bệnh viện sẽ bị tràn ngập. Sau cùng,
Margaret Chan, nữ giám đốc OMS, vừa bày tỏ các lo sợ về một sự tương tác khả dĩ giữa virus A (H1N1) biến dị và vius A (H5N1).

Hỏi : Người ta sợ điều gì với loại cúm A này ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Nói chung, cúm giết người là do các biến chứng hô hấp, các viêm phổi do virus và nhất là những viêm phổi do vi khuẩn bội nhiễm. Các nước phương tây có nguy cơ thấy các cơ sở điều trị gặp khó khăn. Trong các nước nghèo, nơi các cơ sở điều trị thường trong tình trạng bấp bênh, phải sợ rằng có nhiều bệnh nhân tử vong mà những bệnh nhân này nếu được điều trị có thể được cứu sống. Chúng ta không thể chấp nhận điều đó. Chính trách nhiệm của nước Pháp, một trong những nước được chuẩn bị tốt nhất, là phải thuyết phục các nước khác của Liên Hiệp Châu Âu về một sự hợp tác thật sự và một sự giúp đỡ hậu cần có hiệu quả dành cho các nước ít được chuẩn bị nhất.

Hỏi : Tamiflu có hiệu quả chống lại cúm A (mà bây giờ ta không còn gọi là cúm heo nữa).
G.S Jean-Philippe Derenne : Virus mới A (H1N1) nhạy cảm với Tamiflu và với Relenza, trong khi ở Hoa Kỳ virus cúm mùa A (H1N1) đã trở nên đề kháng với chúng.

Cúm này không phải là cúm heo bởi vì nó không phải là một bệnh cúm của heo được truyền bởi heo. Virus mới A (H1N1) là một bệnh cúm của người được truyền bởi người. Có lẽ virus đã được kết hợp nơi heo, bởi vì dường như nó liên kết với sự tái phối hợp của hai virus heo vốn lưu hành trước đây.

Một virus là một sinh vật không thể tự sinh sản. Do đó nó phải đi vào trong một tế bào. Phần lớn các virus có một enzyme có nhiệm vụ sao chép lại cấu trúc của những thành phần khác nhau của chúng và như tất cả các người sao chép, enzyme này cũng phạm những lỗi lầm. Ngoài ra chúng có một enzyme đọc lại (enzyme de relecture), nhằm sửa chữa những sai sót vừa nói đến. Trong virus cúm, enzyme có nhiệm vụ đọc lại này bị thải hồi. Do đó virus thay đổi thường trực. Nhưng ngoài ra, khi hai virus cùng hiện diện, có thể có sự tái phối hợp (recombinaison) của một virus mới, lấy một phần bộ gène của virus thứ nhất và một phần của virus thứ hai. Chính như thế mà virus A (H1N1) dường như xuất phát từ năm nguồn gốc khác nhau.

Hỏi : Vào lúc này, ở Pháp, việc tiến hành dự trữ Tamiflu như người Mỹ đang làm, có ích lợi hay không ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Ở Hoa Kỳ, cấu trúc tổ chức y tế khiến cho điều này có thể không vô ích. Ở Pháp, nếu thêm vào Relenza, chúng ta sẽ có 33 triệu liều điều trị. Tuy nhiên, có các phương tiện không thôi không đủ. Cần hành động rất nhanh trong trường hợp đại dịch cúm. Tôi nghĩ chính để buộc các quốc gia xem trọng mối đe dọa đại dịch mà OMS đã chuyển qua mức 5.

Hỏi : Nhưng như thế người ta không làm đúng nguyên tắc thận trọng hay sao ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Tôi không thích nguyên tắc thận trọng, dẫn đến ý niệm nguy cơ zéro. Tôi thích nguyên tắc lợi ích so với nguy cơ hơn. Trong trường hợp này, đó không phải là nguyên tắc thận trọng. Câu hỏi là : chúng ta đã được trang bị để chống lại một đại dịch, mà bản chất đó là một cuộc tấn công trực tiếp chống lại một xã hội ? Ngoài ra, sự lây nhiễm cúm được thực hiện qua những giọt nhỏ, được phát ra lúc ho và lúc hách xì : người bị cúm nguy hiểm cho những người ở gần anh ta. Lịch sử của các đại dịch luôn luôn cho thấy những hiện tượng tan vỡ trong gia đình, trong những nhóm xã hội và, sau khi tai ương đã qua, còn lại những câu chuyện tội lỗi là đã không săn sóc người thân, là đã làm lây nhiễm họ ,…

Không ai đã chuẩn bị để đối phó với cúm Tây Ban Nha, những đại dịch đã đến với Tây Phuơng ngay sau chiến tranh 1914-1918. Cúm Tây Ban Nha đã gây bệnh cho các người trẻ tuổi, trong đó có các quân nhân, và những người chết vì cúm như thể lại được thêm vào trong những tổn thất chiến tranh. Ngoài ra, lúc đó phần lớn dân chúng trên thế giới sống ở vùng nông thôn. Do đó, những tiếp xúc ít mật thiết như ngày nay trong các thủ phủ, là nơi, đặc biệt trong những nước nghèo, dân chúng sống dính kết với nhau. Sau cùng, ngoài những nước phương tây, không ai biết điều gì đã xảy ra trong nước ở cạnh bên. Ngày nay chúng ta có một trình độ thông tin đi trước hẳn trình độ y tế, và mọi người đều biết rằng những người giàu đã cố ý để chết hàng triệu người nghèo.

Hỏi : Vài người nói rằng sự ồn ào được tạo nên chung quanh dịch cúm A là một cách để làm cho dân chúng lãng quên nỗi lo sợ về cuộc khủng hoảng kinh tế hiện đang diễn ra ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Cái vĩ đại của chế độ dân chủ là ở chỗ mọi người đều có quyền nói ra những điều ngu xuẩn. Ông hẳn nhớ cái thời kỳ người ta đã nói rằng sida chỉ là một mối đe dọa được giương ra để nhằm chống lại những người đồng tính luyến ái, nhân danh trật tự đạo đức.

Hỏi : Khuyên dân Pháp đừng đi Mễ tây Cơ và Hoa Kỳ phải chăng là thích đáng, trong khi đã có 30 nước bị lây nhiễm ?
G.S Jean-Philippe Derenne : 3 nước thật sự bị lây nhiễm, Mễ tây Cơ, Hoa Kỳ và Canada. Ổ bệnh Hoa Kỳ rất là quan trọng, bởi vì chỉ có 18% những người bệnh là đã trở về từ Mễ Tây Cơ. Tất cả các tiểu bang Hoa Ky đều bị lây nhiễm, ổ bệnh lớn nhất là trong Illinois, rất xa Mễ Tây Cơ.

Hỏi : Người ta sẽ hiệu chính một vaccin chứ ?
G.S Jean-Philippe Derenne : OMS đã loan báo hôm 18/5 rằng kể từ tháng chín, 4,9 tỷ liều đơn vị vaccin chống virus A (H1N1) có thể được chế tạo trong 12 tháng. Vậy khoảng 400 triệu liều mỗi tháng, và phải đợi thêm 3 tuần để có được một miễn dịch tốt. Giả sử rằng công nghiệp dược phẩm có khả năng sản xuất với năng suất tối đa ngay từ tháng chín, như thế sau đó sẽ phải còn lựa chọn những nhóm dân nào cần được tiêm chủng đầu tiên.

Hỏi : Ông có nghĩ rằng người Pháp ngay từ bây giờ phải có những chuẩn bị đặc biệt, ví dụ mang mặt nạ ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Không, nếu không hãy theo những lời khuyên thông thường, như rửa tay, v..v…. Nếu các phương tiện cần phải thiết đặt, thì phải suy nghĩ điều đó một cách tập thể, chứ đừng rơi vào tình trạng mọi người vì mình như ở Hoa Kỳ.

Các mặt nạ, ít nhất là những mặt nạ ngoại khoa đang được sử dụng bởi dân Mễ, chỉ hữu ích để tránh không cho bệnh nhân truyền bệnh, khi họ ho hay hách xì. Các mặt nạ không dùng cho những người lành mạnh để tránh bệnh. Chỉ có những mặt nạ FFP2 hay FFP3 là hữu ích, nhưng khó chịu đựng được và chỉ hiệu quả trong 4 giờ.

Nhất là không nên mua Tamiflu trên Internet : các thuốc giả đầy dẫy, và những thuốc không đủ liều làm bệnh nhân đề kháng với virus. Ngoài ra không nên mua bất cứ thuốc nào trên internet.
(LE MONDE 23/5/2009)

2/ AI SẼ ƯU TIÊN ĐƯỢC TIÊM CHỦNG CHỐNG CÚM MEXICO ?

G.S Yves Van Laethem là chuyên gia về các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles.

Hỏi : Trong khi vaccin cúm mùa (vaccin saisonnier) (chứa 3 giống gốc đã được chọn lọc từ nhiều tuần nay), hiện đang được sản xuất để có sẵn sử dụng vào mùa thu đến, ta có thể thêm vào vaccin này giống gốc mexico hay không ?
G.S Yves Van Laethem : Đúng là khó có thể được. Bởi vì các hãng bào chế hiện đã tiến rất xa trong việc chế tạo vaccin cúm mùa và rằng OMS đang sửa soạn gởi đến các hãng bào chế khác nhau, chủng virus mới vừa được phân lập. Các hãng sẽ có một chủng được làm thanh khiết trong khoảng 10 ngày nữa. Vậy ngoài vaccin cúm mùa, sẽ cần phải chế tạo một vaccin đặc hiệu (chống cúm mexico) để chủng.

Hỏi : Sẽ cần phải tiêm bao nhiêu mũi ?
G.S Yves Van Laethem : Khó có thể trả lời được : không ai đã có thể trắc nghiệm cũng như cấy loại virus mới này của cúm. Có lẽ cần đến hai mũi tiêm, như thường là như vậy trong trường hợp của một kháng nguyên mới. Người ta cũng chẳng biết là “ nó có mọc tốt ” hay không, đôi khi chúng ta có những bất ngờ.

Hỏi : Khi nào thì chủng ?
G.S Yves Van Laethem Nếu một làn sóng dịch bệnh thứ hai xảy đến, điều này rất là khả dĩ, vì lẽ đó là điều gần như đã xảy ra trong lịch sử của các virus, thì sẽ phải tiêm chủng những bệnh nhân trước khi làn sóng dịch có thể đến giữa tháng 10 và tháng 11, hoặc sớm hơn đợt tiêm chủng thường lệ được thực hiện hàng năm vào tháng 11, để được chuẩn bị cho tháng giêng và tháng hai. Vậy phải tiêm chủng vaccin mexico hai tháng sớm hơn.

Hỏi : Sẽ có khả năng sản xuất đủ hay không, nhất là đối với trứng gà, luôn luôn cần thiết trong quá trình sản xuất vaccin ?
G.S Yves Van Laethem : Chỉ có những hãng bào chế mới có thể trả lời câu hỏi này. Lý tưởng là họ có thể sản xuất xong vaccin cúm mùa sớm hơn, vào cuối tháng 6, và rằng họ có thể bắt đầu sản xuất ngay vaccin đặc hiệu này. Tuy nhiên đừng có mang ảo tưởng : hàng trăm triệu liều vaccin sẽ được sản xuất, sẽ dành ưu tiên cho những ai sẽ gởi đơn đặt hàng và sẽ thanh toán tiền, nghĩa là các nước phát triển.

Hỏi : Vì virus này tấn công những người trẻ tuổi có sức khoẻ tốt, đó là điều không phải bình thường, vậy có phải ưu tiên dành vaccin cho những đối tượng này ?
G.S Yves Van Laethem : Sẽ đúng là hữu ích khi dành vaccin cho những bệnh nhân từ 35 đến 50 tuổi, những người theo lệ thường không chết vì bệnh cúm. Nhưng những người có tình trạng miễn dịch bị suy giảm, với một bệnh mãn tính hay lớn tuổi hơn, là những nhóm ưu tiên theo lệ thường, cũng sẽ bị tiếp xúc với virus không thua kém gì. Nếu không có đủ vaccin, công việc trọng tài về mặt đạo đức sẽ là khó khăn.
( LE SOIR 5/5/2009)

3/ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT : RỐI LOẠN NỔI KẾT GIỮA CÁC NEURONE ?

Các kết quả của nhiều công trình nghiên cứu (có tính chất cơ thể học, di truyền học và chức năng) chứng minh rằng bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh trong đó những nối kết liên não (connexions intercérébrales) bị thương tổn. Hậu quả là những loạn năng trong sự trao đổi thông tin của những vùng khác nhau của não bộ, những khiếm khuyết trong việc phát tín hiệu giữa các neurone và sự thiếu đồng bộ trong hoạt động của chúng. Điều này giải thích triệu chứng ảo giác (hallucination) và những triệu chứng khác.
(PARIS MATCH 20/5-27/5/2009)

4/ CHỨNG LÃO THỊ CÓ THỂ ĐƯỢC PHẪU THUẬT MÀ KHÔNG GÂY BIẾN CHỨNG ?

OPHTALMOLOGIE. Một thầy thuốc người Pháp loan báo đã hiệu chính một kỹ thuật mới “ cực kỳ nhanh ”. Nhưng ngoại khoa của chứng rối loạn thị giác này vẫn chưa chứng minh được khả năng điều trị.

Vào lứa tuổi 50, khi chúng ta bị lão thị (presbythie), cái khuyết tật điều tiết làm cho chúng ta thấy mờ khi nhìn gần, chúng ta có nên giao phó đôi mắt mình cho con dao của các thầy thuốc ngoại khoa ? Câu hỏi cần những câu trả lời đáng tin cậy khi chúng ta biết rằng 80% đàn ông và phụ nữ hơn 45 tuổi bị liên quan bởi vấn đề này. Ngoài ra, chứng lão thị được thêm vào những khuyết tật đã có từ trước (cận thị, viễn thị, loạn thị), đòi hỏi những phương thức điều trị rất khác nhau !

Nhân hội nghị của Hiệp hội Nhãn khoa Pháp, đã kết thúc hôm qua ở Paris, một chuyên gia người Pháp, BS Alain Telandro, đã loan báo ầm ĩ là đã hiệu chính được một kỹ thuật ngoại khoa mới bằng laser “ cực nhanh, giác mạc được để nguyên vẹn ”. 4 bệnh nhân người Pháp đã được mổ ở Cannes tuần vừa qua, theo kỹ thuật “ đang được nghiên cứu ở Colombie từ hai năm nay ” này.

HAC (Haute autorité de santé) đã giải thích rằng, về loại giải phẫu này, “ ngoài một công trình nghiên cứu cũ về trị liệu điều chỉnh các rối loạn chiết quang bằng laser Excimer ”, cho đến nay, vẫn không có một hội nghị nhất trí nào, cũng như không có một khuyến nghị nào nhằm đả thông các thầy thuốc và các bệnh nhân của họ về các hạn chế, các chống chỉ định, các ưu điểm hay những biến chứng của phẫu thuật.

Mặc dầu như thế, yêu cầu được phẫu thuật vẫn không suy giảm : “ Điều trị lão thị được toàn thể nghề y mong muốn ”, một thầy thuốc nhãn khoa Paris đã thú nhận như vậy.

CON MẮT CŨNG NHƯ MỘT CAMERA.

Để hiểu rõ rối loạn chiết quang này, phải tưởng tượng con mắt như là một camera có một hệ thống các vật kính (buồng trước, giác mạc, thủy tinh thể), một buồng đen và một phim nhạy cảm, võng mạc. Để tạo nên một hình ảnh rõ ràng trên võng mac, thủy tinh thể, nơi các tia sáng đi xuyên qua, được phát ra và được phản chiếu bởi các vật kính, khum lên nhờ các cơ bám vào nó và tạo nên hình ảnh rõ nét trên võng mạc. Nói chung chính thủy tinh thể này, do một sự lão hóa bình thường của mắt, cứng lại và dày lên khi lớn tuổi. Thường thường, người bị như thế khó điều tiết đầy đủ để đọc gần.

Những giải pháp cổ điển vẫn luôn luôn được sử dụng : các kính có độ tăng dần khôi phục lại toàn bộ thị trường ; các lentille mềm hay dễ uốn nhiều tiêu điểm (multifocal), được sử dụng để nhìn một mắt, nhìn luân phiên, hay đồng thời, đã mang lại nhiều thành công : hon 30 mẫu lentille dành cho những người lão thị đang được bán trên thị trường Pháp.

Ngoại khoa cũng đã xuất hiện. Đó chủ yếu là một ngoại khoa không xâm nhập bằng laser. Dẫu dùng laser Excimer hay Lasik (các năng lượng được phát ra khác nhau), các phẫu thuật, đến nay, nhằm tạo lại hình dáng giác mạc nhờ tạo nên nhiều vùng cắt bỏ. “ Theo chỗ tôi biết, không có một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nào đã chứng minh tính hiệu quả được so sánh của phẫu thuật này ” , BS Eric Gabison (thầy thuốc tham vấn của Cơ quan Rorhschild, Paris) đã công nhận như thế.

“ MỘT NGOẠI KHOA TIỆN NGHI ”

Các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể (cataracte) kết hợp với lão thị có thể hưởng phẫu thuật thay thủy tinh thể bị lão hóa bằng một implant mềm nhiều tiêu cự, cho phép nhìn xa và gần như với các kính đeo có độ tăng dần.

G.S José-Alain Sahel, chủ tịch của Viện thị giác, cho rằng “ đến nay, đó là một ngoại khoa tiện nghi (chirurgie de confort), chưa được chấp nhận và nhất là không có gì là cần thiết. Đôi khi, nhân một cuộc phẫu thuật trị bệnh đục thủy tinh thể, các phẫu thuật viên lợi dụng để lấy bỏ thủy tinh thể. Nhưng việc mổ những người lão thị ở lứa tuổi 50 đối với tôi dường như không thích đáng. Chúng ta biết rằng 1/3 những người lớn tuổi sẽ bị chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Sự tương tác giữa ngoại khoa lão thị và bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác có thể tạo ra các vấn đề ”.
(LE FIGARO 12/5/2009)

5/ LÀM VIỆC VỀ ĐÊM CÓ HẠI CHO PHỤ NỮ.

Sau khi công bố một bài báo cáo của Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư, chỉ rõ rằng sự làm việc về đêm không phải tạm thời, về lâu về dài có thể là một nguyên nhân của ung thư vú. 40 phụ nữ Đan Mạch đã nhận một số tiền bồi thường. Lý do giải thích : những phụ nữ lao động về đêm, sản xuất ít mélatonine (hormone được sản xuất ban đêm) hơn những phụ nữ khác, điều này làm gia tăng nơi họ lượng oestrogène lưu thông trong máu. Thế mà, những hormone này lúc quá thặng dư, làm dễ sự tăng trưởng của các ung thư vú.
( PARIS MATCH 30/4-6/5/2009)

6/ NGĂN NGỪA CÁC TAI BIẾN TIM MẠCH : HƯỚNG VỀ MỘT VIÊN THUỐC DUY NHẤT ?

G.S Nicolas Danchin, trưởng khoa ở bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, bình luận một công trình nghiên cứu mới được thực hiện với “ polypill ” chứa 5 loại thuốc.

Hỏi : Thường thường những ai có nguy cơ bị những tai biến tim-mạch ?
G.S Nicolas Danchin : Thật vậy, có nhiều yếu tố làm dễ, mà sự phối hợp sẽ làm gia tăng nguy cơ một cách đáng kể. Đó là tuổi tác (trên 40 tuổi), thặng dư cholestérol, cao huyết áp, nghiện thuốc lá, bệnh đái đường, di truyền, chứng béo phì bụng, cũng như tình trạng nhàn rổi không hoạt động, stress tâm lý. Ở Pháp, người ta kiểm kê gần 100.000 trường hợp nhồi máu cơ tim mỗi năm và cùng một số lượng như thế đối với tai biến mạch máu não.

Hỏi : Hiện nay người ta làm sao để ngăn ngừa các tai biến tim-mạch này ?
G.S Nicolas Danchin : Phương thức thứ nhất là tìm những yếu tố nguy cơ đe dọa...Điều đó đôi khi khó, bởi vì vài yếu tố không gây nên một triệu chứng nào. Do đó sự cần thiết phải làm xét nghiệm máu kể từ tuổi 40, để đo nồng độ cholestérol và đường (glucose-huyết), và sự hữu ích cần đo huyết áp mỗi lần thăm khám. Khi các kết quả bình thường, những xét nghiệm này cần phải được lập lại mỗi 3 hay 5 năm, cho đến năm 60 tuổi, và sau đó cứ mỗi năm một lần.

Hỏi : Trong trường hợp nào thì cần điều trị phòng ngừa ?
G.S Nicolas Danchin : Khi một yếu tố nguy cơ được phát hiện, như tăng cholestérol-huyết hay bệnh đái đường, mà một điều trị duy nhất thường là đủ (như statine để làm hạ cholestérol). Đối với cao huyết áp, ta thường cần phải phối hợp nhiều loại thuốc nhằm làm giảm huyết áp. Khi nhiều yếu tố nguy cơ liên kết với nhau, ta thường kê đơn 3 hay 4 loại thuốc khác nhau và đôi khi hơn thế. Việc uống nhiều thứ thuốc như vậy có thể tạo nên một sự bó buộc làm phương hại đến sự tuân thủ điều trị.

Hỏi : Với những phương pháp phòng ngừa này, những kết quả có được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Trong 25 năm, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đã giảm 50% ! Thành quả thu được này một nửa là do sự phòng ngừa và nửa kia là nhờ những tiến bộ được thực hiện trong điều trị, lúc bị nhồi máu hay sau đó.

Hỏi : Công trình nghiên cứu Ân Độ, trong đó điều trị phòng ngứa những tai biến tim-mạch với một viên thuốc duy nhất, được thực hiện như thế nào ?
G.S Nicolas Dachin : G.S Salim Yusuf đã tiến hành công trình nghiên cứu này trên khoảng 2000 người tuổi từ 45 đến 80, tất cả không bị bệnh nhưng mang một trong những yếu tố nguy cơ. Trong 3 tháng, tất cả đã uống mỗi ngày một viên polypill (chứa aspirine, một chất kháng cholestérol và 3 loại thuốc chống cao huyết áp), hoặc một thứ thuốc duy nhất, hoặc một phối hợp của vài trong những thứ thuốc họp thành polypill.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Hiệu quả đã tỏ ra tốt : viên thuốc polypill này đã cho phép làm hạ cholestérol gần giống như với một statine dùng đơn độc, cho phép làm giảm huyết áp còn hơn một thuốc chống cao áp cổ điển và làm gia tăng độ lỏng (fluidité) của máu giống như với một aspirine dùng đơn độc. Trên bình diện dung nạp thuốc, hơn 8 bệnh nhân trên 10 đã không có một tác dụng phụ nào.

Hỏi : Theo ý kiến ông, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ có thể hưởng viên thuốc polypill này ?
G.S Nicolas Dachin : Lợi ích đầu tiên của công trình nghiên cứu này là đã chứng minh rằng người ta có thể đơn giản hóa một điều trị để cải thiện sự tuân thủ nó. Mặt khác, đó là một kỳ công kỹ thuật học vì đã thành công hiệu chính một viên thuốc chứa 5 thứ thuốc ! Những thách thức thật sự sẽ được diễn ra trong công trình nghiên cứu sắp đến, với thời gian thực hiện dài hơn nhiều, khi đó nguoi ta sẽ có thể kiểm chứng rằng polypill thật sự làm giảm nguy cơ tim mạch mà không gây nên các biến chứng. Một mục đích khác, xa vời hơn, của công trình nghiên cứu này, là cho toàn thể dân chúng khả năng làm giảm một nửa nguy cơ, chỉ với một viên thuốc mà thôi.
( PARIS MATCH 7/5-13/5/2009)

7/ VITAMINE D CÓ MỘT TÁC ĐỘNG LÊN NGUY CƠ TIM MẠCH.

ENDOCRINOLOGE. Một công trình nghiên cứu của Anh phát hiện một mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và bệnh đái đường hay những bệnh tim mạch.

Vitamine D hiện nay là trọng tâm của nhiều nghiên cứu khoa học, và không chỉ về những tác dụng đã được biết từ lâu của nó lên mật độ xương (densité osseuse). Như là, những công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các thầy thuốc người Anh khiến nghĩ rằng một cung cấp bổ sung vitamine D có thể giúp những người lớn tuổi làm giảm nguy cơ phát triển những vấn đề tim hay đái đường của họ. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời làm giảm những sự thiếu hụt vitamine D gây nên do tuổi tác hay do thay đổi lối sống. Vấn đề được đặt ra, đó là những người lớn tuổi hấp thụ vitamine D ít tốt hơn so với những người nhỏ tuổi hơn. Vitamine D được tổng hợp nhờ các tia nắng mặt trời, và những người lớn tuổi thì lại ít tiếp xúc hơn với ánh nắng.

Những công trình được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của đại học Anh Warwick, mà B.S Oscar Franco tiến hành, và được công bố tuần này trong Diabetes Care, kết luận rằng sự thiếu hụt vitamine D được liên kết, một cách đáng kể, với “ hội chứng chuyển hóa ” (syndrome métaboliqe). Hội chứng này là sự phối hợp của những rối loạn khác nhau (tăng cholestérol-huyết, chứng béo phì, bệnh đái đường), làm gia tăng nguy cơ phát triển những bệnh tim mạch.

NHỮNG LÝ LẼ VỮNG CHẮC.

Công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 3.262 người tuổi từ 50 đến 70, tất cả đều thường trú ở Trung Quốc (Bắc Kinh và Thượng hải), đã phát hiện rằng những người có một nồng độ thấp vitamine D đã bị hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) nhiều hơn. “ Dường như sự thiếu hụt vitamine D là nguồn gốc của nhiều bệnh tật trên thế giới, đặc biệt là nơi các người già ”, Oscar Franco, tác giả của tài liệu được công bố, đã giải thích như thế. Trong công trình nghiên cứu này, cũng dường như rằng những nồng độ thấp vitamine D được liên kết một cách đáng kể với một sự đề kháng đối với insuline, nghĩa là một tình trạng tiền đái đường hay đái đường (état prédiabétique ou diabétique). “ Đó là một hướng nghiên cứu, nhưng những kết quả rất là sơ khởi, G.S Serge Hercberg, chuyên khoa về dinh dưỡng đã nhận xét như vậy, nhiều yếu tố, khác với những yếu tố được nghiên cứu trong tài liệu này, có thể can thiệp vào, như chế độ ăn uống,” Theo ông, dầu sao, cộng đồng khoa học ngày nay có những lý lẽ vững chắc để nói rằng vitamine D đóng một vai trò trong chuyển hóa. “ Công trình nghiên cứu này mở ra những hướng nghiên cứu mới về vitamine D ”, Serge Hercberg phát biểu như vậy.

“ Sự thiếu hụt vitamine D liên kết với bệnh đái đường loại 2, đã được biết từ lâu ”, G.S Philippe Chauveau, thầy thuốc khoa thận thuộc CHU de Bordeaux, về phần mình, đã đánh giá như vậy. “ Ở đây, điều đáng quan tâm, đó là số người được nghiên cứu. Ở Pháp, người ta thu được cùng các kết quả, nhưng với những công trình nghiên cứu quy mô nhỏ hơn.” GS Marc Bonnefoy, thầy thuốc chuyên về người già thuộc CHU de Lyon chia xẻ quan điểm này. Một công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện cho một luận án, cho thấy rằng trên 100 người già tuổi 80, 82% có một thiếu hụt vitamine D. “ Đó là một vấn đề quan trọng và việc cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống là điều cần thiết, G.S Marc Bonnefoy đã nhận xét như vậy. Trái lại, từ đó xác lập một quan hệ nhân quả giữa sự thiếu hụt vitamine D cà các rối loạn chuyển hóa là hơi nhanh. Mặc dầu có một mối liên kết giữa hai hiện tượng, nhưng việc xác lập một mối liên hệ như thế đối với tôi dường như còn sớm ” Sẽ phải cần những thử nghiệm điều trị để xác nhận điều đó.

ĐƯỢC TỔNG HỢP DO DA.

Dầu thế nào đi nữa, vitamine D được các nhà nghiên cứu chú ý. “ Rõ ràng là có một mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và tỷ lệ tử vong ”, Marc Bonnefoy đã nhấn mạnh như vậy. Cái đặc điểm lớn của vitamine này, đó là nó được tổng hợp phần lớn bởi da dưới tác dụng của những tia nắng mặt trời. Các cung cấp dinh dưỡng chiếm dưới 1/3 nguồn vitamine D. Nồng độ lớn nhất hiện diện trong cá và dầu gan morue. Các công trình nghiên cứu mới đây cũng đã cho thấy rằng vitamine D có thể đóng một vai trò trong sự ngăn ngừa vài loại ung thư, như ung thư đại tràng. Một tài liệu được công bố trong Archives of Internal Medicine vào tháng ba, xác nhận rằng vitamine D, được cho với liều lượng cao, làm giảm một cách đáng kể nguy cơ gãy xương nơi các người già.
( LE FIGARO 13/5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay...h_News_nr60.htm (TSYH 60, bài số 8)
http://www.yduocngay...h_News_nr43.htm (TSYH 43, bài số 1)

8/ CÁC TẾ BÀO GỐC : SỰ SẢN XUẤT VỚI SỐ LƯỢNG LỚN.

Các nhà nghiên cứu Canada đã thành công làm tăng sinh các tế bào gốc máu (cellules souches sanguines) trong phòng thí nghiệm. Một đầu tiên trên thế giới, có thể cho phép phát triển những điều trị mới và nhất làm dễ các ghép cơ quan (greffes d’organes).

Hàng ngàn người trên thế giới đang chờ đợi một cách hoài công một ghép tủy xương vì thiếu người cho thích hợp (donneur comptatible). Người ta biết rằng một ghép những tế bào gốc tủy xương (greffe de cellules souches de la moelle osseuse) có thể cho phép tái tạo lại tủy xương của người nhận, nhưng cái khó khăn chủ yếu vẫn là thu được một số lượng đầy đủ những tế bào thích hợp. Nhờ những nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu miễn dịch học và ung thư học của đại học Montréal, những bệnh nhân này, từ nay đến vài năm nữa, sẽ có thể có được một tủy xương mới mà không còn cần phải chờ đợi nữa.

Thật vậy, BS Guy Sauvageau và nhóm nghiên cứu đã chỉ rõ, trong một thông báo, rằng họ đã thành công sản xuất trong phòng thí nghiệm một số lượng lớn những tế bào gốc từ một lượng rất nhỏ những tế bào gốc máu (cellules souches sanguines) xuất phát từ tủy xương. “ Đó là một đầu tiên trên thế giới có thể có những ảnh hưởng quan trọng trong nhiều địa hạt và đó là một bước khổng lồ tiến về sự hiệu chính một trị liệu cho những bệnh nhân đang chờ đợi để được ghép tủy xương ”, các nhà nghiên cứu Canada đã tuyên bố như vậy.

TRÁNH PHẢN ỨNG THẢI BỎ.

Hiện nay những người được ghép buộc phải dùng thuốc để chống lại sự thải bỏ của cơ quan được ghép và phải chiu những tác dụng phụ vì thuốc này suốt cuộc đời. “ Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chuột chứng minh rằng những tế bào gốc của tủy xương có thể ngăn cản sự thải bỏ nhằm chống lại những cơ quan rắn ”, BS Sauvageau đã nhấn mạnh như vậy.

Phản ứng thải bỏ (rejet) xảy ra bởi vì những tế bào của hệ miễn dịch, được chế tạo bởi tủy xương, tấn công cơ quan được ghép (organe greffé) như thể đó là một kẻ xâm lăng. Làm sao tránh được điều đó ? Các nghiên cứu đã cho thấy rằng ghép những tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétiques) (những tế bào được lấy nơi một người cho cơ quan và được phát triển trong phòng thí nghiệm) sẽ cho phép tránh sự thải bỏ của cơ quan này. Do đó, tầm quan trọng có thể có những lượng lớn các tế bào gốc sinh huyết, như thế cho phép có khả năng liên kết những tế bào gốc tương hợp với cơ quan cần phải ghép.

10 PROTEINE ĐƯỢC LỰA CHỌN
Để sản xuất những lượng lớn những tế bào gốc được gọi là sinh huyết, nhóm nghiên cứu Canada đã nhận diện 10 protéine trong số 700 ứng viên. 10 protéine này, trong thiên nhiên, hiện diện bên trong những tế bào gốc sinh huyết. Các nhà nghiên cứu chỉ rõ rằng họ có thể dùng mội protéine trong số 10 protéine này để buộc các tế bào gốc sinh huyết tăng sinh trong phòng thí nghiệm.

“ Giai đoạn sắp đến nhằm kiểm tra xem điều đó cũng hoạt động nơi người hay không, nói một cách khác là chúng ta sẽ có thể thu được những lượng tế bào gốc cần thiết cho những kỹ thuật ghép này hay không ”, BS Sauvageau đã xác nhận thêm như thế. Các thử nghiệm sẽ diễn ra ở bệnh viện Maissonneuve-Rosemont ở Montréal, một trong những trung tâm lớn nhất, ở đó sự ghép các tế bào gốc được thực hiện. Các công trình của nhóm nghiên cứu của BS Sauvageau đã được tài trợ bởi Viện nghiên cứu sức khỏe của Canada và các kết quả được công bố trong Cell.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)

9/ CÁC PHỤ NỮ PHẢI TRẢ GIÁ NHIỀU HƠN CHO MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Thường thường nguoi ta liên kết tai biến mạch máu não với đàn ông nhiều hơn là với phụ nữ . Nhưng một khi một phụ nữ là nạn nhân của tai biến mạch máu não, thì những thương tổn nghiêm trọng hơn. Những nguyên nhân là phức tạp, theo một công trình nghiên cứu dịch tễ học.

Cho mãi đến một lứa tuổi cao, các tai biến mạch máu não thường xảy ra hơn nơi đàn ông. Nhưng sau tuổi 85, phần lớn các nạn nhân là phụ nữ. Mặt khác, mỗi năm, có nhiều phụ nữ chết vì hậu quả của một tai biến mạch máu não hơn đàn ông. Thí dụ, ở Hoa Kỳ, 61% các nạn nhân của một tai biến mạch máu não chết người là nữ giới. Nhìn toàn bộ, ở các phụ nữ, tai biến mạch máu não nghiêm trọng hơn (trước mắt và lâu dài) và có tiềm năng gây chết người hơn, và tỷ lệ tái phát trong 5 năm sau đột qụy đầu tiên là cao hơn. Ngoài ra, các phụ nữ này hiếm khi trở lại nhà hơn sau khi đã nhập viện, và sau đó thường được chuyển về một cơ quan điều dưỡng.

GÓA PHỤ CÔ ĐƠN.

Một phần của những quan sat bất lợi này có thể được quy cho tuổi tác : thường các phụ nữ cao tuổi hơn đàn ông vào lúc xảy ra tai biến mạch máu não. Nhưng những dị biệt này vẫn tồn tại một phần sau khi điều chỉnh đối với tuổi tác và đối với một số yếu tố nguy cơ nào đó, như bệnh tật cùng xảy ra và tình trạng chức năng, trước khi xảy ra tại biến mạch máu não. Sau tai biến mạch máu não, các phụ nữ thường trở nên trầm cảm hơn đàn ông, điều này có thể giải thích vì sao sự bình phục diễn ra khó khăn hơn. Một yếu tố khả dĩ khác là khả năng hạn chế của những hỗ trợ xã hội, nhất là do sự việc các phụ nữ lớn tuổi thường là góa phụ và do đó có nguy cơ nhận ít sự giúp đỡ hơn.

ÍT LIỆU PHÁP TAN HUYẾT KHỐI (THROMBOLYSE) HƠN

Người ta cũng đã xác lập rằng những phương thức điều trị được lựa chọn khác nhau đối với đàn ông và phụ nữ : các phụ nữ ít được nhập viện hơn trong thời hạn 3 giờ sau tai biến mạch máu não, mà thời hạn này hiện nay được cho là cửa sổ điều trị (fenêtre thérapeutique) (thời gian giới hạn) để thực hiện liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse). Ngoài ra các phụ nữ ít thường (13%) được điều trị bởi phương pháp này hơn.Việc nhập viện muộn của các phụ nữ một lần nữa được quy cho sự cô lập về mặt xã hội và giải thích tại sao họ thường ít được hưởng liệu pháp tan huyết khối hơn.

NHỮNG TRIỆU CHỨNG KHÔNG ĐIỂN HÌNH

Một phần của các giải thích này có thể là do sự việc rằng các triệu chứng thường ít điển hình hơn nơi phụ nữ. Một công trình nghiên cứu quan sát báo cáo rằng ở phụ nữ, tai biến mạch máu não được thể hiện thường hơn bởi những triệu chứng như đau đớn, sự biến đổi tình trạng tri giác và những rối loạn thần kinh không đặc hiệu. Các đàn ông thường biểu lộ các triệu chứng cổ điển hơn như bại liệt một bên hay những rối loạn cân bằng. Những điều mà chúng ta biết về các hội chứng tim cũng đúng với tai biến mạch máu não. Các phụ nữ có ít hơn những triệu chứng có thể được nhận biết dễ dàng, điều này có thể giải thích tại sao việc điều trị nơi các phụ nữ ít tích cực hơn. Người ta chưa biết là các phụ nữ có phản ứng khác đối với liệu pháp tan huyết khối hay không. Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng liệu pháp này có thể có những tác dụng điều trị rõ rệt hơn nơi các bệnh nhân nữ, nhưng không có gì là chắc chắn.

MỘT CƠ CHẾ SINH BỆNH KHÁC

Các phụ nữ cũng ít được hưởng hơn vài xét nghiệm thường được thực hiện trong giai đoạn cấp tính của tai biến mạch máu não. Đặc biệt đó là trường hợp khám các động mạch cảnh và siêu âm tâm ký (échocardiographie). Trái lại RMN cũng thường được ghi đơn cho cả hai giới. Nói chung, rất rõ ràng rằng các phụ nữ không phải là nạn nhân cùng loại tai biến mạch máu não như đàn ông : nơi phụ nữ, người ta quan sát thấy một tỷ lệ tai biến mạch máu não loại huyết khối-nghẽn mạch (thromboembolique) nhiều hơn, vì lẽ có tỷ lệ bị rung nhĩ (fibrillation auriculaire) cao nhất, trong khi đàn ông thường là nạn nhân của tai biến mạch máu não loại vữa-huyết khối (athérothrombotique). Khó nói trong chừng mực nào những đặc điểm sinh bệnh này có thể giải thích những khác nhau trong sự sử dụng các phương tiện chẩn đoán có sẵn.
(LE GENERALISTE 2/4/2009)

10/ NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Sự gia tăng hoạt động sinh dục và sự tiêu thụ rượu được liên kết với sự gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu và những cô gái ở lứa tuổi học đường, phải đi tiểu thường xuyên hay một cách cấp bách, phải khám bệnh để được điều trị cái điều có thể là nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên của họ. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu đã giải thích nhân hội nghị khoa học hàng năm của Hiệp hội niệu học Hoa Kỳ (AUA).

Vào tháng 7 năm 2001 và tháng 4 năm 2005, các nhà nghiên cứu đã khảo sát 181 phụ nữ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên, đến khám tại phòng khám dành cho sinh viên của Đaị Học Floride. Nhóm kiểm tra gồm có 80 phụ nữ không bị nhiễm trùng này. Những người tham gia phải trả lời một bảng câu hỏi về những thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống của họ.

Các kết quả cho thấy rằng tần số và mức độ khẩn trương là những triệu chứng thường gặp nhất và rằng các nhiễm trùng đường tiết niệu thường được gặp nhất nơi các phụ nữ mới đây đã gia tăng hoạt động sinh dục và mức độ uống rượu. Việc sử dụng các khăn vệ sinh trong lúc hành kinh cũng làm gia tăng nguy cơ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên. Do dự không đi tiểu, hướng chùi và việc sử dụng các tampon dường như không bị liên kết với nguy cơ của loại nhiễm trùng này. Sự chung sống với các Chlamydia, bệnh lậu (gonorrhée) và những nhiễm trùng nấm không góp phần một cách đáng kể vào những triệu chứng đường tiểu.

“ Nếu như cô phải đi tiểu thường xuyên và khẩn cấp, cô cần phải đi khám bệnh, Anthony Smith (AUA) đã bình luận như vậy. Một phụ nữ lần đầu tiên bị nhiễm trùng đường tiểu có thể không nhận biết các triệu chứng này ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/5/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#5 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 08 June 2009 - 07:33 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh


1/ CÚM A BÂY GIỜ LAN TRÀN TRÊN 6 LỤC ĐỊA.

Theo OMS, thế giới đang tiến gần đến trận đại dịch cúm toàn cầu đầu tiên của thế kỷ 21.

Chậm mà chắc, virus H1N1 tiếp tục lan tràn trên toàn thế giới. 6 lục địa từ nay bị tác động bởi bệnh cúm được gọi là “ heo ” hay “ mexico ”, trong thời gian chưa được hai tháng, đã làm nhiễm bệnh gần 20.000 người và gây tử vong cho hơn 100 người, chủ yếu ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ.

Thật vậy, hôm qua, một trường hợp đầu tiên đã được chính thức chẩn đoán ở Châu Phi, chính xác hơn là ở Ai Câp, một trong các nước đã bị ảnh hưởng nhất thế giới bởi một loại cúm khác, virus của cúm gia cầm H5N1, với 27 trường hợp tử vong, được ghi nhận cho đến ngày hôm nay.

“ NHỮNG LAN TRÀN ĐẦU TIÊN ”

Thế giới đang tiến gần đến giai đoạn báo động đại dịch tối đa cấp 6, phó tổng giám đốc OMS, BS Keiji Fukuda đã báo cho biết như vậy, lúc nêu lên rằng những đợt lan tràn đầu tiên có tính chất tự trị của virus H1N1 đã được quan sát thấy trong dân chúng của các nước nằm ngoài lục địa châu Mỹ, cái nôi của dịch bệnh, như ở Vương Quốc Anh, Nhật Bản, Chí Lợi và Úc. “ Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn chờ đợi một hoạt động thật sự lan tràn của virus trong dân chúng của những quốc gia này ” trước khi nâng mức báo động, đã được định ở cấp 5 (báo hiệu một đại dịch “ sắp xảy ra ” ) từ ngày 25/4, nhân vật số 2 của OMS đã nói thêm như vậy.

“ Rõ ràng là virus dường như lan tràn trên quy mô toàn thế giới. Chúng ta biết rằng một số quốc gia nào đó đang trong giai đoạn chuyển tiếp, với bước chuyển từ các trường hợp liên quan đến các chuyến đi du lịch (đến các nước bị dịch) đến một sự đóng chốt rõ rệt hơn của virus trong lòng dân chúng ”, ông đã nói tiếp như vậy. Đây là điều mà các chuyên gia gọi là sự truyền “ cộng đồng ” (transmission communitaire). Theo lời khuyên của các chuyên gia quốc tế, OMS đã quyết định tính đến tiêu chuẩn “ mức độ nghiêm trọng ” (gravité) của bệnh để chuyển qua giai đoạn đại dịch tối đa, chứ không chỉ căn cứ trên tiêu chuẩn lan tràn địa lý, thường được xét đến trong hệ thống báo động của OMS, BS Fukuda đã chỉ rõ như vậy. Thế mà hoạt tính của cúm heo hiện nay chỉ ở mức độ “ vừa phải ”, ông đã ước tính như thế, đồng thời bác bỏ từ “ hiền tính.

Theo bilan mới nhất của OMS được công bố hôm qua, 19.273 người đã bị lây nhiễm trong 66 nước bởi virus H1N1. 117 người chết vì bệnh cúm này. Sự tiến triển mạnh nhất của những trường hợp cúm được xác nhận, đã được ghi nhận ở Úc, với một sự gia tăng gấp đôi trong 48 giờ, để đạt một tổng cộng 501 trường hợp, ở Canada (1530 trường hợp), ở Vương quốc Anh (339 trường hợp) và nhất là ở Hoa Kỳ , nơi đây 1078 bệnh nhân bổ sung đã được ghi nhận trong các ngày qua, nâng tổng số lên 10.053 trường hợp lây nhiễm trong đó 17 tử vong.

Hôm qua, tổng thống Barack Obama đã viết cho bà chủ tịch hạ viện Nancy Pelosy, để yêu cầu 2 tỷ dollar bổ sung, ngoài phong bì 1,5 tỷ đã được đòi hỏi cách nay một tháng, nhằm tăng cường khả năng đáp ứng của Hoa Kỳ với “ một khả năng tiến triển của bệnh.
(LE FIGARO 4/6/2009)

2/ H1N1 : “ SẼ PHẢI TIÊM CHỦNG CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI ”

G.S Sylvie Van der Werf , nữ giám đốc của một đơn vị nghiên cứu ở Viện Pasteur, Paris, trong một cuộc mạn đàm, đánh giá rằng toàn dân sẽ phải được tiêm chủng chống virus H1N1 ngay khi vaccin, hiện đang được bào chế, sẽ có sẵn để sử dụng.

Hỏi : Có phải chúng ta đang ở trong một tình huống mới lạ, với virus H1N1 đã phát khởi ở Mễ Tây Cơ ?
Sylvie Van der Werf : Vâng, rõ ràng là chúng ta đang đối diện với một virus mới, đang lưu hành trong cộng đồng (communauté) (nghĩa là phát xuất từ những ổ bệnh tự trị chứ không còn được nhập cảng từ nước ngoài nữa), trên nhiều lục địa. Chúng ta đang ở trên bờ của giai đoạn báo động đại dịch cấp 6 của OMS. Thực ra giai đoạn 6 được đặc trưng bởi sự truyền “ cộng đồng ” (transmission communautaire) của virus trên ít nhất hai lục địa. Hiện chúng ta đang ở giai đoạn này. Ngoại trừ những mức độ báo động này đã được xác định trong khung cảnh của một đại dịch do virus H5N1 của cúm gia cầm, độc lực hơn nhiều. Trong khi tính chất sinh bệnh của virus H1N1 hiện nay chỉ ở mức độ trung bình. Điều này giải thích vì sao OMS đang còn chần chừ trong việc nâng cao mức báo động.

Hỏi : Mùa hè đến có sẽ làm ngưng sự lưu hành của virus ở Châu Âu hay không ?
Sylvie Van der Werf : Đúng vậy. Có những yếu tố khí hậu thuận lợi ít hay nhiều cho sự truyền của bệnh cúm. Cúm mùa (grippe saisonnière) được truyền hơn vào mùa đông, nhưng đó không phải là một tiêu chuẩn tuyệt đối. Ở vùng nhiệt đới, các virus cúm lưu hành suốt năm, với hai đỉnh cao, đặc biệt là vào mùa ấm. Ở châu Âu, dịch bắt đầu hơn vào tháng 12. Nhưng chúng ta hiện nay đang ở trong một tình huống đặc biệt, vì lẽ ở Hoa Kỳ và Canada, virus này hiện đang lan tỏa, trong khi lại đang vào mùa hè, và như thế là ở ngoài những thời kỳ cổ điển mà virus cúm có thể lưu hành. Có lẽ, sự việc dân chúng, không hề thụ đắc một khả năng miễn dịch nào, làm cho dễ bị nhạy cảm hơn. Nhưng hiện nay chúng ta không ở trong trình trạng lan truyền bình thường.

Hỏi : Bà thấy sự tiến triển của tình hình ra sao ?
Sylvie Van der Werf : Tôi không hề tưởng tượng một giây phút nào là sự lan tràn sẽ dừng lại và rằng virus mới này sẽ biết mất như một phép nhiệm màu. Virus hiện đang lưu hành một cách tích cực, đặc biệt ở Nam bán cầu, với một tình huống phức tạp, vì lẽ có một sự lan tỏa đồng thời với virus của cúm mùa. Từ trước đến nay, mỗi khi một virus mới xuất hiện, nó sẽ thay thế virus của cúm mùa. Hiện nay không phải là như thế. Chúng ta đang ở trong một tình hình mới. Chúng ta không biết, vào mùa thu sắp đến, ở Bắc Bán cầu, sẽ có một sự lưu hành đồng thời của hai virus hay là chỉ một mà thôi. Điều này sẽ tùy thuộc vào những gì sẽ xảy ra trong Nam bán cầu. Ở Úc cũng như ở Nam Mỹ, sự lan truyền cộng đồng (transmission communautaire) là tích cực. Châu Phi đang được theo dõi sát. Tất cả điều này khiến nghĩ rằng virus mới này sẽ gây bệnh lên toàn bộ Bắc bán cầu với một sự lan lan truyền cộng đồng. Vào cuối tháng 6 ? Cuối tháng 8 ? Cuối tháng 9 ? Chúng ta không thể loại trừ rằng virus bắt đầu lan tràn vào một thời kỳ bất thường.

Hỏi : Độc lực của virus có đáng quan ngại không ?
Sylvie Van der Werf : Đến nay, tỷ lệ tử vong khoảng 1 đối với 1000 người bệnh. Điều này vẫn gần với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Chỉ khác ở chỗ là, thường thường chính những người già bị nhiễm bệnh và dân chúng phần lớn được miễn dịch, hoặc tự nhiên, hoặc nhờ tiêm chủng. Do đó số những bệnh nhân tiềm tàng có thể rất cao. Đến nay, chúng tôi đã không phát hiện thấy những chỉ dấu độc lực. Chúng ta biết rằng virus cúm biến dị thường trực. Và chúng ta không tránh khỏi một sự thay đổi làm gia tăng độc lực và khả năng lan truyền của virus. Chúng tôi đang liệt kê tất cả các biến dị nguy hiểm có thể có. Mặt khác, phòng thí nghiệm của chúng tôi đang xem xét cấu trúc di truyền của mỗi virus của bệnh cúm này đối với mỗi trường hợp, để theo dõi sát hơn tiến triển, như những phòng thí nghiệm khác trên thế giới. Chúng tôi cũng sợ những phối hợp di truyền (réassortiments génétiques) giữa virus này và những virus của cúm mùa, và nhất là với một H1N1 khác, mà đa số đề kháng với Tamiflu.

Hỏi : Có phải chúng ta sẽ hướng về một sự tiêm chủng đại trà cho dân chúng để chống lại virus mới này không ?
Sylvie Van der Werf : Chúng ta sẽ buộc phải tiêm chủng tất cả mọi người, ở Bắc bán cầu cũng như ở Nam bán cầu, trong các nước giàu cũng như trong các nước đang phát triển. Và ý kiến của tôi là phải thực hiện càng nhanh càng tốt, nếu xét đến tình hình tiến triển hiện nay. Nhưng có những thời hạn mà ta không làm giảm bớt được. OMS đã cho tất cả các phòng thí nghiệm chuyên về vaccin, loại giống gốc virus cơ bản. Nếu mọi chuyện diễn biến tốt đẹp, nếu năng suất tốt, nếu giống gốc này không tạo nên những mối bất ngờ, chúng ta cũng sẽ phải cần 4 đến 6 tháng trước khi có vaccin sử dụng. Mặt khác, đó là một vaccin mới, với một dân chúng còn trong trắng về mặt miễn dịch, do dó chúng ta không ở trong các điều kiện cổ điển. Sẽ phải thực hiện những thử nghiệm lâm sàng để kiểm tra tính hiệu quả và sự vắng bóng của các phản ứng phụ. Có lẽ sẽ cần 2 liều, để chống lại virus mới này. Những công tác chuẩn bị cho một vaccin chống đại dịch do H5N1 gây nên, đã góp phần đáng kể cho việc chống đại dịch H1N1 sắp đến.

Hỏi : có phải sẽ vừa tiêm chủng chống virus mới này và đồng thời chống virus cúm mùa hay không ?
Sylvie Van der Werf : Các kho dự trữ chống lại cúm mùa gần như đã được tạo thành. Do đó các phòng bào chế bắt đầu chế tạo vaccin mới. Không có một yếu tố nào cho phép nói rằng cúm mùa cũng như virus mới H1N1 này sẽ ngừng lưu hành. Và như thế có tất cả các lý do để dự kiến một sự tiêm chủng kép. Nhưng cần có những quyết định để đánh giá lại một cách thường trực đối với tiến triển của tình hình.
(LE FIGARO 4/6/2009)

3/ H1N1 : “ SỰ CHIA XẺ CÁC THUỐC KHÁNG VIRUS SẼ LÀM GIẢM ĐẠI DỊCH ”

Những mô hình cho thấy những khuyết điểm của một lối quản lý “ ích kỷ ” các thuốc men của nhà nước.

Một diễn tập giả (une simulation) về sự lan tỏa của một bệnh cúm từ Á Châu. Cuộc diễn tập giả này giả sử rằng một virus cúm bắt đầu lan tràn vào tháng 10 ở Hà Nội. Lúc đưa ra một giả thuyết về một mức độ lây nhiễm trung bình (1,7 người lành mạnh bị nhiễm bệnh bởi một bệnh nhân), các tác giả đưa vào mô hình của họ 3 kịch bản. Hoặc là không có một điều trị nào cả được sử dụng, hoặc là mỗi quốc gia giữ các thuốc kháng virus chỉ riêng cho dân của nước mình, hoặc là các nước giàu có sẽ trao một phần của kho dự trữ cho những nước không có dự trữ thuốc.

MẠN ĐÀM

Trận dịch do giống gốc virus mới A/H1N1 sẽ tiến triển như thế nào ?

Các nhà nghiên cứu người Pháp, Ý và Hoa Kỳ đã phát triển một mô hình về sự lan tràn của bệnh, đặc biệt căn cứ trên các vận chuyển hàng không, cấu trúc của dân số thế giới, những đặc điểm sinh học của virus và những chiến lược chống lại dịch bệnh được thực hiện bởi các giới hữu trách y tế.

Marc Barthélemy, nhà nghiên cứu của Commissariat à l’énergie atomique, đã tham gia vào những công trình thiết lập các mô hinh này. Theo nhà vật lý thống kê này, có hai bài học lớn cần được rút ra từ những diễn tập giả này. Bài học thứ nhất là, chính sự vận chuyển hàng không chi phối nhịp độ lan tràn của bệnh. Thứ hai là một sự quản lý hợp đồng và “ vị tha ” các kho dự trữ thuốc kháng virus, có thể làm giảm một cách đáng kể tác động của một trận đại dịch toàn cầu, như trận đại dịch mà hiện nay giới cầm quyền y tế đang lo sợ.

Hỏi : Làm sao đánh giá sự thích đáng của một mô hình diễn tập giả về sự lan tràn dịch trên quy mô thế giới ?
Marc Barthelemy : Trong trường hợp mô hình mà chúng tôi đã phát triển, chúng tôi đã muốn đánh giá những tác động của sự vận chuyển hàng không trên thế giới lên trên sự lan tràn của bệnh. Chúng tôi đã trắc nghiệm mô hình này trong trường hợp SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng, xuất hiện vào tháng 11 năm 2002 ở Trung Quốc và tổng cộng đã ảnh hưởng lên 30 nước) và chúng tôi đã tìm thấy phương cách lan tỏa của bệnh, như người ta đã có thể nhận xét vào thời kỳ đó. Dĩ nhiên có những điều không chắc chắn về những điều kiện dịch bệnh đã xảy ra, vì lẽ giới cầm quyền Trung Quốc đã chậm trễ trong việc khai báo những trường hợp đầu tiên. Nhưng khi đưa ra những giả thuyết hợp lý và khi cho rằng trận dịch xuất phát từ Hồng Kông, mô hình tạo lại với một mức độ sai lầm thấp, số các trường hợp xảy ra trong mỗi nước. Vậy thì sự vận chuyển hàng không có vẻ như là yếu tố quyết định của sự lan tỏa một bệnh nhiễm trùng trên quy mô thế giới, kết luận này đặc biệt được áp dụng đối với virus H1N1.

Hỏi : Vậy thì có nên hạn chế sự không lưu để tránh đại dịch không ?
Marc Barthelemy : Không. Do tính chất phức tạp của hệ thống các interconnexion của khoảng 3.000 plates-formes aéroportuaire trên thế giới, việc giới hạn đơn thuần (trừ khi gần như đình chỉ) không có tác dụng. Nhờ mô hình của chúng tôi, chúng tôi đã kiểm tra nhận thấy rằng những sự hạn chế này hầu như không làm thay đổi gì hết sự phát tán của bệnh. Sự gia tăng theo dõi các chuyến bay trực tiếp phát xuất từ những vùng bị dịch có thể có ích. Mặt khác, hôm nay chúng ta có thể quan sát thấy rằng hầu như tất cả các trường hợp “ nhập cảng ” từ Mễ tây cơ phát xuất từ những chuyến bay trực tiếp.

Hỏi : Trong trường hợp này, cần tác động đòn bẫy nào để làm chậm lại sự lan tràn của H1N1 hay để làm giảm những hậu quả của nó ?
Marc Barthelemy : Chúng tôi đã thực hiện cuộc diễn tập giả bắt chước sự lan tràn của một bệnh thuộc loại cúm, có thể được truyền giữa người với nhau, và đã trắc nghiệm 2 chiến lược sử dụng các kho dự trữ thuốc kháng virus có trên thế giới. Trong chiến lược đầu tiên, mỗi nước sử dụng kho dự trữ thuốc của mình một cách ích kỷ, chỉ dành cho dân nước mình mà thôi. Trong chiến lược thứ hai, những nước giàu có nhất gởi một phần nhỏ (khoảng 10% đến 20%) của kho dự trữ thuốc cho những nước đầu tiên bị tấn công bởi dịch bệnh. Trong những diễn tập giả của chúng tôi, sự quản lý “ vị tha ” hay “ hợp tác ” của những kho dự trữ thuốc kháng virus, làm giảm tác động của đại dịch toàn cầu. So sánh với những kết quả mang lại bởi một lối quản lý “ ích kỷ ” , số trường hợp bệnh trên thế giới có thể được chia từ 10 đến 1000 tùy theo nước và mùa mà dịch bệnh khởi phát.
Ngoài ra, nhờ cách quản ý này, sự xuất hiện của đỉnh cao dịch bệnh (pic épidémique) có thể được xê xích một năm về mặt thời gian. Sự gia hạn này có thể tỏ ra mấu chốt bởi vì nó cho phép phát triển và sản xuất một vaccin trong trường hợp của các virus cúm như H1N1. Việc tác động tận nguồn phải càng nhanh càng tốt, bằng cách gởi đến các nước đầu tiên bị dịch bệnh các thuốc kháng virus, dường như là một ưu tiên tuyệt đối.

Hỏi : Những tham số nào khác đóng một vai trò trong sự phát triển của dịch bệnh ?
Marc Barthelemy : Cái điều mà chúng ta gọi là “ những tình trạng ban đầu “ là rất quan trọng. Những tình trạng ban đầu này chỉ nơi sự biến dị virus xảy ra, làm phát khởi đại dịch và thời kỳ trong năm xảy ra sự biến dị này. Tùy theo ổ bệnh ban đầu nằm ở Bắc hay Nam bán cầu, tùy theo mùa, sự lan tràn của dịch bệnh sẽ là rất khác nhau bởi vì các virus cúm vào mùa đông truyền bệnh ít dễ hơn mùa hè. Đứng trên quan điểm này, tình hình hiện nay khá thuận lợi ở Bắc bán cầu, đông dân nhất, là nơi mùa hè sẽ bắt đầu.
Dịch bệnh cũng sẽ khác nhau tùy theo các tham số dịch tễ học của bệnh (tính chất lây nhiễm của nó, thời kỳ ủ bệnh và thời gian mà người bị bệnh có thể lây nhiễm). Đến nay, mặc dầu các virus cúm tương đối được biết rõ, nhưng chúng ta không biết được những tham số này đối với H1N1.

Hỏi : Các kết quả của sự diễn tập giả đã được thực hiện về sự lan tràn của các virus loại cúm này là gì ?
Marc Barthelemy : Chúng tôi đã đưa ra giả thuyết về sự xuất hiện, vào tháng 10, ở Hà Nội, của một sự biến dị làm cho virus H5N1 có thể truyền giữa người với nhau. Vì virus bị biến dị (nghĩa là co khả năng lây truyền giữa người với nhau) chỉ là một giả thuyết, chúng tôi đã đặc biệt làm làm biến thiên tính lây nhiễm (contagiosité) của nó (tính lây nhiễm được định nghĩa là số trung bình những người bị nhiễm trùng bởi một người bị lây nhiễm) giữa các trị số 1,1 và 2,3 điển hình của các virus cúm. Không sử dụng các thuốc kháng virus, và với một mức độ lây nhiễm của virus trên 1,5, gần 50% dân chúng của thế giới sẽ bị tác động. Con số này sẽ rất giảm trong tất cả các vùng của thế giới khi sử dụng các thuốc kháng virus một cách hợp tác.
(LE MONDE 2/5/2009) [/b]

4/ ĐÀN ÔNG CÓ NÚM VÚ CÓ LỢI LỘC GÌ ?

Không những chỉ có vú (tétons), hay các núm vú (mamelons), đàn ông, cũng như các động vật có vú giống đực nói chung, còn có những tuyến vú hoàn chỉnh, chỉ có khác là bị teo đi, như các tuyến vú của một thiếu nữ trước tuổi dậy thì. Những tuyến vú này phát triển dưới tác dụng của các hormone nữ, vả lại điều này có thể xảy ra nơi đàn ông, trong những trường hợp hiếm hoi bị mất cân bằng hormone. Dầu sinh ra là nam hay nữ, mầm vú của chúng ta được thiết đặt trong tuần thứ tư của thời kỳ phôi thai, ngay trước quá trình biệt hóa sinh dục (différenciation sexuelle), xảy ra vào tuần lễ thứ 7. Nhưng, nếu ta loại trừ trường hop một loài dơi mà con đực cho con bú, thì các vú của các động vật có vú giống đực đã không bao giờ được sử dụng làm gì cả. Thế thì tại sao chúng có vú ? Đơn giản thế này thôi : quá trình chọn lọc tự nhiên làm cho, đối với mỗi loài, con đực và con cái tiến hóa cùng nhau. Nếu một thuộc tính không tạo vấn để đối với con đực hay con cái, thì thuộc tính này được duy trì trong bộ gène (génome) của hai giống. Nếu vú mang lại một ưu điển cho các phụ nữ về mặt sinh sản và do đó về mặt sinh tồn, thì những chiếc vú này cũng không gây hại đối với đàn ông. Như thế chính bởi vì các phụ nữ có vú mà các đàn ông cũng được phú cho những chiếc vú này.
( SCIENCE ET VIE 6/2009) [/b]

5/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 : MỘT BƯỚC NGOẶT VỚI KỸ THUẬT GHÉP NHỮNG TẾ BÀO GỐC ?

G.S Jean-Jacques Robert, thầy thuốc chuyên khoa nhi-đái đường, G.S Lucienne Chatenoud, chuyên gia miễn dịch học, giải thích niềm hy vọng mang lại do những thử nghiệm đầu tiên của kỹ thuật tự ghép những tế bào của tủy xương (autogreffe de cellules de la moelle osseuse).

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh đái đường loại 1 ?
G.S Jean-Jacques Robert : Loại đái đường này là một bệnh lý tự miễn dịch: các tế bào tiết insuline của tụy tạng bị tấn công và bị phá hủy bởi chính những tế bào lympho của hệ miễn dịch của người bệnh (chưa bị bệnh), điều này dẫn đến một nông độ glucose quá cao trong máu. Nếu không tiêm đều đặn insuline, những hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng, có thể dẫn đến hôn mê đái đường (coma diabétique). Insuline là một hormone cần thiết cho cơ thể, nhất là để điều hòa nồng độ đường trong máu.

Hỏi : Đến nay, người ta điều trị bệnh đái đường như thế nào ?
G.S Jean-Jacques Robert : Đó là một sự gò bó thật sự đối với các bệnh nhân khi bị buộc phải tự tiêm insuline từ hai đến sáu lần mỗi ngày. Bố mẹ đảm trách điều trị cho các con và sau đó các con tự quản lý lấy điều trị của chúng.

Hỏi : Hiện nay, những kết quả thu được là gì ?
G.S Jean-Jacques Robert : Ngày nay, người ta đã giảm được nhiều những nguy cơ biến chứng đáng sợ nhất của bệnh đái đường, như giảm thị lực, suy thận, bệnh thần kinh hay tim mạch Những công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng các biến chứng trở nên ít xảy ra hơn. Nhưng nhiều bệnh nhân không chịu được những gò bó vì phải tiêm thuốc hàng ngày.

Hỏi : Mục đích của kỹ thuật ghép những tế bào gốc của tủy xương là gì ?
G.S Lucienne Chatenoud : Các tế bào gốc “ hoàn toàn mới ” (chưa được biệt hóa) : chúng chưa có những chức năng chuyên biệt. Tủy xương giàu các tế bào gốc. Mục đích của kỹ thuật tự ghép (autogreffe) gồm hai phần : 1.Tái tạo hệ miễn dịch bằng những tế bào mới không có khả năng hủy diệt của những tế bào lympho đã tấn công những tế bào của tụy tạng. 2. Tái sinh những tế bào nhằm chế tạo insuline.

Hỏi : Công trình nghiên cứu tự ghép mới đây được thực hiện như thế nào ?
G.S Lucienne Chatenoud : Đó là một công trình nghiên cứu Brésil, được giám sát bởi G.S Richard Burt, thuộc Northwestern University de Chicago, đã đưa vào 23 bệnh nhân (trong đó 9 phụ nữ), những thiếu niên và những người trưởng thành trẻ tuổi, tất cả đều bị bệnh đái đường loại 1. Trước hết họ đã nhận một mũi tiêm gồm một phối hợp các thứ thuốc (trong đó có một yếu tố tăng trưởng của những tế bào tủy xương), nhằm làm di chuyển những tế bào gốc vào trong tuần hoàn máu. Sau khi đã được tiếp thu từ máu, những tế bào này chịu một quá trình thanh lọc tế bào trong phòng thí nghiệm rồi được tiêm trở lại vào các bệnh nhân. Nhưng trước khi nhận tiêm truyền này, tất cả những người tham dự, trong 5 ngày, đã chịu một điều trị làm suy giảm miễn dịch (traitement immunosuppresseur). Những bệnh nhân này đã được theo dõi trong một thời gian từ 7 đến 58 tháng.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
G.S Jean-Jacques Robert : 23 bệnh nhân đã có thể không cần phải tiêm insuline suốt trong 14 đến 52 tháng liền, tùy theo trường hợp. Một trong những bệnh nhân này đã có thể không cần insuline hơn 4 năm ! 4 bệnh nhân khác trong 3 năm và 3 bệnh nhân khác trong hai năm. 15 bệnh nhân mới được tuyển mộ gần đây hơn (đã được hưởng những cải thiện kỹ thuật mang lại bởi các nhà khoa học Hoa Kỳ) luôn luôn không cần đến insuline 19 tháng sau kỹ thuật tự ghép.

Hỏi : Theo ý kiến của ông, kỹ thuật ghép những tế bào gốc này có tạo nên một niềm hy vọng điều trị thật sự hay không ?
G.S Jean-Jacques Robert : Thành công làm ngưng tiêm insuline lâu như vậy là một kết quả khác thường. Công trình nghiên cứu này, ngay cả khi cần được xác nhận bởi những thử nghiệm khác, vẫn là một niềm hy vọng thật sự.
G.S Lucienne Chatenoud : Những người tham gia công trình nghiên cứu này, bị một mức độ độc tính nào đó nơi các cơ quan sinh dục do việc họ được điều trị bởi các thuốc làm suy giảm miễn dịch, có thể có vấn đề trong việc sinh đẻ tương lai. Sẽ phải tìm cách thực hiện phẫu thuật tự ghép mà không gặp phải những hậu quả tai hại này.
( PARIS MATCH 14/5-20/5/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - 7/ GHÉP TẾ BÀO GỐC ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

6/ TINH TRÙNG ĐÔNG LẠNH : CÁC VỤ KIỆN TỤNG.

Đông lạnh tinh trùng của một người đàn ông nhằm thụ thai nhận tạo sau khi qua đời, là một việc làm đang xảy ra trong nhiều nước, đặc biệt là ở Hoa Kỳ , nơi tòa án của Bronx (Nữu Ước) đã cho phép một người đàn bà thu nhận tinh trùng của người bạn đường đã mất. Đã là bố mẹ của một đứa bé 2 tuổi, Gisela Marrero và người bạn đường Johnny Quintana mong ước có một em bé thứ hai, nhưng người đàn ông đã chết lúc 33 tuổi, hình như do một cơn đau tim.

Phương tiện duy nhất để Gisela Marrero có con là thu lấy tinh dịch của người bạn đường trong 36 giờ sau khi chết, vì trên thời hạn này tinh trùng của một người đàn ông không còn có thể sử dụng được nữa. Để được như vậy, Gisela phải có giấy phép của tòa án, vì lẽ trước đó họ đã không cưới hỏi.

Vài ngày trước đó, cũng vẫn ở Hoa Kỳ, một vụ án tương tự gây nhiều xôn xao. Missy Evans (42 tuổi), dân Texas, được giấy phép của quan tòa để lấy một ít tinh dịch của đứa con bà chết vào năm 21 tuổi, do một chấn thương sọ não, xảy ra sau một cuộc ẩu đả.

Tòa án đã thỏa mãn đơn thỉnh cầu bằng cách ra lệnh các thầy thuốc bảo quản thi hài của Nikolas ở nhiệt độ ít nhất 39, 2 độ C, nhiệt độ mà các tinh trùng còn có thể sống được. Sau đó một thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu đã thu lấy tinh dịch được chứa trong các tinh hoàn: đại đa số các tinh trùng còn sống được và do đó có thể được dùng về sau này. Missy Evans như thế hy vọng thực hiện những ước nguyện của con bà, đó là có 3 con trai mà con bà đã chọn tên họ lúc còn sống. Vấn đề còn lại là cần đến một người cho noãn nặc danh và một bà mẹ mang thai(mère porteuse), điều này có thể thực hiện và hợp pháp ở Hoa Kỳ, nhưng cũng vẫn tiếp tục đặt nhiều vấn đề về mặt đạo đức.

Mặt khác, vẫn luôn luôn ở Hoa Kỳ, một người Mỹ 38 tuổi, Christopher Biblis, đã trở nên bố của một bé gái Stella, sinh bằng thụ tinh nhân tạo với tinh dịch được bảo quản nhờ đông lạnh từ 22 năm qua. Bị bệnh ung thư máu lúc còn thiếu niên, vào năm 1986, Christopher Biblis đã quyết định bảo tồn tinh dịch của mình. 35% các tinh trùng đã sống sót sau những năm tháng đông lạnh. Trong số các tinh trùng sống sót này, các thầy thuốc đã chọn những tinh trùng con vẹn toàn chức năng nhất.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/5/2009)

7/ MỘT HƯỚNG MỚI ĐỂ LÀM NGỪNG NGỨA NGÁY ?

Bằng cách bắt chước các con khỉ đả ngứa lúc gãi như thế nào, các loại thuốc mới sẽ tác dụng lên các neurone gây ngứa (neurones démangeurs).

Gãi, đối với loài người đó là một động tác thường ngày. Người ta gãi mũi hay tai để thể hiện một biểu lộ, người ta gãi chân sau khi cỡi giày, người ta xua đuổi các con kiến tưởng tượng đang chạy dọc theo cẳng chân.

Nhưng vài bệnh nhân chịu đựng những ngứa ngáy nghiêm trọng, gây nên hoặc bởi chính căn bệnh, hoặc do thuốc men dùng để chống lại những căn bệnh này, đến độ họ gãi đến rách da.

Đó là trường hợp của bệnh sida hay của bệnh Hodgkin, cũng như trường hợp của vài điều trị những đau đớn mãn tính, Vài bệnh nhân đi đến chỗ ngừng cả điều trị, chỉ để làm giảm sự ngứa ngáy. Hiểu được “ tiếng gọi kêu gãi ” hoạt động như thế nào, là chủ yếu để phát triển những thuốc mới nhằm làm dịu bớt những ngứa ngáy mãn tính này.

Glenn Giesler Jr, nhà khoa học thần kinh của đại học Minnesota, xuất bản các kết quả của ông trong tờ báo Nature Neuroscience, đã quan sát nhận thấy rằng khi các con khỉ gãi, thì các dây thần kinh tủy sống của chúng, phát xuất từ phía sau của lồng ngực, gởi một tín hiệu làm giảm ngứa (signal de soulagement) đến não bộ của chúng.

Glenn Giesler và nhóm nghiên cứu của ông đã cho các con khỉ macaque đuôi dài thuốc an thần trong thời gian thí nghiệm, và đã đặt các điện cực ghi nơi các dây thần kinh tủy sống của chúng. Sau đó các nhà nghiên cứu đã tiêm một chất hóa học vào dưới da nơi một cẳng chân dưới để kích thích nhằm gây ngứa. Các dây thần kinh đáp ứng lại bằng cách phóng ra những tín hiệu điện đến các neurone của bó gai-thị (faisceau spinothalamique).

Trong thời kỳ hai, các nhà nghiên cứu đã gãi cẳng chân của khỉ bằng một máy kim loại cầm tay, giả ba ngón tay.

“ NHƯ THỂ MỘT NÃO BỘ NHỎ TRONG TỦY SỐNG ”

Khi đó mức độ đáp ứng điện bị giảm, thể hiện rõ ràng dấu hiệu thuyên giảm. Ngược lại, khi các nhà nghiên cứu gãi cẳng chân, nhưng trước đó không gây ngứa, thì mức độ đáp ứng điện gia tăng, chứng tỏ rằng không có, hoặc có ít sự thuyên giảm.

Kết luận : các dây thần kinh chắc chắn biết phản ứng rất khác nhau tùy theo có một triệu chứng ngứa cần làm thuyên giảm hay không có triệu chứng ngứa.

“ Như thể là có một não bộ nhỏ trong tủy sống, Glenn Giesler đã bình luận như vậy. Chúng tôi thật sự muốn hiểu điều đó, bởi vì chúng tôi nghĩ rằng, sau đó, chúng tôi sẽ hiểu làm giảm ngứa như thế nào.”

Các nhà khoa học có lẽ có thể nhận diện những tín hiệu nói với các dây thần kinh cung cấp đáp ứng làm giảm ngứa. Do đó họ có thể bắt chước tác dụng này nhờ các thứ thuốc hay một loại kích thích tác động trực tiếp lên bó gaí thị.
LE SOIR 10/4/2009)
LE FIGARO 22/4/2009)


Đọc thêm :
Thời Sự Y Học số 67 - 5/ NHỮNG LỢI ÍCH THẤY ĐƯỢC CỦA GÃI

8/ NHIỄM TRÙNG ÂM ĐẠO CÓ THỂ LÀ DO NỒNG ĐỘ VITAMIN D THẤP.

Bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) là nhiễm trùng âm đạo thông thường nhất nơi phụ nữa trong lứa tuổi có con, và một công trình nghiên cứu mới đây nhận thấy rằng nhiễm trùng này được liên kết với sự thiếu hụt vitamin D. Rối loạn này có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh, nhưng có thể dẫn đến sinh non và là một nguyên nhân quan trọng của tỷ lệ tử vong nhũ nhi. Công trình phân tích, được công bố trong số tháng sáu của Journal of Nutrition, đã xem xét 209 phụ nữ có thai da trắng và 260 phụ nữ có thai da đen ở Pittsburgh clinic và đã nhận thấy rằng hơn một nửa có nồng độ vitamin D dưới 37 nanomoles/lít. Một trị số 80 thường thường được cho là thích đáng. Sau khi đã điều chỉnh những yếu tố khác, một nồng độ 50 hoặc ít hơn được liên kết với một sự gia tăng 26% khả năng bị viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis), và một trị số dưới 20 được liên kết với một nguy cơ gia tăng 65%. Khoảng 52% các phụ nữ da đen bị viêm âm đạo do vi khuẩn, so với 27% phụ nữ da trắng và các phụ nữ da đen hầu như 3 lần có khả năng bị thiếu hụt vitamin D hơn, có lẽ bởi vì da đen ngăn cản sự tổng hợp đầy đủ các vitamin D. Công trình nghiên cứu khuyến nghị các phụ nữ bàn với thầy thuốc về việc bổ sung vitamin D.
(HERALD INTERNATIONAL TRIBUNE 28/5/2009)

9/ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU CÓ THẾ LÀM CÁC NHŨ NHI KHÓC THÉT LÊN.

Sự xuất hiện triệu chứng khóc quá mức nơi một nhũ nhi không bị sốt, phải làm nghi ngờ sự hiện diện của một nhiễm trùng đường tiểu. Đó là điều được xác nhận bởi một phần tích của gần 250 hồ sơ trẻ em dưới một tuổi, được nhập viện vì khóc không cưỡng được. Trong 5% các trường hợp, các cơn khóc là do một thương tổn thực thể nặng, chẩn đoán thường được đặt ra là chẩn đoán nhiễm trùng đường tiểu.
( SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

10/ PHỤ NỮ SỐNG LÂU HƠN NHƯNG THẾ LỰC ÍT TỐT HƠN.

Chứng béo phì và viêm khớp, mắc phải theo dòng thời gian, góp phần một cách đáng kể vào việc làm giảm chất lượng sống của những phụ nữ trong suốt tuổi già. Đó là điều được giải thích bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ.

Căn cứ trên công trình nghiên cứu Cardiovascular Health Study (thăm dò những yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não nơi những người 65 tuổi hoặc hơn), các nhà nghiên cứu của Đaị Học Duke (Hoa Kỳ) đã thực hiện một công trình nghiên cứu bao gồm 5.888 người già trên 65 tuổi. Những người này đã được hỏi về khả năng thực hiện những công việc hàng ngày như tắm, ăn, mặc quần áo, quản lý tiền bạc và về những cử động cao hoặc thấp của cơ thể (với được, cầm, bước và lên cầu thang).

Heather và các đồng nghiệp của ông đã nhận thấy rằng các phụ nữ chịu những tình trạng tàn phế 2 lần rưởi thường hơn so với những người đàn ông cùng lứa tuổi và rằng những tỷ lệ béo phì và viêm khớp cao hơn nơi những phụ nữ này giải thích gần một nửa những sự dị biệt giới tính này. “ Nếu các phụ nữ có khuynh hướng sống lâu hơn các người đàn ông, công trình nghiên cứu này cho thấy rằng họ có một nguy cơ cao hơn sống với những tật nguyền và sự mất năng lực quá mức này là do họ có tỷ lệ mắc phải chứng béo phì và viêm khớp cao hơn, BS Heather Whitson, tác giả chính của công trình nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị hàng năm của Hiệp hội lão khoa Hoa Kỳ (29/4-5/5, Chicago), đã xác nhận như vậy. Đó là quan trọng bởi vì điều này gợi ý rằng khuynh hướng của các phụ nữ lên cân trong thời kỳ thai nghén hay trong thời kỳ mãn kinh được thể hiện bởi một sự mất độc lập ở một lứa tuổi cao hơn ”

“ Sự khác nhau này trong mức độ tật nguyền chưa được hiểu rõ lắm nhưng chúng tôi đã nhận thấy rằng, các bệnh mãn tính mà các phụ nữ gặp phải có số lượng lớn hơn đàn ông, có thể giải thích một phần điều đó ”, Harvey Jay Cohen, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã nói thêm vào như vậy.

“ Các phụ nữ có một khuynh hướng tự nhiên lên cân nhiều hơn đàn ông trong suốt cuộc đời, nhưng họ có thể có động cơ hơn để duy trì một thể trọng sức khỏe nếu như họ hiểu rằng những kilo thêm bổ sung này sẽ làm họ dễ bị các tật nguyền lúc về già và như thế trở nên một gánh nặng đối với các con họ hoặc họ phải được đưa vào nhà dưỡng lão ”, BS Whiston đã nói tiếp như vậy.

PHÒNG NGỪA LÀ THEN CHỐT

Ngoài chứng béo phì và viêm khớp, công trình nghiên cứu cũng đã nhận thấy rằng các phụ nữ thường bị hơn đàn ông gãy xương, rối loạn thị giác và viêm phế quản, trong khi đàn ông thường là nạn nhân của khí phế thủng (emphysème), các bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đái đường và rối loạn thính giác.

Các tác giả đặc biệt chú ý đến hai vấn đề : chứng béo phì và sức khỏe tim mạch. Vì chứng béo phì không ngừng gia tăng, người ta dự kiến một sự gia tăng của số các tật nguyền nơi các người già. Thế mà, các phụ nữ thường bị thặng dư thể trọng, do đó họ cũng sẽ bị liên hệ bởi những vấn đề này trên chất lượng của cuộc sống.

Sau đó, vì các phụ nữ trở nên bình đẳng với đàn ông trên bình diện tim mạch, nên các tai biến mạch máu não và khí phế thủng, các tỷ lệ bi bệnh tim mạch, ở họ, không được cải thiện nhanh như các đồng loại nam giới. Cũng đừng quên rằng họ không còn được tha miễn nữa bởi các bệnh lý liên quan với thuốc lá.

“ Nếu như tần số của những bệnh lý này trở nên giống nhau giữa đàn ông và phụ nữ, điều đó có thể được thể hiện bởi một cái hố ngày càng lớn giữa các tỷ lệ tật nguyền giữa hai giới tính. Do đó chúng ta phải giúp đỡ các phụ nữ có những quyết định tốt hơn, sớm hơn trong cuộc đời của họ ”, Harvey Jay Cohen đã nghĩ như thế.

Đối với các nhà nghiên cứu, hiện nay vấn đề là xác định xem các lão phụ bị yếu đi do chứng béo phì và viêm khớp có phục hồi về mặt chức năng được không, họ có thể theo một điều trị nhằm giúp đỡ họ đạt được một trọng lượng lành mạnh hay kiểm soát chứng đau do viêm khớp. “ Nếu không, thì phải gia tăng nỗ lực để ngăn ngừa chứng béo phì và chứng viêm khớp nơi các phụ nữ trẻ tuổi ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/6/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#6 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 13 June 2009 - 12:47 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : MỨC BÁO ĐỘNG TỐI ĐA.

EPIDEMIE. Tổ chức y tế thế giới đã chuyển qua cấp 6 của hệ thống báo động. Một quyết định xuất phát từ sự lan tràn của bệnh cúm A, chứ không phải do mức độ nghiêm trọng của bệnh.

OMS đã quyết định chuyển qua giai đoạn 6 của mức báo động đại dịch, mức tối đa. Magaret Chan, đã loan báo như thế chiều hôm qua với các đại diện của 194 nước thành viên của tổ chức OMS, sau cuộc họp của ủy ban khẩn cấp. Mức 6 của đại dịch có nghĩa là từ nay cúm A (H1N1) thoát khỏi mọi sự kiểm soát. Bệnh có thể lây nhiễm một số lớn người và lan tràn khắp các vùng của quả địa cầu. Dấu hiệu đặc biệt khác : bệnh được truyền bởi một virus mới, mà để chống lại nó con người ít được miễn dịch hoặc không có. Đây là lần đầu tiên một đại dịch cúm toàn cầu được tuyên bố bởi OMS, một tổ chức được thành lập năm 1948.

“ Sự lan tràn của virus không có thể làm ngừng lại ”, bà giám đốc của OMS đã nhấn mạnh như vậy trong một cuộc họp báo. Virus, hoàn toàn mới, được truyền giữa người với nhau, tuy nhiên đại dịch chỉ ở mức độ “ vừa phải ”. Bà đã báo trước rằng, các nước, vốn đã bị một đợt hoạt động quan trọng của cúm A (H1N1), sẽ đón chờ trong những tháng sắp đến một làn sóng dịch thứ hai. OMS đã nhấn mạnh để kỳ hạn hưu chiến này được tận dụng nhằm sản xuất vaccin với quy mô lớn. Bà kêu gọi các phòng bào chế dược phẩm bắt đầu sản xuất vaccin chống H1N1 “ ngay khi họ đã chấm dứt sự sản xuất các vaccin chống lại cúm mùa ”.

Sau khi đã xuất hiện ở Mễ Tây Cơ vào cuối tháng ba, virus từ nay hiện diện trong 74 nước, với những ổ tự trị quan trọng ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ, và những ổ khác giới hạn hơn, ở Nhật Bản, Anh,Tây Ban Nha... Hôm qua cả thảy 8 nước đưa cho OMS những thông tin, chỉ rõ rằng họ sẽ thuộc vào trong xếp loại này.

ĐIỀU PHỐI CÁC CHÍNH SÁCH Y TẾ.

Số trường hợp đã bùng nổ mới đây ở Úc (1263 trường hợp), ở Chí Lợi (1.694). Là nước thứ 5 bị lây nhiễm nhất trên thế giới với 1.263 trường hợp, hôm thứ năm, Úc đã chỉ rõ rằng 4 bệnh nhân đã được đưa vào phòng hồi sức. Nước Pháp đến nay tương đối được trừ miễn với 73 trường hợp, trong đó chỉ có 13 trường hợp được xác nhận. Chính sự bùng nổ số các trường hợp trong những nước như Úc và Chí Lợi trong những ngày qua đã thúc đẩy OMS đưa ra quyết định nâng mức báo động lên cấp 6. Sự chậm chạp trong việc thỏng qua quyết định này đã bị chỉ trích bởi những chuyên gia độc lập, cho rằng chỉ có những tính toán chính trị và kinh tế mới có thể làm trì hoãn như vậy.

Chữ “ đại dịch ” (pandémie) làm lạnh xương sống, bởi vì nó gợi ra một trận dịch tác động lên toàn bộ hành tinh. 74 nước đã chính thức bị ảnh hưởng. Trận đại dịch sau cùng, cúm Hồng Kông (H3N2) năm 1968, đã gây cho 1 triệu người chết, hoặc gấp đôi hay gấp bốn lần số tử vong do cúm mùa xảy ra vào mùa đông mỗi năm. Nhưng chữ đại dịch cũng gợi lại cúm “ Tây Ban Nha ” năm 1918, đã giết chết hơn 50 triệu người, hơn cả số người chết trong Đệ Nhất Thế Chiến.

Thang báo động OMS được tạo ra năm 2005 trong bối cảnh của kế hoạch thế giới chuẩn bị cho một đại dịch cúm. Sự thiết đặt kế hoạch này được quyết định sau trận dịch SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng) vào năm 2003 và vì sự tiến triển của cúm gia cầm bắt đầu từ năm 2004. Hệ thống này trước hết nhằm phối hợp trên quy mô thế giới những chính sách y tế của 194 nước thành viên và tăng cường công tác phòng ngừa. Tuy nhiên mỗi nước có thẩm quyền thực hiện những biện pháp riêng tùy theo tình hình dịch bệnh của mỗi nước.

Cái khó khăn trong tình hình hiện nay là ở chỗ, kế hoạch của OMS và của nhiều kế hoạch quốc gia vốn đã được xây dựng với dự kiến cho một sự lan rộng của cúm gia cầm. Thế mà virus gia cầm H5N1 có một tỷ lệ tử vong nơi người cao hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong của H1N1. Tỷ lệ tử vong của cúm A/ H1N1 hiện nay có thể so sánh với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Chính vì lẽ đó mà các mức báo động của nhiều kế hoạch quốc gia có thể vẫn y nguyên, mặc dầu có sự tái đánh giá của OMS.

“ Chúng tôi không muốn rằng người ta hoảng sợ một cách quá mức ”, Keiji Fukuda, phó giám đốc của OMS mới đây đã giải thích như vậy. “ Chuyển qua giai đoạn 6 có nghĩa là sự lan tràn của virus đang tiếp tục, nhưng không có nghĩa là mức độ nghiêm trọng của bệnh đã gia tăng ”.

Mặt khác, OMS vội loan báo rằng sự chuyển qua mức 6 không dẫn đến việc hạn chế sự đi đứng vận chuyển của người, đồ đạt và dịch vụ. Cơ quan OMS chỉ đưa ra những khuyến nghị nhằm làm giảm tác động của đại dịch lên dân chúng. Các quốc gia toàn quyền áp dụng những điều khuyến nghị này tùy theo nấc thang báo động mà mỗi nước nhận thấy dường như là hợp lý nhất.

Các Hội Hồng Thập Tự và Lưỡi Liềm Đỏ “ phải được huy động trên toàn thế giới và chuẩn bị để đáp ứng ” với đại dịch cúm heo, Liên Đoàn Hồng Thập Tự quốc tế đã loan báo như vậy.
(LE FIGARO 12/6/2009)

2/ CÁC MẶT NẠ CÓ THẬT SỰ BẢO VỆ KHÔNG ?

Đứng trước các đe dọa cúm (H5N1, H1N1…), tất cả các kế hoạch phòng ngừa đều khuyến nghị đeo mặt nạ. Vâng, nhưng mô hình được khuyên dân chúng sử dụng không phải là hiệu quả nhất. Một điểm yếu thật sự.

Kích thước của virus chỉ vài chục nanomètre và tên của nó là A/H1N1. Virus cúm mà những nạn nhân đầu tiên đã được thống kê vào cuối tháng ba ở Mễ Tây Cơ, đã gieo sự hoảng sợ trên hành tinh trong vài ngày. Tuy vậy không phải chính nó mà mọi người đã chờ đợi. Thật vậy, từ 10 năm nay, các nhà hữu trách y tế đã tập trung sự chú ý vào một virus, H5N1, là nguyên nhân của một làn sóng dịch cúm nơi các loài chim ở Nam Á, trước khi lan tràn lên khắp các lục địa. Mặc dầu khó có thể truyền bệnh giữa người với người, H5N1 tuy vậy chỉ mới đây thôi, được xem như là ứng viên quan trọng nhất cho một đại dịch cúm toàn cầu có thể xảy ra. Quan trọng đến độ hầu hết các nước, khi có phương tiện, đã quyết định hiệu chính những kế hoạch phòng ngừa nhằm đối phó tốt nhất với mối đe dọa. Nội dung của kế hoạch ? Cách ly bệnh nhân, cấp phòng ngừa các thuốc chống virus và phân phát đại trà các mặt nạ. Dầu thủ phạm là H5N1, H1N1 hay mọi virus cúm khác, tất cả những kế hoạch này, sau cùng dựa trên cùng một dữ kiện : trong gần 99% các trường hop, virus cúm được truyền bằng đường không khí qua những giọt nước nhầy (postillons de mucus) bị nhiễm trùng, mà bệnh nhân phóng thích ra trong không khí mỗi khi ho hay thở. Vậy, trong trường hợp không có vaccin, phương tiện hiệu quả nhất để tránh bị bệnh, ngoài việc cách ly tuyệt đối, trên nguyên tắc là mang một mặt nạ. Vâng, nhưng loại mặt nạ nào ? Vấn đề càng được đặt ra vì tất cả các mặt nạ không có giá trị ngang nhau khi bảo vệ chống lại một nhiễm trùng !

Để hiểu, phải biết rằng các hạt chất nhầy (particules de mucus) mà chúng ta rải rắc trong không khí mỗi lần chúng ta ho, tất cả không có cùng một kích thước. Trong thực tiễn, khoa học phân biệt hai loại : các giọt nhỏ (gouttelettes), đường kính trên 5 micromètre, và các xon khí (aérosol) đường kính dưới 5 micromètre.Thoạt nhìn, sự khác nhau có thể có vẻ không đáng kể. Không hề là như vậy. Những mặt nạ có hiệu quả chống lại các giọt nhỏ không nhất thiết là như vậy đối với các xon khí (aérosol). Thế mà, đây là điểm mấu chốt của vấn đề : trong khi các kế hoạch bảo vệ đều nhấn mạnh vào những hạt to lớn nhất, thì lại dường như đánh giá thấp các hạt nhỏ nhất. Do đó, một sự lựa chọn các mặt nạ và các dân số virus, mà những mặt nạ này nhắm vào, có thể là một trong những thiếu sót ít được đánh giá nhất của các kế hoạch chống đại dịch.

Bởi vì có hai loại mặt nạ rất khác nhau có những chức năng cũng rất khác nhau : những mặt nạ này được gọi là anti-projection, còn được gọi là mặt nạ ngoại khoa (masques chirurgicales) và có mục đích tránh cho những người mang chúng đừng làm lây nhiễm môi trường ngay chung quanh bởi các giọt nhỏ mà họ phóng thích ra ; nói chung những mặt nạ này dành cho các người bệnh. Những mặt nạ khác, được gọi là hô hấp (masques respiratoires) (FFP2), có thể nói là lọc không khí và được dành để bảo vệ những người lành mạnh chống lại những chất ô nhiễm hóa học hay sinh học. Được đặt thích ứng vào mặt để tránh rò khí, có khả năng giữ lại những hạt nhầy nhỏ bé nhất, chỉ có những mặt nạ hô hấp này mới mang lại một sự bảo vệ thật sự chống lại các virus.

KHÔNG CÓ MẶT NẠ HÔ HẤP CHO CÁC CÔNG DÂN

Tuy vậy, ở Canada, Úc và Anh, những kế hoạch chống đại dịch cúm chỉ chủ trương dùng các mặt nạ ngoại khoa (masque anti-projection), bao gồm cả khi để bảo vệ nhân viên điều trị. Hoa Kỳ và Pháp thì cẩn trọng hơn bởi vì các kế hoạch của hai nước này dự kiến trang bị cho nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân, những mặt nạ hô hấp (masque respiratoire). Didier Houssin, tổng giám đốc y tế, chịu trách nhiệm việc soạn thảo kế hoạch chống dịch của Pháp, nhắc lại rằng “ từ 500.000 đến 600.000 mặt nạ hô hấp đã được tích trữ để dự phòng một trận đại dịch ”. Và ông nhấn mạnh rằng “ tất cả các xí nghiệp và các cơ quan hành chánh, trong đó nhân viên tiếp xúc với công chúng, phải được trang bị các mặt nạ hô hấp ”

Ngược lại, không có mặt nạ hô hấp cho các công dân đơn thuần ! Những đối tượng này sẽ tự trang bị các mặt nạ ngoại khoa (masque chirurgical). Và ngay cả khi họ sẽ tiếp xúc mật thiết với các người bệnh, như trong trường hợp cách ly kiểm dịch (quarantaine) (dự kiến rằng những người bị nhiễm bởi virus vẫn ở tại nhà trong lòng gia đình của họ). Đối với những người đó, kế hoạch chỉ khuyến nghị sử dụng tại gia cũng như ở những nơi công cộng “ một mặt nạ ngoại khoa để phòng ngừa ”. Ngoài ra, một tỷ mặt nạ dự trữ đã được hình thành. Lời khuyến nghị thật đáng ngạc nhiên bởi vì cũng kế hoạch này lại dự kiến các mặt nạ hô hấp (masques respiratoires) cho nhân viên điều trị tiếp xúc với các bệnh nhân,
Các mặt nạ ngoại khoa chỉ bảo vệ các hạt lớn chất nhầy (những giọt nhỏ), và trái với các mặt nạ hô hấp, không hề bảo vệ các hạt nhỏ nhất (các aérosol).

Bằng cớ là những kết quả sơ khởi, được công bố cuối năm 2008, của một công trình nghiên cứu, được tài trợ bởi Trung tâm nghiên cứu các bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), Atlanta, lần đầu tiên cố gắng đánh giá tác dụng bảo vệ của các mặt nạ ngoại khoa : được sử dụng cùng với động tác rửa tay bằng alcool, các mặt nạ ngoại khoa cho phép làm giảm tỷ lệ mắc phải bệnh cúm từ 10% đến 50%, nhưng người ta không biết tác dụng thật sự của những mặt nạ này lúc được dùng đơn độc như thế nào. Bởi vì, theo Allison Aiello, đồng tác giả của ấn bản, “ những mặt nạ này được làm ra không phải để bảo vệ các anh chống lại những hạt nhỏ chất nhầy… và nếu chúng có một tác động lên tỷ lệ bệnh tật, đó là bởi vì chúng chận đứng những hạt lớn nhất và chúng ngăn cản không để cho đưa tay bẩn và có thể bị lây nhiễm lên miệng hay ngăn cản dụi mắt với các bàn tay ”

CÁC KẾT QUẢ RẤT LÀ KÉM.

Mặt khác, trái với các kế hoạch của chính phủ, các nhà chế tạo đúng là khuyến nghị việc đeo các mặt nạ hô hấp đối với những người tiếp xúc với các bệnh nhân, kể cả công chúng ! Và mặc dầu Didier Houssin cố trấn an về khả năng bảo vệ của các mặt nạ ngoại khoa (masques anti-projection) lúc chỉ rõ rằng “ những biện pháp đang được tiến hành phải cho phép xác định xem nhiên hậu chúng có cũng bảo vệ chống lại các xon khí (aérosol) hay không ” , nhưng Isabelle Balty, phụ trách về các nguy cơ sinh học ở INRS, (viện đặc biệt chịu trách nhiệm sự giám định các mặt nạ ở Pháp), thì rất là rõ ràng : “ Cách nay vài năm, chúng ta đã thử nghiệm các mặt nạ ngoại khoa (masque anti-projection) để biết xem chúng có hiệu quả chống lại các xon khí (aérosol) hay không, tất cả các kết quả đã rất là xấu. ”. Thế mà, một bộ phận quan trọng trong số 10.000 đến 1 triệu các hạt mà một bệnh nhãn phóng ra mỗi lần ho, lại đúng là dưới dạng xon khí.

Tại sao, trong trường hợp như vậy, đã không dự kiến bảo vệ dân chúng chống lại cách lây nhiễm này ? Rất đơn giản là bởi vì, “ phần lớn các tài liệu khoa học đă kết luận rằng chính chủ yếu các hạt nhỏ (gouttelettes) làm lan tràn bệnh tật và rằng sự lây nhiễm bởi các xon khí (aérosol) là không đáng kể ”, Anne Mosnierda, nữ điều phối viên quốc gia của các nhóm quan sát cúm đã giải thích như thế. Nhưng các chuyên gia dường như không đồng ý về quan điểm này và đối vối vài người thì các xon khí không những không hẳn là một cách lây nhiễm không đáng kể, mà nhiên hậu chúng là phương cách chủ yếu qua đó bệnh cúm lan tràn. Chính đó là quan điểm của Raymond Tellier, chuyên gia vi trùng học của đại học Toronto, đã công bố, vào năm 2007, một biên tập gồm tất cả những gì đã được viết về chủ đề này từ hơn 50 năm. Các kết quả : đối với ông, những lời khuyến nghị của các kế hoạch chẳng khác nào phủ nhận những kết quả của những công trình nghiên cứu khoa học của nhiều thập niên ”. Thí dụ như, ngay năm 1966, một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên các cobayes người, đã cho thấy rằng sự lây nhiễm bởi các xon khí có thể xảy ra và, ngoài ra, phương thức lây nhiễm này đòi hỏi lượng virus 100 đến 1000 lần ít hơn so với phương thức lây nhiễm bằng các hạt nhỏ. Khoảng 10 năm sau, hai công trình nghiên cứu, lần này, đã xác nhận rằng những cá nhân bị nhiễm trùng trong thí nghiệm bằng đường xon khí bị một dạng bệnh nặng hơn. Và không phải chỉ có thế. Bởi vì, trái với các giọt nhỏ, do kích thước của chúng, giảm nhanh đến độ biến mất hoàn toàn khỏi bầu không khí trong vài phút, các xon khí có thể ở lại trong không khí nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần bởi vì chúng khá nhẹ nên có thể nổi bồng bềnh trong không khí. Nói một cách khác, các xon khí (aérosol) thể hiện một mối nguy cơ gây nhiễm kéo dài hơn so với các hạt nhỏ.Yếu tố giới hạn duy nhất ở đây là thời gian sống còn của virus dưới dạng xon khí, khi biết rằng virus dễ bị thương tổn dưới tác dụng của các tia cực tím, sự làm khô và sự oxi hóa. Thế mà, nhiều công trình nghiên cứu, được công bố trong những năm 1950 và 1960, đã cho thấy rằng một virus cúm có thể tồn tại và bảo tồn khả năng gây nhiễm của nó đến 24 giờ nếu độ ẩm tương đối (degré d’hygrométrie) vẫn dưới 40% hay vượt quá 60%. Nói tóm lại, như vậy các xon khí cho phép một số lượng virus nhỏ hơn gây nhiễm trong một khoảng thời gian dài hơn và những người bị nhiễm bệnh sẽ phát triển các dạng bệnh nghiêm trọng hơn.

DỄ DÙNG VÀ TIỆN NGHI LÚC SỬ DỤNG.

Trong những tình trạng này tại sao không cho tất cả mọi người các mặt nạ hô hấp ? Không phải là đơn giản như vậy. Và điều đó vì nhiều lý do. Trước hết sự phổ biến đại trà sẽ rất tốn kém. Một mặt nạ hô hấp loại FFP2 trị giá khoảng 30 centime, trong khi mặt nạ ngoại khoa chỉ tốn 3-4 centime. Sau đó, các khả năng sản xuất quá bị giới hạn không thể đương đầu với nhu cầu mang lại do việc sử dụng đại trà các mặt nạ hô hấp. Thật vậy, được thiết kế cho những nhân viên y tế, những mặt nạ sử dụng một lần duy nhất này phải được thay thế tối đa mỗi 8 giờ và kể cả được khuyến nghị thay đổi mỗi khi người ta rút chúng ra để ăn hay uống. Những nhu cầu sẽ là to lớn. Sau cùng, “ các mặt nạ hô hấp khó mang và khó chịu được trong một thời gian dài bởi vì chúng cản trở sự hô hấp ”, Didier Houssin đã giải thích như vậy.

Sau hết, mặc dầu H1N1 tỏ ra độc lực kém hơn virus của cúm Tay Ban Nha đã gây nên 40 đến 100 triệu nạn nhân vào năm 1917, tuy vậy bóng ma của một trận đại dịch xuất hiện vào thế kỷ XXI vẫn không thể được loại bỏ một chút nào. Và ngày đó, sẽ là quá muộn khi tự hỏi các mặt nạ mà các kế hoạch phòng ngừa dự kiến nhằm làm rào chắn giữa virus và dân chúng có thật sự hữu hiệu hay không.
(SCIENCE ET VIE 6/2009)

3/ CÓ THỂ CÓ MỘT SỰ LAN TRÀN VƯỢT ĐẠI TÂY DƯƠNG ?

Trong khi các kế hoạch chống đại dịch cúm còn xem các xon khí (aérosols) như là một phương thức lan tràn không đáng kể của virus, ngay ở kế cận với bệnh nhân, ngay năm 1989, các nhà khoa học đã đưa ra giả thuyết rằng các hạt xon khí này sẽ là nguyên nhân của sự lây nhiễm liên lục địa ! Vào thời kỳ đó, Gregory Hammond, chuyên gia vi trùng học thuộc đại học Manitoba (Canada), đã cho thấy rằng các xon khí bị lây nhiễm bởi cúm chỉ cần dưới hai tuần để đi từ Trung Quốc qua Châu Mỹ. Điều này giải thích đồng thời tính chất xảy ra theo mùa của các dịch bệnh và tính chất nhanh chóng của sự lan tràn. Chỉ có điều là chẳng ai đã thật sự tin vào giả thuyết này, vì lẽ sự việc một virus có thể sống sót hai tuần trong không khí mà không bị hủy diệt bởi sự oxi hóa, sự làm khô hay sự bức xạ bởi các tia cực tím, dường như là điều không thể có được. Nhưng một công trình nghiên cứu, được tiến hành năm 2001 bởi Dale Griffin thuộc US Geological Survey ở Florida, đã chứng tỏ rằng một virus đã tồn tại lúc vượt Đại Tây Dương giữa Châu Phi và Caraibes. Giải thích làm sao ? Bằng cách sử dụng các xon khí khác (trong trường hợp này là các bụi bặm của Sahara), làm vỏ giáp để bảo vệ chống lại những tấn công bên ngoài. Đối với Christina Kellog, một nữ đồng nghiệp của Dale Griffin, “ Các bụi bặm sa mạc được xuất khẩu từ Châu Phi qua Nam Mỹ hay từ Trung Quốc về phía Bắc Mỹ, tạo nên những cầu không khí thật sự ”, cho phép các vi sinh vật di chuyển từ lục địa này qua lục địa khác.
(SCIENCE ET VIE 6/2009)

4/ PHÓNG TINH SỚM : MỘT PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ.

Cứ 4 người đàn ông thì có một bị liên hệ bởi chứng bệnh này. Một thuốc phun dùng tại chỗ, chứa các thuốc gây tê tại chỗ (lidocaine và prilocaine), làm quy đầu bị mất cảm giác một phần, có thể phun 5 phút trước khi giao hợp, cho phép làm chậm lại sự phóng tinh mà không gây hại cho cảm giác. Các kết quả thỏa mãn của một công trình trên 300 người đã được trình bày tại hội nghị Niệu khoa của Hoa Kỳ.
(PARIS MATCH 11-17/6/2009)

5/ FIBROMYALGIE, MỘT CẢM NHẬN BẤT THƯỜNG VỀ ĐAU ĐỚN.

Ở Hoa Kỳ, một thuốc điều trị, milnacipran, vừa được chấp thuận cho 6 triệu bệnh nhân. G.S Patrick Cherin (Khoa Nội, Bệnh viện Pitié-Salpêtrière) giải thích tác dụng của thuốc này.

Hỏi : Ông có thể mô tả fibromyalgie, một hội chứng không được đánh giá đúng, tuy vậy gây bệnh cho 2% dân Pháp ?
B.S Patrick Cherin : Fibromyalgie gây bệnh theo tỷ suất 8 phụ nữ đối với 2 đàn ông và được biểu hiện bởi 4 dấu hiệu chính : 1. Đau cơ và khớp tỏa lan. 2. Mệt mỏi quan trọng (suy nhược). 3. Các rối loạn giấc ngủ, không còn bù được nữa. 4. Sự tồn tại những điểm rất đau ở các mức rất chính xác của cột sống thắt lưng hay vai…Chất lượng sống của những người bị bệnh (bệnh bắt đầu giữa 30 và 40 tuổi) là rất bị ảnh hưởng, với nhiều lần nghỉ việc.

Hỏi : Nguyên nhân của hội chứng này là gì ?
B.S Patrick Cherin : Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hơn 30 năm nay. Những nguồn gốc cơ, nội tiết, di truyền vốn được nghi ngờ, đã dần dần bị loại bỏ. Cuối cùng, người ta đã khám phá ra rằng cơ chế của hội chứng này, trong đó sự tri giác đau đớn bị biến đổi, là do tình trạng stress nặng (mauvais stress). Tôi giải thích : nơi những bệnh nhân này, sau một loạn năng của các chất dẫn truyền thần kinh của đau đớn (những chất trung gian hóa học này bị cạn kiệt do một stress quá mạnh hay kéo dài), đã xảy ra một hiện tượng phong bế với sự hạ giảm khả năng dung nạp đau đớn (la tolérance à la douleur). Trong não bộ, trong trường hợp stress, các phản ứng sinh hóa, phát khởi sự tiết vài loại chất như sérotonine, không được thực hiện một cách bình thường.

Hỏi : Những thầy thuốc chuyên khoa nào có thể chẩn đoán và điều trị bệnh này ?
B.S Patrick Cherin : Thường thường các thầy thuốc chuyên khoa khớp đảm trách những bệnh nhân này và việc thiết lập chẩn đoán không phải là dễ dàng. Các thầy thuốc của những trung tâm chống đau đớn (centre antidouleur) cũng nhận nhiều bệnh nhân vì những cơn đau làm mất năng lực.

Hỏi : Trước khi được chẩn đoán, những người bị bệnh này có được thầy thuốc thấu hiểu không ?
B.S Patrick Cherin : Có thể bệnh nhân phải lang thang qua nhiều chuyên khoa (errance médicale). Thường thường đi đâu những bệnh nhân này đều được nghe nói “ Đó là bệnh tưởng, bệnh ở trong đầu ”. Chẩn đoán bệnh fibromyalgie chỉ được xác lập sau khi đã loại bỏ những nguyên nhân khác và đối với nhiều bệnh nhân, sau khi đã phải đi thăm khám nhiều chuyên khoa.

Hỏi : Thường thường điều trị như thế nào và các kết quả ra sao ?
B.S Patrick Cherin : Điều trị được căn cứ trên 3 bước. 1. Điều trị stress tâm lý, bằng nhận thức hay hành vi liệu pháp (thérapie cognitive et comportementale) để học cách quản lý stress. 2. Điều trị đau đớn, không chỉ bằng các thuốc thông thường, nhưng cũng bằng những liệu pháp tự nhiên như châm cứu, sophrologie…3. Một hoạt động vật lý đặc hiệu để luyện cơ đều đặn và dần dần. Những công trình nghiên cứu đã cho phép quan sát, nhờ các tập luyện này, một sự giảm 20% các triệu chứng mệt và đau đớn.

Hỏi : Ở Hoa Kỳ, Milnacipran vừa được chấp thuận để điều trị bệnh fibromyalgie. Tác dụng của nó là gì ?
B.S Patrick Cherin : Thuốc này, ở não bộ, có tác dụng điều biến lượng của hai chất trung gian của stress và của đau đớn, sérotonine và noradrénaline. 4 công trình nghiên cứu rộng lớn của Hoa Kỳ, với thời hạn từ 3 tháng đến 1 năm và bao gồm tổng cộng hơn 3000 bệnh nhân, đã cho những kết quả tốt. Người ta đã có thể quan sát thấy một sự cải thiện đáng kể các triệu chứng đau đớn, mất ngủ và mệt mỏi. Một vài người tham gia của công trình nghiên cứu này đã có thể, nhờ điều trị, tiếp tục trở lại hoạt động nghề nghiệp của mình.

Hỏi: Có những tác dụng phụ hay không ?
B.S Patrick Cherin : Từ 10 đến 20% các bệnh nhân đã cảm thấy đau đầu, nôn hay hồi hộp. Nhưng những tác dụng phụ này là tạm thời và ngừng ngay khi ngừng điều trị.

Hỏi : Milnacipran bao lâu nữa sẽ được thương mãi hóa ?
B.S Patrick Cherin : Những cuộc thử nghiệm đã được tiến hành trong nhiều nước khác nhau ở châu Âu với cùng những kết quả như ở Hoa Kỳ. Hồ sơ đang được xem xét. Yêu cầu đưa thuốc ra thị trường vào mùa hè này hẳn sẽ được đáp ứng.
(PARIS MATCH 20/5-27/5/2009)

6/ CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU NƯỚC THIẾU PHỤ NỮ : “ SỰ CHỌN LỌC TIỀN SINH ĐANG PHÁT TRIỂN ”

Việc xã hội ưa thích con trai đang khiến cho các phụ nữ, trong vài nước châu Á, thực hiện những sẩy thai chọn lọc (avortements sélectifs). Đã được biết đến ở Trung Quốc và Ấn Độ, hiện tượng này đang phát triển ở Việt nam, nơi mà tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN : sex-ratio à la naissance, hoặc số con trai sinh ra đối với 100 con gái) đã lên đến 112 vào năm 2007, tức là 7 điểm trên mức “ tự nhiên ” 105. Đó là điều mà Christophe Z.Guilmoto, nhà nhân khẩu học, giám đốc nghiên cứu của trung tâm dân số và phát triển ở Paris, đã cho thấy trong một công trình nghiên cứu được đăng tải bởi tạp chí khoa học on line Plos One.

Hỏi : Việc gia tăng số con trai ở Việt nam phải chăng là hiện tượng mới xảy ra gần đây ?
Christophe Z. Guilmoto : Những con số có được vào lúc thống kê năm 1999 đã không cho thấy một bất thường nào. Chúng tôi được tham khảo những dữ kiện mới đây hơn, cho thấy, bắt đầu từ năm 2004, một sự gia tăng số con trai theo đường thẳng và một cách đáng kể.

Hỏi : Làm sao giải thích hiện tượng này ?.
Christophe Z. Guilmoto : Từ nhiều năm nay, chính phủ Việt Nam giới hạn sinh đẻ và mỗi gia đình chỉ được có hai con. Theo truyền thống, con trai đóng một vai trò xã hội và tôn giáo, đại diện cho giòng giống, thị tộc. Tất cả điều đó đã không xuất hiện một sớm một chiều. Sự thay đổi trong các thái độ là do sự phổ biến trong nước của các máy siêu âm từ năm 2000. Mặt khác, việc phá thai đã là một việc làm thông thuờng ở Việt Nam.

Hỏi : Sự kiểm tra sinh đẻ có chịu trách nhiệm về sự chọn lọc tiền sinh (sélection prénatale) này hay không ?
Christophe Z. Guilmoto : Trước đây, người ta đẻ con cho đến khi có được một đứa con trai rồi người ta dùng một phương pháp ngừa thai. Ngay những năm 1980, người ta cũng quan sát nhận thấy ở Việt nam rằng ¾ những em bé đẻ sau cùng là con trai. Nhưng phương cách này, trở thành không có thể thực hiện với sự kiểm soát sinh đẻ, trên thực tế, tạo một sức ép lên sự chọn lọc giới tính của trẻ em. Ở Trung Quốc, nơi sự kiểm soát sinh đẻ nghiêm khắc hơn so với Việt nam và là nơi sự thực hiện siêu âm đã phát triển ngay từ năm 1982, tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN) gia tăng từ đầu những năm 1980 và đã đạt trị số 120 vào năm 2005, thậm chí 130 trong những tỉnh Jiangxi, Anhui và Shaanxi.

Hỏi : Tuy vậy hiện tượng này cũng ảnh hưởng đến Ấn Độ, mặc dầu ở đây không có kiểm tra sinh đẻ.
Christophe Z. Guilmoto : Tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN) trung bình ở Ấn Độ là 113, với những khác nhau to lớn giữa các vùng. Phía bắc Ấn Độ thể hiện một sự ghét cay ghét đắng đối với con gái, bởi vì của hồi môn là một gánh nặng đối với cha mẹ. Trong tỉnh Punjab, SRN là 125 vào năm 2005, mặc dầu không có áp lực chính trị đối với việc kiểm soát sinh sản. Ngay trong thủ đó Delhi, tỷ số trên 120. Người ta cũng nhận thấy các SRN cao, mặc dầu không hề bị có chính sách kiểm tra sinh đẻ, ở Đài Loan và Singapour, ở Pakistan và ở Bangladesh. Sau cùng, người ta khám phá một sự gia tăng SRN trong miền nam Caucase, ở Arménie, ở Géorgie, ở Azerbaidjan, nơi đây tỷ số lên đến 115 vào năm 2000. Ở đó đôi khi người ta ghi nhận nhiều sẩy thai hơn là sinh đẻ ! Khuynh hướng cũng y hệt, nhưng với một mức thấp hơn, ở Albanie và Monténégro.

Hỏi : Những hậu quả của việc ưa thích con trai là gì ?
Christophe Z. Guilmoto : Những hậu quả, đó là toàn bộ xã hội dung nạp một sự phân biệt giới tính ngay từ gốc. Sexisme trở thành một chuẩn mực được ghi vào trong những nghi thức xã hội. Hai mươi hoặc hai mươi lăm năm sau, sự thiếu con gái làm xáo trộn trầm trọng thị trường hôn nhân, trong những xã hội mà việc cưới hỏi là bắt buộc. Sự bất quân bình dẫn đến những cuộc di trú kết hôn (migration de mariage). Đàn ông khó tìm ra một vị hôn thê, phải đi kiếm ở những nơi khác. Trái lại, các phụ nữ buộc phải di trú về các thành phố và những vùng được ưu đãi hơn, thậm chí những nước láng giềng, nơi mà sự thiếu đàn bà tạo cho họ một cơ may tìm những ông chồng có đẵng cấp xã hội cao.

Hỏi : Một vài phân tích tiên đoán những xung đột liên kết với việc thiếu phụ nữ. Ông nghĩ như thế nào ?
Christophe Z. Guilmoto : Tôi nghĩ rằng các hệ thống xã hội sẽ thích ứng. Sự không cưới hỏi sẽ được công nhận như là một đường đời bình thường, điều này rất khó được chấp nhận ở châu Á. Ở Ấn Độ, nhất là ở Punjab, sự thiếu phụ nữ cũng đã bắt đầu làm rạn nứt hàng rào đẳng cấp : đàn ông lấy làm vợ những người thuộc đẳng cấp dưới, điều này hoàn toàn không thể quan niệm được cách nay không lâu.

Hỏi : Những hiện tượng sinh đẻ chọn lọc này có dài lâu không ?
Christophe Z. Guilmoto : Một vài nhà nghiên cứu cho rằng Trung Hoa, Ấn Độ và Caucase cho thấy những dấu hiệu của sự hạ tỷ suất giới tính lúc sinh (SRN), loan báo sự chấm dứt của một chu kỳ, sự chọn lọc tiền sinh, sau cùng, chỉ là một lệch lạc tạm thời. Ở Nam Triều Tiên, tỷ suất giới tính lúc sinh đã leo cao như ở Trung Quốc trước khi trở lại bình thường vào năm 2007. Có được điều này là nhờ sự tiến hóa của xã hội, các phụ nữ được tiếp cận với giáo dục học hành, với thị trường công ăn việc làm. Nhưng nhất là nhờ tác động của chính phủ đã cải cách chính sách gia đình và triển khai một bộ máy trấn áp chống lại việc chọn lọc sinh đẻ này.
(LE MONDE 20/5/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học 122, bài số 4

7/ RUNG NHĨ : KỸ THUẬT TẦN SỐ PHÓNG XẠ ĐƯỢC XÁC NHẬN LÀ ĐIỀU TRỊ CÓ HIỆU QUẢ NHẤT.

Hội nghị quốc tế về nhịp tim học đã diễn ra ở Boston. Nhiều báo cáo về bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire) (thường xảy ra nhất trong những rối loạn nhịp tim) đã được trình bày. Tần số phóng xạ (radiofréquence) đã được công nhận như là phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Mặc dầu kỹ thuật xâm nhập, nhưng các kết quả rất là có sức thuyết phục. Kỹ thuật tần số phóng xạ nhắm đưa một ống thông (sonde) qua đường tĩnh mạch vào trong tim, đến tận tâm nhĩ trái và phá hủy bằng siêu âm các vùng chịu trách nhiệm rối loạn nhịp tim này. Trong một công trình nghiên cứu so sánh nơi 167 bệnh nhân, tần số phóng xạ đã đảm bảo tỷ lệ 63% thành công vĩnh viễn, so với 17% khi dùng thuốc, và ưu điểm có một chất lượng sống tốt hơn.
(PARIS MATCH 4-10/6/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học 121, bài số 3
Thời Sự Y Học 14, bài số 5

8/ XƠ GAN : NGỪNG UỐNG KHÔNG BAO GIỜ LÀ QUÁ MUỘN.

Ngạn ngữ của các chuyên gia về xơ gan do rượu : ngừng uống không bao giờ là quá muộn. Nhưng điều này không có nghĩa là sự từ bỏ uống rượn có thể không ngừng được trì hoãn.

Chính như vậy mà BS Nick Sheron của Đại học Southhampton (Vương Quốc Anh), đã tóm tắt công trình nghiên cứu dài hạn, mà những kết luận được đăng tải trong tờ báo khoa học Addiction. Một nghiên cứu lâm sàng trên các sinh thiết của 100 bệnh nhân, được thực hiện giữa tháng giêng 1995 và tháng 12/ 2000, và các kết quả đã được so sánh với các thống kê tử vong, thu được bởi một trung tâm quốc gia chuyên môn.

Từ đó rút ra kết luận là, nếu một bệnh nhân ngừng uống ngay sau khi được chẩn đoán xơ gan nghiêm trọng do rượu, thì khả năng sống sót lâu dài, cao hơn nhiều sau một tháng, so với cơ may sống sót của một người bệnh với xơ gan ít trầm trọng hơn, nhưng vẫn tiếp tục uống rượu. Nói chính xác hơn : tỷ lệ sống còn sau 7 năm là 72% đối với người ngừng rượu so với 44% đối với người tiếp tục uống. Lý do khiến BS Sheron nêu ra nhận xét : “ Ở mức cơ bản nhất, việc điều trị một bệnh nhân nghiện rượu là nhằm duy trì anh ta sống đủ lâu để có thể ngưng uống rượu, và sau đó tối đa hóa những khả năng của anh ta kiên trì cai rượu.” Và nhấn mạnh rằng, về vấn đề này, mốt chánh sách y tế có trách nhiệm phải nhằm nâng đỡ các bệnh nhân, để giúp họ chống lại rượu.
(LE SOIR 18/4-19/4/2009)

9/ THƯƠNG SỐ THÔNG MINH THẤP HƠN NƠI CÁC TRẺ ĐƯỢC HỒI SINH.

Tình trạng giảm oxy-mô (hypoxie périnatale) và tăng thán huyết (hypercapnie) có thể dẫn đến những vấn đề thần kinh nghiêm trọng. Theo một công trình nghiên cứu của Anh, các em bé được hồi sinh và không bị các thương tổn lâm sàng, về sau cũng có nguy cơ có một thương số thông minh dưới mức trung bình.

Theo OMS, sự ngạt thở chu sinh (asphyxie périnatale) sẽ là nguyên nhân của 1/5 các trường hợp tử vong sơ sinh. Tuy nhiên, số các trẻ em sống sót, sau này phát triển những rồi loạn phát triển, không được biết đến.

Năm 1976, Sarnat đã xếp loại bệnh não do thiếu máu cục bộ (encéphalopathie ischémique) là nhẹ, trung bình hay nặng tùy theo mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng thần kinh. Được xem là nhẹ trong trường hợp tăng cảnh giác (hypervigilance) và rất dễ bị kích thích. Giảm trương lực cơ kèm theo bại liệt được xem như một hội chứng trung bình, trong khi một tình trạng sững sờ (état stuporeux) với sự vắng mặt của các phản xạ nguyên phát và một sự chậm phát triển, biểu hiện những di chứng trầm trọng nhất. Mãi đến nay, người ta cho rằng, những đứa trẻ, sau khi được hồi sinh, không có triệu chứng hay có những bất thường thần kinh nhẹ, nhiên hậu vào lúc chúng bắt đầu đi học, sẽ không khác với những đứa trẻ của một nhóm kiểm tra.

CHẬM NHẬN THỨC.

David Odd và các cộng sự viên Anh) đã theo dõi trong công trình nghiên cứu Avon Longitudinal Study hơn 11.000 em bé sinh sau một thai nghén ít nhất 36 tuần. 815 trẻ (7,1%) đã đươc hồi sinh vào lúc sinh, nhưng chúng vẫn không có triệu chứng và không cho thấy một dấu hiệu bệnh não (encéphalopathie) nào trong khi 58 trẻ (0,5%) đúng là có những di chứng thần kinh. Những trẻ em được hồi sinh phần lớn có một trọng lượng lúc sinh thấp, được sinh ra hơi thiếu tháng và có một điểm số Apgar thấp. Những bà mẹ trong lúc thai nghén có một huyết áp cao hay sốt, và phần lớn ít học.

Khoảng 50 % các trẻ đã chịu những trắc nghiệm nhận thức (tests cognitifs) vào lúc 8 tuổi. Những điểm số nơi các trẻ em được hồi sinh, nhìn toàn bộ, là ít tốt hơn, điều này không làm ngạc nhiên lắm. Nhưng điều bất ngờ, đó là những trẻ không có triệu chứng cũng có những điểm số thấp hơn so với nhóm kiểm tra.

Vậy thì, các nguy cơ vẫn tồn tại trong thời gian, sau một tình trạng thiếu oxy-mô chu sinh (hypoxie périnatale), biến thiên từ những vấn đề nghiêm trọng trong sự phát triển đến một trí thông mình kém hơn, nơi những trẻ không có triệu chứng lúc khởi đầu.

Vì lẽ có nhiều trường hợp không có triệu chứng hơn nhiều những trường hợp các đứa bé với các thương tổn được biểu hiện lâm sàng, nên các tác giả kết luận rằng những hậu quả của một tình trạng thiếu oxy-mô và của một thủ thuật hồi sinh thật ra quan trọng hơn là đã được dự kiến. Để đánh giá tầm quan trọng thật sự của thiếu oxy-mô chu sinh, có lẽ sẽ phải cần đến những tiêu chuẩn khác với việc chỉ đánh giá thần kinh không thôi, như các chỉ dấu sinh hóa học xác định mức độ nhiễm axit chuyển hóa, điện tâm đồ và RMN.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 26/5/2009)

10/ CÁ, HỒ ĐÀO VÀ OLIVE CHỐNG BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC (DMLA).

Việc gìn giữ một thị giác tốt cũng có thể phụ thuộc vào chế độ ăn uống. Trong les Archives d’Ophtalmologie, một tạp chí của Hoa Kỳ, được công bố hôm nay, các thầy thuốc người Úc của đại hoc Sidney cho thấy rằng một chế độ ăn uống giàu hồ đào (noix), cá hay dầu olive, làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Hiện nay, ở Pháp, sự biến đổi thị giác trung tâm này cùa võng mạc tác động lên 500.000 người, ở những mức độ khác nhau. Ngược lại, những axít béo được gọi là trans (những chất béo thực vật được bảo hòa bởi một phương thức công nghiệp để cải thiện sự tiêu thụ chúng) có một tác dụng có hại lên thị giác. Hiện nay, ở Pháp cũng như trong những nước kỹ nghệ hóa khác, DMLA là nguyên nhân chính của thị lực kém (malvoyance) nơi những người trên 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ dĩ nhiên là tuổi tác, cũng như tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và hút thuốc lá.

Để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và DMLA, các nhà nghiên cứu người Úc đã quan tâm đến chế độ ăn uống, và đặc biệt là sự tiêu thụ mỡ, của 2454 người tuổi hơn 65, từ năm 1992 đến 1994 và đã chụp hình võng mạc. 10 năm sau, các kết quả cho thấy rằng những người ăn cá, ít nhất một lần mỗi tuần (nhưng cũng ăn hồ đào và dầu olive) có tỷ lệ bị DMLA 30% thấp hơn. Sự tiêu thụ càng quan trọng thì nguy cơ càng ít cao.

Một công trình nghiên cứu thứ hai, được công bố trong cùng tạp chí, đã kết luận rằng một sự tiêu thụ quá mức axít trans (hiện diện trong viennoiserie công nghiệp, biscuit và vài món ăn tiền chế khác) làm gia tăng nguy cơ bị DMLA.

Những công trình nghiên cứu này, nếu được xác nhận, chứng tỏ một cách rõ ràng một mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sự biến đổi võng mạc do bệnh DMLA.
(LE FIGARO 12/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/6/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#7 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 21 June 2009 - 06:52 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ DỰ PHÒNG CHỐNG CÚM.

Theo các chuyên gia, sự tôn trọng một số nguyên tắc vệ sinh cho phép làm giảm sự lây truyền.

Hỏi : Làm sao có thể dự phòng trong trường hợp tiếp xúc với một người bị cúm A ?
Mọi tiếp xúc với một bệnh nhân bị bệnh cúm mới này đòi hỏi điều trị dự phòng với Tamiflu (một viên mỗi ngày trong 7 đến 10 ngày). Ngoài ra cũng cần những “ biện pháp rào chắn ” (mesures barrière) : bệnh nhân phải mang một mặt nạ ngoại khoa để không làm lây nhiễm chung quanh, tránh ôm hôn và bắt tay bệnh nhân. Đối với mọi tiếp xúc, phải rửa tay bằng xà phòng, Paul Léophonte, vừa xuất bản cuốn “ Les Grippes en question ”, đã xác nhận như thế. Dầu sao, loại tiếp xúc này không nên để xảy ra : bình thường, một người bị bệnh cúm phải ở cách ly tại nhà. Nếu ta ở cách xa bệnh nhân trên 2 m, thì khó mà bị lây nhiễm, Jean-Philippe Derenne, trưởng khoa bệnh phổi, bệnh viện Pitié-Salpêtrière đã xác nhận như thế.

Hỏi : Có phải áp dụng những biện pháp thận trọng đối với một người chỉ bị nghi là có bệnh cúm hay không?
Cái khó khăn là ở chỗ những triệu chứng của bệnh cúm rất là thông thường. Nếu một người bị sốt, đau đầu, ho, và đến từ một nước mà tình trạng đại dịch đã được tuyên bố (mức 6), thì những thận trọng nêu trên phải được tuân thủ, trong lúc chờ đợi sự xác nhận của chẩn đoán, theo Paul Léophonte.

Hỏi : Có bị nguy hiểm hay không khi tiếp đón tại nhà những người đến từ những vùng bị lây nhiễm ?
Nếu những người này không có một triệu chứng nào (mặc dầu họ có thể là những “ người lành mang ” virus), không nên hoảng sợ. Thời gian tiềm phục của bệnh cúm là từ 4 đến 6 ngày. Chỉ cần chờ đợi hết kỳ hạn này thì có thể chắc là các khách thăm viếng không phải là những người bệnh. Hôm nay, nhiều người đến từ Hoa Kỳ tham gia các hội nghị của đất nước chúng ta. Chúng ta sẽ không tẩy chay họ. Hiện nay chúng ta trong một thời kỳ trung gian. Nước Pháp hiện không ở mức báo động đại dịch toàn cầu cấp 6. Khi sẽ là như vậy, thì tất cả mọi cuộc hội họp công cộng sẽ bị cấm chỉ. Theo G.S Derenne, nếu tất cả mọi người đều ở tại nhà trong một tuần, thì sẽ không có bệnh cúm A nữa, virus sẽ biến mất. Đó cũng hơi giống điều mà các người Mễ đã làm trong những weekend vào cuối của tháng tư.

Hỏi : Chúng ta có thể đi nghỉ hè trong những nước có một số lượng cao các trường hợp cúm A, như Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ ?
Vâng, không có vần đề tránh không đi nghỉ hè trong tình hình hiện nay, kể cả để đi Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ. Vì lý do thận trọng, chúng ta có thể mang theo trong hành lý một điều trị bằng thuốc Tamiflu. Nếu không, với sự xuất hiện bất cứ triệu chứng cúm nào, phải đi khám nhanh chóng một thầy thuốc, bởi vì thuốc Tamiflu chống virus này, để được hiệu quả, phải được cho trong 48 giờ đầu sau khi bắt đầu các triệu chứng.

Hỏi : Có phải những người đã bị lây nhiễm bây giờ, sẽ được bảo vệ về sau hay không, mặc dầu virus có thể độc lực hơn ?
Chúng tôi không thể trả lời câu hỏi này, Jean Philipp-Derenne đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cúm Tay Ban Nha đã chứng tỏ rằng, các quân nhân của Hải Quân quốc gia, bị ảnh hưởng ít nghiêm trọng nhất bởi làn sóng dịch thứ hai, vốn là những người đã bị cúm vào làn sóng đầu tiên của dịch bệnh. Nếu như virus không bị quá nhiều biến dị, ta có tất cả các lý lẽ để nghĩ rằng những người này sẽ có được một mức độ bảo vệ nào đó. Đó là điều đã xảy ra vào lúc làn sóng cúm Tây Ban Nha lần thứ hai : những người già, vốn đã bị mắc phải một loại virus khác hẳn (cúm Á Châu) vào năm 1890, đã được bảo vệ hơn những kẻ khác. Các kháng thể vẫn hiện diện rất lâu trong cơ thể. Mới đây, người ta đã tìm thấy các kháng thể của cúm Tây Ban Nha nơi những người bách niên.

Hỏi : Ngay từ bây giờ có nên thực hiện các chiến dịch thông tin lớn về những phương pháp phòng ngừa tốt hay không ?
Đó là một điểm thiết yếu, theo Patrick Berche, giáo sư vi trùng học (Paris-V) : phải báo cho dân chúng biết rằng sẽ có một làn sóng dịch cúm quan trọng, trong 6 đến 10 tuần, với nhiều bệnh nhân. Thông báo về các triệu chứng và cách xử trí là rất quan trọng. Phải nhắc lại rằng, trong trường hợp bị cúm thì phải ở tại nhà và báo với thầy thuốc gia đình. Việc thông tin về các mặt nạ và cách sử dụng chúng, về các điều trị kháng virus, về thái độ khi đứng trước một bệnh nhân, là rất quan trọng để làm giảm nguy cơ lây truyền. Đối với Paul Léophonte, dân chúng ở Pháp bắt đầu được thông tin khá tốt, mặc dầu những chiến dịch thông tin vẫn là cần thiết.
( LE FIGARO 16/6/2009)

2/ CÚM : LÀM SAO CHUẨN BỊ VỚI CÁC ĐỀ KHÁNG ?

Một vài thuốc kháng virus hiện có hiệu quả chống lại virus cúm A (H1N1). Nhưng những giống gốc đề kháng sẽ xuất hiện, đó là điều không thể tránh được.

Tất cả các điều trị chống lại các bệnh nhiễm khuẩn đều có một mối nguy cơ: làm dễ sự chọn lọc của các giống gốc đề kháng với các thuốc hiện có. Virus cúm cũng không thoát khỏi quy tắc tiến hóa này : con người hiệu chính những thuốc kháng virus mới, nhưng vài giống gốc có những biến dị thuận lợi, cho phép chúng đề kháng với những thuốc kháng virus này và tăng sinh.

Một vài trong những nghiên cứu đang được tiến hành nhằm vào protéine M2, một trong những protéine của vỏ của virus cúm A, cần thiết cho sự tăng sinh của siêu vi trùng. Protéine này bị ức chế bởi các adamantane, mà amantadine là một bộ phận (do tính chất kháng khuẩn, amantadine đôi khi được sử dụng để điều trị và dự phòng bệnh cúm, nhưng ngày nay amantadine chỉ có một vai trò hạn chế). Protéine M2 chịu những biến dị, trong đó một vài biến dị cho phép nó thoát khỏi tác dụng của các adamantane kháng virus. Như thế, hơn 90% của các giống gốc thuộc sous-type A (H3N2) của virus cúm mùa và A (H5N1) của cúm gia cầm, đều đề kháng với adamantane.

Người ta đã chứng tỏ rằng giống gốc mới đây, A (H1N1), có nguồn gốc từ heo, cũng đề kháng với điều trị bởi các adamantane. Ngược lại, hiện nay nó lại nhạy cảm với những thuốc khác, như oseltamivir (Tamiflu).

Làm sao chống lại các đề kháng đối với adamantane ? Các nhà sinh học Hoa Kỳ đã nghiên cứu nguồn gốc của sự biến dị là nguyên nhân của các đề kháng này. Bằng cách so sánh các bộ gène (génome) và các protéine của hàng trăm giống gốc H3N2 được phân lập từ năm 1997, họ cho thấy rằng đại đa số các virus H3N2 đề kháng, phát xuất từ một giống gốc bị biến dị, được phát hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông vào mùa hè 2003, và protéine M2 của giống gốc này đã bị biến đổi.

Protéine M2 là một kênh proton (canal à protons), nghĩa là nó điều hòa sự đi qua của các ion H+. Protéine này được tạo thành bởi 4 phó đơn vị dưới dạng hélice. Khi virus đi vào trong một tế bào, kênh được mở ra và các proton đi vào trong virus, điều này làm phát khỏi sự phân ly của vỏ virus, cho phép các ARN của virus được tự do phiên thành protéine virus.

Hai nhóm nghiên cứu, nhóm của William DeGrado, thuộc Đại học Pennsylvanie, và nhóm của James-Chou, ở Havard, đã làm sáng tỏ một sự biến dị của M2 gây nên sự đề kháng như thế nào.

Mặt khác, từ mười năm nay, protéine M2 là đối tượng của các nghiên cứu nhằm tìm ra một vaccin “ vạn ứng ”, hiệu quả chống lại nhiều giống gốc của virus cúm, điều này sẽ tránh phải bào chế mỗi năm vaccin cúm mùa hay vaccin chống đại dịch. Thật vậy, đoạn ngoài (fragment externe) của M2 được bảo tồn trong tất cả các virus loại A. Bằng cách đưa đoạn ngoài vào bề mặt của một protéine, người ta hy vọng gây nên sự sản xuất các kháng thể có tác dụng chống lại tất cả các giống gốc.

Những nhóm nghiên cứu đã tiến xa nhất trong địa hạt này là nhóm của Walter Fiers và Xavier Saelens, thuộc Đại Học Gand (Bỉ) và nhóm của Robert Belshe, thuộc Đại Học Saint Louis, Missouri . Hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I đã cho thấy rằng vaccin gây nên sự sản xuất các kháng thể chống lại protéine M2 nơi hơn 90% những người được tiêm chủng. Nhưng người ta không biết những kháng thể này có bảo vệ những người được tiêm chủng chống cúm hay không ; chỉ một thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn mới có thể chứng tỏ điều đó.
( POUR LA SCIENCE 6/2009)

3/ NHỮNG TAI NẠN GIAO THÔNG GÂY NÊN HƠN 1 TRIỆU NGƯỜI CHẾT TRÊN THẾ GIỚI.

SANTE PUBLIQUE. OMS công bố báo cáo lần đầu tiên về an ninh đường xá của 178 nước, với 20-50 triệu chấn thương không tử vong mỗi năm.

Trên đường từ Kampala và Gulu, phía bắc Ouganda, thường thường xe bus qua mặt anh với tốc độ 100 km/giờ. Ở Vientiane (Lào), 70% dân số dưới 20 tuổi và lái xe hai bánh ở giữa các chiếc xe tải to tướng. Trên tất cả các lục địa, cùng các nguyên nhân có cùng những hậu quả : các tai nạn lưu thông mỗi năm gây tử vong cho 1,2 triệu người, và 20 đến 50 triệu chấn thương không gây chết người.

OMS lần đầu tiên công bố một báo cáo về sự ngăn ngừa các chấn thương do các tai nạn giao thông trong 178 nước, được thiết lập từ các dữ kiện của một công cuộc điều tra chuẩn, được tiến hành vào năm 2008.

Hơn 90% các tai nạn đường xá chết người xảy ra trong những nước có lợi tức thấp hoặc trung bình. Tỷ lệ tử vong được quy cho các tai nạn đường xá là 21,5 trên 100.000 người đối với những nước có lợi tức thấp, và 19,5 trên 100.000 người trong những nước có lợi tức trung bình.

GIỚI HẠN TỐC ĐỘ CÓ HIỆU QUẢ TRONG 10% CÁC QUỐC GIA.

49% các trường hợp tử vong là những khách bộ hành, những người lái xe đạp hay những người sử dụng xe hai bánh có động cơ. Tỷ lệ của những người sử dụng dễ bị thương tổn này lại còn cao hơn trong những nước nghèo : thí dụ, ở Đông Nam Á, tỷ lệ này vượt quá 90% của toàn bộ các tử vong.

Đứng trước một bảng tổng kết như thế, những cố gắng phòng ngừa rõ ràng không đủ và nhiều nước không có pháp luật đường sá tương xứng để chống lại việc lái xe trong khi say, tốc độ quá mức hay để buộc phải mang mũ sắt, đeo dây an toàn, các ghế ngồi dành cho trẻ em.

Chỉ 29% các nước đã giảm tốc độ xuống 50 km/giờ hay ít hơn trong thành phố (trong khi tốc độ là một trong những yếu tố nguy cơ chính của tai nạn nơi những khách bộ hành và những người lái xe đạp). Dưới 10% các nước cho rằng, những giới hạn tốc độ được áp dụng một cách có hiệu quả : việc thiếu radar cố định hay di động và thiếu nhân viên công lực được đào tạo để kiểm soát, là rõ rệt ở Châu Phi. Mặt khác, chỉ 1/3 dân số thế giới sống trong một đất nước có một chính sách quốc gia khuyến khích việc đi bộ hay những đi lại bằng xe đạp.

Về việc lái xe trong khi say rượu, mặc dầu hơn 90% các nước đều có một đạo luật quốc gia, nhưng chỉ có 49% là đã định một ngưỡng nồng độ rượu hợp pháp dưới 0,5 g/L. Và chỉ có 11% các quốc gia là đã ấn định một ngưỡng nồng độ cồn trong máu thấp hơn đối với các người lái trẻ tuổi hay những người mới lái xe.

Đối với những người đi mô tô, 74% các nước buộc phải thường trực đội mũ sắt, nhưng không có một tiêu chuẩn an ninh nào trong 43% các quốc gia. Việt Nam, đã có một đạo luật về việc mang mũ sắt, đã thu được các kết quả. 95% những người lái xe hai bánh từ nay phải mang mũ sắt và tỷ lệ tử vong đã giảm xuống.

Về những hành khách xe hơi, việc mang dây an toàn (làm giảm nguy cơ tử vong 40-50% đối với những người ngồi ở phía trước) chỉ bắt buộc trong 38% các nước có lợi tức thấp.

Lần đầu tiên, bảng báo cáo này cho mỗi nước những bản đồ về tỷ lệ bệnh tật và tử vong. “ Chúng tôi hy vọng rằng điều xác nhận này sẽ giúp những người hữu trách mỗi nước kêu gọi những nhà lập pháp cải thiện các đạo luật ” đối với an ninh và phòng ngừa đường sá, OMS đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 16/6/2009)

4/ PHẪU THUẬT HIỆU QUẢ CHỐNG BỆNH RUNG NHĨ.

CARDIOLOGIE. Cắt bỏ các vùng của tim chịu trách nhiệm các rối loạn nhịp là hiệu quả hơn thuốc men.

Jean-Marc là một trưởng bộ môn lâm sàng, chỉ mới 27 tuổi : anh tham gia trực gác ngoại khoa chỉnh hình 9 lần mỗi tháng, làm việc 15 giờ mỗi ngày và uống cà phê cùng chừng ấy số lượng ! Từ ba ngày nay, thầy thuốc bệnh viện tương lai và xuất sắc này bị những cơn hồi hộp rất khó chịu, cảm giác như có một “ tổ ong ” trong lồng ngực, hay có cảm giác như tim bị dừng lại.

Anh thăm khám thầy thuốc chuyên về nhịp tim. Chẩn đoán : Jean-Marc bị rung nhĩ cấp tính kịch phát (fibrillation auriculaire aigue paroxystique). Nói một cách khác, hệ thống tạo nhịp vốn tạo nên sự co cơ của tim, đã trở nên hỗn loạn một cách đột ngột.

Thật vậy, một vài tế bào của thành tâm nhĩ, được tập trung lại trong “ nút xoang ” (noeud sinusal), khử cực theo chu kỳ (những tế bào này làm đảo tính đối cực điện của màng tế bào). Sự khử cực này tiến từ gần đến xa, từ cao xuống thấp, đến chỗ nối (jonction) với tâm thất phải. Chính sự khử cực này đảm bảo một sự co thắt đồng bộ, điều hòa, có hiệu quả của những tế bào cơ của tâm nhĩ.

Trong trường hợp rung nhĩ, sự khử cực này trở nên hỗn loạn và sự co bóp của tâm nhĩ trở nên không hiệu quả (mặc dầu một nhịp rất nhanh trên 300 mỗi phút). Có hai loại điều trị : hoặc là những thuốc chống loạn nhịp, hoặc là những kỹ thuật can thiệp với các ống thông dò tim (sondes cardiaques).

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN 167 BỆNH NHÂN

Một công trình nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị chuyên đề Heart Rythm 2009 ở Boston (Hoa Kỳ), lần đầu tiên, vừa so sánh điều trị dược học và can thiệp ngoại khoa. Kết quả : các thiệp ngoại khoa hiệu quả hơn nhiều.

B.S David Wilber (giám đốc của Viện tim mạch của loyola University, Illinois) đã điều khiển một công trình nghiên cứu nhiều trung tâm, quy tụ 167 bệnh nhân thuộc 15 bệnh viện Hoa Kỳ, Một năm sau khi được cắt bỏ ngoại khoa (ablation chirurgicale), 63% các bệnh nhân vốn bị rung nhĩ không còn có triệu chứng nữa. Ngược lại, chỉ có 17% trong số những bệnh nhân này, chỉ được điều trị bằng thuốc chống loạn nhịp, là được chữa lành mà thôi.

Từ những bước đầu, cách nay 40 năm, kỹ thuật cắt bỏ (technique d’ablation) đã tiến triển tốt, nhưng phương thức căn bản vẫn như nhau : trước hết người ta thiết lập một bản đồ điện (carte électrique) của những vùng cần phải đốt, bằng cách thu những phóng điện ngẫu nhiên từ các ổ lạc chỗ (foyers ectopiques) chịu trách nhiệm loạn nhịp, ở chỗ nối với các tĩnh mạch phổi, nhờ một ống thông dò (sonde để mesure) được đặt ở đầu một cathéter.

Sau đó, người ta đưa vào, qua chọc dò một tĩnh mạch đùi lớn, đầu mút của một cathéter mảnh, rồi người ta đưa lên, ngược dòng, vào trong tĩnh mạch chủ, rồi vào tâm nhĩ phải.

Cũng có những hệ thống từ hành (navigation magnétique), có thể được kết hợp với chụp hình ảnh tim (imagerie médicale) và cho phép xác định, một cách thường trực, vị trí đầu mút của cathéter, để tiến đến càng gần mục tiêu càng tốt. Một khi đã đến được mục tiêu, người thầy thuốc phát một dòng tần số phong xạ (courant de radiofréquence) ở đầu mút của cathéter. Dòng tần số phóng xạ này chính xác hơn và dễ kiểm soát hơn những dòng điện liên tục có điện thế cao (courants continus de haut voltage), được sử dụng cách nay nhiều thập niên. Dòng tần số phóng xạ này phá hủy ổ bất thường gây loạn nhịp, và thường mang lại sự chữa lành vĩnh viễn.

“ Có một “ dịch bệnh ” rung nhĩ ở Pháp, phải được quy cho sự gia tăng tần số của bệnh suy tim. Ngày nay, hiếm khi ta chết vì những bệnh tim này, do đó càng ngày càng có nhiều bệnh tim già (cardiopathies vieilles), trong một dân số lão hóa ”, BS Arnaud Lazarus của trung tâm nhịp tim học Bizet, Paris, đã giải thích như vậy.

Dầu sao, cũng không nên quên rằng kỹ thuật cắt bỏ ngoại khoa này, được phát minh bởi trường phái tim học của Pháp, cũng có những nguy cơ như các nguy cơ của “ ngoại khoa tim mở ” (“ chirurgie à coeur ouvert ”), B.S Lazarus đã đánh giá như vậy. Cần phải e sợ những biến chứng huyết khối nghẽn mạch (thromboembolies), các tai biến mạch máu não, thủng các xoang tim.

Đó là một trong những lý do thúc đẩy các thầy thuốc, tùy theo tuổi tác của bệnh nhân, mức độ thâm niên của bệnh rung nhĩ, của trái tim cần phải mổ, đặt ưu tiên một chiến lược hai kỳ. Trước hết, thử dùng các thuốc chống loạn nhịp, và chỉ trong những trường hợp thất bại của những thuốc này mà sự can thiệp ngoại khoa mới có thể được quyết định.

Sau cùng, hãng Biosense Webster, đã tài trợ công trình nghiên cứu của BS David Wilber, vừa được Cơ quan FDA cấp giấy phép lưu hành các dụng cụ cắt bỏ : vậy đối với hãng này, không phải là vô ích khi có một thầy thuốc Hoa Kỳ trình bày, nhân hội nghị lớn nhất về nhịp tim học, những kết quả hiệu quả của kỹ thuật cắt bỏ này...Ở Hoa Kỳ có 2 triệu trường hợp rung nhĩ được xác nhận.
(LE FIGARO 15/5/2009)

5/ MƠ MỘNG KÍCH THÍCH NÃO BỘ.

NEUROSCIENCES. Các nhà nghiên cứu Canada vừa cho thấy rằng vỏ não trước trán (cortex préfrontal) hoạt động hơn khi người ta nghỉ ngơi.

Có lẽ đây là điều làm cho vài giáo viên phải suy nghĩ, khi họ cho rằng các hoc sinh lơ đảng và mơ mộng của họ đều là những học sinh lười. Thế mà chắc chắn rằng chính những học sinh này lại là những kẻ suy nghĩ nhiều nhất ! Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, PNAS, cho thấy rằng, trái với những thành kiến, sự mơ mộng kích thích não bộ.

Những công trình nghiên cứu này được thực hiện từ những hình ảnh nhận được nhờ IRM. Các nhà nghiên cứu Canada đã quan sát thấy rằng sự kiện mơ mộng không những đã không “ làm chậm lại ” não bộ, mà trái lại còn cho phép nó giải quyết những vấn đề phức tạp. Một dữ kiện đáng quan tâm khi chúng ta biết rằng con người trải qua khoảng 2/3 thời gian của đời mình để lơ đãng trên mây. “ Khi không được kích thích bởi các nhu cầu bên ngoài, não bộ con người thường làm việc rất là nghiêm chỉnh.”, BS Kalina Christoff, giám đốc của Laboratoire de sciences neurologiques, thuộc đại học British Columbia, Vancouver, đã nhận xét như thế. Sự kiện vài vùng của não bộ “ làm việc nhiều hơn khi cá nhân không tập trung vào một công việc nào đó là một trong những khám phá khoa học-thần kinh mới nhất của thập niên qua. Phần não bộ được nói đến được gọi là vỏ não trước trán giữa (cortex préfrontal moyen). Đó là phần trước của thùy trán não bộ, nằm ở phía trước của những vùng tiền vận động (régions prémotrices). Phần này của não bộ là nơi của những chức năng nhận thức được gọi là cao cấp khác nhau, như ngôn ngữ, trí nhớ, lý luận, và nói chung hon là những chức năng chấp hành (fonctions exécutives).

NHIỀU GIẢ THUYẾT.

“ Cách nay hơn 10 năm, Marcus Raichle, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh nổi tiếng và là một trong các cha đẻ của IRM, đã cho thấy rằng, khi người ta ở trong trạng thái nghỉ ngơi, vài vùng của não bộ được kích thích hoạt động ”, Angela Sirigu, nhà nghiên cứu thuộc centre de neurosciences cognitives của CNRS, Lyon, đã giải thích như vậy. Câu hỏi lớn là làm sao biết tại sao vài vùng của não bộ được hoạt hóa, còn những khác thì lại không. “ Có nhiều giả thuyết, nhà nghiên cứu đã ghi nhận như thế. Một trong những giả thuyết này chỉ rõ rằng người ta, lúc nghỉ ngơi, hướng sự chú ý vào nội tâm nhiều nhiều hơn ra ngoại giới.” Nhưng giả thuyết đã chưa được xác nhận. Cái mới của công trình nghiên cứu Canada là đã nhận diện vùng vỏ nào trước trán giữa (cortex préfrontal moyen) như là vùng được kich thích nhiều nhất khi người ta đi từ y tưởng này qua ý tưởng khác. Nói một cách khác khi người ta mơ mộng...
( LE FIGARO 15/5/2009)

6/ PHÁ HUỶ CÁC KHỐI U HIỀN TÍNH KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT KHÔNG CẦN GÂY MÊ.

IMAGERIE MEDICALE : Một chiếc máy của Israel, sử dụng các siêu âm được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh, cho phép loại bỏ các khối u, đặc biệt là các u xơ tử cung (fibromes utérins), mà bệnh nhân không phải nghỉ việc và không bị biến chứng.

Một chiếc máy chụp hình ảnh bằng IRM, kết hợp với các siêu âm, đang cách mạng hóa việc điều trị các u xơ tử cung, những khối u hiền tính rất thường xảy ra, buộc 70.000 phụ nữ ở Pháp mỗi năm phải chịu phẫu thuật. Công nghệ học mới này cho phép phá hủy các u xơ tử cung mà không cần gây mê, không cần nhập viện và không cần phẫu thuật. Mặt khác, kỹ thuật này đang được đánh giá đối với những bệnh lý khác, như những di căn xương, các ung thư vú, gan…

Ở Pháp, hiện nay, chỉ có CHU de Tours là được trang bị bởi một máy như thế, được gọi là Exablate. Bảng tổng kết của công nghệ học này đã được trình bày bên lề hội nghị của Hiệp hội hình ảnh Pháp-Israel, vừa được tổ chức ở Tel-Avis, ở bệnh viện Tel HaShomer. Kỹ thuật này đã được phát minh bởi một start-up israel InSighttec có trụ sở ở Haifa, được tạo lập bởi các kỹ sư trẻ tuổi đã từng làm việc trong quân đội, và đã nghĩ ra việc kết hợp sự chụp hình ảnh bằng IRM với các siêu âm được điều tiêu, để phá hủy các khối u dưới sự kiểm soát thường trực của thị giác.

63 BỆNH NHÂN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở TOURS.

Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính của tử cung, được mồ trong trường hợp có biến chứng như chảy máu, đè ép, đau đớn. Để làm giảm việc phải nhờ đến phẫu thuật, nhóm nghiên cứu Israel đã nghĩ ra một thiết bị đổi mới, cho phép phá hủy u xơ bằng các siêu âm. Các siêu âm này có thể nói là “ nung nóng ” hoàn toàn khối u.

Các bệnh nhân đến vào buổi sáng, chịu một an thần nhẹ nhưng vẫn tỉnh táo, được điều trị và trở về nhà vào buổi chiều. Một cách cụ thể, bệnh nhân được đặt nằm sấp, một nửa dưới của thân mình ở trong một ống trụ (cylindre). “ Dưới sự kiểm soát thường trực của chụp hình ảnh, chúng tôi phát ra một loạt các tia bắn siêu âm (tirs d’ultrasons), chỉ nhắm vào khối u mà thôi, G.S Pata đã giải thích như vậy. Nhờ IRM, chúng tôi có một biểu đồ thường trực về nhiệt độ của các cơ quan lân cận và của da, như thế cho phép chúng tôi một sự kiểm soát hoàn toàn. Bệnh nhân, nếu cảm thấy bị bỏng, thì chính bệnh nhân này có thể làm ngưng các tia bắn siêu âm.”

Như thế, tính đến hôm nay, bệnh viện Tours đã điều trị 63 bệnh nhân bị u xơ tử cung, không có biến chứng, không có phản ứng phụ và với kết quả thành công. Thủ tục kéo dài khoảng 3 giờ, nhưng các nhà nghiên cứu đang thu giảm thời gian can thiệp. Tuy nhiên, một vài khối u rất to tướng hay có vị trí không tốt, không thể hưởng tiến bộ kỹ thuật này.

Tạp chí Obstetrics and Gynevology đã công bố cách nay vài tháng, một tổng kết về 359 bệnh nhân, với những kết quả hoàn toàn đáng lưu ý về mặt hiệu quả và chất lượng sống 2 năm sau thủ thuật và một tỷ lệ tối thiểu xảy ra các biến chứng.

Những nhà phát minh máy ExAblate đã phát động hơn 40 thử nghiệm lâm sàng đối với những bệnh lý khác với u xơ tử cung. Nhiều tài liệu xuất bản báo cáo những kết quả sơ khởi đáng lưu ý trong sự phá hủy các di căn xương gây đau đớn của những bệnh nhân bị ung thư. “ Chúng tôi đã điều trị một bệnh nhân bị tàn phế bởi những con đau đớn này và không còn có thể bước đi được nữa, G.S Pata nói thêm như vậy, và ông ta đã có thể đứng dậy lại và di chuyển. Đó là một bước tiến, mặc dầu căn bệnh ung thư của ông đã không được chữa lành.” Nhiều chục bệnh nhân bị di căn xương đã được điều trị. Những thử nghiệm cũng đang được tiến hành trong ung thư vú, trong ung thư gan và một thủ tục được dự kiến đối với các khối u não bộ. Mặc dầu kỹ thuật có ưu điểm to lớn là có thể nhắm các tia siêu âm một cách rất chính xác vào khối u, mà không làm biến đổi môi trường chung quanh, nhưng còn cần phải chứng tỏ rằng kỹ thuật này phải cho phép phá hủy tất cả, tuyệt đối tất cả mô ung thư.
(LE FIGARO 5/6/2009)

7/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ (RETINITE PIGMENTAIRE) : MỘT NIỀM HY VỌNG ĐIỀU TRỊ .

G.S José-Alain Sahel, giám đốc của Viện thị giác (Inserm-đại học Pierre-et-Marie-curie) giải thích sự tiến bộ, được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của ông, với việc tiêm protéine RdCVF.

Hỏi : Những đặc điểm nào xác định một viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ?
G.S José-Alain Sahel : Đó là một bệnh của võng mạc, có nguồn gốc di truyền, tác động lên (ở mọi lứa tuổi của đời sống) 1,5 triệu người trên thế giới, trong đó có 30.000 đến 40.000 người ở Pháp. Bệnh được đặc trưng bởi sự chết được chương trình hóa của những tế bào thụ thể ánh sáng (cellules photoréceptrices). Những tế bào này tiếp nhận ánh sáng và biến đổi nó thành một tín hiệu là nguồn gốc của thị giác. Bệnh viêm võng mạc sắc tố, có thể tiến triển đến biến chứng mù mất, là do một bất thường của các gènes, mà 2/3 đã được nhận diện.

Hỏi : Những dấu hiệu đầu tiên của viêm võng mạc sắc tố là gì ?
G.S José-Alain Sahel : Viêm võng mạc sắc tố khởi đầu bằng cách gây nên một thị giác kém vào ban đêm cũng như trong tranh tối tranh sáng. Sau đó, thị trường bị thu hẹp lại cho đến khi gây nên một thi giác đường hầm (vision en tunnel). Trong 15 đến 20 năm, chính thị giác trung tâm (vision centrale) cuối cùng biến mất.

Hỏi : Ngay từ đầu, làm sao chắc chắn về chẩn đoán ?
G.S José-Alain Sahel : Bằng một phương pháp rất đáng tin cậy : một điện võng đồ (électrorétinogramme), ghi hoạt động của các tế bào võng mạc, và một thăm khám thị trường bằng một máy đặc biệt, thị trường kế (périmètre). Hopital des Quinze-Vingts là một trung tâm chuẩn đối với những viêm võng mạc sắc tố.

Hỏi : Bởi vì không có liệu pháp thật sự đối với các bệnh nhân bị bệnh này, thế thì các bệnh nhân được điều trị như thế nào ?
G.S José-Alain Sahel : Ngay khi giai đoạn đầu đã được chẩn đoán, ta có những lời khuyên trong mục đích làm chậm lại tiến triển của bệnh. Những lời khuyên là đơn giản : mang kính có gương đặc biệt, màu da cam hay vàng, để bảo vệ võng mạc chống lại ánh sáng và mặt trời, sử dụng mỗi ngày các chất chống oxy-hòa như vitamine C, lutéine và oméga 3. Trong vài trường hợp, người ta cũng khuyên dùng vitamine A. Dĩ nhiên, để điều trị các viêm võng mạc sắc tố, chúng ta chờ đợi nhiều về công trình nghiên cứu và đặc biệt là liệu pháp gène (thérapie génique).Việc đặt các võng mạc giả (prothèse de rétine) cũng là một niềm hy vọng lớn lao.

Hỏi : Điều trị mới được thử nghiệm trên động vật có mục đích gì ?
G.S José-Alain Sahel : Nhóm nghiên cứu của chúng tôi, với các BS Léveillard và Mohand-Said, làm việc nghiên cứu liệu pháp này từ gần 15 năm nay. Liệu pháp có mục đích bảo vệ thị giác trung tâm (vision centrale), dầu cho gène chịu trách nhiệm viêm võng mạc là gì đi nữa. Trong thì đầu, chúng tôi đã cho thấy rằng các tế bào thụ cảm ánh sáng (cellules photoréceptrices), bị những bất thường di truyền khác nhau, thường nhất là những tế bào hình que (batonnets). Những tế bào này cho phép chúng ta nhìn thấy vào ban đêm. Thế mà, những tế bào hình que này chế tạo RdCVF, một protéine duy trì sự sống sót của những tế bào khác của võng mạc, các tế bào hình nón (cones) ; các tế bào này cho phép thị giác trung tâm (vision centrale). Thế thì chúng ta hiểu tại sao khi những tế bào hình que bi chết, protéine RdCVF sẽ biến mất và, do đó, thị giác trung tâm cũng biến mất ! Sau khi đã nhận diện được protéine này, người ta đã tổng hợp nó trong phòng thí nghiệm để có thể sau đó tiêm vào trong mắt của chuột mang cùng những bất thường di truyền với người. Với phép điều trị này, chúng tôi đã rất thỏa mãn khi quan sát thấy một sự cải thiệt rất rõ rệt sự sống còn của các tế bào hình nón và nhất là, của chức năng thị giác, hai lần cao hơn trong nhóm động vật được điều trị so với nhóm chứng.

Hỏi : Khi nào ông sẽ áp dụng phép điều trị này cho người ?
G.S José-Alain Sahel : Việc chuẩn bị đối với các bệnh nhân đã rất là tiến triển. Chúng tôi hy vọng bắt đầu các thử nghiệm nơi người trong hai năm sắp đến.
( PARIS MATCH 4/6- 10/6/2009)

8/ CHÈ XANH ĐƯỢC DÙNG NHƯ RÀO CHẮN CHỐNG LẠI SIDA.

Một dung dịch polyphénol ức chế một protéine của tinh dịch, vecteur của nhiễm trùng.

Một thành phần của chè xanh có thể tỏ ra hiệu quả để tránh sự lây nhiễm bởi virus của sida trong lúc giao hợp, một công trình nghiên cứu được công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences đã xác nhận như vậy.

Công trình nghiên cứu này của đại học Heibelberg và của Viện virus học thực nghiệm của Hamburg đã cho thấy rằng gallate d’epigallocatechin (EGCG), một polyphénol hay tanin thực vật của chè xanh, có khả năng ức chế một protéine của tinh dịch có khuynh hướng dùng làm vecteur và tác nhân làm lan truyền của virus của sida.

“ Một phần của peptide, được chứa trong tinh dịch người, làm tăng cường sự nhiễm trùng bởi HIV một cách hằng định. Các sợi nhỏ làm lan truyền (fibrilles propagatrices) nhiễm trùng của virus HIV bởi tinh dịch, bắt giữ các yếu tố của virus và móc chúng và các tế bào bia của chúng, làm lan tràn sự hợp nhất của virus trong những tế bào này ”, các nhà nghiên cứu của Heinrich-Pette-Institute de Hambourg đã viết như vậy.

“ Vì những lý do này, chúng tôi đã cho rằng việc đưa vào một chất ức chế các sợi nhỏ này, như là chất diệt trùng , có thể ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh sida qua những giao hợp ”, các nhà nghiên cứu chứng mình rằng nơi các phụ nữ, việc sử dụng tại chỗ một dung dịch có liều lượng thấp polyphénol của chè xanh có thể “ hủy bỏ một cách hiệu quả những tính chất phát triển của nhiễm trùng.”.

ĐƠN GIẢN VÀ ÍT TỐN KÉM

Trong khi đại đa số trong số 33 triệu người có huyết thanh dương tính trên thế giới đã bị nhiễm trùng bởi HIV trong lúc giao hợp dị tính (relations hétérosexuelles) và trong lúc 96% những lây nhiễm mới đều xảy ra trong những nước nghèo, các nhà nghiên cứu cho rằng việc khám phá những tính chất ức chế của thành phần của chè xanh là “ đầy hứa hẹn ”. “ Điều đó có thể mang lại một phương pháp phòng ngừa đơn giản và ít tốn kém, đặc biệt là trong những giới nghèo khổ.” EGCG của chè xanh đã được công nhận do những tính chất chống ung thư, kháng oxy hóa, chống vi khuẩn và kháng virus.
(LE SOIR 27/5/2009)

9/ GHÉP GIÁC MẠC NHÂN TAỌ ĐẦU TIÊN Ở PHÁP.

Đó là một niềm hy vọng đối với những chứng bệnh mù lòa nguồn gốc giác mạc, ảnh hưởng hơn 10 triệu người trên thế giới. Ghép giác mạc nhân tạo (greffe de cornée artificielle), một can thiệp được thực hiện bởi các nhóm phẫu thuật hiếm hoi trên thế giới, trong đó chỉ có 3 ở châu Âu, vừa được thực hiện lần đầu tiên ở Pháp, ở bệnh viện Timone, Marseille, nơi một người đàn ông 42 tuổi, mà một mẫu ghép người (greffon humain) không thể thực hiện được. Sau khi bị bỏng bởi HCl xảy ra cách nay hai năm, các huyết quản đã bắt đầu xâm chiếm giác mạc bị bỏng. Vậy mà, sự tạo mạch mới (néo-vascularisation) này là một yếu tố làm gia tăng đáp ứng miễn dịch, và như vậy làm gia tăng nguy cơ bị thải bỏ. Trong trường hợp bệnh nhân này, giác mạc nhân tạo (cornée artificielle) là giải pháp duy nhất.

Các thầy thuốc nhãn khoa đã chọn lựa một giác mạc giả (kératoprothèse) được mệnh danh là AlphaCor. Đó là một đĩa có đường kính 7 mm, gồm một phần trung tâm trong suốt và một viền mờ đục, có tính xốp, được cấu tạo bởi một vật liệu sinh tương hợp (matériau biocompatible), Phema (poly2-hydroxyéthyl méthacrylate). Được ghép vào giác mạc bị bỏng, giác mạc giả này có thể được tăng trưởng bởi những tế bào của bệnh nhân. 9 cuộc giải phẫu ghép khác sẽ được thực hiện ở Marseille từ nay đến 2010.
( SCIENCE ET AVENIR 6/2009)

10/ TIM NGƯỜI ĐƯỢC TÁI SINH.

Một nhóm nghiên cứu người Thụy Điển vừa phát hiện khả năng của những tế bào cơ tim đổi mới, nơi người trưởng thành.

Nói chung, sau khi sinh ra đời, tim người được xem như là một cơ quan trong đó những tế bào cơ không còn có thể phân chia được nữa . Điều đó là sai, ngày nay nhóm nghiên cứu được lãnh đạo bởi người Thụy Điển Jonas Frisen, thuộc viện Karolinska, Stockholm đã chứng tỏ như vậy. Thật vậy, sau khi đã nghiên cứu những trái tim lành của những người đã chết, nhóm nghiên cứu đã chứng thực rằng các tế bào cơ tim (cardiomyocytes) vẫn luôn luôn được đổi mới.

Nhóm nghiên cứu đã lợi dụng nhưng hậu quả của những thử nghiệm nguyên tử, được thực hiện trong không khí từ giữa những năm 1950 đến 1963, (là năm việc thử nghiệm này bị đình chỉ). Những cuộc thử nguyên tử này đã làm phát xuất trong không khí CO, trong đó C thuộc carbone-14. Thế mà, CO2 không khí được cây cối sử dụng để chế tạo chất hữu cơ, chất này sau đó được tiêu thụ bởi động vật và người. Vì lẽ nồng độ carbone-14 trong không khí giảm đều từ năm 1963, nên nồng độ carbone-14 hiện diện trong ADN của các tế bào của một người cho phép xác định ngày sinh tháng đẻ của các tế bào đó. Và lúc so sánh với ngày sinh tháng đẻ của người, ta có thể xác định là những tế bào này có phải mới xuất hiện hơn hay không. “ Sử dụng nguyên tắc định ngày tháng này là một ý tưởng hay, Michel Pucéat, thuộc nhóm nghiên Inserm các tế bào gốc và cardiogenèse, đã bình luận như thế. Phương pháp này đáng tin cậy hơn những phương pháp cổ điển, như sự đánh dấu ADN bằng cách tiêm vào trong tế bào một chất nhuộm màu.”

Nhóm nghiên cứu của Jonas Frisen đã hiệu chính kỹ thuật của ông năm 2005 để nghiên cứu vỏ não vùng chẩm, lúc đó đã cho thấy rằng các neurone đã không được đổi mới ở vùng này của vỏ não. Các tế bào cơ tim (cardiomyocytes), chiếm 20% các tế bào của tim, lại dường như đổi mới chậm, với một nhịp độ giảm theo dòng thời gian.Tỷ lệ của những tế bào được đổi mới là 1% lúc 20 tuổi, và 0,45% lúc 75 tuổi. Người ta ước tính rằng vào cuối cuộc đời của chúng ta, gần một nửa các tế bào cơ tim đã được thay thế.

Giai đoạn kế tiếp sẽ là xác định những tế bào là nguồn gốc của sự đổi mới này, và nhất là để biết xem các tế bào này có hiện diện trong những bệnh lý, trong đó chúng có thể hữu ích trên bình diện điều trị.
(LA RECHERCHE 6/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/6/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#8 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 28 June 2009 - 01:29 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : KẾ HOẠCH ĐẠI DỊCH ĐỨNG TRƯỚC THỬ THÁCH CỦA THỰC TẾ.

H1N1. Trong khi 7 trẻ em bị nhiễm bởi virus đã được nhận diện trong một ngôi trường của quận XV Paris, Tổng giám đốc y tế vừa gởi một thông điệp đến các tỉnh trưởng, nhằm làm thích ứng việc điều trị những bệnh nhân đối với những trường hợp nặng nhất.

Có nên đóng cửa trường ngay khi một trường hợp cúm A (H1N1) xuất hiện trong một lớp học ? Người ta có phải nhất thiết điện thoại gọi Samu khi đứng trước một trường hợp cúm được nghi ngờ ? Những người, nơi họ virus đã được chẩn đoán, có phải được nhập viện một cách hệ thống hay không ? Hôm chủ nhật, trong khi 7 trường hợp cúm do virus H1N1 đã được ghi nhận trong một trường học thuộc quận XV, Paris, những câu hỏi được gia đình nêu lên này không hẳn đã có được những câu trả lời rõ ràng nơi các thầy thuốc của họ. Mặc dầu một kế hoạch đại dịch cúm đã được xác định lần đầu tiên vào năm 2002 và đã được xét lại vào tháng hai vừa qua, mặc dầu kế hoạch dự kiến một cách chi tiết thái độ xử trí, nhưng kế hoạch này đã được soạn thảo nhằm đối phó với một virus gia cầm, H5N1, rất độc lực, vì lẽ nó giết chết gần 60% những nạn nhân mắc phải bệnh do nó gây ra. Thế mà, mối đe dọa đang hình thành, là mối đe dọa của một trận dịch gây nên do một virus khác, A (H1N1), nguồn gốc từ heo, ít hung hãn hơn nhiều (4 trường hợp tử vong đối với 1000 bệnh nhân), nhưng rất dễ lây nhiễm và do đó có khả năng tấn công một số lượng cao các nạn nhân. Sự chuyển kế hoạch này từ lý thuyết qua thực tế đã nêu rõ những vấn đề hậu cần, vốn đã không được nghĩ đến trên giấy tờ. Ngoài ra, kế hoạch cần phải được xét lại dưới ánh sáng của những trường hợp đầu tiên của một trận đại dịch toàn cầu ít nghiêm trọng hơn điều đã được dự kiến.

KHẢ NĂNG TIẾP ĐÓN GIỚI HẠN

Để đương đầu với tình hình này, Tổng giám đốc y tế đã gởi một thông tri cho tất cả các tỉnh trưởng, yêu cầu những người bị cúm H1N1 không được nhập viện một cách hệ thống nữa, mà chỉ những bệnh nhân có yếu tố nghiêm trọng mà thôi. Một nhập viện như thế trong thực tiễn có nguy cơ đụng phải các khả năng tiếp nhận hạn chế trong các bệnh viện, cũng như ước muốn của các bệnh nhân không cảm thấy bị bệnh nặng. Kế hoạch trước đây yêu cầu những người bị “ tình nghi ” gọi điện thoại cho 15 để được lấy bệnh phẩm xét nghiệm ở bệnh viện qua phòng cấp cứu.

Bảng thông tri của ông giám đốc y tế giờ đây yêu cầu “ thiết đặt trong những cơ sở y tế trụ sở Samu-centre 15, một phòng khám dành để tiếp đón những trường hợp khả dĩ bị cúm H1N1. Phòng khám này có sứ mạng thực hiện thăm khám các bệnh nhân, lấy mẫu nghiệm mũi-họng nếu cần thiết, kê toa thuốc kháng virus, cũng như các mặt nạ ngoại khoa và đưa ra những lời khuyến nghị về vệ sinh trước khi cho bệnh nhân về nhà ” . Mục tiêu là tách phòng tiếp đón những người có nguy cơ bị cùm A (H1N1) với những bệnh nhân khác để tránh làm khuếch tán virus từ bệnh nhân này qua bệnh nhân khác. Hôm qua ở bệnh viện Necker, ở phòng cấp cứu nhi, những bệnh nhi bị nghi ngờ vẫn còn bên cạnh những bệnh nhi bị một bệnh hoàn toàn khác. Một tình hình như thế sẽ không còn có thể được xảy ra nữa. “ Tôi nghĩ rằng sự việc cần phải được thúc bách hơn về phía các thầy thuốc thành phố và các phòng xét nghiệm, như điều đó được thực hiện ở Hoa Kỳ, là đất nước có số lượng các trường hợp hơn chúng ta nhiều, G.S Antoine Flahault (chuyên viên dịch tễ học và bệnh cúm) đã xác nhận như thế. Hiện nay, các thầy thuốc gia đình không cảm thấy được chuẩn bị tốt trong khi họ phải là cơ sở trong tình hình dịch hiện nay.”

Đối với G.S Patrick Berche (trưởng khoa vi trùng học, bệnh viện Necker, Paris), còn phải đi xa hơn : “ Bệnh nhân phải được phép ở tại nhà, kể cả để lấy bệnh phẩm (có thể được thực hiện bởi Samu tại nhà). Nhưng điều đó chỉ có thể với điều kiện các thầy thuốc gia đình có một kế hoạch chính xác và rằng các thầy thuốc này phải giải thích một cách rõ ràng các chiến lược cách ly được thiết lập để ngăn cản sự lây nhiễm trong gia đình.”
(LE FIGARO 23/6/2009)

2/ CÚM A: ĐỨNG TRƯỚC CÁC NGUY CƠ DỊCH BỆNH, CHÚNG TA HÃY ĐOÀN KẾT LẠI !

Alice Dautry, nữ tổng giám đốc của Viện Pasteur (Paris), kêu gọi một sự cộng tác chặt chẽ hơn giữa những người chủ chốt của nghành y tế, để chống lại những bệnh đang phát khởi (maladies émergentes).

Sự lan tràn nhanh chóng khắp thế giới của dịch bệnh cúm A (H1N1) từ Mễ Tây Cơ thể hiện một cách hiển nhiên những nguy cơ xuất hiện những bệnh mới.

Mỗi ngày, trên thế giới, nảy sinh những nguy cơ y tế mới. Sự đô thị hóa, sự lưu thông của các động sản và người, những cuộc di trú, những thay đổi khí hậu : những hiện tượng này làm dễ sự tăng sinh của các bệnh tật, cũ hoặc mới, có thể đột ngột biến đổi thành dịch bệnh thế giới, có thể làm cho hàng ngàn người chết và ít nhất cũng làm tê liệt các xã hội của chúng ta trong nhiều tuần dài.

Sự huy động mạnh mẽ của các nhà cầm quyền Mẽ Tây Cơ, của những nước bị ảnh hưởng bởi virus của cúm A (H1N1) và của OMS, đã cho phép phản ứng nhanh. May mắn thay, hôm nay, đó là một virus mà để chống lại chúng, chúng ta biết cách tự bảo vệ. Tuy nhiên, có nguy cơ của một đại dịch toàn cầu, gây nên bởi một tác nhân gây nhiễm mà chúng ta biết rất ít, thậm chí không biết gì cả, gieo rắc bệnh tật trên bước đường đi của nó, tạo nên những cuộc khủng hoảng kinh tế, thậm chí chính trị.

Chúng ta hãy nhớ đến trận dịch bệnh Chikungunya, đã giáng vào đảo La Réunion và hôm nay lan tràn khắp mọi miền của thế giới, trong đó có Ấn Độ.

Giải Nobel y học năm 2008, được trao cho hai nhà nghiên cứu, G.S Françoise Barré-Sinoussi và Luc Montagnier, vì đã khám phá ra virus của bệnh Sida, nhắc nhở cho chúng ta rằng những căn bệnh mới, trong vòng vài năm, có thể gây nên những trận đại dịch khủng khiếp. Ví dụ bệnh sida giết chết hàng năm khoảng 3 triệu người trên thế giới.

Chúng ta cũng đừng quyên những bệnh nhiễm trùng đã được biết đến từ lâu. Trận dịch cúm A (H1N1) tiếc thay đã làm lu mờ việc tổ chức của ngày quốc tế chống bệnh sốt rét (350 triệu nạn nhân mỗi năm và 3,3 tỷ người bị đe dọa). Cũng vậy, bệnh lao giết chết hai triệu người mỗi năm, chủ yếu là trong những nước ít được ưu đãi nhất.

Từ nhiều năm nay, chúng ta chứng kiến một tinh thần liên đới thật sự, huy động những phương tiện tài chánh và cho phép thiết đặt những chiến dịch ngăn ngừa và những biện pháp y tế cộng đồng. Những cố gắng của những tổ chức tư nhân tiến triển, cũng như những cố gắng của các quốc gia. Thí dụ, Unitaid, được thành lập theo sáng kiến của nước Pháp, cho phép mua các thuốc men để điều trị VIH/SIDA, bệnh sốt rét và bệnh lao, nhờ đánh thuế lên các vé máy bay.

Quỹ thế giới chống bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét, mà Pháp là nước đóng góp thứ hai, cũng nhằm mở rộng sự tiếp cận thuốc men cho những dân chúng cần đến nhất. Tuy vậy những đáp ứng với các dịch bệnh trong những nước nghèo khổ nhất vẫn còn quá phụ thuộc vào sự can thiệp hậu nghiệm và vẫn thường bị phân tán.

Vượt qua một giai đoạn mới là điều khẩn cấp : giai đoạn dự kiến những nguy cơ đại dịch mới, dựa vào một sự hợp tác của toàn bộ các nhà hữu trách chủ chốt. Nói một cách khác, đó là cho phép các nước đang phát triển tự trang bị cho mình những khả năng riêng, để chống lại bằng sự can thiệp, nhưng cũng bằng sự nghiên cứu, sát với thực địa và các bệnh tật nhất.

Đó chính là tinh thần của phương pháp mà Viện Pasteur đang tiến hành, đầu tư cho một đáp ứng ngang và được điều phối ở quy mô thế giới. Tính chất liên ngành và sự chia sẻ kinh nghiệm, sự kết hợp của những phương tiện tài chánh, nghiên cứu, phòng ngừa và đào tạo trên thực địa, là chiếc chìa khóa để đảm bảo sự kiểm soát, thậm chí sự loại bỏ của những mối đe dọa không biên giới này, và điều này một cách dài lâu. Chương trình mà chúng tôi đang tiến hành ở Cambodge với nhiều cơ quan, là một thí dụ đẹp của sự liên kết quốc tế, liên kết sự nghiên cứu đa nghành, đào tạo và các hoạt động, để phục vụ y tế cộng đồng trong một quốc gia có những phương tiện tài chánh bị giới hạn.

Những sáng kiến hợp tác, đã được phát động, giữa những người hữu trách chủ chốt quốc tế hay sở tại, là một bước đầu tiên. Ngoài cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét, mà chúng ta đang tập trung phần lớn cố gắng, một phong trào chung cũng sẽ cho phép chống lại những bệnh mới phát khởi (maladies émergentes) và những bệnh được gọi là bị lãng quên (maladies négligées), bởi vì ít được nghiên cứu, như bệnh gây ngủ (maladie du sommeil) hay leshmanioses, nhưng tuy vậy ảnh hưởng sâu đậm rất nhiều dân chúng bị bệnh.

Chúng tôi kêu gọi một sự huy động của tất cả các người hữu trách quốc tế, tư nhân và nhà nước. Những cơ quan nghiên cứu, đào tạo, phòng ngừa, tài trợ và giúp đỡ phát triển, ngay từ bây giờ, phải hợp tác một cách chặt chẽ hơn để giải quyết những vấn đề y tế đang ảnh hưởng một cách dài lâu lên các nước nghèo hoặc đang phát triển.

Những nhà nghiên cứu, dầu phòng thí nghiệm của họ ở nơi đâu chăng nữa, mỗi ngày đều làm việc cật lực để mang lại cho toàn thể nhân loại những lợi ích của công cuộc khám phá.

Hôm nay đúng là lúc hãy hợp nhất lại những cố gắng của chúng ta, liên kết chúng với những cố gắng của toàn thể những nhà hữu trách chủ chốt, đang ra sức để cải thiện nền y tế cộng đồng của toàn thế giới.
(LE FIGARO 23/6/2009)

3/ CÚM A (H1N1) : CUỘC CHẠY ĐUA GIÀNH VACCIN.

SANTE. Trong khi hầu hết các nước phương Tây đã đặt hàng các vaccin và thông qua những thỏa thuận với các phòng bào chế, thì các nước ở Nam bán cầu vẫn bị ảnh hưởng nhất bởi đại dịch. Các nước này phải chăng rồi sẽ cũng được phục dịch ?

Các phòng bào chế dược phẩm không thống nhất trước thử thách của dịch bệnh cúm A trong các nước ở Nam bán cầu. Các nhà sản xuất vaccin không phải tất cả đều nghe lời kêu gọi lòng hào phóng và tình liên đới của OMS.

Làm sao cho phép các nước nghèo đương đầu với đại dịch cúm A. Từ khi virus mới H1N1 xuất hiện, vào tháng tư, ở Mễ Tây Cơ, vấn đề này là đối tượng của những cuộc thảo luận gay gắt giữa OMS và các phòng bào chế dược phẩm.

Khẩn cấp : Các nước của Nam bán cầu sắp bước vào mùa đông, một mùa thuận lợi cho sự lan tràn của virus, trong khi những nước này hết sức thiếu các phương tiện và hạ tầng cơ sở để đương đầu với một trận đại dịch toàn cầu. Khoảng 85% những người bị bệnh mãn tính ở trong những nước đang phát triển, điều này có nghĩa là người ta sẽ tìm thấy trong những vùng này số lượng lớn nhất những người bị nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng hay chết người bởi virus H1N1.

Tình hình của các quốc gia này tương phản với các nước Tây phương, ở đây những biện pháp nhanh chóng được thực hiện để bảo vệ dân chúng của nước họ. Vào tháng năm, Hoa Kỳ đã thông qua các đơn đặt hàng vaccin với các hãng bào chế Novartis, Sanofi-Aventis và GlaxoSmithKline (GSK), với tổng phí 660 triệu dollars (474 triệu Euro). Ở Pháp, một trong những nước được chuẩn bị tốt nhất, Bộ y tế đã dành quyền ưu tiên mua 100 triệu liều vaccin nơi 3 hãng bào chế này, với một tổng phí có thể đạt đến 1 tỷ Euro.

OMS đánh giá rằng 4,9 tỷ liều vaccin chống bệnh cúm A sẽ có thể được chế tạo trong 12 tháng đến. Mỗi liều phí tổn 7 đến 11 Euro, theo Daniel Vasela (hãng Novartis). Nhưng cái giá của một điều trị hoàn chỉnh có thể cao hơn : chỉ những thử nghiệm lâm sàng (vừa mới bắt đầu và sẽ chấm dứt không trước tháng chín) mới cho phép xác định xem một hay hai liều sẽ cần thiết để đảm bảo một bảo vệ đầy đủ. Dầu cho kết luận của các thử nghiệm này như thế nào đi nữa, tổn phí của một chiến dịch chủng ngừa là quá đắt đối với hầu hết các nước đang phát triển.

Sự lan tràn nhanh chóng của virus mới H1N1 tạo một áp lực mạnh lên các nhà chế tạo thuốc. Margaret Chan, nữ tổng giám đốc OMS, hôm 1/6, đã kêu gọi những nhà sản xuất, tỏ ra hào phóng đối với những nước nghèo. “ Đây là lúc (...) tập hợp lại nhân danh tinh thần liên đới thế giới để đảm bảo rằng không có một nước nào sẽ bị bỏ rơi ”, bà đã tuyên bố như vậy.

Câu trả lời của các hãng bào chế dược phẩm hạng nặng đã không luôn luôn nhất trí. Novartis đã tuyên bố rằng hãng không có dự kiến tặng quà vaccin chống cúm A. Nhóm Thụy Sĩ thì bảo sẽ sẵn sàng, nhiều nhất, thỏa thuận hạ giá. “ Để làm cho sự sản xuất có thể đứng vững được, phải tạo nên những khuyến khích tài chánh ”, Daniel Vasella, hôm 14/6, đã biện minh như vậy trong một cuộc phỏng vấn trên site Internet của Financial Times.

Một lập trường tương phản với lập trường cửa hãng Sanofi-Aventis. Hôm thứ tư, 17/6, Chris Viebbacher đã tuyên bố sẽ tặng 100 triệu liều vaccin chống cúm A và cúm gia cầm cho các nước đang phát triển. Quà tặng này chiếm 10% tổng số liều vaccin được sản xuất của hãng, theo những mong muốn của OMS. “ Chúng ta đứng trước cuộc khủng hoảng toàn cầu biện minh cho những biện pháp đặc biệt ”, Wayne Pisanon Sanofi Pasteur, phân bộ vaccin của nhóm dược phẩm Pháp đã tuyên bố như vậy.

Trong trường hợp đại dịch trở nên nghiêm trọng, nhóm dược phẩm này không loại bỏ việc gia tăng sự trợ giúp. “ Chúng tôi đã ký kết những thỏa thuận dài hạn để giao các vaccin với 4 nước : Pháp, Hoa Kỳ, Úc và Ý. Các nước này sẽ được ưu tiên nhận vaccin, Albert Garcia, phát ngôn viên của Sanofi-Pasteur đã giải thích như vậy. Nhưng không có vấn đề cung ứng toàn bộ các vaccin mà chúng tôi đã sản xuất. Một phần sẽ được dành cho các nước cần đến nhất, theo thỏa thuận với OMS.”

Baxter, hãng bào chế của Hoa Kỳ, cũng có một bài diễn văn tương tự : hãng đã cam kết “ dành một phần sản xuất cho những nước dễ bị thương tổn nhất ”. Ngay vào tháng đến, Baxter hy vọng sẽ giao những liều đầu tiên của một vaccin được hiệu chính từ một giống gốc “ hoang dã ” của virus, do CDC cung cấp, chứ không phải do OMS. Những hãng dược phẩm khác sẽ sẵn sàng vào cuối tháng 9, thậm chí tháng 10.

Sáng kiến khác : GSK đã tái xác nhận ý định của hãng biến đổi quà biếu 50 triệu vaccin chống cúm gia cầm cho các nước nghèo khó nhất, thành món quà vaccin chống cúm H1N1. “ Những cử chỉ đáng ca ngợi, một chuyên gia đã đánh giá như vậy, nhưng sẽ không cho phép tránh được một lò thiêu sinh trong trường hợp lan tràn nhanh chóng trong các nước nghèo, nhất là nếu virus trở thành độc lực. Tuy vậy, điều quan tâm của chúng ta là chận đứng đại dịch xảy ra ở Nam bán cầu, bởi vì các nước phía bắc đến lượt mình sẽ bị tấn công vài tháng sau đó.”

Vẫn còn được tha miễn bởi virus H1N1 (những trường hợp lẻ tẻ đã được ghi nhận ở Nam Phi và ở Ethiopie), Châu Phi dưới Sahara có 800 triệu dân và tập trung 60% những người có huyết thanh dương tính trên thế giới. Để dập tắt một trận đại dịch cúm, các chuyên gia cho rằng phải cần tiêm chủng 70 đến 75% dân chúng. Điều này sẽ hàm ý huy động ít nhất 560 triệu liều vaccin, chỉ dành riêng cho vùng này của thế giới không thôi.
(LE MONDE 23/6/2009)

4/ VITAMINE D : CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TIM MẠCH ?

BS Jean-Marie Bourre, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng học, ủy viên của Viện hàn lâm y khoa, bình luận về công trình nghiên cứu mới đây, phát hiện vai trò của vitamine D chống lại các nguy cơ tim mạch.

Hỏi : Vitamine D được chế tạo bởi cơ thể như thế nào ?
BS Jean-Marie Bourre : Vitamine D được tổng hợp ở da, dưới tác dụng của các tia cực tím, nhưng sự sản xuất này không đủ, nhất là sự sản xuất giảm càng nhiều khi tuổi tác càng cao. Giữa năm 20 và 80 tuổi, sự tổng hợp này được chia cho 7 ! Vậy hoàn toàn cần thiết phải bổ sung vitamine D bằng một chế độ ăn uống thích hợp.

Hỏi : Lợi ích được biết đến nhất của vitamine D là gì ?
BS Jean-Marie Bourre : Vitamine D can thiệp trong sự khoáng hóa xương (minéralisation osseuse), bằng cách gắn calcium lên xương (sau khi đã đảm bảo bắt được nó trong ruột). Vitamine D cũng cho phép tránh không cho quá nhiều calcium được thải ra trong nước tiểu. Hàng trăm công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh vai trò căn bản của yếu tố hiệu quả nhất của vitamine này : chất dẫn xuất của nó có tên gọi hơi phức tạp : 1,25-dihydroxy-vitamine D. Chất dẫn xuất này được sinh tổng hợp (bio-synthétisé) thành 2 giai đoạn : trước hết ở gan, rồi sau đó ở thận. Vì vào lúc lão hóa, chức năng của thận giảm, do đó sự sản xuất của dẫn xuất này cũng bị giảm theo.

Hỏi : Một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa phát hiện một tác dụng có lợi khác, lần này lên những nguy cơ tim mạch. Ông có thể bình luận cho chúng tôi những kết quả này
BS Jean-Marie Bourre : Thử nghiệm này đã được thực hiện ở Trung Quốc bởi các nhà nghiên cứu cộng tác với những người Anh và đã công bố trong tạp chí khoa học xuất sắc “ Diabetes Care ”. Công trình nghiên cứu được tiến hành trên 3262 người, tuổi từ 50 đến 70 và sống ở Bắc Kinh hay Thượng Hải. Trong máu của của họ, người ta đã đo nồng độ vitamine D, được chế tạo và tích trữ ở gan. Kết quả : các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng những người có nồng độ vitamine D thấp nhất có một sự gia tăng các rối loạn làm dễ sự xuất hiện những bệnh tim mạch như cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, nhưng cũng bệnh đái đường và những bệnh lý khác, được tập hợp dưới tên hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique). Vậy có một mối liên kết giữa việc thiếu vitamine D và những nguy cơ tim mạch. Từ đó nảy ra ý tưởng cho rằng, việc cho vitamine D cho bổ sung có thể giúp làm giảm những nguy cơ này. Đó là những kết quả xác nhận những kết quả của những công trình nghiên cứu khác, nhưng với quy mô ít quan trọng hơn và mở ra những triển vọng trên bình diện ngăn ngừa.

Hỏi : Làm sao đối phó với những nhu cầu về vitamine D của chúng ta ?
BS Jean-Marie Bourre : Bằng cách tiêu thụ những thức ăn hiếm, chứa vitamie D : cá (ít nhất hai lần mỗi tuần), tôm ốc ngao sò và trứng (4 hay 5 lần mỗi ngày). Cá có nhiều vitamine D nhất là cá trích (hareng), cá hồi (saumon), cá sardine, cá thu (maquereau), cá hồi sông (truite). Trong số các tôm ốc ngao sò nổi bật là sò hến. Các công trình nghiên cứu mới đây nhất, Suvimax, đã cho thấy rằng 65% những người Pháp đã không được cung cấp đủ vitamine D bởi vì họ tiêu thụ không đủ cá và các hải sản.

Hỏi : Trong những trường hợp nào ông khuyên cho bổ sung vitamine D ?
BS Jean-Marie Bourre : Cần cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống các trẻ em, những thiếu niên và những lão niên. Hoặc dưới dạng ampoule (1/2 ampoule hai lần mỗi năm), hoặc cho mỗi ngày với những viên thuốc liên kết calcium với vitamine D. Còn có một khả năng khác: sự tiêu thụ các thức ăn trong đó vitamine D được cho bổ sung một cách công nghiệp, như vài loại sữa và dầu.

Hỏi : Những lợi ích nào khác ta có thể chờ đợi từ vitamine này ?
BS Jean-Marie Bourre : Bằng cách tạo một nồng độ calcium trong máu tốt, vitamine D đảm bảo sự hiện diện của calcium trong các mô thần kinh và cơ, như vậy làm cho sự dẫn truyền của các luồng thần kinh và sự co thắt của các cơ được tốt hơn. Mặt khác, sự hấp thụ tốt vitamine D mang lại một tính miễn dịch tốt hơn.
(Paris-Match 11/6-17/6/2009)[/color]

5/ THAI NGHÉN BẢO VỆ CHỐNG LẠI UNG THƯ VÚ.

Hai công trình nghiên cứu đã xác nhận giả thuyết theo đó sự sinh đẻ có lợi cho sức khỏe. Nhóm nghiên cứu của BS Eleanor (đại học Pittsburgh) đã chứng minh rằng các phụ nữ, đã từng cho con bú trong ít nhất một năm, về lâu về dài đã có một nguy cơ bị bệnh đái đuờng, cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết ít hơn những phụ nữ khác. Các phụ nữ này cũng có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não được giảm 10%.

Một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện nơi động vật, bởi BS Johana Venegas (Chase Center Philadelphia), đã chứng minh rằng việc cho hormone bêta-HCG (duy trì sự sản xuất progestérone) có một tác dụng mạnh chống khối u. Những con chuột cái còn trinh đã được điều trị trong 15 ngày với hormone này, trước khi nhận một tác nhân gây cảm ứng ung thư vú. Kết quả : người ta đã đếm được hơn 90% các khối u nơi các động vật đã không từng nhận hormone so với chỉ 15% nơi các động vật được điều trị. Nếu tác dụng chống ung thư này được tìm thấy nơi người, thì có thể được khuyên với tính cách phòng ngừa
( Paris-Match 11/6-17/6/2009)[/color]

6/ GENE GÂY BỆNH THỐNG PHONG (GOUTTE) ĐƯỢC KHÁM PHÁ.

GENETIQUE. Đại đa số những người bị bệnh khớp này đều mang biến dị của một gène có liên quan trong chuyển hóa của acide urique.

Bệnh thống phong (goutte), được biết từ hơn 2000 năm nay, nhưng nguồn gốc của nó vẫn còn bí ẩn. Lần đầu tiên, một biến dị chịu trách nhiệm căn bệnh vừa được nhận diện bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ ở Baltimore. Biến dị này cho phép giải thích nguyên nhân của bệnh thống phong, được biết từ thế kỷ XIX, đó là một nồng độ quá mức của acide urique trong máu. Hợp chất acide urique này là một chất bã của chuyển hóa, nhiên hậu tích tụ dưới dạng các tinh thể trong các khớp và thận, gây nên sau đó những cơn đau khớp đáng sợ và các sỏi thận.

Nhiều chỉ dấu cho thấy nguồn gốc một phần do di truyền, nhất là với sự kiện là trong gần 20% các trường hợp, bệnh thống phong đã hiện diện trong gia đình, và những thể bệnh sớm xảy ra có thể phát khởi vào lúc đầu của thời kỳ trưởng thành. Để tách riêng sự biến dị như là nguyên nhân của bệnh thống phong, các nhà di truyền học của Hopkins Medical Institution đã sử dụng những phương tiện hiện đại nhất. Các nhà nghiên cứu đã sàng lọc bộ gène (génome) của hàng ngàn người để phát hiện một mối liên hệ giữa những thay đổi rất nhỏ được phân bố trên ADN và những nồng độ cao của acide urique trong máu. Công trình nghiên cứu sự liên kết di truyền trên toàn thể bộ gène đã mang lại kết quả : nó đã cho phép nhóm nghiên cứu của Baltimore nhận diện một gène được gọi là ABCG2 trên nhiễm sắc thể 4, mang một biến dị thường được thấy hơn nơi những người bị bệnh thống phong.

Các nhà nghiên cứu sau đó đã tiêm gène này vào trong các tế bào để nghiên cứu chức năng của protéine mà nó mã hóa. Phương pháp đã cho phép họ không những xác định rằng protéine này là một chất vận chuyển của acide urique trong thận mà còn xác định rằng sự biến dị được nhận biết trong gène làm giảm đi một nửa tính hiệu quả của chất vận chuyển này. “ Trong công trình này, Frédéric Lioté, giáo sư tại bệnh viện Lariboisière, Paris đã nhấn mạnh như vậy, yếu tố gây ấn tượng là chức năng của gène và chức năng của biến thể của nó được chứng minh một cách hoàn hảo.”

Sự biến dị cũng gây nên sự giảm bài tiết acide urique bởi thận, triệu chứng được tìm thấy trong 90% các trường hợp của bệnh thống phong và làm gia tăng mạnh những nguy cơ phát triển nó. Ngoài ra các tác giả đã khám phá ra rằng, so sánh với dân gốc châu Âu, những người gốc châu Á thường mang biến dị 3 lần nhiều hơn. Sự trùng hợp gây ngạc nhiên, khi ta biết rằng ở Hoa Kỳ những người châu Á cũng thường bị bệnh này 3 lần nhiều hơn. Theo tính toán, các tác giả ước tính rằng sự biến dị trực tiếp chịu trách nhiệm ít nhất 10% những trường hợp bệnh thống phong nơi những người Mỹ gốc châu Âu.

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG THÍCH NGHI.

Khám phá này không vì thế sẽ làm biến đổi, trong một tương lai gần, sự điều trị các bệnh nhân, bởi vì đã có những thuốc có hiệu quả để hủy bỏ các triệu chứng của bệnh thống phong . “ Vấn đề đúng hơn là ở chỗ sự tuân thủ các điều trị phải được duy trì suốt đời và đôi khi có những hạn chế khi chúng ít tương hợp với những bệnh lý khác mà các bệnh nhân có ”, G.S Lioté đã ghi nhận như vậy.

Điều trị hiệu quả của bệnh thống phong nhằm theo dõi một chế độ ăn uống được thích ứng. Cần phải tránh những món ăn giàu acide nucléique, được thải ra dưới dạng acide urique, như thịt hay bia. Việc tiêu thụ fructose, một loại đường thường hiện diện trong soda, cản sự bài tiết acide urique, cũng phải được theo dõi.
(LE FIGARO 11/6/2009)

7/ CÁC VIÊN THUỐC VITAMIN KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG “ VIÊN ĐẠN DIỆU KỲ ”

Kể từ khi Linus Pauling, nhà sinh hóa được giải thưởng Nobel, cách nay 40 năm, lần đầu tiên chủ trương dùng những liều lượng lớn (“megadoses”) các chất dinh dưỡng thiết yếu (essential nutrients), nhiều người đã nhiệt tình với các vitamin.

Ngày nay, khoảng ½ những người trưởng thành ở Hoa Kỳ vẫn tiếp tục sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng, với tốn phí 23 tỷ dollard mỗi năm.

Nhưng các vitamin có đáng được như vậy hay không ? Trong vài năm qua, vài công trình nghiên cứu có chất lượng cao đã không chứng tỏ được rằng các vitamin khi cho thừa, ít nhất dưới dạng thuốc viên, giúp ngăn ngừa bệnh mãn tính hay kéo dài cuộc sống.

Những tin mới nhất nhận được, sau khi các nhà nghiên cứu, trong công trình Women’s Health Initiative study, đã theo dõi trong 8 năm việc sử dụng đa sinh tố (multivitamin), trong số hơn 160.000 phụ nữ lớn tuổi. Mặc dầu những kết quả trước đây gợi ý rằng đa sinh tố làm giảm nguy cơ bị bệnh tim và vài loại ung thư, nhưng công trình nghiên cứu, được công bố trong The Archives of Internal Medicine, đã không nhận thấy lợi ích như thế.

Năm vừa qua, một công trình nghiên cứu, trong một thập niên, đã theo dõi khoảng 15.000 thầy thuốc nam, không ghi nhận những khác nhau về tỷ lệ ung thư hay bệnh tim trong số những người dùng vitamine E hay C, so với những người dùng placebo. Và vào tháng mười, kết quả của một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên 35.000 người đàn ông, đã làm tiêu tan hy vọng cho rằng những liều lượng cao vitamine E và selenium có thể hạ thấp nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.

Dĩ nhiên, những người tiêu thụ thường chịu những báo cáo và những lời xác nhận mâu thuẫn về những lợi ích của các vitamin và dường như họ bị lung lạc bởi các tin tức, khiến các chuyên gia phải rụng rời.

“ Tôi phân vân không biết tại sao công chúng, nói chung, không biết đến những kết quả của những thử nghiệm được làm tốt. ” Eric Klein, người điều hành công trình nghiên cứu quốc gia cho thử nghiệm ung thư tuyến tiền liệt, đã nói như vậy. "Niềm tin của công chúng vào những lợi ích của các vitamin và các chất dinh dưỡng không được xác minh bởi những dữ kiện khoa học hiện có.”

Mọi người đều cần vitamin, những chất dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể không thể tự sản xuất được. Thí dụ, sự thiếu hụt vitamin C dẫn đến bệnh scorbut (scurvy), và sự thiếu vitamin D có thể gây nên còi xương (rickets).

Nhưng một chế độ ăn uống cân bằng cung cấp một mức đầy đủ những chất dinh dưỡng này, và ngày nay nhiều thức ăn ưa chuộng được làm bổ thêm bởi những vitamine và các chất khoáng dư thừa. Do đó, những bệnh gây nên do sự thiếu hụt dinh dưỡng là hiếm xảy ra trong những nước phát triển.

Dẫu sao đi nữa, hầu hết những công trình nghiên cứu quan trọng mới đây đã không tập trung vào những thiếu hụt mà tìm hiểu xem những nồng độ cao vitamin có thể ngăn ngừa hay điều trị một số bệnh mãn tính hay không. Mặc dầu từ lâu người ta đã biết rằng những người ăn nhiều trái cây và rau giàu chất dinh dưỡng, có những tỷ lệ mắc bệnh tim và ung thư thấp, nhưng người ta không biết rõ là nếu uống những liều cao cùng những chất dinh dưỡng này dưới dạng thuốc viên có đưa đến cùng lợi ích hay không.

Vào tháng giêng, một bài báo trong The Journal of the National Cancer Institute đã ghi nhận rằng hầu hết các thử nghiệm đã không chứng tỏ lợi ích ung thư của các vitamin.

Nhưng vài công trình nghiên cứu về vitamin cũng đã cho thấy mối hại bất ngờ, như tỷ lệ ung thư phổi cao hơn trong hai công trình nghiên cứu về sự sử dụng bêta carotene. Một công trình nghiên cứu khác đã gợi ý một nguy cơ cao hơn bị những polype tiền ung thư trong số những người tiêu thụ acide folique, so với những người trong nhóm placebo.

Vào năm 2007, The Journal of the American Medical Association đã duyệt xét lại các tỷ lệ tử vong trong những thử nghiệm, trong đó các chất kháng oxy hóa (antioxydants) được cho bổ sung. Trong 47 thử nghiệm với 181.000 người tham gia, tỷ lệ tử vong là 5% cao hơn nơi những người dùng các chất chống oxy hóa. Những thủ phạm chính là vitamin A, bêta carotene và vitamin E ; vitamin C và selenium dường như không có tác dụng đáng kể.
( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 18/2/2009)

Đọc thêm :

8/ ACIDE FOLIQUE VÀ VITAMINE B VÀ SỰ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG.

Cho bổ sung hàng ngày acide folique, pyridoxine và cyanocobalamine có thể làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégérérescence maculaire liée à l’âge).

Ngoài việc ngưng thuốc lá, người thầy thuốc đến nay ít có lời khuyên để cho bệnh nhân nhằm ngăn ngừa chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Những dữ kiện dịch tễ học đã cho thấy một mối liên hệ trực tiếp giữa những nồng độ homocystéine và nguy cơ bị DMLA, tuy nhiên không chứng minh được rằng sự giảm của nồng độ của homocystéine có thể có một tác dụng thuận lợi.

William G. Christen và các cộng sự viên (Brigham và Women’s Hospital, Boston) đã thực hiện, về chủ đề này, một công trình nghiên cứu nơi những phụ nữ có nguy cơ tim mạch cao. 5.205 người tham dự, có tuổi 45 hoặc hơn, và bị một bệnh tim mạch vốn đã có trước đây hay mang hai hoặc ba yếu tố nguy cơ.

Sự theo dõi đã kéo dài 7,3 năm. Trong suốt thời kỳ này, 55 trường hợp DMLA đã được chẩn đoán trong nhóm can thiệp (nhận các vitamine), so với 82 trong nhóm placebo. Vậy, việc sử dụng những chất bổ sung dường như mang lại một bảo vệ chống lại sự xuất hiện của căn bệnh có liên quan với tuổi tác này. Tuy nhiên, người ta chưa thể xác nhận rằng khả năng bảo vệ này đúng là do sự hạ của các nồng độ homocystéine.
(LE GENERALISTE 16/4/2009)

9/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG BỊ LÂY TRUYỀN BỞI CÁC NHA SĨ.

HEPATITE. Một báo cáo ở Pháp chỉ rõ nguy cơ, tuy rất thấp, nhưng không phải là ít, của sự lây nhiễm bởi virus viêm gan B hay C, thậm chí của Sida, nơi các phòng khám của các nha sĩ.

Những trường hợp chữa răng bình thường phải chăng có thể là nguồn gốc của những nhiễm trùng nặng bởi virus ? Đối với một cá thể, nguy cơ mắc phải HIV, virus của viêm gan B (VHB) hay virus của viêm gan C (VHC) nơi một phòng mạch nha sĩ là rất thấp, một báo cáo của Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de veille sanitaire), vừa được công bố, đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên nguy cơ này không hẳn là không đáng kể ở quy mô đại chúng, nếu xét đến số lượng cao của các động tác giải phẫu răng và những khiếm khuyết trong sự khử trùng dụng cụ, được chứng thực nơi các nha sĩ hành nghề.

Ở Pháp, theo những tính toán của IVS, mỗi năm khoảng 200 trường hợp bị lây nhiễm bởi virus của viêm gan B, có thể là do sự khử trùng không được đầy đủ của các các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatifs : toàn bộ các turbines và những pièces à mains khác, truyền một chuyển động quay đến các dụng cụ, như fraises, tiếp xúc trực tiếp với các răng được điều trị), được sử dụng rộng rãi bởi các nha sĩ để điều trị bảo tồn và làm răng giả. Như thế, những khiếm khuyết vệ sinh trong lãnh vực này, trên lý thuyết, có thể gây nên những lây nhiễm bởi virus của viêm gan C (dưới 2 trường hợp mỗi năm) hay bởi HIV (dưới 1 mỗi năm).

Trên thực tế, rất ít các trường hợp được chứng minh trong tư liệu y học. Trong hầu hết các trường hợp, những virus có thể được lây truyền bởi máu này bị nhiễm phải trong những bối cảnh khác (giao hợp, nghiện ma túy, những tai nạn do tiếp xúc với máu...). Trường hợp đầu tiên được xác nhận của sự truyền virus viêm gan B từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác vào lúc chữa răng, đã được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm 2007. “ Ở Pháp một trường hợp đang trong vòng điều tra, nhưng chưa có gì được chứng minh, BS Bruno Poignard của IVS đã xác nhận như vậy. Thường khó chứng minh trách nhiệm của việc chữa răng (là những động tác rất thông thường) trong sự lan truyền của một bệnh sida hay viêm gan. Nói chung, đó là giả thuyết cuối cùng được thăm dò và đó là một chẩn đoán loại trừ.”

Cách nay vài năm, Tổng giám đốc y tế đã phân phát một hướng dẫn các khuyến nghị dành cho những nhà chuyên nghiệp, nhằm tăng cường sự phòng ngừa những nhiễm trùng do việc chữa răng. Nhưng mới đây, giới hữu trách y tế đã được báo động bởi các cuộc thanh tra trong các phòng mạch của các nha sĩ trong môi trường nhà tù. Những khuyến nghị tiệt trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatif) giữa mỗi bệnh nhân vẫn không hẳn luôn luôn được tôn trọng. Điều chứng nhận này cũng tương tự đối với các phòng khám tư. “ Mặc dầu những tiến bộ quan trọng đã được chứng thực trong việc tôn trọng những quy tắc vệ sinh bởi các nha sĩ trong những năm qua, nhưng nhiều cuộc điều tra cũng cho thấy rằng những khiếm khuyết có thể tồn tại về vấn đề này nơi vài nha sĩ ”, bảng tường trình của IVS đã ghi nhận như vậy.

Theo IVS, nguy cơ cá nhân mắc phải một virus do khiếm khuyết trong khử trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR) là thấp nhất đối với HIV, 1/420 triệu, và cao nhất đối với virus của viêm gan B, 1/516.000. Xác suất là 1/67 triệu đối với viêm gan C. Các nguy cơ sẽ là 8 lần cao hơi trong môi trường nhà tù. Thật vậy, sự mang virus sida và viêm gan đúng là thường xảy ra hơn trong nhóm dân này, do những hành vi có nguy cơ như nghiện ma túy.

Tổng cộng, theo đánh giá của IVS, việc chữa răng có thể chịu trách nhiệm 200 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm.
(LE FIGARO 29/5/2009)

10/ HUYẾT ÁP CAO : HUỶ BỎ CÀ PHÊ ?

Một công trình nghiên cứu vừa chứng minh một cách rõ ràng rằng cà phê, một ít lâu sau khi được uống, gây nên một sự tăng cao nhanh của huyết áp. Vậy không phải là vô ích khi kiểm chứng xem cà phê có thể gây nên cao huyết áp về lâu về dài hay không ?

Những yếu tố dinh dưỡng được biết rõ làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp là sự thừa sodium, sự thiếu hụt tương đối potassium, và uống rượu quá độ. Những mối tương quan này đã được xác lập rõ. Nhưng thế đối với cà phê thì sao ?

NHỮNG HẬU QUẢ VỀ SAU.

Thay vì hướng vào huyết áp động mạch, chúng ta cũng có thể quan tâm đến phần cuối của chuỗi bệnh lý : cà phê có gây nên một sự gia tăng số các sự cố hay những bệnh tật hay không ? Câu trả lời là không, nhưng cần nói thêm rằng về chủ đề này chúng ta chỉ có những công trình nghiên cứu thuộc loại dịch tễ học chứ không phải can thiệp (interventionnel). Vậy ta có thể ghi nhận rằng vào giai đoạn kiến thức dịch tễ học của chúng ta hiện nay, cà phê không làm gia tăng nguy cơ bị bệnh động mạch vành và không có một ảnh hưởng nào lên tiên lượng sau nhồi máu cơ tim.

BẢO VỆ, HAY LÀ...

Vài công trình nghiên cứu cho thấy một mối liên hệ nghịch giữa việc tiêu thụ cà phê và mức độ mắc phải những vấn đề động mạch vành; mặt khác cùng nhận xét đã được thực hiện về mối liên quan giữa cà phê và bệnh đái đường. Nhưng một lần nữa, những công trình nghiên cứu dịch tễ học này không cho phép chứng minh một mối liên hệ nhân quả: dầu sao cũng có thể rằng những người bị những vấn đề tim hay đái đường, uống ít cà phê hơn vì lý do này hay lý do khác, điều này được thể hiện bởi mối quan hệ nghịch trong các công trình nghiên cứu.

Một cách tổng quát, có những chỉ dẫn khiến nghĩ rằng cà phê ảnh hưởng lên nguy cơ bị cáo huyết áp theo một đường cong hình chữ U : những người không uống cà phê cũng như những người uống nhiều ( >4-6 ly mỗi ngày) đều có một nguy cơ thấp, trong khi nguy cơ này cao hơn giữa hai tình huống. Nhận xét này đặc biệt có giá trị nơi phụ nữ.

Những công trình nghiên cứu can thiệp (études interventionnelles) cho thấy rằng cà phê có thể gây nên một sự tăng nhẹ của huyết áp. Nhưng như đã nói trên đây, những nghiên cứu này chỉ được thực hiện trong một thời gian hạn chế, với tối đa là 12 tuần. Sự gia tăng là khá thấp : khoảng 2mmHg đối với huyết áp tâm thu và 1mmHg đối với huyết áp trương tâm với những liều lượng mỗi ngày từ 300 đến 800mg (hoặc khoảng 3-8 tách cà phê mỗi ngày). Những người trẻ nhạy cảm hơn đối với tác dụng cao huyết áp. Một công trình nghiên cứu khác xác lập sự khác nhau rõ ràng giữa cà phê dùng nguyên như vậy và caféine, được cho chịu trách nhiệm tác dụng lên huyết áp. Nơi những người đã uống những viên thuốc chứa caféine, sự gia tăng được quan sát của huyết áp là 4 lần cao hơn so với những người uống những tách cà phê với một liều lượng caféine tương tự.

Như vậy có cái gì khác với caféine trong cà phê đã ảnh hưởng lên huyết áp. Cà phê đặc biệt chứa potassium, magnésium, manganèse và một lượng cao polyphénols. Trong các chất này, chỉ có potassium đã chứng tỏ có một tác dụng thuận lợi lên huyết áp, nhưng cũng không loại trừ những thành phần khác cũng bù lại tác dụng của caféine.

Tóm lại, có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng cà phê không có tác dụng thật sự lên huyết áp. Vậy hiện nay không có một luận cứ thuyết phục nào cho rằng nếu ta muốn ngăn ngừa cao huyết áp thì cần phải tránh cà phê.
(LE GENERALISTE 23/4/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (27/6/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#9 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 05 July 2009 - 08:20 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A (H1N1): THIẾU NHỮNG DỮ KIỆN KHOA HỌC VỀ NHỮNG THỂ BỆNH NẶNG.

PANDEMIE. Mặc dầu virus có vẻ hiền tính, nhưng sự thông báo quốc tế về những trường hợp tử vong vẫn còn giới hạn.

Chúng ta biết tất cả hoặc gần như tất cả về cấu trúc di truyền của virus mới của bệnh cúm, được nhận diện ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư, và đã đi vòng quanh thế giới. Các gène của nó đã được nhận diện nhanh chóng và được đặt dưới quyền sử dụng của cộng đồng khoa học thế giới. Ngược lại vẫn thiếu nhiều thông tin về những thể nặng, những nguyên nhân khả dĩ gây tử vong...“ Tổ chức y tế thế giới trong tình hình hiện nay, chỉ có một khả năng vừa phải trong việc thông tin về vấn đề này, hôm qua G.S Jean-Claude Desenclos, giám đốc khoa học của Viện theo dõi y tế, nhân một cuộc họp báo đã nhấn mạnh như vậy. Đặc biệt là chúng ta không có khá nhiều thông tin về những thể nặng. ”. Theo những con số sau cùng của OMS, trong số 58.867 trường hợp trên thế giới đã được ghi nhận, có 238 trường hợp tử vong. Ở Pháp, 171 những trường hợp đã được thống kê nhưng không có một tử vong nào. Biết những nguyên nhân của các tử vong sẽ cung cấp những thông tin quan trọng để phòng ngừa chúng trong phạm vi có thể được.

NHỮNG NGƯỜI 20-30 TUỔI DƯỜNG NHƯ DỄ BỊ MẮC BỆNH HƠN.

Virus H1N1 này thuờng nhất là gây nên một bệnh cúm hiền tính, với những dấu hiệu nhẹ, sốt vừa phải, ho. Có lẽ một số các trường hợp đã qua đi mà không được nhận biết.Cúm được gọi là cúm mùa (grippe saisonnière) đưa đến một tý lệ tử vong 1/1000. Nói chung đó là những người lớn tuổi hay những người bị một bệnh lý mãn tính liên kết (đái đường, suy hô hấp).

Trong trường hợp hiện nay (cúm A H1N1), các nhà khoa học đưa ra con số 2 đến 3 trường hợp tử vong đối với 1.000 người, hoặc nhiều hơn so với cúm cổ điển. Nhưng những trường hợp tử vong này, với H1N1, liên quan đến những lứa tuổi khác nhau. Theo những thông tin tiếc thay còn tản mạn, những người già dường như hơi được bảo vệ chống lại virus này, có lẽ do được miễn dịch trước đây bởi các bệnh cúm đã bị mắc phải. Ngược lại, lứa tuổi 20-30 dường như nhạy cảm hơn. Vậy nguyên nhân tử vong trong dạng cúm này là gi ? Đối với các nhà nghiên cứu, nếu cúm Tây Ban Nha năm 1918 đã gây nên hàng triệu người chết, đó chủ yếu là bởi vì hồi đó các thuốc kháng sinh chưa hiện hữu. Virus của cúm gây nên một sự kích thích phế quản, thể địa thuận lợi cho sự phát triển của một bệnh phổi có tiềm năng nghiêm trọng, nhất là nơi những người già. Trong vài trường hợp đặc biệt, virus cũng có thể gây nên một bệnh phổi đột mạnh do virus, đưa đến một tình trạng suy hô hấp cấp tính chết người. Vậy cơ chế trong những trường hợp tử vong hiện nay là gì ? Hiện nay không ai có thể trả lời.

Virus mới, (A) H1N1, nhin toàn bộ dường như hiền tính, đến độ các người Mỹ, đi ngược lại ý kiến của chính quyền, đã tổ chức các Swine flu parties quanh những người bị nhiễm trùng, để làm cho họ được mắc phải bệnh cúm nhằm tạo sự miễn dịch ; họ biết rằng vài chuyên gia lo ngại, mặc dầu không chắc chắn, rằng virus vào mùa thu sắp đến sẽ trở nên hung dữ hơn.
(LE FIGARO 25/6/2009)

2/ H1N1: NHỮNG NGƯỜI DƯỚI 59 TUỔI ĐỂ BỊ THƯƠNG TỔN HƠN.

PANDEMIE. Một công trình nghiên cứu, được công bố hôm qua trong “ New England Journal of Medicine ”, tiết lộ rằng những trường hợp tử vong đặc biệt xảy ra hơn nơi những người dưới 59 tuổi.

Cúm A (H1N1) phải chăng là nguy hiểm ? Nó gây nên bao nhiêu trường hợp tử vong ? Ai là các nạn nhân ? Hôm qua, site Internet của New England Journal of Medicine, lần đầu tiên công bố, một cuộc điều tra, được thực hiện bởi các thầy thuốc Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ, về những thể nặng và những trường hợp tử vong liên quan với virus mới H1N1, được khám phá ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư 2009 và đã đi vòng quanh thế giới.

Công cuộc điều tra, nhằm vào hơn 2.150 trường hợp viêm phổi nặng và hơn 100 trường hợp tử vong, chứng tỏ rằng những thể nặng chủ yếu xảy ra nơi những người dưới 60 tuổi, trong khi những người già hơn, thường là những nạn nhân chính của bệnh cúm, lại được bảo vệ hơn, có lẽ nhờ những nhiễm trùng mắc phải trong quá khứ.

Tài liệu xuất bản này là quan trọng, bởi vì nó chỉ định những người dưới 60 tuổi, như là những người ưu tiên cần phải được tiêm chủng một khi có vaccin. Một cuộc điều tra thứ hai, với một quy mô nhỏ hơn, trên site của NEJM, xác nhận những kết quả rất quan trọng này về mặt y tế cộng đồng. Tuy nhiên phải ghi nhớ rằng những thể nặng vẫn rất là thiểu số, vì lẽ tỷ lệ tử vong được ước tính là 2-3 trên 1.000 người, và trong đại đa số các trường hợp, những người bị lây nhiễm chỉ bị những rối loạn hiền tính và tạm thời.

NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA BỔ SUNG.

Vào đầu tháng tư 2008, một sự gia tăng những trường hợp nhập viện đối với bệnh viêm phổi, xảy ra một cách không bình thường đối với mùa và một loạt các tử vong được báo cáo khiến Bộ Y tế Mễ Tây Cơ đã rất nhanh chóng phát khởi báo động. Viêm phổi là một trong những biến chứng nghiêm trọng của bệnh cúm. Hệ thống theo dõi dịch tễ học Mễ Tây Cơ (Sonave) khi đó đã phát động một cuộc điều tra về tất cả những trường hợp viêm phổi được nhập viện trong một tháng, từ 24/3 đến 24/4.

Trái với điều thường xảy ra vào các đợt cúm mùa (grippe saisonnière), những kết quả của cuộc điều tra này phát hiện những viêm phổi nặng và đại đa số những trường hợp tử vong ở đây liên hệ đến những người tuổi từ 5 đến 59. Trong khi, vào lúc cúm mùa, những người từ 5 đến 59 tuổi chiếm 17% những trường hợp tử vong, thì những đồi tượng này đã chiếm 87% những trường hợp tử vong của cúm A giữa tháng 3 và tháng 4 năm 2009. Cũng vậy, những thể nặng không gây tử vong, trong 75% những trường hợp có liên quan đến những người từ 5-59 tuổi, so sánh với 32% khi bị cúm cổ điển.

Viện quốc gia các bệnh hô hấp của Mexico, giữa 24/3 và 24/4, đã nhập viện cấp cứu 18 người bị viêm phổi và bị nhiễm bởi virus H1N1. Hơn một nửa những bệnh nhân này ở trong lứa tuổi từ 13 đến 47 và 90% dưới 52 tuổi. Hơn một nửa cần phải đặt ống thông nội khí quản và máy hô hấp nhân tạo, và tất cả đã được điều trị với tamiflu (một thuốc kháng virus) và kháng sinh. Mặc dầu được điều trị như thế, 7 người đã tử vong. 11 người khác được chữa lành, đã ra viện sau khi nhập viện từ 10 đến 23 ngày.

Làm sao giải thích những biến chứng trầm trọng và những tử vong ? Chúng do bội nhiễm vi khuẩn hay do tác dụng độc lực của virus ? “ Đối với hầu hết các bệnh nhân của chúng tôi, những thương tổn phổi được liên kết với tác dụng trực tiếp của virus của bệnh cúm, các tác giả đã viết như vậy. Trong thời kỳ này, 22 trong số 190 người phục vụ điều trị đã bị lây nhiễm bởi virus và đã được điều trị với Tamiflu. Sau đợt dịch bệnh này, các biện pháp bổ sung để phòng ngừa các nhân viên y tế, được thực hiện và đã cho phép tránh những lây nhiễm mới do nghề nghiệp."

Hôm qua, Thông báo dịch tễ hàng tuần đã phân tích những biểu hiện lâm sàng được quan sát trong những trường hợp cúm A đầu tiên. Kết quả cho thấy trên 2.000 trường hợp được xác nhận đầu tiên ở Mễ Tây Cơ, hơn một nửa dưới 20 tuổi, ¾ dưới 30 tuổi và chỉ 7% trên 40 tuổi. Thời gian tiềm phục là 2 đến 7 ngày. Hai triệu chứng thường thấy nhất là sốt và ho, mặc dầu 10% đến 50% các bệnh nhân cũng có những rối loạn tiêu hóa.
(LE FIGARO 30/6/2009)

3/ CÚM A H1N1: MỘT TRIỆU NGƯỜI MỸ CÓ THỂ ĐÃ MẮC PHẢI NHIỄM TRÙNG.

Những đánh giá mới đây của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ xác nhận rằng virus A H1N1 là khá hiền tính. Một trường hợp đề kháng với Tamiflu đầu tiên đã được xác thực ở Đan Mạch.

Từ mùa xuân năm nay, hơn một triệu người Mỹ đã mắc bệnh cúm A. Đó là đánh giá được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của CDC. Một nửa trong số những người đã bị hoặc đang bị nhiễm virus là những người dân của thành phố New York. Virus, hiện đang lưu hành trong nước, là khá hiền tính. Đến nay, ở Hoa Kỳ, người ta tính được hơn 3.000 trường hợp nhập viện và chỉ 127 trường hợp tử vong.

Con số 1 triệu người Mỹ đã bị nhiễm trùng vượt rất xa tất cả những con số các trường hợp được xác nhận, được thống kê chính thức tính đến nay ở Hoa Kỳ. OMS tính sổ được 21.499 trường hợp được xác nhận, hoặc khoảng gần một nửa của các trường hợp trên thế giới. Về phía CDC, 27.717 các trường hợp đếm được trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Để so sánh, cúm mùa trung bình gây bệnh gần 36 triệu người Mỹ mỗi năm.

Con số này được tính toán từ những dữ kiện dịch tễ học hiện nay về H1N1 và từ những mô hình phân tán của virus cúm. Lyn Finelli, phụ trách phòng cảnh giác của CDC, tuần qua đã trình bày công trình nghiên cứu trong hội nghị về vaccin chống H1N1, được tổ chức bởi CDC. Hầu hết các quyết định y tế cộng đồng dựa trên những mô hình toán học, những mô hình này không ngừng được làm cho tinh tế và thích ứng tùy theo những đợt cúm khác nhau xảy ra trên thế giới.

“ Số các trường hợp được xác nhận, mà OMS đếm được, chỉ là đỉnh của tảng băng hà ”, G.S Patrick Berche, trưởng khoa vi trùng học của bệnh viện Necker, Paris đã nhấn mạnh như thế. Một trường hợp chỉ được xác nhận khi có cấy máu và phân tích vi khuẩn học. Tham số này đánh giá thấp, với những quy mô đáng kể, số những người thật sự bị nhiễm trùng, cũng như những người đã có những triệu chứng hiền tính và không có một điều trị đặc biệt nào và tất cả những người không có triệu chứng và đã không biết rằng họ đã mắc phải bệnh cúm.

Sự hiện diện của các kháng thể chống H1N1 trong nhiều xét nghiệm được thực hiện hiện nay ở Hoa Kỳ, cho thấy rằng nhiều người Mỹ thật sự đã gặp phải virus. Ở Mễ Tây Cơ một loại mức chênh lệch như vậy đã được ghi nhận vào lúc bắt đầu trận dịch. Các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng, khi 500 trường hợp dương tính đã được ghi nhận, thì trên thực tế hẳn phải có từ 20.000 đến 40.000 người bệnh.

ĐỘC LỰC HƠN VÀO MÙA THU ĐẾN

Ở Pháp hẳn cũng có cùng tình trạng chênh lệch như vậy. Ở đây con số các trường hợp được xác nhận làm tập trung sự chú ý của nhà cầm quyền và báo chí như thể chỉ có con số là đáng phải chú ý mà thôi. Ở Hoa Kỳ và Anh, chiến lược khác hẳn. “ Họ thực tiễn hơn nhiều “, Patrick Berthe đã phát biểu như vậy. Không có biện pháp thận trọng đặc biệt nào phải được thực hiện cả.

Thật vậy, hiện nay, vì lẽ virus khá hiền tính, nên có thể là tốt hơn nếu mắc phải bệnh cúm để được miễn dịch chống lại virus H1N1, mà vào mùa thu tới có khả năng trở nên độc lực hơn. Kinh nghiệm của cúm Tây Ban Nha đã cho thấy rằng những kẻ đã bị cúm vào mùa xuân, khi virus hiền tính, đã đề kháng tốt hơn với làn sóng cúm thứ hai (độc lực hơn nhiều), so với những kẻ đã không mắc phải cúm trong đợt đầu.

Cũng vậy, việc kê đơn Tamiflu một cách hệ thống nơi mọi người có những triệu chứng cúm hay đã tiếp xúc với những người bệnh, như đang được thực hiện ở Pháp, có lẽ cũng không đúng đắn, Patrick Berthe đã đánh giá như vậy. Nguy cơ virus phát triển đề kháng với Tamiflu là điều có thật và ta có thể cần nhiều điều trị với thuốc này hơn trong mùa thu đến nếu virus trở nên độc lực hơn. Mặt khác một trường hợp đề kháng đã được xác nhận ở Đan Mạch, bởi Viện huyết thanh học .“ Kế hoạch chống cúm hiện nay vốn đã được lập ra để chống lại virus H5N1 (có tỷ lệ tử vong 60%), Patrick Berte đã nhắc lại như thế. Kế hoạch này phải uyển chuyển hơn. Phải thích ứng với tình hình.”
(LE FIGARO 30/6/2009)

ANH TIÊN ĐOÁN DỊCH BỆNH BÙNG NỔ TRONG NHỮNG TUẦN TỚI.

Chính phủ Anh dự kiến một sự lan rộng rất nhanh và rất quan trọng của cúm A (H1N1) trong những tuần tới. Andi Burnham, Bộ trưởng y tế của Vương Quốc Anh đã tuyên bố hôm qua rằng, theo dự kiến, có thể có hơn 100.000 trường hợp mới mỗi ngày từ nay đến cuối tháng 8. Trong những ngày qua, dịch bệnh khuếch đại. “ Virus theo con đường có thể tiên đoán được. Nó ở ngoài vòng kiểm soát, nhưng người ta không thể đặt virus vào trở lại trong chiếc hộp một khi nó đã thoát ra ngoài ”, Liam Donaldson, cố vấn y tế của chính phủ Anh đã giải thích như vậy.

Với hàng trăm những trường hợp mới được khai báo mỗi ngày và 3 tử vong (một người đàn ông 73, một phụ nữ 38 tuổi vừa mới sinh và một bé gái 9 tuổi), sự lan tràn của virus ở Anh là nhanh hơn nhiều so với trên lục địa. Điều này có thể được giải thích bởi những mối liên lạc rất quan trọng giữa Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, nơi đây cúm đã gây bệnh cho 1 triệu người Mỹ, theo những tính toán của CDC.

Tính đến nay, OMS thống kê được 6.538 trường hợp được xác nhận ở Anh. Nhưng những con số này dễ đánh lừa vì đó chỉ là những trường hợp được xác nhận. Số những người thật sự bị nhiễm trùng hẳn phải quan trọng hơn.

Chính phủ Anh tỏ ra rất uyển chuyển trong việc theo dõi, từ khi họ đã chứng thực rằng virus hiện nay khá hiền tính. Trong những vùng Londres, Birmingham và Glasgow, những vùng bị ảnh hưởng nhất, từ nay phần lớn các bệnh nhân được chẩn đoán bằng điện thoại và không phải xét nghiệm máu.

Đứng trước tình hình này, kế hoạch đại dịch được xét hạ cấp, theo đó một bệnh nhân khi nghĩ rằng mình bị bệnh cúm A, gọi một số điện thoại đặc biệt và nhận, nếu cần, một toa thuốc Tamiflu, mà một người thân hay người bạn có thể mua ở hiệu thuốc. “ Ý tưởng là không còn phải cần đến các thầy thuốc nữa ”, Richard Jacvis, người phụ trách hiệp hội y khoa Anh đã giải thích như vậy.

Chính phủ dự kiến một giai đoạn, trong đó những bệnh nhân bị cúm A sẽ không nhất thiết phải nhận điều trị kháng virus. Điều trị này có thể được dành cho những nhóm người có nguy cơ nhất. “ Vấn đề quan trọng nhất là biết ai sẽ đích thực có các vấn đề ”, Hugh Pennington, thuộc đại học Aberdeen đã nhấn mạnh như vậy.

Bộ trưởng y tế Anh cũng đã loan báo việc ký kết các hợp đồng với các nhóm dược phẩm, đảm bảo rằng toàn thể dân chúng Anh sẽ nhận vaccin tương lai chống cúm A. Vaccin sẽ có sẵn để sử dụng ngay trong tháng tới. Đến 30 triệu người sẽ được tiêm chủng từ nay đến cuối năm.
(LE FIGARO 3/7/2009)

4 / VIRUS CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM SỢ LẠNH.

Từ lúc xuất hiện vào năm 2003, virus của cúm gia cầm, H5N1, đã gây bệnh cho 424 người và gây tử vong 261 nạn nhân, theo các thông kế của OMS (tháng năm 2009). Tại sao trận đại dịch đáng sợ như thế đã không xảy ra. Lời giải thích là do sự nhạy cảm virus cúm H5N1 với nhiệt độ. Thật vậy, vì lạnh rét, virus không thể tăng sinh và do đó khong thể sống sót ở nhiệt độ 32 độ C nơi mũi chúng ta, là nơi nhiễm truyền của virus nơi người, trong khi đó nó hoàn toàn thích ứng với nhiệt độ 40 độ C của các loài chim. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi các nhà nghiên cứu của Imperial College de Londres, đã khám phá rằng tính nhạy cảm này là do một bộ phận của polymérase, một enzyme cho phép virus nhân đôi chất liệu di truyền của nó. Theo các nhà khoa học, mặc dầu một giống gốc mới của cúm người, kết quả của sự phối hợp của virus cúm người với virus của cúm gia cầm, xuất hiện, nhưng cần phải nhiều hơn để gây nhiễm nơi người và do đó txx nên một vấn đề y tế cộng đồng có tầm mức quan trọng. Cái nhiều hơn này ? Là những biến dị di truyền cho phép polymérase của virus đóng vai trò mặc dầu nhiệt độ thấp. Các nhà nghiên cứu bây giờ sẽ theo dõi một cách thận trọng những biến dị như thế.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

5/ VACCIN CHỐNG UNG THƯ PHỔI: MỘT NIỀM HY VỌNG.

Một điều trị giúp hệ miễn dịch chống lại các tế bào ung thư đang được trắc nghiệm. Những kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi.

Một phương pháp điều trị mới đã được đề cập trong hội nghị thế giới lần thứ 45 về ung thư của Hiệp Hội Ung Thư Lâm Sàng Hoa Kỳ (Asco: American Society of Clinical Oncology), đã quy tụ gần 30.000 người tham dự vào đầu tháng 6 ở Orlando (Hoa Kỳ). Phương pháp điều trị này nhằm vào ung thư phổi, nguyên nhân gây tử vong đứng đầu trên thế giới nơi người do ung thư, với 1,3 triệu người chết mỗi năm. Trong 10 năm, tần số mắc bệnh ung thư phổi đã được nhân lên gấp 4 lần nơi các phụ nữ từ 35 đến 45 tuổi. Những kết quả đầy hứa hẹn của thử nghiệm vaccin điều trị Stimuvax, được tiến hành bởi phòng thí nghiệm Merck-Serono, đã được trình bày tại hội nghị này. Chúng mở đuờng cho một thế hệ điều trị mới nhằm chống lại với các ung thư phổi mà tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm không vượt quá 15%, đứng xa sau tỷ lệ của ung thư vú (75%).

Mặc dầu tên gọi là vaccin, mục tiêu của Stimuvax không phải là ngăn ngừa sự xuất hiện của ung thư mà là phá hủy nó một khi ung thư được tạo nên. “ Vaccin được cho nơi những bệnh nhân không thể mổ được, đã được điều trị trước đó bởi liệu pháp tia X và hóa học trị liệu và nơi những người này, vaccin sẽ kích thích hệ miễn dịch để hệ thống này nhận biết những tế bào ung thư của chính mình nhằm phá hủy chúng, G.S Maurice Pérol, phụ trách khoa Ung thư ngực ở CHU de Lyon đã nói rõ như vậy." Được trắc nghiệm nơi những bệnh nhân bị một loại ung thư phổi được gọi là không phải các tế bào nhỏ (cancer à non petites cellules), không thể mổ được nhưng không có di căn, vaccin này dựa trên một protéine, MUC1, được quá biểu hiện trong loại ung thư này.

Được tiêm đều đặn dưới da, vaccin đã cho phép một tỷ lệ sinh tồn quá sức mong đợi, từ hai đến 8 năm nơi những bệnh nhân có tiên lượng rất dè dặt. Những kết quả này cho phép chuyển qua nấc thang cao hơn với việc khởi đầu thử nghiệm Start giai đoạn 3 nơi hơn 1.000 bệnh nhân trên thế giới, trong đó có nước Pháp. Và có lẽ cũng cho phép dự kiến mở rộng thử nghiệm đối với những ung thư khác. Hầu hết các chuyên gia ung thư học, thận trọng trước những kết quả chỉ mới còn sơ khởi, đang chờ đợi những kết luận xác định của công trình nghiên cứu. Những kết luận này sẽ được trình bày trong hai năm nữa ở hội nghị kỳ đến của Asco.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

6/ BỆNH ALZHEIMER: LÀM VIỆC LÂU HƠN SẼ LÀM CHẬM BỆNH LẠI.

G.S Françoise Forette, nữ giám đốc Fondation nationale de gérontologie, bình luận công trình nghiên cứu mới đây, chứng tỏ rằng những người kéo dài hoạt động nghề nghiệp, có một thương tổn xảy ra muộn hơn so với những người về hưu non.

Hỏi: Ở Pháp, hiện nay có bao nhiêu người bị bệnh Alzheimer ?
G.S Françoise Forette: Theo những nghiên cứu dịch tễ học, như công trình nghiên cứu “ Paquid ”, thì hiện có khoảng 850.000 người bị bệnh Alzheimer hay bị những bệnh tương tự. Nhưng chỉ một nửa trong số những bệnh nhân này là đã có thể được hưởng một chẩn đoán sớm và, trong số những bệnh nhân này, khoảng 17% nhận một điều trị thích hợp.

Hỏi: Có cha hoặcbị bệnh có làm dễ mắc phải bệnh này hơn hay không ?
G.S Françoise Forette: Có hai loại bệnh Alzheimer. 1. Những bệnh Alzheimer gia đình (duới 5%), có nguồn gốc di truyền. 2. Những bệnh Alzheimer xảy ra lẻ tẻ. Sự việc trong gia đình có cha hoặc mẹ bị bệnh Alzheimer làm gia tăng nguy cơ, nhưng sau 85 tuổi, nguy cơ này trở nên y hệt với nguy cơ của dân chúng nói chung.

Hỏi: Ngày này người ta có thể có được một chẩn đoán đáng tin cậy hay không ?
G.S Françoise Forette: Trong những năm vừa qua đã có những tiến bộ đáng kể. Thí dụ, trong các thăm khám “ trí nhớ ”, các trắc nghiệm tâm lý-thần kinh (tests neuropsychologiques) (được thực hiện bởi các neuropsychologue) đã được cải thiện nhiều. Trong quang tuyến thần kinh (neurodiagnostic), các xét nghiệm chụp hình ảnh bằng IRM hay scanner (được liên kết với một logiciel tính toán các thể tích), cho phép thấy được những cấu trúc đặc trưng của bệnh Alzheimer ; như thế ta có thể theo dõi rất tốt tiến triển của một quá trình teo dần dần của thùy trán hay của hạnh nhân (amygdale) của não bộ.

Hỏi: Các nhà khoa học của King’s College de Londres vừa thực hiện một công trình nghiên cứu chứng minh một mối liên hệ chắc chắn giữa việc về hưu muộn và sự xuất hiện các triệu chứng được lùi lại. Làm sao giải thích mối tương quan này ?
G.S Françoise Forette: Rất nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ một mối liên hệ giữa các kích thích trí tuệ trong suốt cuộc đời, làm gia tăng các dự trữ nhận thức (réserves cognitives) và thời điểm xuất hiện của một bệnh não thoái hóa (maladie cérébrale dégénérative). Các năng lực trí tuệ (capacités intellectuelles) được tích lũy cho phép não bộ hoạt động bình thường mặc dầu bị thương tổn. Rất đáng lưu ý là công trình nghiên cứu vừa qua của Anh đã nghiên cứu xem, nơi những người bị bệnh Alzheimer hay những bệnh tương tự khác, có một mối tương quan giữa tuổi về hưu và sự xuất hiện của những triệu chứng đầu tiên hay không. Những kết quả (có được trên một nhóm 382 bệnh nhân nam) đã chứng minh rằng làm việc lâu hơn (trên 60 tuổi) làm lùi lại sự xuất hiện của những dấu hiệu của bệnh ; rằng hoạt động trí tuệ, do kích thích sự vận hành chức năng của các nối kết của những tế bào thần kinh (connexions neuronales), cho phép làm gia tăng khả năng chống lại những sự giảm sút của tuổi tác. Thế mà người ta biết rằng sau khi về hưu, các chức năng nhận thức thường ít được khai thác hơn.

Hỏi: Tất cả các nghề nghiệp không phải đều mang lại sự thỏa mãn, vậy khi nào phải khuyến khích làm việc kéo dài ?
G.S Françoise Forette: Tiếp tục một hoạt động nghề nghiệp chỉ có thể được khuyên nếu như hoạt động này được thực hiện trong những điều kiện tốt, bởi vì stress nơi văn phòng là xấu đối với các neurone ! Chính vì vậy, chúng ta phải nghĩ đến sự cải thiện những điều kiện làm việc của các xí nghiệp. Đối với những kẻ đã phải ngừng làm việc quá sớm, nhất thiết phải giữ một hoạt động tinh thần mạnh hoặc qua vài công việc lúc rỗi rảnh (làm việc vặt trong nhà, làm vườn..)..rất tốt đối với não bộ, hoặc bằng việc dấn thân xã hội trong gia đình mình hay trong các hội từ thiện. Hoạt động vật lý cũng cần thiết: hoạt động này đi đôi với việc bảo tồn những chức năng nhận thức, nhờ làm giảm những nguy cơ tim mạch, rất có hại đối với các neurone.

Hỏi: Người ta có thể hy vọng gì với những người sau 60 tuổi vẫn gìn giữ tốt những hoạt động trí tuệ và vật lý ?
G.S Françoise Forette: Ngày nay người ta biết rằng nếu làm lùi lại 5 năm sự xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh Alzheimer, người ta sẽ chia hai tần số mắc bệnh Alzheimer, điều này là đáng kể.
(PARIS MATCH 25/6- 1/7/2009)

7/ MỘT MŨI TIỀM TESTOSTERONE CÓ THỂ LÀ MỘT PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI NAM GIỚI.

Đó là kết luận của nhóm nghiên cứu của Yiqun Gu, thuộc Viện nghiên cứu quốc gia cho kế hoạch hóa gia đình (Bắc Kinh). Trong 30 tháng, các nhà nghiên cứu đã tiêm cho một ngàn người đàn ông sống đôi lứa một liều testostérone (50mg mỗi tháng), như thế làm ngưng sự sản xuất các tinh trùng. Chỉ 1,1 thai nghén đối với 100 người đàn ông đã được chứng thực. “ Chiến lược này không phải là mới, nhưng ở đây tần số của những mũi tiêm ít hơn, mỗi tháng tiêm một lần so với 2 lần mỗi tuần như trước đây, điều này sẽ tạo nên một phương pháp được dung nạp tốt hơn ”, Sylvain Mimoum, andrologue thuộc bệnh viện Cochin, Paris đã giải thích như vậy.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

8/ MUCOVISCIDOSE: CHẲNG BAO LÂU SẼ CÓ NHỮNG THUỐC ĐẶC HIỆU.

Liệu pháp gène (thérapie génique) đã chưa giữ những lời hứa hẹn nhưng nhiều thứ thuốc đang được thử nghiệm.

20 năm sau khi nhận diện gène gây bệnh mucoviscidose, các nhà nghiên cứu hy vọng có thể chẳng bao lâu nữa có được những điều trị tấn công vào căn nguyên của căn bệnh di truyền này. Được trình bày trong một cuộc họp báo của hiệp hội Vaincre la Mucoviscidose (VLM), những khám phá này sẽ là trọng điểm của hội nghị lần thứ 32 châu Âu về mucoviscidose, được tổ chức tuần này ở Brest.

Ở Pháp, 6.000 người bị bệnh mucoviscidose, làm phá hủy dần dần phổi và đôi khi tụy tạng. Nguồn gốc của căn bệnh, đó là một biến dị của gène CFTR, mã hóa cho một protéine chủ yếu trong sự điều hòa việc vận chuyển các ion chlore ra ngoài các tế bào. Do thiếu một protéine CFTR bình thường, nên các dịch tiết niêm mạc, quá dày và dính, làm tắc nghẽn các đường hô hấp và tiêu hóa. Mới đây, điều trị triệu chứng (kinésithérapie, kháng sinh…) đã cho phép cải thiện đáng kể tỷ lệ sinh tồn và đời sống hàng ngày của các bệnh nhân. Nhưng tuổi tử vong trung bình vẫn rất còn trẻ: 24 tuổi.

Ngay sau khi nhận diện gène CFTR vào năm 1989, các nhà nghiên cứu đã mơ tưởng đến liệu pháp gène (thérapie génique), thay thế gène bị hỏng bằng một gène lành mạnh. Đến nay, những niềm hy vọng này đã không thành. Việc cho các gène, được mang bởi vecteur virus, đã chứng tỏ một hiệu quả nào đó lúc tiến hành những thử nghiệm lâm sàng, nhưng bù lại gây nên những phản ứng viêm khó chịu. Từ nay các chuyên gia hướng mắt về nước Anh, nơi đây được trắc nghiệm một liệu pháp gène độc đáo với một vecteur tổng hợp, được dung nạp tốt hơn bởi cơ thể. Gène được cho bằng khí dung (aérosol). “ Một công trình nghiên cứu tiền phoêng vừa được tiến hành trên khoảng 20 bệnh nhân ở trong tình trạng ổn định, G.S Pierre Lehn, chủ tịch của hội đồng khoa học của Hiệp hội VLM đã chỉ rõ như vậy. Nếu những kết quả của nó, được chờ đợi vào cuối tháng 7, được chứng rõ, nhóm nghiên cứu người Anh sẽ chuyển qua giai đoạn tiếp theo, cho gène hàng tháng trong một năm.”

NHỮNG THỬ NGHIỆM GIAI ĐOẠN III.

Nhũng nhà nghiên cứu khác tin chắc vào các liệu pháp gène, nhằm, tuy theo loại biến dị là nguyên nhân, hoạt hóa và điều chỉnh protéine CFTR bị bệnh. “ Đó là traitement à la carte, có thể liên kết với một liệu pháp gène ”, Franck Dufour, giám đốc khoa học của VLM đã xác nhận như thế. Theo ông, một trong những thứ thuốc tiến bộ nhất là VX770 (hãng bào chế Vertex), một chất hoạt hóa CFTR. Một thử nghiệm giai đoạn III sẽ bắt đầu ở Hoa Kỳ và châu Âu. Những kết quả sẽ được biết đến vào năm 2010. Trong những tháng sắp đến, các chuyên gia cũng nôn nóng chờ đợi những kết luận của những công trình nghiên cứu lâm sàng giai đoạn II với hai correcteurs de CFTR: VX 809 (Vertex) và Miglustat (hãng bào chế Actelion, một loại thuốc đã được sử dụng trong một bệnh hiếm khác, maladie de Gaucher). Ý nghĩa càng quan trọng khi hai loại thuốc này hiệu quả lên một loại biến dị hiện diện nơi 70% các bệnh nhân. Sau cùng, một liệu pháp đầy hứa hẹn khác, PTC124, cũng đang tiến triển tốt đẹp. Dành cho các bệnh nhân với một biến dị đặc biệt được gọi là “ codons stop ” (15% các mucoviscidose), thuốc uống này vừa được đánh giá trên 30 bệnh nhân nhỏ tuổi người Pháp và thử nghiệm giai đoạn III đang tiếp diễn.

Trong trường hợp thành công, PTC124 có thể được thương mãi hóa trong 3 năm đến để điều trị mucoviscidose à codons stop. Nhưng thuốc này, không phải đặc hiệu cho một bệnh mà là cho một biến dị, do đó có thể có những chỉ định khác. Các bệnh cơ (myopathies), bệnh ưa chảy máu (hémophilie)... hơn 2.000 bệnh di truyền hiếm trong 10 đến 15% các trường hợp là do một biến dị được gọi là codons stop.
(LE FIGARO 9/6/2009)

9/ VI KHUẨN LAO TRỐN THOÁT.

Trực khuẩn Koch gây bệnh lao để bị bắt giam ... nhằm trốn thoát tốt hơn !

Thierry Soldati, thuộc đại học Genève, đã xem xét cơ chế cho phép trực khuẩn lao đi ra khỏi một tế bào bị nhiễm trùng trước khi sẽ tạo nên một nạn nhân mới. Nhờ một chất chỉ dấu huỳnh quang, nhà nghiên cứu lần đầu tiên đã quan sát thấy vi trùng chiếm đoạt một protéine của ký chủ bị nhiễm trùng, actine, để chế tạo một thiết bị đâm thủng (perforateur) màng tế bào, éjectosome. Điều đặc sắc, éjectosome này cho phép tác nhân gây nhiễm trốn thoát mà không làm tan vỡ tế bào. Quan sát này, được thực hiện trên một amibe, một sinh vật đơn bào, sẽ phải được xác nhận nơi người. “ Tạo các loại thuốc nhằm vào épisotome sẽ cho phép giam cầm trực khuẩn lao và ngăn cản sự lan tràn của nó từ tế bào này qua tế bào khác ”, nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Một khám phá sẽ có tầm quan trọng trong việc kiểm soát bệnh lao.
(SCIENCE ET VIE 6/2009)

10/ VAI TRÒ MẬP MỜ CỦA NHỮNG TẾ BÀO TỤY TẠNG.

BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG. Nơi một vài bệnh nhân bị bệnh đái đường, các tế bào tiết insuline, những nạn nhân của hệ miễn dịch, cũng tỏ ra có khả năng kích thích các tế bào bạch cầu.

Hơn 150.000 người ở Pháp bị bệnh đái đường loại 1. Dạng đái đường này, thường xuất hiện trước năm 20 tuổi, là một bệnh tự miễn dịch, trong đó hệ thống miễn dịch tấn công và phá hủy những tế bào được gọi là bêta của tụy tạng, tiết insuline. Khi đó có thể không còn chế tạo đủ insuline để cho phép các tế bào sử dụng. Glucose vẫn ở lại trong máu, gây nên tăng glucose-huyết (hyperglycémie).

Từ lâu, các nhà khoa học đã quy cho hệ miễn dịch trách nhiệm gây nên loại đái đường này. Nhưng, từ vài năm nay, nảy sinh ý nghĩ cho rằng các tế bào sản xuất insuline cũng đóng một vài trò gây bệnh. Các tế bào này kích thích đáp ứng miễn dịch. Sự khám phá mới đây, bởi một nhóm nghiên cứu người Bỉ, một gène bị hỏng trong các tế bào bêta của vài bệnh nhân bị đái đường, xác nhận ý tưởng này.

Khi hệ miễn dịch tấn công các tế bào tụy tạng, các bạch cầu phóng thích các chất chimiokine và cytokine, tăng cường đáp ứng miễn dịch. Những chất này lôi kéo và hoạt hóa những bạch cầu khác. Thế mà những chất này cũng tác động lên những tế bào bêta: các tế bào này bắt đầu chế tạo chimiokine. Những chất này hoạt hóa các tế bào miễn dịch và thúc chúng ...tấn công những tế bào bêta !

Như thế một vòng luẩn quẩn được thiết lập. Nhóm nghiên cứu của Decio Eizirik, thuộc ULB (Université libre de Bruxelles), đã xác định một trong những thành phần của vòng luẩn quẩn này: gène PTPN2. Khi gène này hoạt động, những tế bào bêta sản xuất rất ít chimiokine để phản ứng lại với phản ứng viêm. Khi gène này bị hỏng, như xảy ra nơi vài bệnh nhân, các tế bào bêta tổng hợp nhiều chimiokine.

“ Ngày nay rõ ràng rằng trong bệnh đái đường, các tế bào tiết insuline không phai là những nạn nhân thụ động của hệ miễn dịch ”, Decio Eizirik đã giải thích như vậy. Một chứng thực đáng quan tâm trên bình diện điều trị. Mãi đến nay, các trục nghiên cứu chính về điều trị bệnh đái đường chỉ quanh chung quanh việc kiểm soát hệ miễn dịch. Từ nay người ta có thể dự kiến nhằm vào cơ chế này trong tế bào tụy tạng.
(LA RECHERCHE 6/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/7/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#10 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 12 July 2009 - 07:24 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/H1N1 : VACCIN SẼ CHƯA CÓ TRƯỚC MÙA THU.

PANDEMIE. Mặc dầu Pháp cũng như các nước khác đã thương lượng một số liều vaccin nào đó, nhưng để có được một vaccin có hiệu quả và được dung nạp tốt cần phải có một thời gian không thể giảm bớt được.

Vaccin chống cúm A (H1N1) sẽ sẵn sàng vào mùa thu tới, nếu tất cả diễn ra như dự kiến. Đến nay, tất cả các hãng dược phẩm đã nhận, vào ngày 27 tháng 5 vừa qua, giống gốc của virus do OMS chuyển đến. Sau đó các hãng dược phẩm đã “ bào chế ” giống gốc đó.

Thật vậy, vaccin được chế tạo từ virus cúm bị giết chết. Trước hết phải cấy virus này để có được nhiều tỷ hạt, thường là trên trứng phôi thai (vài hãng dược phẩm đã loan báo sử dụng các canh cấy tế bào). Rồi thì phải tiêu hủy những virus này, hợp cách hóa các liều vaccin, có hoặc không có chất bổ trợ (adjuvant : một chất để tăng cường tính miễn dịch), trắc nghiệm những liều lượng khác nhau…sau cùng có một giai đoạn phân tích với thời gian không thể giảm bớt được và những điều kiện đúng quy chế cần được tôn trọng.

“ Tác động của vaccin này lên đại dịch sẽ tùy thuộc vào lúc vaccin sẽ có để sử dụng ”, giáo sư Jean-Claude Manuguerra (chuyên gia virus học, Viện Pasteur Paris) đã đoán chắc như vậy. Những hiện nay, không ai có thể nói trước lúc nào vaccin sẽ có mặt trên thị trường. Điều chắc chắn là các công tác chuẩn bị được thực hiện cách nay vài năm, với vaccin tiền đại dịch chống H5N, đã cho phép chúng ta tiến bước với những thủ thuật nhanh chóng hơn.”

NHỮNG THỬ NGHIỆM LÀM SÀNG BẮT ĐẦU VÀO THÁNG 8.

Thách thức đầu tiên là có được những canh cấy virus có năng suất cao. Hiện nay, năng suất này dường như ở mức độ trung bình, theo một vài chuyên gia của OMS. “Nhưng đó là điều bình thường, trong những giai đoạn sơ khởi của một quá trình với một virus mới, BS Albert Garcia (Sanofi-Pasteur) đã đảm bảo như vậy. Các năng suất nói chung sau cùng sẽ được cải thiện.” Quá trình sản xuất đã được phát động ngày 20 tháng 6 và các hãng dược phẩm đã bắt đầu làm bất hoạt virus và sản xuất những liều đầu tiên, sẽ được sử dụng cho những thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm này “ sẽ có thể bắt đầu ngay vào đầu tháng 8 ”, Albert Garcia đã đoán chắc như vậy. Nhưng sẽ còn phải một loạt các trắc nghiệm, với các liều khác nhau, có hoặc không có chất bổ trợ (adjuvant), thực hiện trên các loại dân chúng tuổi tác khác nhau. Thoạt đầu, để có được một khả năng miễn dịch tốt, sẽ cần hai liều vaccin, được cho cách nhau 3 tuần. “ Vậy sẽ phải tiêm chủng những người tình nguyện, thực hiện một trắc nghiệm sau 3 tuần, tiêm cho họ một liều thứ hai và còn chờ đợi thêm 3 tuần, trước khi đánh giá nồng độ kháng thể để đo lường mức độ miễn dịch có được ”, nhà chuyên gia đã nói thêm như vậy. Sau cùng còn có một thời gian không thể thu giảm được, để phân tích các kết quả, kiểm tra sự vắng mặt của các tác dụng phụ và quyết định về liều lượng tốt nhất và chiến lược tối ưu. Không có vấn đề đưa ra thị trường một vaccin không được đánh giá theo đúng những quy tắc của nghệ thuật.
(LE FIGARO 10/7/2009)

2/ ARGENTINE, QUỐC GIA Ở NAM MỸ BỊ ẢNH HƯỞNG NHẤT BỞI CÚM H1N1, ĐANG SỐNG TRONG GIỜ GIỚI NGHIÊM.

Hơn 100.000 người bị nhiễm bệnh và 79 trường hợp tử vong đã được thống kê.

Chính trong một bầu không khí âu sầu ảm đạm mà hôm qua dân Argentine đã cử hành ngày lễ quốc khánh. Dân Buenos Aires (các Portenos), đã dự kiến cấm cung ở nhà vì sợ virus cúm A (H1N1). Trong vòng vài tuần, Argentine đã trở thành quốc gia Nam Mỹ bị ảnh hưởng nhất bởi virus, và đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ (là nơi bệnh đã xuất hiện vào cuối tháng 4 ). Hôm qua, tổng kết chính thức là 79 người chết. Nhà cầm quyền đã chính thức ghi nhận 2.845 trường hợp. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng y tế Juan Manzur, đến nay có hơn 100.000 người bị nhiễm virus cúm, vài trường hợp xảy ra một cách “ âm thầm lặng lẽ ” và không có các triệu chứng.

Việc sụt giảm nhiệt độ, hậu quả của mùa đông Nam cực, không thuận lợi gì. Nhà cầm quyền đã cho biết rằng 90% các virus cúm đang được các người bệnh lưu hành trong nước là thuộc loại A. Mặt khác chính phủ đã lợi dụng ngày lễ, được kéo dài đến hôm nay, nhằm cố gắng làm ngưng hoạt động trong nước. Lãnh vực ngân hàng cũng vậy : các cửa giao dịch sẽ đóng lại cho đến thứ hai. Các chủ nhà hát vào đầu tuấn đã loan báo đóng cửa tạm thời.

TRONG CÁC XÍ NGHIỆP, TÌNH TRẠNG VẮNG MẶT BÙNG NỔ.

Tình trạng sợ virus được tăng cao lên một nấc. Theo một cuộc điều tra, được thực hiện bởi Viện Livra trong nhiều nước trong vùng, tỷ lệ dân Argentine sợ bị lây nhiễm, chuyển từ 22,7% cách nay hai tháng (vào lúc những trường hợp đầu tiên xuất hiện) lên 53,4% hôm nay. Khoảng 78% người được thăm dò tuyên bố rửa tay suốt ngày và 14% mang một mặt nạ bảo vệ. Trong các xí nghiệp, tỷ lệ vắng mặt bùng nổ, được ước tính là hơn 30%. Đó là những người dễ bị nhiễm trùng, hay phải ở nhà để lo cho những người thân bị bệnh hay các , bởi vì trường học được lệnh đóng cửa trong một tháng. Giới chủ tỏ ra hoà giải : “ Thà 30% vắng mặt hơn là 60% bị nhiễm bệnh ”. Hậu quả lên ngành du lịch thật tai hại. Công ty hành không Gol của Brésil đã loan báo một sự sụt giảm 50% vé máy bay bán đi Argentine.

Tuy nhiên, nhiều Portenos (dân Buenos Aires) vẫn giữ bình tĩnh. “ Thật là cuồng loạn (hystérie), chính giới truyền thông duy trì tình trạng hoang tưởng bộ phận (paranoia) ”, Esteban Schmidt, một nhà văn ở Buenos Aires đã tố cáo như vậy. Ông ta nêu lên những rời rạc trong các quyết định của chính phủ. Người ta đóng cửa các trường học, nhưng hôm thứ tư này có 40.000 người tập trung ở sân vận động La Plata, gần Buenos Aires, để tham dự giải chung kết coupe Libertadores, trận thi đấu chính của bóng đá châu Mỹ Latin. Quen làm việc trong các quán rượu của khu phố, Esteban Schmidt đã thấy tất cả các phục dịch viên cà phê đến với một mặt nạ trên mặt. “ Với thời gian càng trôi qua, họ hạ mặt nạ xuống, cũng gần giống như một viên chức làm như vậy với chiếc cravatte của mình. Và rồi thì chiếc mặt nạ đã hoàn toàn biến mất ”, nhà văn vừa kể như thế vừa cười. Tuy nhiên ông thú nhận một thói quen mới, thói quen sử dụng thường trực cồn dưới dạng gel (gel d’alcool) mà số doanh thu thật sự bùng nổ.

NHỮNG BIỆN PHÁP BÔNG LÔNG.

“ Sự lo âu được duy trì là do không có sự điều hòa giữa Nhà nước liên bang và các vùng, và sự thông báo zigzag của chính quyền ”, Gabriel Puricelli, thuộc Laboratoire de politiques publiques, Buenos Aires đã phân tích như vậy. Lần đầu tiên, từ lúc bắt đầu trận dịch, chính phủ đã họp các vị bộ trưởng y tế của tất cả các tỉnh, vào ngày 6/7 này, ở Buenos Aires, để thống nhất các biện pháp y tế. Các thầy thuốc phàn nàn không có các chỉ thị, ví dụ về việc phân phát Tamiflu. Mục tiêu của cuộc họp là chấm dứt tình trạng hỗn loạn, vì lẽ mỗi tỉnh, thậm chí mỗi vùng, áp dụng những biện pháp bông lông nhất. Ở San Isidro, ngoại ô của Buenos Aires, viên thị trưởng đã cấm các thiếu niên dưới 18 tuổi không được vào các trung tâm thương mãi vì được cho là dễ bị nhiễm virus hơn.
(LE FIGARO 10/7/2009)

3/ NHỮNG MỐI ĐE DOẠ ĐẠI DỊCH : LÀM SAO CHUẨN BỊ ?

G.S François Bricaire, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện la Pitié-Salpetrière, đồng tác giả với BS Frédéric Saldmann của “ Những bệnh dịch mới. Làm sao bảo vệ ? ” (Nouvelles épidémies. Comment se protéger), đề nghị những giải pháp thực tiễn.

Hỏi : Tại sao OMS chuyển qua giai đoạn báo động cấp 6, công nhận sự hiện diện của một đại dịch toàn cầu của bệnh cúm A (virus H1N1).
G.S François Bricaire : Không nên xem biện pháp này (không có liên quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh) như là một yếu tố bổ sung gây lo ngại. Quyết định này đã được thông qua bởi vì nó phù hợp với định nghĩa của giai đoạn 6, bao gồm sự hiện diện của một virus mới và sự lan rộng về mặt địa lý. Biện pháp này có hai ưu điểm. 1. Các nước có thể thiết lập chiến lược riêng của mỗi nước với nhiều tự do hành động. 2. Nó cho phép các nhà công nghiệp bào chế nhanh hơn các vaccin.

Hỏi : Ông viết : “ Trong những năm sắp đến, chúng ta sẽ phải sống với một nguy cơ thường xuyên bị đại dịch ”. Đâu là các mối nguy hiểm ?
G.S François Bricaire : Các hiện tượng đại dịch luôn luôn có. Từ trước đến nay chúng ta đã chịu đựng chúng ; hôm nay, có một ý chí quốc tế muốn ngăn ngừa chúng để chống lại chúng. Vì sự vận chuyển hàng không làm dễ sự di chuyển con người, nên virus tiến triển và lan tràn với tốc độ nhanh. Vô số các tác nhân gây nhiễm ra đời một cách đều đặn. Tôi sẽ không kể ra hết với anh tất cả những tác nhân có khả năng xuất hiện trên hành tinh, như thế sẽ nhàm chán. Trong số những tác nhân này, người ta sợ một vài virus châu Phi, như Ebola và Lassa, rất lây nhiễm, hoành hành trong vùng của Zaire, gây nên sốt xuất huyết và đưa đến tử vong. Vài trường hợp đã được quan sát ở châu Âu. Người ta cũng sợ vài arbovirus rất hiện diện ở châu Á, gây nên những trường hợp chikungunya với đau khớp rất dữ dội. Mối đe dọa khác : đe dọa của virus West Nile, ở Bắc Mỹ, gây nên một hội chứng cúm với sốt rất cao và đôi khi những rối loạn thần kinh. Ở Nam Mỹ, người ta cũng chứng kiến một sự trổi dậy của sốt vàng (fièvre jaune).

Hỏi : Nơi người, ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đường gây nhiễm khác nhau ?
G.S François Bricaire : Có hai loại đường gây nhiễm : trực tiếp và gián tiếp. Trong những trường hợp đầu, thường người ta bị gây nhiễm bằng đường hô hấp (những giọt nước bọt bắn ra khi nói), đường tiêu hóa (ăn thức ăn bị ô nhiễm), đường máu (truyền máu). Người ta cũng bị gây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp giữa người với người (qua mồ hôi, lúc bắt tay, hay do tiếp xúc sinh dục). Người ta cũng có thể bị lây nhiễm lúc sờ mó một động vật bị nhiễm trùng. Trong những trường hợp truyền gián tiếp, con người có thể bị gây nhiễm trùng do muỗi.

Hỏi : Người ta có thể tự bảo vệ như thế nào ?
G.S François Bricaire : Vài biện pháp đơn giản đã tạo nên một thành lũy chống lại các vi trùng.

  • Rửa tay trước khi ăn và mỗi khi đi ra khỏi nhà cầu(bằng cách sử dụng xà phòng lỏng và một khăn lau khô, vì sự ẩm ướt tạo nên một canh cấy cho các vi trùng).
  • Khi người ta ho hay hách xì, che miệng với khăn tay sử dụng một lần và quăng đi ngay sau đó.
  • Lúc về nhà, cởi bỏ giày (là những vecteur thật sự mang vi trùng, chúng có thể tạo nên một mối nguy cơ !).
  • Lau chùi đều đặn với thuốc khử trùng điện thoại cầm tay và các kính đeo mắt, những vật dụng đặc biệt được tiếp xúc với các giọt nước bọt được bắn ra. Các virus cúm rất thường ẩn náu trong những giọt nước bọt này. Vào năm 2008, một công trình nghiên cứu trên 23 người, được thực hiện bởi các BS Squinazi và Saldmann, đã cho thấy rằng các kính đeo của 21 trong số những người tham dự này là một canh cấy của vi khuẩn !
  • Giữ sẵn ở nhà vài hộp mặt nạ là điều hữu ích, bởi vì trong trường hợp đại dịch, các mặt nạ có thể chịu chế độ phân phối.
  • Trong trường hợp đe dọa dịch bệnh được truyền bởi muỗi, điều quan trọng là chăm lo làm sao cho nhà ở không bị quá ẩm ướt. Rò nước và các máy điều hòa không khí chảy giọt cần phải được sửa chữa khẩn cấp ! Chính nhờ học tập một loạt các phản xạ mới mà chúng ta sẽ thành công trong việc thích ứng với môi trường đang nảy sinh.
(PARIS MATCH 2/7-8/7/2009)

4/ XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU ĐỂ PHÁT HIỆN VIÊM RUỘT THỪA.

Nồng độ của protéine LRG (glycoprotéine alpha-2 riche en leucine) tăng rất cao trong nước tiểu của những bệnh nhân bị ruột thừa viêm. LRG có thể trở nên một chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) quan trọng của bệnh viêm ruột thừa, thường là một thách thức chẩn đoán nơi các .

Ruột thừa viêm là lý do thường nhất của một can thiệp ngoại khoa nơi các . Những chẩn đoán bệnh không phải luôn luôn dễ dàng, Richard Bachur của Children’s Hospital (Boston) đã đánh giá như vậy. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng 3 đến 30% các trẻ em được mổ, đã chịu một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa vô ích, trong khi nơi các trẻ em được chẩn đoán đúng, 30 đến 45% đã có một ruột thừa bị rách vào lúc phẫu thuật. Những kỹ thuật chẩn đoán mới như CT-scan hay siêu âm hẳn sẽ có thể cải thiện các con số, nhưng vẫn luôn luôn thiếu một xét nghiệm nhanh và đáng tin cậy, có khả năng phát hiện một ruột thừa viêm, Richard Bachur đã giải thích như vậy.

Richard Bachur đã trình bày vấn đề ở Proteomic Center của Bệnh Viện Nhi Đồng và bệnh viện quyết định triển khai những phương tiện tài chánh lớn. Trong giai đoạn đầu tiên, 12 mẫu nghiệm nước tiểu đã được xem xét nhờ một spectrométrie de masse. 6 trong những mẫu nghiệm này phát xuất từ những bệnh nhân bị ruột thừa viêm và 6 từ những bệnh nhân kiểm chứng. Spectrométrie de masse cho phép xác định đặc điểm của các protéine và định lượng chúng. Như vậy spectrométrie đã phát hiện được 32 chỉ dấu sinh học (biomarqueur) tiềm năng của ruột thừa viêm.

Với một độ nhạy cảm và độ đặc hiệu 97%, protéine LRG có vẻ có khả năng tốt nhất để trở thành chất chỉ dấu của ruột thừa viêm. Ngay cả ở những bệnh nhân mà ruột thừa có vẻ bình thường lúc chụp CT scan hay siêu âm, nồng độ LRG đã tăng cao.

Do đó, Richard Bachur hy vọng rằng LRG sẽ là công cụ chẩn đoán tốt nhất. Phương pháp phát hiện cũng đã được thích ứng : spectrométrie de masse, thủ thuật phức tạp, đã được thay thế bởi phương pháp immuno-essai. Do đó, chúng ta có thể trông chờ một dải phản ứng (bandelette réactive) nhạy cảm với LRG, sẽ là một khả năng trong tương lai.

Vào lúc này, Richard Bachur đang hiệu chính trắc nghiệm, còn phải được xác nhận nơi những nhóm bệnh nhân khác. Thật vậy, đến nay, trắc nghiệm chỉ có thể được sử dụng nơi các trẻ em. Theo các nhà nghiên cứu, profil protéine của nước tiểu người lớn sẽ hoàn toàn khác hẳn, đó là lý do nó sẽ ảnh hưởng nhiều lên trắc nghiệm. Do đó những xét nghiệm bổ sung vẫn luôn luôn cần thiết nơi người lớn.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 30/6/2009)

5/ CAFEINE, VŨ KHÍ MỚI CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.

NEUROLOGIE. Nơi chuột, caféine cải thiện trí nhớ và làm giảm những thương tổn não bộ của bệnh Alzheimer.

Bệnh Alzheimer gây bệnh cho 15% những người trên 80 tuổi. Ở nước Pháp, 850.000 người bị bệnh này, vì vậy những người trên 65 tuổi sống trong nỗi ám ảnh của cái bệnh lý sẽ dẫn đến đến tình trạng phụ thuộc trong vòng 6 đến 10 năm. Có cách nào để dự phòng hay không ? Mặc dầu những công trình mới đây đã phát hiện tác động thuận lợi của sự hoạt động vật lý và trí tuệ, cũng như việc điều trị bệnh cao huyết áp, bệnh đái đường và chứng béo phì, nhưng hiện nay không có một điều trị phòng ngừa nào cả. Trong bối cảnh như thế, trên site Internet của Journal of Amzheimer Disease, việc công bố một công trình nghiên cứu, cho thấy những tác dụng rất thuận lợi của cà phê lên chuột, quả gợi lên những niềm hy vọng thật sự, mặc dầu những kết quả nơi động vật gặm nhấm này không thể luôn luôn có thể loại suy lên người.

Giáo sư Gary Arendash của Đại học Floride từ lâu quan tâm đến mối liên hệ giữa caféine và chứng sa sút trí tuệ (démence). Nhất là từ khi một công trình nghiên cứu Bồ đào nha đã phát hiện, cách nay vài năm, rằng trong suốt 20 năm trước khi chẩn đoán, những người bị bệnh Alzheimer đã uống cà phê ít hơn nhiều so với những người đã không bị bệnh này. Những công cuộc điều tra khác khá nghiêm túc đã kết luận rằng một sự tiêu thụ có mức độ cà phê tạo một tác dụng bảo vệ chống lại chứng sa sút trí tuệ này.

Chính trong bối cảnh này mà Gary Arendash mới đây đã lao vào trong một công trình nghiên cứu thí nghiệm phức tạp hơn trên chuột. Ông đã tạo được 55 chú chuột nhỏ, được chương trình hóa về mặt di truyền để phát triển những rối loạn trí nhớ giống bệnh Alzheimer và đã chia những con chuột này thành hai nhóm. Sau khi các trắc nghiệm đã xác nhận rằng những con cobaye này đúng là có những rối loạn trí nhớ vào khoảng 18-19 tháng tuổi (tương đương với 70 tuổi ở người), một nửa các con vật này đã nhận caféine trong khẩu phần nước hàng ngày của chúng (tương đương với 8 tách cà phê mỗi ngày và 14 tách trà) trong khi một nửa kia chỉ uống nước thuần chất.

NHỮNG HIỆU NĂNG RÕ RỆT TỐT HƠN.

Sau hai tháng, các chú chuột được cho uống caféine đã tỏ ra có những hiệu năng rõ rệt tốt hơn những chú chuột khác, khi thực hiện những trắc nghiệm khác nhau về trí nhớ. Theo các tác giả, các khả năng của chúng đã trở nên giống hệt với các khả năng của những chú chuột già nhưng không bị chứng sa sút trí tuệ. Các động vật chỉ uống nước vẫn giữ những kết quả xấu vào lúc trắc nghiệm. Lại còn đáng ngạc nhiên hơn vì vài tuần sau đó, cuộc giải phẫu tử thi của não bộ của những chú chuột đã cho phép nhận xét rằng những con chuột được cho uống caféine có nồng độ protéine bêta-amyloide chỉ còn một nửa trong não bộ của chúng, so với những con chuột khác. Thế mà, sự tích tụ protéine này dưới dạng các mảng (plaques) là một trong những thương tổn mô học chính yếu đặc trưng cho bệnh Alzheimer. Theo vài nhà nghiên cứu, caféine phục hồi trí nhớ bằng cách làm giảm vài enzyme cần thiết cho sự sản xuất protéine bêta-amyloide. Những nhà nghiên cứu khác cho rằng caféine có một tác dụng kháng viêm, vì thế làm cho số lượng các mảng protéine này bị giảm xuống. Mặt khác, caféine cải thiện các hiệu năng, chỉ nơi các con chuột đã có những rối loạn trí nhớ, nhưng không cải thiện hiệu năng của những chú chuột lành mạnh.

Các nhà nghiên cứu, rất phấn khởi, đã hoạch định những thử nghiệm lâm sàng trên người, nhằm xác nhận hay phủ nhận những tác dụng của caféine lên nhưng rối loạn đầu tiên của bệnh Alzheimer.
(LE FIGARO 7/7/2009)

6/ UNG THƯ PHỔI : XÉT NGHIỆM MÁU SẼ THAY THẾ SCANNER ?

Ung thư phổi và vài con số :
  • 30.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp.
  • 27.500 tử vong mỗi năm.
  • 10% tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm.

Có lẽ sắp đến đây người ta sẽ phát hiện ung thư phổi trong máu. Dầu sao, đó là hướng rất đổi mới, được các nhà nghiên cứu của Pensylvanie theo đuổi và được trình bày vào tháng năm vừa qua ở hội nghị của American Thoracic Society để đương đầu với bệnh ung thư giết chết 800.000 người mỗi năm trên thế giới này. Thật vậy, cho đến hôm nay không có một xét nghiệm nào để phát hiện ung phổi cả. Ngoài ra, chỉ 30% các ung thư phổi được phát hiện ở một giai đoạn sớm mới có thể mổ được. Bởi vì, công cụ duy nhất hiện có, scanner, chỉ có thể phát hiện những hòn phổi (nodule pulmonaire) có một kích thước đủ lớn. Nét độc đáo của những nghiên cứu của G.S Anil Vachani là ở chất chỉ dấu (marqueur) được sử dụng. Trái với các nhóm nghiên cứu, như nhóm của BS William Jacot, thuộc bệnh viện Arnaud-de-Villeneuve ở Montpellier, G.S Anil Vachani đã không đi theo con đường (hiện nay không lối thoát) của các protéine được tiết ra bởi khối u ung thư, mà ông đã chọn các bạch cầu. Thật vậy, một vài loại bạch cầu trong các bạch cầu này, những tế bào lympho, là những bạch cầu đầu tiên tấn công vào khối u ngay khi nó phát triển trong cơ thể. Các gène hiện diện trên các tế bào lympho này sẽ chỉ một cách chính xác sự hiện diện của một khối u. Qua trung gian của các puces ADN, các nhà nghiên cứu đã khảo sát các gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của hai nhóm 44 bệnh nhân, nhóm đầu gồm những bệnh nhận được phát hiện sớm, nhóm thứ hai tạo thành nhóm chứng. Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập, với một độ chính xác 87%, một sự phối hợp của nhiều gène phát hiện sự hiện diện của một ung thư. Còn cần phải kiểm tra xem profil di truyền này có chung cho những ung thư khác không. Một công trình sẽ cần đến nhiều năm. Hướng khác : khí thở ra bởi các bệnh nhân. Nhóm nghiên cứu của BS Michael Philips ở New Jersey, đã nhận diện vài thành phần trong không khí. Công trình nghiên cứu, được hưởng một tài trợ 3 triệu dollars của National Institutes of Health, sẽ được theo đuổi thêm 3 năm nữa trước khi chứng minh rằng xét nghiệm phát hiện độc đáo này, có một tác động thật sự lên tỷ lệ tử vong.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2007)

7/ MỘT KHÁNG SINH ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG BỆNH LAO.

Một nhóm nghiên cứu quốc tế khám phá ra một kháng sinh có hiệu quả chống lại tất cả các dạng của trực khuẩn gây bệnh lao. Cách tác dụng của loại kháng sinh này là mới lạ.

Lao là bệnh nhiễm trùng trong số những bệnh gây tử vong nhất trên thế giới, bệnh lao được gây nên bởi trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Trực khuẩn lao đã gây nên 1,7 triệu nạn nhân vào năm 2007. Và bức tranh này có thể còn trở nên u tối hơn với sự phát triển gia tăng của các giống gốc của trực khuẩn lao đề kháng, không nhạy cảm đối với các thuốc kháng lao hiện có. Do đó cần thiết phải khám phá những loại thuốc có khả năng tấn công trực khuẩn lao, một cách khác với những kháng sinh cổ điển. Đó là điều vừa được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế. Được dẫn dắt bởi Stewart Cole, thuộc Trường Bách Khoa liên bang (LA usane), nhóm nghiên cứu này đã đi từ điều chứng thực rằng nhiều thuốc kháng sinh chứa chất lưu huỳnh. Các nhà nghiên cứu sau đó đã tổng hợp một loạt các loại thuốc thuộc họ các dị vòng chứa nguyên tố hóa học lưu huỳnh. Một vài trong các chất này tỏ ra đặc biệt có hoạt tính trên trực khuẩn lao : các nitro-benzothiazinones (BTZ). Nhóm nghiên cứu đã biến đổi cấu trúc của chúng để cải thiện thêm hơn hoạt tính, đồng thời trắc nghiệm những tác dụng độc có thể xảy ra trên các tế bào người. Trên 50 chất ứng viên, chỉ có BTZ043 là có được sự thỏa hiệp tốt nhất giữa tính hiệu quả và độ dung nạp thuốc.

In vitro, BTZ043 có một hiệu quả hơn hiệu quả của tất cả các thuốc kháng lao có trên thị trường. Được thử nghiệm trên các con chuột bị nhiễm lao, thuốc làm giảm số các trực khuẩn không đề kháng, hiện diện trong phổi và lá lách của chúng, cùng hiệu quả như hai loại thuốc chính hiện nay ; tất cả mà không gây những tác dụng phụ sau một tháng điều trị.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)

8/ MỘT KHÁNG THẾ MỚI BẢO VỆ CHỒNG LẠI NHIỄM TRÙNG BỞI VIRUS CỦA VIÊM GAN C.

Kháng thể mới này vô hiệu hóa virus trong canh cấy và ngăn cản sự lây nhiễm. MBL-HCV1, được phát triển bởi nhóm nghiên cứu của Donna Ambrosino, thuộc đại học y khoa Massachusetts, dường như rất hứa hẹn. Để tìm được kháng thể MBL-HCV1 này, các nhà sinh học đã tiêm những yếu tố của virus vào các con chuột được nhân hóa (souris humanisés) (được biến đổi về mặt di truyền để có thể sản xuất những kháng thể người). Sau khi đã phân lập trong máu những kháng thể có khả năng nhận biết và liên kết với virus, các nhà sinh học đã trắc nghiệm tác dụng của chúng lên các canh cấy của các mô đuợc lấy nơi những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn. Rồi thì hiệu quả của chúng đã được trắc nghiệm trên các động vật linh trưởng (primates) không phải người, được cho tiếp xúc với virus. Các kháng thể MBL-HCV1 đã lần lượt trung hòa virus và đã bảo vệ các động vật linh trưởng chống lại nhiễm trùng. Một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 theo dự kiến sẽ được bắt đầu trong vòng năm nay. Theo OMS, có 3 đến 4 triệu người bị nhiễm bởi viêm gan C mỗi năm. Hiện tại không có một vaccin nào.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

9/ VITAMINE C SẼ ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN THẦN KINH-CƠ?

Vitamine C có thể sẽ trở nên một thuốc để điều trị bệnh hiếm (maladie orpheline). Thuốc nổi tiếng vitamine C đã được trình tòa để được thương mãi hóa trong hướng điều trị này, nơi Cơ quan dược phẩm châu Âu (Agence européenne du médicament) : thật vậy, acide ascorbique lần đầu tiên vừa được trắc nghiêm nơi người, và thành công, trong điều trị bệnh Charcot-Marie-Tooth. Bệnh di truyền thần kinh cơ này, đừng lầm với bệnh Charcot hay Sclérose latérale amyotrophique, đưa đến teo cơ, chuột rút (crampes) và đau đớn. Bệnh ảnh hưởng lên khoảng 30.000 người ở Pháp và hiện nay không có liệu pháp điều trị.

Nhóm nghiên cứu của Bs Joelle Micaleff-Roll (CHU de la Timone, Marseille) đã theo dõi 180 bệnh nhân ở Marseille, Paris và Lyon. Những kết quả đầu tiên cho thấy rằng “ việc cho thuốc vitamine C, 3g mỗi ngày trong một năm, được liên kết với một sự cải thiện các triệu chứng, BS Micaleff-Roll đã xác nhận như vậy. Thật rất đáng phấn khởi, nhưng điều này cần được xác nhận trên một thời gian dùng thuốc dài lâu hơn và trong khung cảnh của một hợp tác quốc tế. ”

Những công trình khác đã cho thấy rằng vitamine C làm giảm biểu hiện của gène PMP 22, có liên quan trong các quá trình myéline hóa các dây thần kinh.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

10/ GIẢI MẪN CẢM KHÔNG PHẢI LÀ GIẢI PHÁP NHIỆM MẦU.

SANTE PUBLIQUE. Kỹ thuật này tạo nên một phép trị liệu hữu hiệu, nhưng phải được áp dụng theo từng trường hợp và không phản ứng với tất cả những dị ứng nguyên.

Mũi chảy, hách xì liên tiếp, ngứa ngáy ở mắt, chừng ấy các triệu chứng dị ứng bùng nổ trong mùa này, là lúc cây cối và các graminée trổ hoa. Phải nói rằng các phấn hoa (pollen) chịu trách nhiệm một nửa các bệnh viêm mũi dị ứng. Theo Hiệp Hội Hen và Dị Ứng, 15% đến 25% dân châu Âu bị bệnh này. Viêm mũi dị ứng xảy ra theo mùa (rhinite allergique saisonnière) (từng cơn) tái phát mỗi năm vào gần như cùng thời kỳ, nhưng vài người cũng có thể bị viêm mũi kéo dài (rhinite persistante).

Mặc dầu có thuốc (các thuốc kháng histamine, corticoides, các thuốc co mạch), nhưng sự giải mẫn cảm (désensibilisation) đến nay là phương tiện duy nhất để điều trị căn nguyên của bệnh này. Mục đích là nhằm làm giảm tính mẫn cảm của cơ thể đối với dị ứng nguyên (allergène). chỉ có một thầy thuốc chuyên khoa dị ứng học (allerlogue) mới có khả năng xác định loại dị ứng và thực hiện liệu pháp miễn dịch (immunothérapie) này, phép điều trị thực sự “ theo từng người ” (traitement sur mesure)

Cần thăm khám nếu các triệu chứng của viêm mũi dị ứng tái diễn và xảy ra đều đặn. Người thầy thuốc xác định sự nhạy cảm đối với một dị ứng nguyên nào đó bằng cách trắc nghiệm các chất khác nhau trên những vùng nhỏ của da. Những chất, đưa đến một phản ứng da, được xác nhận như là nguyên nhân của các rối loạn. Sau đó người thầy thuốc xác lập sự lợi ích hay không của một liệu pháp giải mẫn cảm (désensibilisation), kéo dài từ ba đến năm năm.

CẢI TẠO HỆ THỐNG MIỄN DỊCH.

Đợt điều trị nhằm cho dưới da hay dưới lưỡi một liều tăng dần các dị ứng nguyên để cải tạo hệ thống miễn dịch. Đường cho thuốc dưới da, bằng những mũi tiêm, hàm ý rằng bệnh nhân trung bình mỗi tháng phải đến phòng khám của thầy thuốc chuyên khoa dị ứng, và cứ như vậy suốt cả năm. Sau khi được tiêm, bệnh nhân phải chờ đợi tại chỗ, ít nhất ½ giờ, thời gian cần thiết để kiểm tra rằng không có một phản ứng với điều trị. Mặt khác thầy thuốc luôn luôn có sẵn bên mình một ống tiêm chứa adrénaline để phòng trong trường hợp có phản ứng.

Đơn giản và ít bó buộc hơn, ngày nay, đường dưới lưỡi (hiện nay không có thể thực hiện cho tất cả mọi loại dị ứng nguyên) được sử dụng đối với 80% các dị ứng đối với phấn hoa (pollen). Bệnh nhân có thể tự mình cho thuốc ở tại nhà, bằng cách đặt các giọt dung dịch dị ứng nguyên dưới lưỡi. Ưu điểm của phương pháp này, đó là “ không có một phản ứng phụ nghiêm trọng nào, như có thể xảy ra trong trường hợp tiêm dưới da ”, Daniel Vervloet, thầy thuốc chuyên khoa dị ứng và chủ tịch của Liên đoàn dị ứng học Pháp đã giải thích như vậy.

Mặc dầu 3 năm sau khi điều trị, nói chung, một sự giảm rõ rệt tính nhạy cảm dị ứng được ghi nhận, tuy nhiên liệu pháp giải mẫn cảm không được các thầy thuốc nhất trí.

Thật vậy, có thể giải mẫn cảm đồng thời một thậm chí hai dị ứng nguyên, nhưng không thể nhiều hơn, do đó, “ 25% các bệnh nhân không được giải mẫn cảm bởi vì đa nhạy cảm (polysensible) ”, Daniel Vervloet đã bình luận như thế.

Mặt khác ông cho rằng nếu ta phải chịu đựng nỗi khó chịu do dị ứng chỉ hai tuần một năm, thì không cần thiết phải lao vào trong kỹ thuật giải mẫn cảm làm gì.

Nhưng sự điều trị viêm mũi dị ứng không chỉ giới hạn trong việc sử dụng thuốc men. BS Marc Sapene, thầy thuốc chuyên khoa phổi-dị ứng ở Bordeaux, tin chắc rằng “ sự làm chủ môi trường sống có thể cho phép tránh khỏi phải giải mẫn cảm. Dị ứng là một sự tương quan giữa các yếu tố, liên kết một phần di truyền và môi trường ”. Đó cũng là ý kiến của BS Gérald Fain, nhắc lại rằng “ dị ứng là một sự tăng phản ứng (hyperactivité) đối với môi trường ”. Đối với ông, yếu tố liên hệ đến cảm xúc không phải là nhỏ. Phấn hoa, lông mèo và bụi bặm không có thể được tách biệt ra khỏi trạng thái cảm xúc của cá nhân : nếu không thì làm sao giải thích rằng vào một lúc nào đó chúng ta nhạy cảm hơn, chứ không phải vào những lúc nào khác ?

Ở Pháp, nhiều bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng không đi khám bệnh : người ta ước tính rằng cứ hai trường hợp có một trường hợp không được chẩn đoán. Thế mà những bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng phải được thăm khám một cách hệ thống, bởi vì khoảng 20% những người bị viêm mũi dị ứng cũng bị bệnh hen phế quản. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để xác lập lợi ích của sự giải mẫn cảm một số lượng tối đa các trẻ nhỏ, nhằm bảo vệ chúng chống lại những rối loạn hô hấp trong tương lai.
(LE FIGARO 26/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH(12/7/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#11 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 20 July 2009 - 07:48 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A/H1N1 : TOÀN ĐẠI DỊCH TỪ NAY LAN TRÀN KHẮP THẾ GIỚI. OMS TỪ BỎ VIỆC TÍNH SỐ TẤT CẢ CÁC BỆNH NHÂN.

Tổ chức y tế thế giới đã tuyên bố hôm thứ sáu rằng sẽ từ bỏ việc đếm số các trường hợp cúm A/H1N1 , do quy mô của công việc đòi hỏi đối với những nước bị ảnh hưởng nhất bởi sự tiến triển “ nhanh chóng chưa bao giờ có ” của virus.

Theo OMS, “ một chiến lược nhằm vào sự phát hiện, xác nhận bằng xét nghiệm và nghiên cứu toàn bộ các trường hợp, gồm cả những trường hợp lành tính, đòi hỏi rất nhiều phương tiện ”. Vì lẽ đó, OMS tiếp tục theo dõi tiến triển và kêu gọi các nước khác nhau theo dõi những dấu hiệu biến dị có thể xảy ra của virus, phương cách virus cúm lan tràn, sự gia tăng đột ngột của các thăm khám ở bệnh viện hay sự xuất hiện những trường hợp nặng hơn.

OMS yêu các nước bị dịch thông báo những trường hợp đầu tiên được xác nhận rồi cung cấp một báo cáo tổng kết hàng tuần về số các trường hợp, đồng thời mô tả phương cách mà chúng xuất hiện.


OMS báo cáo 95.000 trường hợp cúm A/H1N1 trên thế giới, trong đó có 429 trường hợp tử vong. Đánh giá này đã bị vượt quá bởi vì Anh quốc đã phát hiện 55.000 trường hợp mới chỉ trong vòng 1 tuần.

LAN TRÀN RẤT NHANH.

Trận đại dịch 2009 “ từ nay không còn có thể dập tắt được nữa ”, OMS đã nhấn mạnh như thế. Đại dịch đã lan tràn trên thế giới “ nhanh hơn bao giờ hết ”. Vào những đại dịch trước đây, các virus cúm đã phải cần đến hơn 6 tháng để có thể lan tràn rộng lớn như virus mới H1N1, chỉ cần chưa đến 6 tuần.

“ Vì lẽ số các trường hợp gia tăng trong nhiều nước, mà ở đây người ta chứng kiến một sự lây truyền cộng đồng dài lâu của virus, vì vậy đối với các quốc gia bị dịch bệnh, sẽ vô cùng khó khăn, thậm chí không có thể xác nhận các trường hợp bằng xét nghiệm ”, theo OMS.

Ngoài ra, “ việc thống kê các trường hợp từ nay không còn thiết yếu nữa để kiểm soát mức độ hay tính chất của nguy cơ do virus đại dịch gây nên hay để định hướng việc áp dụng các biện pháp thích hợp nhất để đối đầu ”.

Đến nay, đại dịch được đặc trưng bởi “ các triệu chứng lành tính trong đại đa số các bệnh nhân, thường lành bệnh sau một tuần, ngay cả không cần phải điều trị ”.
(DIMANCHE 19/7/2009)

2/ Ở NƯỚC BỈ, CÚM H1N1 KHÔNG CÒN NGĂN CHẶN LẠI ĐƯỢC NỮA.

Từ hôm 27 tháng 4, ngày tháng chính thức của sự xuất hiện cúm mới A/ H1N1 ở Bỉ, đáp ứng y tế được thực hiện độc nhất dưới dấu hiệu kềm chế (signe du confinement) : ngay những triệu chứng đầu tiên, các xét nghiệm đã được thực hiện để xác nhận đó có đúng là virus mới hay một bệnh đường hô hấp khác, rồi bệnh nhân được nhập viện trong những căn phòng đặc biệt có áp lực âm tính của bệnh viện Saint-Pierre, hoặc được điều trị tại gia, nhưng không được phép ra khỏi nhà.

Từ thứ hai 13/7, nước Bỉ đã bỏ giai đoạn ngăn chặn (confinement) này : “ Giai đoạn này đã cho phép chúng ta học được nhiều điều về virus. Sự lan tràn của nó càng ngày càng trở nên rộng rãi. Hôm nay chúng ta có thể xác nhận một cách rõ ràng rằng số các trường hợp sẽ gia tăng rất rõ rệt trong những ngày đến ”, Laurette Onkelinx, bộ trưởng bộ xã hội đã giải thích vậy. Bà đã khởi động giai đoạn “ làm giảm nhẹ ” (phase d’atténuation) hôm thứ hai. Chỉ riêng ngày thứ hai này, 15 trường hợp mới đã được thêm vào trong đội ngũ 111 trường hợp đã đếm được, trong khi đó hôm chủ nhật 14 trường hợp đã được ghi nhận. Tuy nhiên con số này vẫn rất vừa phải so với ảnh hưởng toàn bộ của đại dịch toàn cầu. 800 bệnh nhân đã nhận các thuốc kháng virus để phòng ngừa. Nhưng vòng đai y tế này hôm nay đã bị tràn ngập.

a/ Tại sao số bệnh nhân tăng nhanh lên như vậy ?

“ Ngay từ giữa tháng 7, nhiều người đi nghỉ hè trở lại từ những nước ở đó virus lưu hành nhiều hơn. Các buổi liên hoan ca nhạc, các trại hè nhất thiết sẽ gây nên những trường hợp khác. Mục tiêu của chúng ta không còn có thể ngăn chặn hay làm chậm lại toàn đại dịch được nữa, nhưng mục đích chỉ làm giảm tác động y tế và kinh tế xã hội, vừa đảm bảo các điều trị thích đáng ”, bà bộ trưởng giải thích như vậy, và nhấn mạnh rằng virus hiện nay không nguy hiểm hơn virus cúm mùa.

b/ Những hậu quả cụ thể là gì ?

Ngay từ hôm nay, chúng ta sẽ không thực hiện xét nghiệm phân tích một cách hệ thống các mẫu nghiệm để biết đó có đúng là bệnh cúm mới hay không nữa. Thầy thuốc sẽ điều trị bệnh nhân tùy từng trường hợp, theo phép điều trị thông thường đối với cúm mùa, không cho Tamiflu hay Relenza. Những ngoại lệ duy nhất (do những hậu quả khả dĩ của bệnh cúm) : 9 nhóm có nguy cơ sẽ tiếp tục nhận miễn phí các thuốc kháng virusr : những bệnh nhân với bệnh phổi mãn tính, với một bệnh lý tim mãn tính, với suy gan, những người bị suy giảm miễn dịch, những bệnh nhân đái đường, các phụ nữ có thai, những bệnh nhân trên 65 tuổi và dưới 5 tuổi hay được nhập viện với một bệnh cảnh lâm sàng nặng. Để cho các thuốc kháng virus và các mặt nạ hô hấp cần thiết có để được sử dụng tức thời, các dự trữ, đã được nói đến từ lúc đầu trận dịch, đang rời các kho dự trữ ở Bruxelles để được đưa về các tỉnh. Mỗi tỉnh sẽ phân phối cho các commune, qua những điểm tiếp xúc y tế địa phương (“ point de contact local de santé ”), do ông thị trưởng chỉ định. Dân chúng được yêu cầu đừng đòi các toa thuốc kháng virus “ với mục đích phòng ngừa ”. Ở Nhật Bản, việc sử dụng những thuốc như thế trước khi triệu chứng xuất hiện đã làm xuất hiện sự đề kháng đối với thuốc. Sau đó cái ngày mà ta thật sự cần đến, sẽ không còn gì nữa cả. Và ta làm lan tràn một virus trở thành nguy hiểm hơn. Những điểm tiếp xúc y tế địa phương này hiện nay sẽ được dùng làm nơi phân phát, thậm chí khám bệnh.
(LE SOIR 14/7/2009).

Ở ÚC ĐẠI LỢI : CÓ THỂ ĐẾN 40% DÂN CHÚNG BỊ LÂY NHIỄM.

Sydney. Ở bệnh viện Prince of Wales (Sidney), khoa cấp cứu đầy ứ bệnh nhân hơn thường lệ. Trong phòng chờ, vài bệnh nhân chờ đợi hàng giờ, đôi khi với một mặt nạ trên mũi. Trên tường, các yết thị nhắc nhở những điều thận trọng phải tuân theo trong trường hợp bệnh cúm : rửa tay, che miệng lúc hách xì...

Từ khi virus A (H1N1) đã chính thức đi vào trong nước, trong vòng tháng 5, số người đến bệnh viện với những triệu chứng cúm đã tăng nhảy vọt lên.

Úc Đại Lợi, đang ở giữa mùa đông Nam cực, là một trong những nước bị ảnh hưởng nhất của vùng Thái Bình Dương. Hôm thứ hai 13/7, 9.050 trường hợp đã được thống kê trong dân số 21 triệu người dân. Và điều đó chỉ có thể mới bắt đầu. Thường thường, 20% dân số bị ảnh hưởng bởi bệnh cúm, nhưng, với virus mới này, mà người ta rất ít được miễn dịch, điều đó có khả năng trở nên trầm trọng. Càng lúc chúng ta có những dữ kiện chính xác hơn, chúng ta nhận thấy rằng tỷ lệ tử vong bây giờ khoảng 0,2% của các trường hợp, cao hơn đối với cúm mùa, Raina MacIntyre, chuyên gia bệnh truyền nhiễm ở đại học Nouvelle-Galles du Sud đã đánh giá như vậy.

Theo những ước tính của giới cầm quyền, đến 40% dân chúng có thể bị lây nhiễm. “ Dường như rằng cúm A (H1N1) sẽ thay thế cúm mùa, hơn là thêm vào nó, Nicola Roxon, bộ trưởng y tế đã tuyên bố như vậy."

NGHỈ BỆNH GÂY TỐN KÉM.

Mặc dầu 21 trường hợp tử vong, chính phủ đặt ưu tiên cho những biện pháp vừa phải. Các kiểm tra sinh học ở phi trường quốc tế đã được bãi bỏ, cũng như việc điều tra phát hiện có hệ thống. “ Trong trường hợp có các triệu chứng vừa phải, người ta khuyên đi khám bác sĩ. Bệnh viện chỉ được khuyên đối với những trường hợp nặng ”, Graeme Walker, thuộc bộ y tế của Victoria, một trong những tiểu bang bị ảnh hưởng nhất, đã đánh giá như vậy.

Tamiflu, thuốc kháng virus, được dành cho những người bị nhiễm trùng nặng hay cho những người, ngoài bệnh cúm ra, còn có những vấn đề sức khỏe phụ (hen phế quản, đái đường..). Các liều thuốc kháng virus đã được phân phát trong những trung tâm y tế của các cộng đồng bản xứ ở các vùng xa, các dân bản địa bị những vấn đề về sức khỏe quan trọng hơn mức trung bình.

Một đường điện thoại đã được thiết đặt để khuyên và trấn an công chúng. Ngoài ra để nghiên cứu virus A/H1N1, Canberra sẽ dành 7 triệu (3,9 triệu euro) để tài trợ những dự án nghiên cứu khác nhau. Khu vực kinh tế đã bắt đầu lo ngại. Theo một báo cáo của phòng thương mại của Nouvelles-Galles du Sud, các xí nghiệp có thể mất hơn 900 triệu dollars năm nay, khi những người ăn lương càng lúc càng nghỉ việc vì bệnh.
(LE MONDE 15/7/2009)

3/ ĐỘC LỰC CỦA VIRUS A/H1N1 ĐƯỢC XÉT LẠI NÂNG CAO.

PANDEMIE. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho thấy rằng virus có khả năng làm nhiễm trùng sâu trong các phế quản, điều này cho phép giải thích những trường hợp nặng nhất.

Định mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng của bệnh cúm mới, gây nên bởi virus A/H1N1 không phải là đơn giản. Những tuần lễ đầu tiên, tiếp theo sau sự khám phá của trận dịch ở Mễ Tây Cơ, đã góp phần gây hoảng hốt toàn thế giới vì hàng chục trường hợp tử vong đã được ghi nhận. Khi virus đã bắt đầu xâm chiếm Hoa Kỳ, thế giới bắt đầu nhanh chóng an lòng, bởi vì hàng ngàn bệnh nhân chỉ bị một thể rất nhẹ. Ngày nay cán cân lại chuyển về phía trung tâm.

Thật vậy các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Wisconsin, được điều khiển bởi nhà virus học Yoshihiro Kawanba, vừa công bố trên site Internet của tạp chí Nature những công trình thí nghiệm, bắt đầu phát họa một cách chính xác hơn độc lực của cúm A/H1N1. Họ ước tính rằng virus này “ nguy hiểm hơn virus của cúm mùa ”. Mặc dầu, đối với đại đa số các bệnh nhân, sự lây nhiễm chỉ được thể hiện bởi vài ngày sốt, ho, đau họng và đau mình mẩy, với, trong 25% các trường hợp, các rối loạn tiêu hóa. Nhưng trong vài trường hợp ngoại lệ, được thể hiện bởi những nhiễm trùng dày đặc. Với một tỷ lệ tử vong khoảng 3/1000. Nhất là, những trường hợp tử vong, trái với những trận dịch của cúm mùa, chủ yếu liên quan đến những người trẻ và gần như không ảnh hưởng lên những người trên 60 tuổi.

Để đánh giá độc lực của virus A/H1N1, giáo sư Kawaoka và các đồng nghiệp đã làm gây nhiễm trên thực nghiệm với virus mới này, những nhóm khác nhau gồm chuột, chồn sương (furets) và các linh trưởng, là biểu hiện những mô hình động vật đáng tin cậy đối với cúm. Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát rằng virus A/H1N1 tăng sinh một cách hiệu quả hơn trong các đường của hệ hô hấp so với virus của cúm mùa. Các nhà nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng virus này có khả năng sản xuất những thương tổn phổi tương tự với những thương tổn gây nên bởi những virus toàn đại dịch độc lực hơn. Virus A/H1N1 dường như đi vào sâu trong các phế quản nhỏ và phổi và tăng sinh ở đó tích cực hơn. Thật vậy các con chồn sương bị nhiễm trùng cho thấy những dấu hiệu viêm phế quản phổi nghiêm trọng hơn. “ Trong những thí nghiệm của chúng tôi trên các chồn sương và trên khỉ, virus của cúm mùa không tăng sinh trong phổi, G.S Kawaoka đã giải thích như thế. Nhưng virus A/H1N1, trong cùng những trường hợp, tăng sinh một cách tích cực ”. Mặt khác các tác giả đã tìm kiếm những kháng thể khả dĩ trung hòa virus mới, dường như tương cận với virus gây nên trận đại dịch 1918. Những người sinh ra trước năm 1918 có những tỷ lệ kháng thể cao chống lại virus 2009, nhưng không hiện diện nơi những người sinh sau 1920.

NHỮNG NGƯỜI RẤT GIÀ ĐƯỢC MIỄN DỊCH HƠN.

Tất cả những thí nghiệm này đã được tiến hành với những giống gốc virus A/H1N1, được lấy nơi những bệnh nhân có những nguồn gốc khác nhau, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hoà Lan. Mặt khác, nhóm của các chuyên gia virus học Hoa Kỳ cũng đã cho thấy rằng, mặc dầu virus H1N1 hơi độc lực hơn dự kiến, nhưng các thuốc kháng virus hiệu quả chống lại nhiễm trùng trên những mô hình động vật này. Nhóm nghiên cứu được điều khiển bởi Kawaoka cũng đã quan tâm về trường hợp những người già sinh ra trước năm 1918 và đã có thể khám phá rằng những người này có một nồng độ cao các kháng thể chống virus H1N1 đã bảo vệ họ chống lại đại dịch mới.

Sau cùng, nhà virus học Hoa Kỳ không loại bỏ rằng virus mới sẽ trở nên độc lực hơn với sự lan rộng của đại dịch trong những tháng tới. Hiện nay, cúm đặc biệt hoành hành trong Nam bán cầu nhưng hẳn sẽ trở lại hùng hậu về phía Bắc trong mùa thu tới.

(LE FIGARO 15/7/2009)
(LE SOIR 14/7/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125, đề mục số 1/ VIRUS A (H1N1) KÉM ĐỘC LỰC HƠN DỰ KIẾN.

4/ PHÁP : CÁC UNG THƯ THƯỜNG XẢY RA NHẤT NĂM 2008 : UNG THƯ VÚ VÀ TUYẾN TIỀN LIỆT.

EPIDEMIOLOGIE. Hai ung thư này tiếp tục tiến triển năm 2009, đặc biệt là do sự điều tra phát hiện có hệ thống.

Vào năm 2008, các ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) dẫn đầu xa ở nam giới với 66.000 trường hợp mới ở Pháp, theo những dự đoán được công bố bởi INVS (Institut de veille sanitaire). Đối với nữ giới, cành co luôn luôn dành cho các ung thư vú, với 51.000 trường hợp được dự kiến vào năm 2008. “ Đó chỉ mới là những đánh giá. Các dữ kiện xác định chỉ được biết với 3 hay 4 năm chênh lệch ”, BS Juliette Bloch, thuộc INVS đã xác nhận như thế.

Rất là logic, các tiên đoán này xác nhận khuynh hướng được quan sát trong những năm qua : các ung thư càng ngày càng thường xảy ra nhưng càng ngày càng ít giết người hơn. Cách nay một năm rưỡi, INVS và Viện ung thư quốc gia đã công bố một co số các dữ kiện khổng lồ về chủ đề này. Giữa năm 1980 và 2005, các khối u ác tính đã gia tăng một cách đáng kể ở Pháp, đặc biệt là do sự gia tăng và lão hóa dân số. Nhưng may mắn thay, dịch bệnh đã được bù lại bởi một sự hạ thấp tỷ lệ tử vong 20% của các ung thư. Sự trái nhau giữa đường cong tỷ lệ tử vong và đường cong của những trường hợp mới, một phần lớn được giải thích bởi sự tiến triển mạnh của điều tra phát hiện các ung thư có tiên lượng tốt (như các ung thư của tuyến tiền liệt và vú) và sự thụt lùi của những khối u hung dữ (thực quản, dạ dày, miệng và họng), liên hệ với sự giảm uống rượu và hút thuốc lá.

Tính toàn bộ, gần 353.000 người Pháp được khám phá có một khối u ác tính vào năm 2008, trong khi số trường hợp mới được ước tính là 319.500 vào năm 2005. Về những trường hợp tử vong vì ung thư, con số là 145.500 vào năm 2008, hoặc 1.000 trường hợp ít hơn vào năm 2005.

GIẢM ĐIỀU TRỊ HORMONE CHỨNG MÃN KINH.

Các ung thư của tuyến tiền liệt thường xảy ra hơn hết và là ung thư đã tăng nhanh hơn hết nơi đàn ông trong 25 năm qua. Việc sử dụng tăng cường xét nghiệm PSA ở Hoa Kỳ đã gây nên sự gia tăng gấp đôi các tỷ lệ mắc bệnh trong 5 năm trước khi xảy ra sự giảm đột ngột.

Ở các phụ nữ, ung thư vú cũng tiếp tục theo đuổi sự tiến triển, nhưng ít mạnh hơn so với dự kiến, BS Bloch đã xác nhận như vậy. Theo một điều tra của Pháp được công bố năm 2008, tỷ lệ những ung thư vú đã giảm giữa năm 2004 và 2006. Cũng được chứng thực trong những nước khác, tiến triển này xảy ra đồng thời với sự giảm mức độ lớn các điều trị chứng mãn kinh bằng hormone.
(LE FIGARO 14/7/2009)

5/ UNG THƯ VÚ : HƯỚNG PHÂN TÍCH NƯỚC BỌT.

Thế thì tại sao nha sĩ không lấy vài giọt nước miếng của các bệnh nhân mình nhằm phát hiện một ung thư vú có thể xảy ra ? Nhóm nghiên cứu của Charles Streckfus, thuộc Dental Branch của đại học Houston (Texas, Hoa Kỳ), đã công bố những kết quả phân tích của các mẫu nghiệm được lấy từ nước miếng của 30 phụ nữ. Kết quả : các nhà nghiên cứu đã nhận diện được 49 protéine, phân biệt những phụ nữ chứng với các phụ nữ mang những u hiền hay ác tính. Ở Canada, trong mùa hè năm trước, Women’s College Hospital (Toronto) đã tiến hành một chương trình phát hiện ung thư vú bằng nước miếng, dành cho các phụ nữ thuộc những gia đình có nguy cơ. Các kết quả phân tích đang được tiến hành. Những nhóm nghiên cứu khác, như nhóm của Marscha Moses, thuộc Children’s Hospital de Boston (Hoa Kỳ), từ nhiều năm nay nghiên cứu để hiệu chính những xét nghiệm máu và nước tiểu. Với mục tiêu, những áp dụng cụ thể từ nay đến 5-10 năm nữa.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

6/ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN : MỘT PROTEINE MỞ ĐƯỜNG CHO PHÁT HIỆN SỚM.

Để định lượng trong nước tiểu, sarcosine, protéine vừa mới được nhận diện, sẽ cho phép phân biệt rất sớm một phì đại đơn thuần của tuyến tiền liệt với một ung thư.

Khám phá quan trọng này của một nhóm nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, thuộc đại học Ann Arbor, tiểu bang Michigan, sẽ mở đường cho một trắc nghiệm. Một hỗ trợ đáng kể đối với các thầy thuốc, hiện nay chỉ có 3 công cụ để phát hiện, ngay cả nếu được phối hợp, sẽ không cho phép chẩn đoán một cách chắc chắn : thăm khám trực tràng không có giá trị tiên đoán đầy đủ, định lượng PSA thiếu chính xác và các sinh thiết đôi khi vẫn không nói nên lời. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng một nồng độ PSA dưới 4ng/ml, mặc dầu được xem là bình thường, vẫn không loại bỏ được sự hiện diện của một ung thư tiền liệt tuyến đôi khi đã tiến triển.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 120, đề mục 8/ NƯỚC TIỂU CHO PHÉP ĐÁNH GIÁ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 117, đề mục 9/ MỘT CHẤT CHỈ DẤU TÍNH HUNG HÃN CỦA UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN TRONG NƯỚC TIỂU
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 95, đề mục 6/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : HƯỚNG VỀ MỘT XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU

7/ CHỨNG TRÁM CẢM HẬU SẢN ẢNH HƯỞNG LÊN 15% ĐẾN 20% CÁC BÀ MẸ.

Làm sao phân biệt chứng trầm cảm với baby-blue sau khi sinh ? Chứng trầm cảm hậu sản (dépression postnatale) ảnh hưởng 15% đến 20% các bà mẹ và có thể gây bệnh cho tất cả các phụ nữ ; nhưng chỉ dưới 2% các bệnh nhân thăm khám một chuyên khoa tâm lý : đó là điều được chứng thực bởi nhóm Allo Parents Bébé. Được phát động vào tháng hai năm 2008 bởi hiệp hội Enfance et Partage, “ từ 30 năm nay hoạt động để quyền lợi của các trẻ em được công nhận và bảo vệ ”, số điện thoại xanh, nặc danh và miễn phí này, giúp đỡ cho quan hệ bố mẹ-em bé, đã nhận được 9000 cú điện thoại từ lúc thành lập hội.

"Lúc sinh là giây phút rất đặc biệt." Donald Winnicott, thầy thuốc nhi khoa và nhà phân tâm học người Anh, đã giải thích rằng những phụ nữ có thai đều “ điên một cách bình thường ”, BS Linda Morisseau, thầy thuốc tâm thần nhi đồng- phân tâm học (pédosychiatre-psychanalyste), thuộc Institut de puériculture và périnatalité de Paris, đã giải thích như vậy. Baby-blues không nhất thiết là một bệnh trầm cảm, nhưng là một trạng thái tăng tính xúc cảm (hyperrémotivé). “ Nói chung, điều đó không nghiêm trọng và không cần một điều trị nào đặc biệt. Chỉ cần một ít sự chú ý của những người chung quanh ”, ở Hội Enfance et Partage người ta đã giải thích như vậy.

Vào lúc trầm cảm, nói chung người mẹ không chú ý đến em bé. Do đó việc phát hiện chứng trầm cảm này há không phải là rất quan trọng hay sao ? Các rối loạn , cảm giác rất mệt mỏi, cảm tưởng không có năng lực, không hoặc ít quyến luyến với em bé... là bấy nhiêu các triệu chứng cần phải được báo động. Và sự cô lập hay tình trạng đời sống bấp bênh lại còn làm tăng thêm hiện tượng này. Trong những trường hợp như vậy, không nên do dự thăm khám một thầy thuốc. “ Điều quan tâm là cần phải can thiệp nhanh, nhất là các bà mẹ thường không cho phép mình nói rằng họ thấy không được khỏe ”, BS Morisseau đã giải thích như vậy. Họ không nói điều đó với cha của em bé, cũng như với bố mẹ họ, với những người thân, ngay cả với nhà hộ sinh, là nơi chứng trầm cảm hiếm khi xảy ra, nhất là thời gian nằm lại sau khi sinh càng ngày càng ngắn.“ Tình trạng này xảy ra giữa tuần thứ sáu và cuối năm đầu sau khi sinh. Đại đa số các chứng trầm cảm hậu sản được cải thiện trong vài tuần, nếu bà mẹ nhận được một hỗ trợ về quan hệ và tình cảm ”, Enfance et Partage đã cảnh cáo như vậy.

NHỮNG TIẾNG GỌI THỐNG KHỔ.

Để trả lời các thắc mắc của các bố mẹ, Allo Parents Bébé thiết lập điện thoại xanh. “ Nhóm gồm 6 người nghe điện thoại, có một kỹ thuật trong quan hệ giúp đỡ ”, Françoise Rosenblatt, cựu y tá khoa Nhi đã giải thích như vậy. Trong 50% các trường hợp, người gọi là một bà mẹ trẻ dưới 30 tuổi có em bé mới sinh là đứa con đầu lòng. Từ 20% đến 25% các trường hợp là những lời kêu thống khổ thật sự của bố mẹ, bị vượt quá bởi sự đi đến của em bé trong cuộc đời họ.

“ Tôi đấu tranh để phát hiện trên thượng nguồn của quá trình sinh đẻ, do đó lợi ích của cuộc nói chuyện bắt buộc vào tháng thứ 4 của kỳ thai nghén ”, BS Micheline Blazy, thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản của bệnh viện Vésinet (Yvelines) đã nhấn mạnh như vậy.

Thường thường, trong trường hợp bị chứng trầm cảm hậu sản, các phụ nữ cảm thấy mặc cảm phạm tội vì đã không cảm thấy thích thú đối với những những chăm sóc cho em bé và ít cười với nó. “ Điều đó có thể rất phương hại cho em bé, vốn có một nhiệt tình tự nhiên đối với người khác, hau háu thèm muốn cái nhìn của mẹ, thế mà bà mẹ lại không trả lời, nếu như người cha ít có mặt, BS Morisseau đã xác nhận như thế. Nguy cơ là thấy đứa trẻ thu rút mình lại và cắt đứt với ngoại giới. ”
(LE MONDE 24/6/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 123, đề mục 8/ BABY BLUES (CHỨNG TRẦM CẢM SAU KHI SINH) VÀ HORMONE

8/ UNG THƯ LÀM ĐỂ CHỨNG TRẦM CẢM VỀ PHƯƠNG DIỆN SINH HỌC.

Những yếu tố, được tiết ra bởi vài loại khối u, có tác dụng làm dễ sự xuất hiện của chứng trầm cảm (dépression). Đó là kết luận của Leah Pyter và của các đồng nghiệp của đại học Chicago, sau một công trình nghiên cứu trên hơn 100 con chuột. Những con chuột, nơi chúng các nhà nghiên cứu đã kích thích nhằm tạo nên ung thư vú, đã có nhiều triệu chứng trầm cảm hơn những con chuột lành mạnh. Ở người, người ta đã nghĩ rằng chứng trầm cảm này là do tình trạng sốc xảy ra lúc bệnh ung thư được loan báo với bệnh nhân, do những tác dụng phụ của hóa học trị liệu, hay là do ảnh hưởng sinh học trực tiếp của khối u. Thí nghiệm trên chuột đã cho phép các nhà nghiên cứu chứng thực rằng khối u tiết cytokines với lượng lớn trong máu và trong não bộ của các con chuột bị bệnh ung thư.Thế mà những phân tử nhỏ được sản xuất bởi hệ miễn dịch này (cytokines) được biết là gây nên những triệu chứng trầm cảm.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

9/ BỀ DÀY CỦA VỎ NÃO TIÊN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER.

Một chỉ dấu rất mới, được tính từ bề dày của vỏ não, có thể tiên đoán sự xuất hiện của bệnh Alzheimer, nơi một bệnh nhân có những rối loạn nhẹ về trí nhớ (troubles légers de mémoire). Đó là kết luận của những công trình của một nhóm nghiên cứu Inserm de Toulouse, được công bố trong tạp chí Brain. “ Thật vậy, tính thay đổi nơi từng cá thể của các cấu trúc não bộ như thùy hải mã (hippocampe) (đầu tiên bị thương tổn trong bệnh Alzheimer và được nghiên cứu nhiều nhất) là quá lớn lao, nên không thể kết luận ở mức cá thể, Pierre Celsis, giám đốc nghiên cứu, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Chúng ta phải tìm một chỉ dấu chắc chắn hơn. ” Đó là điều đã đuợc thực hiện.

Bằng cách so sánh các IRM não bộ của 3 nhóm người 75 tuổi, hoặc lành mạnh, hoặc bị rối loạn nhẹ về trí nhớ hoặc bị bệnh Alzheimer được xác nhận, một logiciel đã tính bề dày của vỏ não trong những vùng não bộ được biết là nhạy cảm với bệnh Alzheimer và từ đó đã suy ra một “ index d’épaisseur normalisé ” (IEA) (chỉ dấu bề dày bình thường). Những kết quả, hai năm sau : “ Nơi những người bị rối loạn nhẹ về trí nhớ và đã tiến triển về phía bệnh Alzheimer, IEN đã tiên đoán sự thoái hóa thần kinh trong 76% các trường hợp ! Pierre Celsis đã tuyên bố như vậy. Thế mà, ta biết rằng nơi những người có một đời sống kích thích về trí tuệ, các cơ chế nhận thức (mécanismes cognitifs) bù trừ sự teo não bộ và làm chậm lại chẩn đoán. Vậy đối với những người này, IEN sẽ tránh một sự chậm trễ trong điều trị. Đó là điều chủ yếu, mặc dầu người ta chưa tìm ra thuốc thật sự có hiệu quả để điều trị bệnh này.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 90, đề mục 3/ MỘT LOGICIEL ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH ALZHEIMER

10/ SỰ SUY DINH DƯỠNG LÀM NGUY HẠI SỰ ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐT RÉT.

Sự phối hợp sulfadoxine và pyriméthamine được chủ xướng trong nhiều vùng trên thế giới để điều trị dự phòng bệnh sốt rét nơi các trẻ em nhỏ tuổi. Nhưng sự suy dinh dưỡng làm nguy hại đến các cơ may thành công của điều trị phòng ngừa, như đã được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu, được tiến hành ở Ghana, nơi 1.200 trẻ em từ 3 đến 15 tháng, được theo dõi đến năm 2 tuổi. Các tỷ lệ hiệu quả gần như bị giảm còn một nửa trong trường hợp suy dinh dưỡng và nguy cơ xuất hiện các thể sốt rét nặng gia tăng rõ rệt.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/7/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#12 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 26 July 2009 - 10:40 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/CÚM A (H1N1) : OMS TIÊN ĐOÁN 2 TỶ NGƯỜI BỆNH.

PANDEMIE. Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng trong hai năm đến sẽ có 2 tỷ người bị bệnh cúm mới.

Chúng ta vẫn đang còn ở giai đoạn đầu tiên hết của đại dịch gây nên bởi virus A (H1N1) và khó khăn nhất có lẽ là giai đoạn sắp đến. Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc OMS, hôm qua ước tính rằng hai tỷ người trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiễm trùng này trong hai năm đến. Những lời đoán trước, được căn cứ trên tính chất cực kỳ nhanh chóng của sự lan truyền của virus, chỉ 4 tháng sau khi xuất hiện ở Mễ Tây Cơ, chẳng bao lâu nữa sẽ giáng lên toàn bộ các đất nước của hành tinh : 160 quốc gia trong số 193 các nước thành viên của OMS từ nay đều bị liên quan bởi bệnh cúm mới này. Theo Grégory Hartl, phát ngôn viên của OMS, đã có gần 800 trường hợp tử vong trong số hàng trăm ngàn người đã bị lây nhiễm bởi bệnh cúm này. Mặc dầu tỷ lệ tử vong dường như thấp, nhưng tỷ lệ này chưa được đo lường một cách chính xác, vì số lượng chính xác của những người đã bị nhiễm trùng vẫn không rõ ràng. Virus, rất dễ gây lây nhiễm, trong đại đa số các trường hợp chỉ gây nên những rối loạn nhẹ, có thể không được nhận biết, tuy nhiên với một tỷ suất thấp những trường hợp nặng, đến nay vẫn chưa được định số một cách rõ ràng.Vả lại, đó là điều mà phát ngôn viên của OMS đã xác nhận hôm qua lúc nói rõ rằng “ càng có nhiều trường hợp thì càng sẽ có nhiều tử vong ”, mặc dầu không có thể đưa ra một tỷ lệ tử vong nào. “ Chúng ta không có tử số cũng không có mẫu số để có thể tính toán ”, ông công nhận rằng “ nhiều câu hỏi vẫn luôn luôn không có câu trả lời ”.

MỐI ĐE DỌA CỦA MỘT THỂ BỆNH NẶNG HƠN.

Hiện nay có hai mối đe dọa. Mối đe dọa đầu tiên là mối đe dọa của một dịch bệnh hoạt động được báo trước và dường như không thể tránh được, ngay vào tháng 9, với nguy cơ chính yếu là sự rối loạn xã hội-kinh tế (mà tầm quan trọng vẫn còn khó để đánh giá hết) nếu nhiều người ăn lương, công nhân viên, cán bộ bị mắc bệnh cùng lúc. Và với một tỷ lệ tử vong nào đó, mặc dầu vẫn còn được giới hạn.

Mối đe dọa khác, đó là sự biến dị của virus A (H1N1) thành một dạng nghiêm trọng hơn và khi đó gây nên một số lượng người chết quan trọng hơn nhiều. Thí dụ, trận đại dịch toàn cầu 1918 gây chết người khủng khiếp, đã được đi trước bởi một trận dịch mùa hè tương đối hiền tính. Tuy nhiên, những trận đại dịch năm 1957 và 1968 đã không hề biết đến một tình huống như vậy và virus gây bệnh đã không biến dị để trở thành độc lực hơn. “ Chúng ta phải biết rằng có thể có những thay đổi và chúng ta phải sẵn sàng đối đầu với điều đó ”, phát ngôn viên của OMS đã nói như vậy. “ Đến nay, chung ta đã không quan sát thấy một sự thay đổi nào trong hành vi của virus. Điều mà chúng ta đang quan sát thấy, đó là sự bành trướng về mặt địa lý của nó ”.

Với giả thuyết về một sự biến dị như thế, thì tính hiệu quả của vaccin đang được chế tạo sẽ ra sao ? Hiện nay không ai có thể đáp lại câu hỏi này. Nhưng chúng ta biết rằng, vào trận đại dịch năm 1918, những người, vốn đã bị lây nhiễm trong giai đoạn mùa hè và đã chỉ bị một thể bệnh hiền tính, đã có được một khả năng miễn dịch nào đó khi virus đã trở thành độc lực hơn.
( LE FIGARO 25-26/7/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : CÓ THỂ LÂY NHIỄM 20 TRIỆU NGƯỜI PHÁP TỪ NAY ĐẾN CUỐI NĂM.

Đó là một dạng cúm độc lực trung bình, nhưng lan tràn với tốc độ rất cao.

Xét vì tốc độ lan tràn của virus A (H1N1), nhà cầm quyền Pháp tiên đoán rằng 20 triệu người, hoặc gần 1/3 dân số quốc gia (65 triệu), có thể bị lây nhiễm bởi đại dịch cúm mới từ nay đến cuối năm, thay vì 2,5 triệu thường bị lây nhiễm hàng năm bởi cúm mùa.

Theo thông báo sau cùng của INVS (Institut national de veille sanitaire), được xác lập hôm 21/7, 793 trường hợp cúm A (H1N1) dương tính đã được thống kê ở Pháp cho đến nay, trong đó 103 trường hợp ở các lãnh thổ hải ngoại.

Do việc di chuyển của hàng triệu người đi nghỉ hè, nhà cầm quyền châu Âu dự kiến một sự lan tràn mạnh mẽ của cúm A (H1N1) trên lục địa trong suốt mùa hè, và chuẩn bị các chiến dịch tiêm chủng có trọng điểm trong mùa thu tới. Uỷ viên y tế, Androulla Vassiliou, đã loan báo hôm thứ tư 22/7 rằng một hội đồng bất thường các bộ trưởng của Liên Hiệp châu Âu đã được triệu tập vào đầu tháng mười để thông qua những quyết định cần thiết. Bà ủy viên y tế nhắc lại rằng hiện nay chưa có vaccin và yêu cầu các người dân châu Âu hãy “ giữ bình tỉnh ”, rửa tay và tránh các đám đông to lớn. Ở Pháp, chính phủ chuẩn bị ngay từ tháng chín một đội hình chiến đấu y tế và hậu cần quan trọng.

Hôm thứ tư 22/7, nhân một cuộc họp báo, bà bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot, đã tuyên bố không loại bỏ việc “ chuyển qua cấp 6 của kế hoạch quốc gia phòng ngừa và chống đại dịch cúm vào tháng 9, dĩ nhiên là trừ trường hợp chúng ta quan sát thấy một sự gia tốc nhanh chóng của dịch bệnh trong tháng 8 ”

Mãi đến nay, chính phủ Pháp đã quyết định duy trì kế hoạch quốc gia chống đại dịch ở cấp 5A. Việc chuyển qua cấp 5 B (sự lan tràn quan trọng của virus) hay 6 (toàn đại dịch) hàm ý một loạt các biện pháp nặng nề hơn (tăng cường kiểm tra ở biên giới, đình chỉ việc đi và đến của những hành khách quốc tế, đóng cửa nhà trẻ và trường học, đình chỉ hay giảm bớt vài phương tiện vận chuyển công cộng...). Tuy nhiên phải nhớ rằng kế hoạch này đã được thiết lập trong bối cảnh của một đại dịch cúm gia cầm A (H5N1), nguy hiểm hơn nhiều. Trong trường hợp chuyển qua cấp 5B hay 6 để chống lại virus A (H1N1), một phần của những biện pháp này có lẽ có thể được làm nhẹ bớt.
( LE MONDE 24/7/2009)

3/ CÚM A (H1N1): 200.000 NGƯỜI ANH CÓ THỂ ĐÃ MẮC NHIỄM VIRUS. MỘT KỊCH BẢN TAI ƯƠNG DỰ KIẾN 65.000 NGƯỜI CHẾT.

Mối hoảng sợ đã xâm chiếm các hòn đảo của Vương quốc Anh. Người ta đã đếm được 30 trường hợp tử vong (26 ở Anh, 4 ở Ecosse) gây nên bởi cúm A (H1N1). Hiện nay Anh là nước châu Âu bị ảnh hưởng nhất bởi đại dịch.Chỉ riêng ở Anh, 840 người được nhập viện, trong đó 63 người được đưa vào khoa điều trị tăng cường (ICU), bộ trưởng y tế hôm thứ năm 23 tháng 7 đã loan báo như vậy. Và trong 7 ngày vừa qua, 100 .000 người mới đã có những triệu chứng của bệnh cúm. Hoặc gần như gấp hai lần nhiều hơn so với tuần trước (cũng đã thấy con số này tăng gấp hai). Vậy tính toàn bộ, đến nay có hơn 200.000 người Anh có thể đã mắc phải bệnh (nhưng chưa được chính thức chẩn đoán như là bị nhiễm bởi virus).

Với nhịp độ này, Andy Burnham, bộ trưởng y tế Anh tiên đoán, “ chúng ta sẽ thấy hơn 100.000 trường hợp mỗi ngày từ nay đến cuối tháng tám ”. Và hơn 12% những người ăn lương buộc phải ở nhà vào tháng 9, khi 30% dân số (và 50% các trẻ em) sẽ bị nhiễm bệnh. Do đó Sở Y tế công cộng (NHS : National Health Service) được yêu cầu chỉnh đốn đội hình tác chiến để đối phó với kịch bản tai họa được thể hiện bởi 65.000 người chết.

Trong một tài liệu 59 trang, nhằm cung cấp “ một khung để quản lý những trường hợp tử vong ”, chính phủ đã dự kiến tất cả. Người ta dự kiến biến đổi thành “ những nhà xác tạm thời ” những nơi vốn không được sử dụng vào việc này. Chính phủ cũng đề nghị rằng các linh mục tổ chức những “ lễ tang ngắn ngủi ” hơn thường lệ nhằm tránh gây ứ đọng.Và xem “ có thể (đối với các nhà hỏa táng) làm việc 24 giờ trên 24 và 7 ngày trên 7 hay không ”.

Nước Anh là quốc gia “ được chuẩn bị tốt nhất ” trong cuộc đấu tranh chống lại đại dịch, Gorgon Brown đã nhấn mạnh như thế. Nhưng trong Sở Y tế (NHS), theo một thăm đò được thực hiện bởi chính cơ quan, chỉ 4 nhân viên y tế trên 10 nghĩ là được trang bị để đương đầu với một sự tăng cao mới của số lượng các bệnh nhân. Và việc mở một “ hot line ” đặc biệt về cúm A (H1N1), nhằm làm nhẹ gánh các thầy thuốc gia đình đang bị tràn ngập, sẽ không mang lại phép nhiệm màu. Ngoài ra 1.500 người giữ tổng đài, với nhiệm vụ thực hiện chẩn đoán qua điện thoại trước khi cấp Tamiflu cho các người gọi, lại không có một đào tạo y khoa nào cả.
( LE MONDE 25/7/2009)

4/ CÚM A (H1N1) : CÓ NÊN CỐ Ý TIẾP XÚC VỚI VIRUS ?

Ở châu Âu và ở Hoa Kỳ xuất hiện một phong trào ủng hộ việc lây nhiễm tự nhiên (contamination naturelle).

Mặc dầu không được các thầy thuốc khuyến nghị, phương cách này nhằm mắc bệnh dưới dạng đang còn hiền tính.


Ý tưởng đơn giản và có thể được thực hiện một cách thích thú. Đó là mời tham dự dạ vũ một hay nhiều người bị cúm A (H1N1). Người ta có thể ăn tối, bông đùa, trò chuyện thân mật. Nhưng điều chủ yếu là làm dễ việc tiếp xúc vật lý, là ôm hôn nhau và nếu nhảy nhót, đặt ưu tiên cho điệu nhảy chậm (slow), trong đó các người nhảy ôm sát vào nhau nhất. Bởi vì mục tiêu là rõ ràng : nhờ các thượng khách, những người mang bệnh cúm, buổi dạ vũ hẳn phải cho phép một sự lây nhiễm tối đa những người tham dự.

Họ đến tự ý. Họ muốn mắc phải bệnh. Họ mong muốn bị lây nhiễm bây giờ, trong khi virus không quá độc lực, hơn là vào mùa thu tới, khi đó có nguy cơ nghiêm trọng hơn nhiều. Điều đó được gọi là sự lây nhiễm tự ý (contamination volontaire), một loại tiêm chủng tự nhiên (vaccination naturelle), nhằm sinh ra những kháng thể càng nhanh càng tốt để đề kháng tốt hơn về sau này. Các người Anglo-Saxons gọi đó là “ dạ hội cúm ” ( “ swine flu parties ”, “ soirées grippe ”, “ fêtes grippe porcine ” ).

Cộng đồng khoa học đồng ý : virus, phối hợp những yếu tố của cúm người, heo và gia cầm, từ nay không có thể ngăn chặn được nữa. Không có nước nào sẽ thoát khỏi. Đang trong mùa đông Nam cực, Úc đại lợi hiện nay là nước bị ảnh hưởng nhất của vùng Thái bình dương. Xét rằng không gì sẽ có thể ngăn chận được toàn đại dịch, OMS hôm 13/7 đã bật đèn xanh cho các xí nghiệp dược phẩm để chế tạo các vaccin. Nhân viên y tế phải được điều trị ưu tiên.

Chính để tránh dạng hoạt tính nhất của virus, được dự kiến vào mùa thu và mùa đông sắp đến, ở Châu Âu và ở Bắc Mỹ, mà các “ dạ vũ cúm ” đã được tổ chức. Báo Le Monde đã hỏi một số các chuyên gia về phương thức kỳ lạ này. Ý kiến nhất trí : không ai khuyên đùa giỡn như vậy với virus, ngay cả dưới dạng hiền tính nhất của nó.

“ Việc tạo ra các nguy cơ cho người ta, nhất là các trẻ em là một sai lầm to lớn ”, Richard Besser, giám đốc của các trung tâm kiểm tra và phòng ngừa các bệnh tật ở Hoa Kỳ đã nói như vậy.

“ Ngay khi chúng ta đã biết, qua những dữ kiện dịch tễ học và các quan sát trong các khoa phòng bệnh viện, rằng chúng ta đã đương đầu với một dạng cúm hiền tính, thì vấn đề này đã ló hiện ra", GS François Bricaire, phụ trách một trong các khoa dịch bệnh nhiễm trùng, thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã giải thích như vậy. Nếu biết rằng chúng ta sẽ có thể phải đối đầu với một làn sóng thứ hai nặng hơn vào mùa thu tới, thì không phải là hoàn toàn không hợp lý khi tự bảo : “ Chúng ta hãy cứ để mắc bệnh lần này, bởi vì nếu nhiều người có các kháng thể, thì điều đó sẽ đơn giản hóa việc tiêm chủng trong tương lai ”.

Giám đốc Trường cao học y tế công cộng và là chuyên gia dịch tễ học, G.S Antoine Flahaut cũng công nhận rằng “ Những người nào sẽ bị mắc bệnh cúm A (H1N1) sớm, sẽ có nhiều lợi thế : có thể nói là họ sẽ được tiêm chủng trước những người khác. Hơn thế nữa, nếu họ bị một bệnh cúm với các biến chứng, thì có lẽ tốt hơn điều này nên xảy ra vào lúc mà các bệnh viện không bị tràn ngập ”.

Nguyên tắc gây miễn dịch tự nhiên bằng cách tiếp xúc với một người mang một virus, đã nẩy nở trong các quốc gia anglo-saxon, chung quanh bệnh thủy đậu (varicelle) (chickenpox). Các “ chickenpox parties ” đã phát triển cho đến những năm 1990, trong khi không có vaccin chống lại bệnh thủy đậu : các người dự tiệc tập hợp các đứa con mình chung quanh bệnh nhân mang các bọng nước (vésicules), dấu hiệu của nhiễm trùng bởi virus của họ herpès.

Ý tưởng này đã tồn tại đặc biệt trong những gia đình không thích vaccin hay nơi những người nghĩ rằng tính miễn dịch tự nhiên mạnh hơn tính miễn dịch do một sản phẩm được chế tạo ở phòng thí nghiệm. Ý tưởng này vẫn tiếp tục được truyền bá trên các sites Internet, kể cả đối với bệnh cúm.

Những người cổ xướng phương thức lây nhiễm tự nhiên này đặc biệt đưa ra một cuốn sách, The Great Influenza, của John M.Barry, được công bố năm 2004, sách kể rằng những người vốn đã mắc bệnh cúm Tây Ban Nha vào năm 1918 vào lúc làn sóng đầu tiên, xảy ra vào mùa xuân, với độc lực tương đối vừa phải, đã được che chở vào hai đợt dịch bệnh nghiêm trọng hơn nhiều, xảy ra nối tiếp nhau vào mùa đông sau đó.

Về các “ swine flu parties ”, giám đốc CDS, Richard Besser xác nhận rằng sẽ là sai lầm to lớn khi gây các nguy cơ lên người ta và các trẻ em. Đó là một căn bệnh mới, mới phát khởi (émergente), và mỗi ngày chúng ta học hỏinhiều hơn về nó ”.

“ TÔI SẼ KHÔNG LÀM ĐIỀU ĐÓ CHO TÔI ”

Trong cùng chiều hướng đó, G.S Flahault cho rằng “ chúng ta không rõ lắm về độc lực của virus A (H1N1). Thí dụ, ở Pháp, các dữ kiện của các giấy khai tử chỉ tường trình một phần nhỏ về số các trường hợp tử vong do bệnh cúm, dầu đó là cúm mùa hay là virus mới ”. Phần lớn, chỉ những biến chứng nhiễm trùng của bệnh cúm (viêm phổi, viêm phế quản..) là xuất hiện trên hồ sơ.

Việc tự ý làm mắc bệnh cúm không phải là vô hại. Mặc dầu các chuyên gia nhất trí nói rằng các con số chính thức các trường hợp được xác nhận và tử vong là xa với thực tế, nhưng các dữ kiện của OMS cho thấy rằng cứ một ngàn trường họp thì có một tử vong. “ Nếu mắc bệnh cúm bất cứ giá nào là một loại thuốc, thế thì người ta có sẽ chấp nhận rằng thứ thuốc này sẽ dẫn đến tử vong với nhịp điệu này hay không ?", BS Jean- Marie Cohe, điều phối viên quốc gia của Groupes régionaux d’observation de la grippe (GROG) đã nêu câu hỏi như thế.

Ngoài lợi ích cá nhân khả dĩ mà một người có thể có được do một sự lây nhiễm sớm với virus, cũng phải nghĩ về mặt đạo đức : một người bị nhiễm trùng có thể truyền virus chung quanh mình và phát khởi nơi những người có sức khỏe mỏng manh nhất, một căn bệnh có khả năng gây chết người. Cố ý để lây nhiễm virus A (H1N1) ? “ Thú thật, tôi sẽ không làm điều đó cho tôi hay cho gia đình tôi, BS Cohen tiếp tục nói. Ngược lại, nếu có bị mắc phải cũng không phải là một thảm họa. Không có gì phải hoảng sợ, không cần phải thay đổi các thói quen vốn có hay những dự định của mình, nhất là các dự tính nghỉ hè.”

Một thái độ được xác nhận bởi G.S Bricaire : “ Con gái tôi hỏi tôi nó có phải duy trì một cuộc du lịch được dự kiến đi Argentine hay không. Sau khi tham khảo ý kiến với các nhà nghiên cứu đồng nghiệp, tôi đã bảo nó đừng hủy bỏ cuộc hành trình. ”
( LE MONDE 15/7/2009)

5/ “ SỰ GIÀ CẢ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CĂN BỆNH CẦN PHẢI ĐIỀU TRỊ ”

Hỏi : Ông nghĩ gì về việc tăng gia các điều trị được gọi là chống già (traitement anti-âge) ?
Claude Jeandel : Từ ngữ chống già (anti-âge) có thể làm tin tưởng một cách sai lạc rằng sự lão hóa là một căn bệnh cần phải chống lại, và rằng có thể chữa được nó. Chúng ta đứng trước một vấn đề biểu tượng cá nhân (représentation personnelle). Hình ảnh mà ta có về chính mình phải chăng chỉ được căn cứ trên cái bề ngoài thể xác ? Chúng ta không thể cảm thấy lành mạnh mà không cần phải trẻ và tuyệt vời hay sao ?

Hỏi : Nhiều người đã nhờ đến hormone liệu phát tăng cường (hormonothérapie intensive), đến các chất bổ sung ăn uống (compléments alimentaires)...Há không phải người ta đi quá xa, quá nhanh chăng ?
Claude Jeandel : Nếu không có những thiếu hụt thật sự các vitamine hay các vi yếu tố (oligo-éléments), thì không có chỉ định cần đến những sự bổ sung như thế, vì nguy cơ có thể sinh ra những biến chứng do một sự quá liều. Về các hormone, các mức độ chứng cớ về tính hiệu quả và vô hại của chúng hiện nay không được đầy đủ.

Hỏi : Già khỏe (bien viellir) nghĩa là gì ?
Claude Jeandel : Đó là đạt đến một tuổi cao mà vẫn khỏe mạnh, với tất cả các năng lực của mình. 20% đến 25% những người lớn tuổi đạt được điều đó. Để được như vậy phải gìn giữ tối đa các dự trữ chức năng (réserves fonctionnelles) của mình.

Hỏi : Ông hiểu như thế nào là “ các dự trữ chức năng ” ?
Claude Jeandel : Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta chỉ huy động khoảng 30% năng lực chức năng (capacités fonctionnelles) của chúng ta và do đó, chúng ta có một giới hạn an toàn (marge de sécurité), được đánh giá là khoảng 70% của các năng lực tối đa. Chính đó là dự trữ chức năng (réserve fonctionnelle). Chúng ta sử dụng nguồn vốn này để đương đầu với những cuộc tấn công vào sức khỏe của chúng ta. Tiềm năng này tạo cho chúng ta những khả năng lấy lại sức và hồi phục. Một sự suy giảm nguồn dự trữ này làm cho chúng ta mỏng manh yếu ớt.

Hỏi : Làm sao tối ưu hóa nguồn dự trữ chức năng này ?
Claude Jeandel : Cốt yếu đó là sự phòng ngừa. Phòng ngừa các bệnh tim mạch và các ung thư, bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ và nhất là một chế độ ăn uống thích nghi. Phòng ngừa tình trạng déconditionnement physique et cognitif xảy ra lúc về hưu, bằng cách thực hiện đều đặn một hoạt động vật lý và trí tuệ. Ngăn ngừa những thiếu hụt về cảm giác, thính giác và thị giác, bằng sự theo dõi y tế. Nhưng cũng ngăn ngừa những mất mát về mặt tình cảm, quan hệ, xã hội và nghề nghiệp, bằng những chiến lược cần phải suy nghĩ đến trước khi ngừng làm việc.

Đặc biệt nên duy trì sự ham muốn, động cơ, hành động. Thiếu những cái đó, chúng ta sẽ trượt về hướng sự lão hóa “ thông thường ”, nghĩa là buông trôi dần, mất dần các chức năng, do mất quá trình xã hội hóa (désocialisation), sự cô đơn cô độc.

Hỏi : Thiết lập các lớp tuổi (classes d’âge), thứ 3, thứ 4 và cả thứ 5, có là một điều tốt hay không ?
Claude Jeandel : Không, bởi vì cuộc sống là một chuỗi liên tục không khúc đoạn (un continuum non segmenté). Quan điểm chia thành các lớp tuổi chỉ duy trì những bản đúc (stéréotypes) xã hội-văn hóa, chuyên chở những hình ảnh âm tính về tiến trình cao tuổi. Cái nhìn này ngăn vách các thế hệ và không mang lại sự gặp gỡ nhiều thế hệ (rencontre multigénérationnelle). Tốt hơn là nên gợi ra một chuỗi liên tục từ lúc sinh ra đến lúc lìa đời, được hỗ trợ bởi một dự kiến của cuộc sống cá nhân. Đó là một điều kiện cần thiết để cho một sự liên đới giữa các thế hệ có thể thực hiện được.
( SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

6/ KHÔNG CÓ MỐI LIÊN HỆ GIỮA SỐC TÂM LÝ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA MỘT KHỐI U UNG THƯ.

Trái với vài niềm tin trong dân gian, một công cuộc điều tra rộng lớn vừa cho thấy rằng không hề có một mối liên hệ nào giữa sốc tâm thần (choc psychique) và ung thư cả.

Đó là một ý tưởng phổ biến trong công chúng và nơi các người bệnh : tang chế, stress hay một rối loạn nhân cách, thậm chí một chứng trầm cảm có thể là những yếu tố gây nên sự xuất hiện của một ung thư.

Ở Úc, 40 % các phụ nữ được hỏi nghĩ rằng stress có thể là nguồn gốc của một ung thư vú. Vào đầu tháng sáu 2009, tạp chí dịch tễ học và y tế công cộng vừa cho công bố một tổng hợp 32 công trình nghiên cứu, là một gáo nước lạnh thật sự đối với những người bảo vệ của nguyên nhân này : 18 trong những công trình nghiên cứu này không cho thấy một mối liên hệ nào giữa các yếu tố “ tâm thần ” và nguy cơ bị ung thư cả, 6 công trình nghiên cứu chỉ tìm thấy sự liên kết có ý nghĩa trong một hay nhiều nhóm, và 4 điều tra cho thấy cả một mối quan hệ ngược đối với các ung thư phụ nữ (ít nguy cơ bị ung thư hơn nơi những người bị stress).

Ngay năm 1999, một phân tích méta 11 cuộc điều tra về mối liên hệ giữa những biến cố khó khăn của đời sống và ung thư vú, hướng vào tình trạng tang chế và nguy cơ ung thư. “ Khuynh hướng được quan sát là khuynh hướng của một sự giảm nguy cơ ung thư vú với thời gian sống góa phụ ”, G.S Simon Schraub, một trong những tác giả đã nhận xét như vậy. Một trong những điều tra được thực hiện trên 4.905 góa phụ : phân tích kết luận rằng sự vắng mặt nguy cơ tử vong do ung thư vú, cao hơn nơi các góa phụ so với những người chứng.

Công trình nghiên cứu về stress, được cảm nhận, giữa năm 1968 và 1969, nơi 1.462 phụ nữ Thụy Điển, tuổi từ 38 đến 60, cũng như điều tra trên một nhóm các phụ nữ Thụy điển đã bị mất con, cũng như điều tra về stress nghề nghiệp trên 69.886 nữ y tá Hoa Kỳ, đã không cho phép tiên đoán một tỷ lệ gia tăng mắc phải ung thư vú.

Nhân cách (personnalité) và những rối loạn tâm lý cũng là một giả thuyết đã được đưa ra như là có thể tạo điều kiện hay là nguyên nhân của ung thư (nhất là ung thư vú). Sự khó khăn trong việc diễn đạt các cảm xúc tình cảm, một sự ức chế cơn giận dữ, một thái độ mất hy vọng, một sự hy sinh nhu cầu riêng của mình cho nhu cầu của những kẻ khác đã được đưa ra như là nguyên nhân phát khởi ung thư.

Nhưng theo Simon Schraub, công trình nghiên cứu những nguyên nhân tử vong nơi các người lính Hoa Kỳ được cho phục viên năm 1944 vì loạn thần kinh (névrose), cũng như công trình nghiên cứu nhân cách (personnalité) của những phụ nữ được gọi lại sau khi được chụp vú để phát hiện ung thư, đã không cho những kết quả có sức thuyết phục.

Một hướng cuối cùng được phân tích : chứng trầm cảm và ung thư. Ở đây cũng vậy, trên 7 công trình nghiên cứu được tham khảo bởi các nhà nghiên cứu người Pháp, có 4 là âm tính, và một công trình tìm thấy một mối nguy cơ bị ung thư ít cao hơn nơi những người bị trầm cảm !
( LE FIGARO 14/7/2009)

7/ CÂU CHUYỆN LẠ KỲ CỦA CÔ BÉ CÓ HAI TRÁI TIM.

TRANSPLANTATION. Sự cắt bỏ trái tim được ghép của Hannah, do bị những biến chứng nghiêm trọng, đã đưa đến sự chữa lành kỳ lạ của trái tim tự nhiên, bị bệnh từ lúc sinh ra đời.

Hannah Clark được 16 tuổi, và cô kiếm tiền tiêu vặt nhờ giữ các động vật nuôi trong nhà. Mùa hè năm nay cô cùng gia đình đi biển. Xa các thầy thuốc, các bệnh viện, xa, rất xa cái số phận bi thảm đã hứa hẹn với cô chỉ ít lâu sau khi sinh ra đời. Bởi vì Hannah là một người được phép nhiệm màu của nền y học hiện đại, cô được chữa lành một bệnh cơ tim của nhũ nhi (cardiomyopathie du nourrisson), đáng lý đã phải giết chết cô.

Sinh tháng 5 năm 1993 ở Mountain Ash, gần Cardiff ở xứ Galles, Hannah được mang đến phòng cấp cứu vào tháng giêng năm 1994, ở bệnh viện Harefield (Middlesex), chuyên về các bệnh tim và phổi : khi đó cô có tất cả những triệu chứng của một suy tim nặng. Hannah bị một bệnh của tim, một bệnh cơ tim (cardiomyopathie) (thường xảy ra nhất trước tuổi 12 tháng) có tiên lượng rất u tối.

Ngay sau khi được ghi tên lập tức lên một danh sách chờ đợi của những trường hợp siêu cấp cứu (superurgences) để được ghép tim, Hannah được mổ vào tháng 7 năm 1995. G.S Magdi Yacoub, thầy thuốc tiền phong người Anh về ghép tim và phổi, đã thiết đặt trong ngực của cô bé một trái tim của người cho (từ một em bé 5 tháng), nhưng thay vì lấy trái tim bị bệnh ra khỏi lồng ngực của cô bé, ông để nó lại tại chỗ. Trái tim ghép tí xíu được thiết đặt nằm song song với trái tim bệnh và đóng vai trò của một hỗ trợ tâm thất (assistance ventriculaire) để giúp tim bị bệnh đẫy máu trong cơ thể.

Trong 4 năm trời, tim ghép này hoạt động một cách tuyệt hảo. Dĩ nhiên, Hannah, cũng như mọi bệnh nhân được ghép khác, phải dùng những thuốc chống thải bỏ (médicaments antirejets) để đảm bảo một sự hủy bỏ miễn dịch đầy đủ để cơ thể không thải bỏ trái tim được ghép. Trái tim bệnh của cô phục hồi và hoạt động trở lại một cách thỏa mãn.

Nhưng vào tháng 8 năm 2001, một vận khắc nghiệt mới : Hannah là nạn nhân của một biến chứng cổ điển của các thuốc chống thải bỏ này. Thật vậy người ta chẩn đoán nơi cô một dạng tim được mệnh danh là “ hội chứng tăng sinh tế bào lympho ” (syndrome lymphoprolifératif), một khối u ác tính, được hoạt hóa bởi virus Ebstein-Barr, đã xuất hiện trong cô nhờ tác dụng của các thuốc làm giảm miễn dịch.

“ 12 GIỜ ĐỂ SỐNG ”

Vào lúc 8 tuổi, hai trái tim của Hannah dường như hoạt động một cách bình thường, nhưng ung thư thứ phát này tiếp tục tiến triển. Khối u “ sáng ngời lên ”, và đe dọa mạng sống của cô bé. Nhiều hóa học liệu pháp chống ung thư dầu sao cũng thành công kềm chế được căn bệnh, mặc dầu không làm biến mất nó hoàn toàn. Vào tháng giêng 2003, một đợt tái phát của ung thư đòi hỏi lần nữa một đợt điều trị chống ung thư. Trong hai năm trời, cuộc chiến đấu của Hannah được tiếp tục không ngừng.

Như thể như thế chưa đủ, năm 2005, siêu âm tim kiểm tra làm lo ngại nhiều thầy thuốc : trái tim tự nhiên của cô gái nhỏ tiếp tục làm việc tốt, những trái tim được ghép cho những dấu hiệu mệt mỏi không thể chối cãi.

Thật vậy, để làm ngưng sự tiến triển của ung thư, các thầy thuốc đã giảm những liều thuốc làm suy giảm miễn dịch và trái tim ghép không còn được bảo vệ chống lại sự thải bỏ nữa. Giải pháp duy nhất để thoát khỏi cái vòng qủy quái này, đó là lấy đi trái tim được ghép, ngưng các loại thuốc “ nuôi dưỡng ” khối u, và hy vọng rằng trai tim nguyên thủy có khả năng làm việc một mình.

Một toan tính lấy trái tim ghép ra đã không bao giờ được thực hiện. Tuy vậy, vào tháng hai 2006, G.S Magdi Yacoub đã mổ lấy nó ra ở Great Ormond Street Hospital de Londres. Paul, bố của Hannah, trong một cuộc họp báo ngày hôm kia ở Luân Đôn, đã nhớ lại rằng, một cô y tá khi đó đã nói với ông rằng “ con gái ông chỉ còn sống 12 giờ nữa mà thôi ” và ông đã trả lời với cô ta : “ Hãy tin vào điều mà cô muốn, và còn tôi, tôi tin vào điều mà tôi muốn ”. 3 năm rưỡi sau khi lấy bỏ trái tim được ghép, mà không có nó người ta nghĩ rằng cô sẽ không còn có thể sống được nữa, nhưng Hannah vẫn luôn luôn mạnh khỏe và sống giữa một đám bạn bè. Theo GS Yacoub, phép nhiệm màu y khoa này chứng tỏ khả năng của những ghép tim tạm thời trong lúc chờ đợi một sự chữa lành ngẫu nhiên của trái tim bị bệnh.
( LE FIGARO 15/7/2009)


8/ BÉO PHÌ TỪ MẸ ĐẾN CON GÁI VÀ TỪ CHA ĐẾN CON TRAI.

SANTE. Theo một công trình nghiên cứu của đại học y khoa Plymouth, các đứa con bắt chước thái độ ăn uống (comportement alimentaire) của những người sinh thành cùng giới tính, nhưng không đối với người thuộc giới tính đối lại.

Mẹ thế nào thì con gái như thế đó, cha ra sao thì còn trai như vậy. Đó là một trong các kết luận của công trình nghiên cứu về chứng béo phì, vừa được thực hiện bởi trường y thuộc đại học Plymouth. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng các phụ nữ béo phì có cơ may có những con gái béo phì 10 lần nhiều hơn so với các phụ nữ có trọng lượng bình thường và rằng tỷ suất là 6 lần giữa cha và con trai. Và nhất là, công trình nghiên cứu nói thêm rằng mối liên hệ này không bắt chéo nhau : một người cha tăng bị thể trọng không ảnh hưởng gì hết lên con gái và ngược lại.

41% các cô gái nhỏ 8 tuổi có mẹ béo phì đến lượt mình cũng vậy, so với 4% trong những gia đình có mẹ không có một vấn đề nào về trọng lượng. Ngược lại, những cậu thiếu niên có mẹ béo phì đến lượt mình không là như vậy. Về phía đàn ông, 18% các cậu bé nhỏ có cha béo phì đều có cùng hội chứng, trong khi không có một khác nhau nào đối với các cô gái. Được tiến hành nơi 226 gia đình trong suốt 3 năm, công trình nghiên cứu này cho thấy rằng trọng lượng được liên kết với một vấn đề “ giao cảm hành vi ” (sympathie comportementale) hơn là với một vấn đề di truyền, các nhà khoa học đã xác nhận như vậy. Các cô gái bắt chước phong cách sống của mẹ và các cậu con trai bắt chước lối sống của cha.

XEM XÉT LẠI SỰ PHÒNG NGỪA.

Kết luận của các nhà nghiên cứu : phải xét lại những chiến dịch phòng ngừa. Ở Anh, các thông điệp nhằm vào những trẻ em quá béo phì với ý nghĩ cho rằng chúng sẽ trở nên những người trưởng thành béo phì. Nếu những người lớn có thể trọng gia tăng là những vecteur đầu tiên của chứng béo phì của các trẻ em, thì phải làm thay đổi các chính sách truyền đạt. “ Những thông điệp phòng ngừa vậy phải nhắm vào các bố mẹ, trái với điều đã được thực hiện cho đến nay ”, G.S Terry Wilkin, một trong những người phụ trách điều tra đã xác nhận như thế. Ở Pháp thì cho rằng việc chống lại chứng béo phì cần nhiều thông điệp nhằm vào không những ở trẻ em mà cả bố mẹ nữa.
( LE FIGARO 14/7/2009)

9/ ĐỂ GIỚI HẠN CÁC NHỒI MÁU CƠ TIM. ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CÓ HỆ THÔNG NHỮNG NGƯỜI 50 TUỔI.

1/3 các cơn đau tim (crises cardiaques) (hay nhồi máu cơ tim) xảy ra trước tuổi 60. G. S Jean-Noel Fabiani, trưởng khoa giải phẫu tim mạch, bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou de Paris, nhấn mạnh đến lợi ích của một phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire).

Hỏi : Tần số của các nhồi máu cơ tim nơi đàn ông ?
G.S Jean- Noel Fabiani : Ở Pháp, người ta thống kê được 120.000 trường hợp nhồi máu cơ tim mỗi năm, do xơ vữa động mạch (athérosclérose), mà (theo những công trình nghiên cứu mới đây), trong dó 30% xảy ra nơi những người đàn ông chưa được 60 tuổi ! Trong phần lớn các trường hợp, các tai biến tim này đáng ra có thể tránh được chỉ với một điều tra phát hiện (dépistage) ở tuổi ngũ tuần. Phải biết rằng, thường nhất, các nhồi máu cơ tim xảy ra đột ngột, không có một triệu chúng nào báo trước...Do đó lợi ích của một việc chẩn đoán sớm.

Hỏi : Tại sao ông khuyên điều tra phát hiện ở tuổi 50 ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Loài người có một khuynh hướng rất mạnh phát triển âm thầm nhưng chắc chắn một căn bệnh đặc biệt có hại đối với các động mạch : chứng xơ vữa động mạch (athérosclérose). Chứng xơ vữa này dẫn đến sự tạo thành các mảng vữa động mạch (plaques d’athérome), dần dần bít lỗ của các huyết quản. Trong những giải phẫu tử thi, được thực hiện nơi những người lính trẻ 20 tuổi chết vì chiến tranh, người ta đã có thể quan sát thấy các thương tổn trên động mạch chính của tim ! Nếu những người lính trẻ này còn sống, thì những thương tổn này sẽ trở nên nguy kịch ở tuổi 50, là tuổi mà các huyết quản ít mềm dẻo hơn và là lúc chứng béo phì bụng bắt đầu xuất hiện. Hai yếu tố này làm gia tăng nguy cơ xơ vữa động mạch.

Hỏi : Những xét nghiệm nào cần thiết để điều tra phát hiện ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Nhất thiết phải có 5 xét nghiệm !
  • Đo huyết áp.
  • Điện tâm đồ lúc nghỉ ngơi.
  • Điện tâm đồ lúc gắng sức.
  • Định lượng máu.
  • Doppler các động mạch cổ và cẳng chân.

Hỏi : Những kết quả đầu tiên đã cho phép xếp loại trong một loại đầu tiên, những người có “ nguy cơ bị nhồi máu cơ tim ” (sujets à risque d’infarctus) bởi vì những người này mang nhiều yếu to làm dễ. Nơi những người này, có thể hữu ích cho thực hiện một thăm khám sâu hơn như scintigraphie au thallium (thăm khám y học nguyên tử), một scanner các động mạch vành hay chụp hình động mạch vành (coronographie). Những bệnh nhân được xếp trong loại thứ hai là những người có nguy cơ thấp (sujets à faible risque).

Hỏi : Những điều trị phòng ngừa của hai loại bệnh nhân này là gì ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Phải phân biệt hai loại phòng ngừa :
  • Phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire) liên hệ đến những người có thể có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim nhưng đã không bao giờ bị bệnh ;
  • Phòng ngừa thứ phát (prévention secondaire) nhằm vào những người bị bệnh tim đã chịu một phẫu thuật chữa họ lành bệnh.

Hỏi : Phòng ngừa nguyên phát nhằm vào gì ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Trước hết để ngăn ngừa tăng cholestérol-huyết, với một chế độ ăn uống thích hợp không có mỡ động vật, giàu rau xanh và trái cây. Nơi những bệnh nhân đã có những mảng xơ vữa động mạch nhỏ, người ta cấp toa một thuốc thuộc họ statines (một chất kháng cholestérol) rất hiệu quả có rất ít những tác dụng phụ. Sau đó được bàn đến có nên tiến hành hay không một điều trị làm loãng máu (traitement fluidifiant), ví dụ với aspirine liều lượng nhỏ.

Hỏi : Ở giai đoạn phòng ngừa nguyên phát này, sự theo dõi nào cần được thực hiện ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Tôi thấy dường như hợp lý là lập lại những xét nghiệm điều tra phát hiện (examens de dépistage) mỗi 5 năm và cho làm một bilan máu mỗi năm.

Hỏi : Ông có thể mô tả phép điều trị của một phòng ngừa thứ phát ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Phòng ngừa thứ phát (prévention secondaire) nhằm thiết đặt một liệu pháp bao gồm một thuốc thuộc họ statines, một thuốc chống kết tụ tiểu cầu (antiagrégant plaquettaire), như aspirine, và một bêta-bloquant. Và đối với những người cao huyết áp và những người bị bệnh đái đường : một điều trị hiệu quả chống lại căn bệnh của họ.

Hỏi : Phải chăng các phụ nữ cũng phải được điều tra phát hiện ở tuổi 50 ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Mặc dầu các phụ nữ được bảo vệ cho đến tuổi mãn kinh bởi các hormone, nhưng sau đó họ trở nên, như các ông, những người có tiềm năng có nguy cơ. Vậy các phụ nữ sau tuổi 50 cũng phải chịu một điều tra phát hiện có hệ thống (un dépistage systématique).
( PARIS MATCH 23/7-29/7/2009)

10/ DI-ANTALGIC, THUỐC CHỐNG ĐAU BỊ RÚT RA KHỎI THỊ TRƯỜNG.

8 triệu người Pháp, những khách hàng tiêu thụ đều đặn Di-Antalgic hay Propofan sẽ thay thế những thuốc chống đau này bằng một thuốc nào đây ? Đó là câu hỏi cụ thể từ nay làm bận tâm giới hữu trách y tế của Pháp.Thật vậy, cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA), chống lại ý kiến của Pháp, vừa khuyến nghị rút ra khỏi thị trường, những dược phẩm có chất dextropropoxyphène (DXP). Theo EMEA, các nguy cơ của những dẫn xuất morphine này và đặc biệt là nguy cơ quá liều chết người (surdosage mortel), tự ý hay hiếm hơn do tình cờ, sẽ là cao hơn những lợi ích của chúng. Nếu Uy Ban châu Âu theo ý kiên của EMEA, điều này nói chung là như vậy, thì Di-Antalgic và khoảng 30 biệt dược mà chất cơ bản là DXP, sẽ biến mất khỏi các hiệu thuốc của châu Âu, một cách không tránh khỏi, trong một thời hạn từ 12 đến 15 tháng. Thế mà, ở Pháp, các thuốc này chiếm một khối lượng bán đáng kể : khoảng 70 triệu hộp thuốc mỗi năm.

Các thuốc chống đau cấp 2 này, thường liên kết với paracétamol, được sử dụng rộng rãi để điều trị những đau đớn cấp tính (đau răng hay sau giải phẫu) và để làm thuyên giảm những cơn đau mãn tính, đặc biệt là nơi các người già. “ Chúng tôi sẽ lợi dụng vài tháng hạn định này để bàn bạc với các thầy thuốc cho toa và các bệnh nhân để đề nghị những khuyến nghị mới nhằm điều trị các đau đớn", Jean Marimbert, tổng giám đốc Afssaps đã đảm bảo như thế.

CODEINE HAY TRAMADOL.

Trong thực tiễn, một phần các toa thuốc Di-Antalgic sẽ có thể được thay thế bởi những thuốc giảm đau cấp 1, “ paracétamol với liều lượng hiệu quả, nghĩa là một gramme mỗi liều, aspirine hay thuốc chống viêm không phải stéroide (AINS) như ibuprofène ”, G.S Philippe Lechat, nhà dược lý học đã xác nhận như thế. Nếu cần thiết, một thuốc chống đau khác cấp 2, codéine hay tramadol, sẽ có thể được đề nghị. Nhưng còn những bệnh nhân không thuyên giảm với những loại thuốc này hay không chịu được chúng thì sao ? “ Chúng tôi đang suy nghĩ đến một thủ thuật vi pháp (procédure dérogatoire) để các bệnh nhân này có thể tiếp tục dùng dextropropoxyphène ”, Jean Marimbert đã đảm bảo như vậy.

Giám đốc Afssaps (nhấn mạnh rằng nước Pháp đã chống lại đến cùng việc rút DXP ra khỏi thị trường), tỏ ra lo ngại. “ Nếu có sự chuyển quan trọng của các toa thuốc về phía tramadol, thì bilan có thể âm tính đối với sức khỏe công cộng ”. Theo các điều tra của pharmacovigilance Pháp thì độc tính của tramadol là cao hơn DXP và codéine. “Đó là lần đầu tiên một loại thuốc bị rút ra khỏi thị trường vì một độc tính xảy ra ngoài những điều kiện sử dụng bình thường, Gs Lechat đã nêu lên như vậy. Ngoài ra, trái với Vương Quốc Anh và Thụy Điển, là nơi DXP chịu trách nhiệm hàng trăm trường hợp quá liều gây tử vong mỗi năm, ở Pháp, nó chỉ là nguyên nhân của 2% tử vong do ngộ độc thuốc. Đối với chúng tôi tương quan giữa lợi ích nguy cơ vẫn thuận lợi ”.

CODEINE HAY TRAMADOL.

Trong thực tiễn, một phần các toa thuốc Di-Antalgic sẽ có thể được thay thế bởi những thuốc giảm đau cấp 1, “ paracétamol với liều lượng hiệu quả, nghĩa là một gramme mỗi liều, aspirine hay thuốc chống viêm không phải stéroide (AINS) như ibuprofène ”, G.S Philippe Lechat, nhà dược lý học đã xác nhận như thế. Nếu cần thiết, một thuốc chống đau khác cấp 2, codéine hay tramadol, sẽ có thể được đề nghị. Nhưng còn những bệnh nhân không thuyên giảm với những loại thuốc này hay không chịu được chúng thì sao ? “ Chúng tôi đang suy nghĩ đến một thủ thuật vi pháp (procédure dérogatoire) để các bệnh nhân này có thể tiếp tục dùng dextropropoxyphène ”, Jean Marimbert đã đảm bảo như vậy.

Giám đốc Afssaps (nhấn mạnh rằng nước Pháp đã chống lại đến cùng việc rút DXP ra khỏi thị trường), tỏ ra lo ngại. “ Nếu có sự chuyển quan trọng của các toa thuốc về phía tramadol, thì bilan có thể âm tính đối với sức khỏe công cộng ”. Theo các điều tra của pharmacovigilance Pháp thì độc tính của tramadol là cao hơn DXP và codéine. “Đó là lần đầu tiên một loại thuốc bị rút ra khỏi thị trường vì một độc tính xảy ra ngoài những điều kiện sử dụng bình thường, Gs Lechat đã nêu lên như vậy. Ngoài ra, trái với Vương Quốc Anh và Thụy Điển, là nơi DXP chịu trách nhiệm hàng trăm trường hợp quá liều gây tử vong mỗi năm, ở Pháp, nó chỉ là nguyên nhân của 2% tử vong do ngộ độc thuốc. Đối với chúng tôi tương quan giữa lợi ích nguy cơ vẫn thuận lợi ”.
( LE FIGARO 28/6/2009)

11/ STRESS TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ CHẾT ĐỘT NGỘT CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH.

“ Chỉ cần một stress tâm thần cũng có thể cho phép nhận diện những người khả dĩ nhất chết vì một cơn đau tim đột ngột (crise cardiaque subite) ”, Xavier Jouven, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges- Pompidou đã xác nhận như vậy. Ông đã theo dõi trong 23 năm, bên cạnh các nhà dịch tễ học, một nhóm 7.746 người tuổi từ 42 đến 53, trong những năm 1970. Vào thời kỳ đó, tần số tim của những người này đã được đo lúc nghỉ ngơi, rồi một ít lâu trước khi làm một trắc nghiệm gắng sức (test d’effort), tức là lúc e sợ, được xem như là một stress tâm lý nhẹ. Những người mà tần số tim lên cao nhất (gia tăng hơn 12 đập mỗi phút), đã chết vì ngừng tim đột ngột trong 23 năm theo sau đó, hai lần nhiều hơn so với những người mà mạch ít phản ứng hơn (ít nhanh hơn). Sự chết đột ngột của người trưởng thành do ngừng tim là một vấn đề y tế công cộng quan trọng của Pháp (40.000 trường hợp mỗi năm). Bắt mạch khi bị một stress nhẹ có thể trở nên một chỉ dấu về tiên lượng (marqueur prognostique) đơn giản và kinh tế.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/7/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#13 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 02 August 2009 - 07:30 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137

BS NGUYỄN VĂN THỊNH



1/ CÚM A (H1N1) : NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG ĐẦU TIÊN Ở BỈ VÀ PHÁP.

BỈ. Nước Bỉ trở thành nước thứ năm của Châu Âu có một trường hợp tử vong của bệnh cúm.

Một thiếu nữ bị chết hôm thứ năm ở Turnhout vì virus cúm A (H1N1). Một người dân Anvers 50 tuổi, cũng bị nhiễm trùng, đang chiến đấu chống lại thần chết.

Một phụ nữ trẻ, sống ở một ngôi làng không xa Hoogstraten thuộc tỉnh Anvers, đã chết vì hậu quả của cúm A (H1N1). Người phụ nữ trẻ 30 tuổi này đã đến bệnh viện Sainte-Elisabeth de Turnhout hôm thứ hai 20/7, sau khi đã cảm thấy những triệu chứng cúm nhẹ (đau đầu, sốt nhẹ và ho) hai ngày trước đó. Người thầy thuốc của cô ta đã cho nhập viện với một chẩn đoán tạm thời viêm phổi. Mặc dầu tình trạng của bệnh nhân lúc nhập viện không đáng lo ngại, nhưng tình huống đã trở nên suy đồi sau đó do một viêm phổi kép siêu vi trùng (une double pneumonie virale) dẫn đến tử vong.

Trước khi mắc phải virus, người phụ nữ trẻ này có sức khoẻ tốt. Cô đã không đi du lịch ra nước ngoài. Cái chết đầu tiên này làm lo ngại trở lại về tính độc lực của virus. Nhất là chiều hôm thứ năm, người ta được biết rằng một người trạc 50 tuổi, cũng bị lây nhiễm bởi virus, đang sống dở chết dở ở bệnh viện đại học Anvers.
(LE SOIR 31/7/2009)

PHÁP. Cô thiếu nữ 14 tuổi bị chết ở Brest.

Viện quốc gia theo dõi y tế (IVNS) đã loan báo hôm qua trong một thông báo ngắn gọn trường hợp tử vong ở CHU de Brest của một thiếu nữ 14 tuổi, mà virus A (H1N1) đã được nhận diện. Nước Pháp trở thành nước thứ 5 của châu Âu, sau Anh, Tây Ban Nha, Hongrie và Bỉ đã ghi nhận một trường hợp tử vong do virus này.

Theo INVS, trường hợp tử vong đã xảy ra cách nay ít nhất 1 tuần ở CHU de Brest. Cô thiếu nữ này đã bị một bệnh trầm trọng, biến chứng bởi một nhiễm trùng phổi khác với cúm, IVNS đã xác nhận như vậy. Có thể là bệnh được liên kết với một bệnh lý tim hay phổi mất bù, và một hội chứng suy hô hấp cấp tính nghiêm trọng. Nhưng xét nghiệm tìm virus A (H1N1) đã được thực hiện và cho kết quả dương tính.

LỨA TUỔI NGUY CƠ.

Sự việc đó là một người trẻ cũng không đáng ngạc nhiên. Trước hết, chỉ những người trên 60 tuổi, đã có thể tiếp xúc với một virus A (H1N1) đại dịch khác trong thế kỷ XX là có một mức độ bảo vệ nào đó chống lại tác nhân gây nhiễm mới này.

Một cuộc điều tra, được thực hiện bởi các thầy thuốc Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ về những thể nặng và những trường hợp tử vong gây nên bởi virus mới A (H1N1), được khám phá ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư năm 2009, đã được công bố bởi New England Journal of Medicine cuối tháng sáu năm 2009. Trên 2150 trường hợp viêm phổi và 100 trường hợp tử vong đấu tiên, thì ra rằng những thể nặng (dầu gây chết người hay không) có liên hệ chủ yếu lứa tuổi từ 5 đến 59. Tính toàn bộ, 87% những người chết vì cúm A giữa tháng ba và tháng tư 2009 là trong lứa tuổi này. Thông thường, vào lúc các đợt cúm mùa, những người tuổi từ 5 đến 59 tuổi, về mặt thống kê, chỉ chiếm 17% những trường hợp tử vong. Những thể nặng nhưng không gây chết người của cúm mùa thường chỉ gây bệnh 32% những người từ 5 đến 59 tuổi. Thế mà, trận đại dịch Mễ Tây Cơ gây bệnh cho 71% những trường hợp không gây chết người và trầm trọng trong lứa tuổi này.
(LE FIGARO 31/7/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : KẾ HOẠCH CHIẾN ĐẤU CỦA CHÍNH PHỦ PHÁP VÀO THÁNG CHÍN ĐẾN.

PANDEMIE. Bà bộ trướng y tế đã giải thích rằng có thể vào đầu mùa thu đến, virus sẽ tích cực hơn. Nếu như vậy, những biện pháp sẽ được thực hiện để ngăn chặn đại dịch.

Mức báo động cấp 6 của kế hoạch chống đại dịch cúm sẽ có thể được ban hành ở Pháp vào tháng đến, bà Bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot hôm qua đã cảnh báo như vậy. Hôm nay, cấp báo động là 5A trên lãnh thổ Pháp. “ Rất có thể vào đầu thu, virus sẽ lưu hành tích cực hơn ”, Roselyne Bachelot đã đánh giá như vậy. Là mức cuối cùng của kế hoạch quốc gia chống đại dịch cúm, cấp 6 cho phép thực hiện một loạt các biện pháp tuy không bắt buộc. Mọi biện pháp trước khi được thông qua phải được xem xét bởi tổ khủng hoảng liên bộ.

ĐÓNG CỬA TRƯỜNG HỌC.

Nếu là như vậy, thì các nhà trẻ, các trường học, các ký túc xá và tất cả các cơ cấu tiếp đón các trẻ vị thành niên có thể sẽ phải đóng cửa. Trong trường hợp sự lan tràn của virus trở nên mạnh mẽ, biện pháp này được cho là cần thiết. “ Tính hiệu quả của nó trong việc làm giới hạn sự lây nhiễm khi dịch cúm đã được chứng tỏ ”, theo kế hoạch quốc gia.

Việc đóng cửa các trường học là một trong những biện pháp đầu tiên phải dự kiến trong trường hợp đại dịch cúm. Ở Paris, trong các trường mẫu giáo và tiểu học của quận XV, vào tháng sáu vừa qua, việc đóng cửa trường đã góp phần làm ngừng luồng dịch bệnh. Được hỏi bởi các phóng viên về các nước có ý định trì hoãn ngày khai giảng hay đóng cửa trường, phát ngôn viên của OMS đã tuyên bố rằng “ việc đóng cửa trường là một trong những biện pháp khả dĩ. Nhưng chính mỗi nước phải dự kiến những hành động mà họ cho là đáp ứng nhất với tình hình. " Hiện nay ở Anh, hơn 60% những trường hợp cúm có liên quan đến những người dưới 18 tuổi. Trong những tình trạng mà những người trẻ tuổi nhất là một vecteur quan trọng của dịch bệnh, thì việc đóng cửa trường học có thể đập vỡ chuỗi lan truyền, làm giảm số các trường hợp và làm chậm lại sự tiến triển của dịch bệnh, thời gian cần thiết để vaccin được sẵn sàng. Ở Israel, vào năm 2000, một cuộc đình công của các giáo sư trong một trận dịch cúm đã góp phần làm giảm rất nhiều số các bệnh nhân, số lần thăm khám thầy thuốc và nhập viện. Ở Pháp, một nghiên cứu được thực hiện giữa năm 1984 và 2006 đã cho thấy rằng những kỳ nghỉ học mùa đông có khả năng cứ 6 trường hợp cúm ngăn ngừa được một và tính toàn bộ những kỳ nghỉ học này làm giảm những lây nhiễm từ 38% đến 45% vào lúc cao điểm dịch. Theo các nhà dịch tễ học Hoa Kỳ và Úc, việc đóng cửa trường (liên kết với đóng cửa nhà thờ) trong dịch cúm Tây Ban Nha 1918, đã góp phần làm hạ tỷ lệ tử vong từ 10 đến 30% trong vài thành phố, Tuy vậy việc đóng cửa trường có thể làm bất động các người chủ chốt của cuộc đấu tranh chống virus, như các bố mẹ của các học sinh hành nghề thầy thuốc hay y tá, buộc phải quản lý con cái nếu trường học bị đóng cửa.

CÁC XÍ NGHIỆP VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG BỊ BỎ NGŨ.

Để giới hạn sự nhập cảng của virus, sự kiểm tra biên giới trong kế hoạch châu Âu được dự kiến. Cũng như sự đình chỉ sự đi và đến của các hành khách, nhất là bằng đường hàng không. Sự cách ly những hành khách đến bằng các chuyến bay cũng được nêu lên, nhưng biện pháp này đụng phải một khả năng tiếp đón “ rất hạn chế ”. Các công ty thì tin vào một tỷ suất vắng mặt từ 25% đến 45%. Kế hoạch quốc gia kêu gọi sự thực hiện công tác từ xa, những hội nghị từ xa (téléconférence) và hạn chế những cuộc hội họp. Về công ăn việc làm, việc chuyển các hoạt động đến những vùng ít bị ảnh hưởng hơn được nêu lên, cũng như sự tái bổ dụng những người ăn lương về những khu vực ưu tiên. Những xê dịch cá nhân sẽ được hạn chế. Kế hoạch gợi ý khuyến khích các hộ tích trữ thực phẩm và nước uống.

CÁC HOẠT ĐỘNG BỊ GIỚI HẠN.

Những hoạt động được gọi là tập thể sẽ bị đình chỉ. Như vậy đại dịch sẽ tạm thời chấm dứt cả một vạt đời sống văn hóa và hiệp hội với sự hủy bỏ các cuộc biểu diễn, những cuộc thi đấu thể thao, hội chợ, salons và những cuộc tập họp hội hè khác. Vào giai đoạn 6, những thăm viếng đến các bệnh viện, các nhà dưỡng lão, nhà tù có thể bị kiểm tra nghiêm ngặt, thậm chí bị cấm chỉ.

CHIẾN LƯỢC Y TẾ.

Các mặt nạ được phát đại trà với sự chủ xướng mang một mặt nạ ngoại khoa cho tất cả mọi người ở những nơi công cộng. Một kế hoạch tiêm chủng rộng lớn chống cúm A (H1N1) có thể được thực hiện. “ Chúng ta có 94 triệu liều đã được mua chắc, chúng ta đã tính toán rằng gần ¾ các đồng hương của chúng ta mong muốn được tiêm chủng ”, Roselyne Bachelot đã nhắc lại như vậy.
(LE FIGARO 22/7 và 29/7/2009)

3/ BACHELOT : “ SỰ ĐÁP ỨNG CỦA CHÚNG TA ĐỐI VỚI A (H1N1) LÀ ĐÚNG VÀ TƯƠNG XỨNG ”.

Bà Bộ trưởng y tế Pháp phản ứng lại những lời tuyên bố của những người trách chính phủ làm quá đáng hoặc, ngược lại, không làm đủ để chống lại đại dịch cúm A (H1N1).

Trong khi dân biểu của đảng xã hội (PARIS) Jean-Marie Le Guen xác nhận hôm qua rằng “ vẫn còn nhiều điều phải làm để chống lại cúm A (H1N1) ”, thì giáo sư Bernard Debré, dân biểu của UMP (PARIS), lại cho là vô ích việc duy trì báo động chống một căn bệnh mà ông cho là “ bệnh cúm nhẹ ” (grippette) không nguy hiểm.

Hỏi : Cúm A (H1N1) phải chăng chỉ là một “ cúm nhẹ ” vô hại, như giáo sư Bernard Depré xác nhận ?
Roselyne Bachelot : Bernard Depré là một thầy thuốc khoa niệu xuất sắc. Về phần tôi, tôi đề cập đại dịch này với tinh thần nghiêm túc nhất. Tôi không căn cứ trên các ý kiến của các nhà chính trị và tôi không tìm cách để quảng cáo với giới truyền thông. Từ lúc đầu của cuộc khủng hoảng này, tôi tham khảo những thầy thuốc giỏi nhất về các chuyên khoa virus, nhiễm trùng và dịch tễ học của Pháp và của Châu âu. Thế mà, nếu tôi xét đoán qua những lời tuyên bố trên báo chí, các chuyên gia này cho rằng sự đáp ứng của chính phủ trước cuộc khủng hoảng y tế này là đúng đắn và tương xứng.

Hỏi : Virus này là nguy hiểm hay không nguy hiểm ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi không phải là thầy bói ! Tôi rất phân vân khi tôi thấy người ta phô trương những điều tin chắc về một vấn đề thuộc loại này. Sự thật, đó là chúng ta đang đối đầu với một virus, mặc dầu hiện giờ ít nghiêm trọng, nhưng có một khả năng làm lây nhiễm rất mạnh. Đứng trước đặc điểm quan trọng này, sự cảnh giác là hợp lẽ. Hiện nay, tỷ lệ tử vong của cúm A (H1N1) ít nhất là bằng, thậm chí hơi cao hơn tỷ lệ tử vong của cúm mùa, ở Pháp mỗi năm giết chết 2.500 người trên một tổng số 2,5 triệu trường hợp. Hoặc khoảng 1 trên 1000. Sự kiện virus lan tràn rất nhanh làm gia tăng nguy cơ nó biến dị thành một dạng nguy hiểm hơn. Người ta cũng có thể sợ một sự tăng quá mức của tỷ lệ tử vong nơi những người yếu ớt nhất. Bởi vì sự lan tràn của virus có vẻ gia tăng vào mùa thu tới (một thời kỳ thuận lợi cho nó hơn), do đó việc chính phủ thông qua những biện pháp để đối đầu lúc hữu sự, là bình thường.

Hỏi : Việc đặt hàng 94 triệu liều vaccin có cần thiết không ?
Roselyne Bachelot : Tôi rất ngạc nhiên khi nghe thấy một vài nhận xét. Những kẻ chỉ trích biện pháp này không hay biết gì hết về thực tế. Vì khả năng công nghiệp của các phòng bào chế là giới hạn, nên rõ ràng là họ sẽ phục vụ ưu tiên những nước đã thông qua đơn đặt hàng đủ sớm nơi họ. Không phải đợi đến lúc đại dịch phát ra rồi mới tìm đến họ. Tôi không muốn vào mùa thu này mới đưa đơn đặt hàng, với những vaccin sẽ được giao trong một kỳ hạn 6 tháng !

Hỏi : Khi nào thì vaccin sẽ có để được sử dụng ?
Roselyne Bachelot : 3 hãng bào chế GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi Pasteur hứa với chúng tôi sẽ giao hàng thành từng đợt từ tháng 10 đến tháng 12. Nhưng mức độ khó đoán trước là đáng kể. Nó tùy thuộc vào hiệu năng của các giống gốc virus được sử dụng để sản xuất vaccin. Cũng chính vì lẽ đó mà đã phải thông qua sớm đơn đặt hàng.

Hỏi : Phải chăng tất cả mọi người sẽ được chủng ngừa vào mùa thu ?
Roselyne Bachelot : Trong tình trạng hiện nay của đại dịch, việc tiêm chủng không là bắt buộc. Sự chủng ngừa sẽ chỉ bắt buộc khi dịch bệnh trở nên nghiêm trọng. Vì chúng tôi ước tính rằng khoảng 20% người sẽ từ chối không muốn tiêm chủng, nên chúng tôi đã đặt hàng 94 triệu liều, sẽ cần 2 liều cho mỗi người.

Hỏi : Làm sao bà có thể giải thích rằng nước Pháp dường như được trừ miễn, so với Vương Quốc Anh và Tây Ban Nha ?
Roselyne Bachelot : Tôi quy điều này cho chiến lược ngăn chặn (stratégie de confinement) được chính phủ thông qua ngay lúc khởi đầu của dịch bệnh. Chiến lược này nhằm cho nhập viện một cách hệ thống các bệnh nhân và theo dõi trong các phi trường những hành khách đến từ các nước có nguy cơ như Mễ Tây Cơ. Chúng ta đã thực hiện một chiến dịch thông tin to lớn (yết thị, spots TV, site Internet) về những biện pháp ngăn chặn cần được tôn trọng để tránh sự lan tràn của virus : rửa tay, tránh hách xì vào mặt người ta ; hiện nay, chính sách này đã mang lại kết quả.

Hỏi : Bà có e sợ, trong những tuần đến, sự gia tăng những lời chỉ trích đối với các hành động của bà không ?
Roselyne Bachelot : Khi người ta quản lý những cơn khủng hoảng y tế và môi trường, luôn luôn có những người nhận thấy rằng anh làm quá nhiều, như M.Debré, và những người khác, trái lại, kết án anh là đã không làm khá đủ, như ông Jean-Marie Le Guen. Tất cả trong cùng một ngày !
(LE FIGARO 27/7/2009)

4/ CÚM A (H1N1) : CÁC PHỤ NỮ CÓ THAI CHỊU MỘT NGUY CƠ GẤP 4 LẦN.

Các phụ nữ có thai, bị nhiễm bởi virus A (H1N1) của cúm heo, có nguy cơ bị những biến chứng cần nhập viện 4 lần cao hơn và có một tỷ lệ tử vong cao hơn trung bình, theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được tiết lộ vào tuần nay.

Các phụ nữ có thai, đã mắc phải virus trong năm 2009, đã được cho nhập viện thường xuyên hơn, công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi CDC và được công bố trong tạp chí Lancet, đã xác nhận như vậy. 6 phụ nữ có thai đã chết vì biển chứng của bệnh giữa 15/4 và 16/6 2009. Những trường hợp tử vong này chiếm 13% của khoảng 45 tử vong mà cúm heo đã gây nên trong suốt thời kỳ này.

Tính toàn bộ, có khoảng 34 phụ nữ có thai đã mắc phải virus, hoặc 1/3, đã phải được nhập viện. Những trường hợp phụ nữ có thai đã chiếm 0,62% của tất cả những trường hợp của những bệnh nhân bị cúm, được xác nhận hay có khả năng. Tất cả đều khỏe mạnh trước khi bị nhiễm trùng và sau đó đã phát triển một viêm phổi do virus với khó thở đòi hỏi thông khí cơ học, CDC đã xác nhận như vậy.

Tất cả các phụ nữ có thai được phát hiện là đã không được cho các thuốc kháng virus kịp thời. CDC chủ trương rằng các phụ nữ có thai, được nghi ngờ bị nhiễm trùng bởi cúm heo, phải được điều trị nhanh chóng bởi thuốc kháng virus. Suốt trong thời kỳ có thai, người ta quan sát thấy những thay đổi cơ học và hormone, đặc biệt là ở các hệ tim mạch và hô hấp cũng như miễn dịch, BS Denise Jamieson, thuộc CDC, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.

“ Năng lực của phổi bị thu giảm bởi vì tử cung chiếm nhiều chỗ hơn và đè ép cơ hoành. Tất cả những biến đổi này làm cho phụ nữ có thai dễ bị tác động bởi một vài loại virus, đặc biệt là cúm. Chúng tôi khuyến nghị các đàn bà có thai nên được chủng ngừa chống cúm mùa.” Trong những trận đại dịch cúm năm 1918 và 1957, tỷ lệ tử vong dường như cao hơn nơi các phụ nữ có thai.
(LE SOIR 31/7/2009)

5/ PHƠI NẮNG : NHỮNG CẠM BẨY KHÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN.

BS Anny Cohen-Letessier, thầy thuốc chuyên khoa da, giảng viên, cảnh cáo về những tác hại, thường không được nghĩ tới, của những tia UVA và UVB.

Hỏi : Những nguy cơ ít được biết đến của phơi nắng (exposition solaire) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Công chúng được thông tin rõ về những tác dụng có hại thông thường nhất : sự lão hóa da, các vết (taches), ung thư da, v...v. Nhưng phần lớn người ta không biết đến những nguy cơ gặp phải trong vài trường hợp... Ví dụ khi họ đang được điều trị bởi các thuốc gây nhạy cảm ánh sáng (traitement médicamenteux photosensibilisant)...Hoặc khi đang mang một vết sẹo có từ dưới hai năm... Hoặc trong một tình huống “ tiếp xúc thụ động ”, như ngồi sau một kính chắn gió xe hơi hay một lỗ kính (baie vitrée). Phải nhớ rằng mặt trời là một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques)... rằng các buổi pique-nique dưới ánh mặt trời, trên bãi cỏ, có thể gây nên (nếu da ẩm ướt) một “ bệnh viêm da của các bãi cỏ ” (dermite des prés), đau đớn, với sự xuất hiện của các nốt rộp da (cloques).


Hỏi : Dưới ánh nắng mặt trời, những điều trị nào có nguy cơ gây nên những biến chứng ?
BS Anny Cohen-Letessier : Vài kháng sinh, các thuốc chống viêm, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống loạn nhịp tim... có nguy cơ gây nên một sự nhạy cảm ánh sáng (photosensibilisation). Do sự tương tác giữa thuốc và các tia tử ngoại, da phản ứng mạnh, gây nên ban đỏ (érythème) (đỏ, bỏng...) và các vết (taches). Lúc được điều trị bởi những thuốc này, phải tránh những giờ nóng nhất và phải bôi lại thường xuyên kem mặt trời (crème soliare), ngay cả lúc tắm (nước có tác dụng của một kính loupe trên da !).

Hỏi : Tại sao phải chờ hai năm mới có thể phơi nắng một vết sẹo mổ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Những tia tử ngoại làm xáo trộn các giai đoạn của tiến trình hóa sẹo, đặc biệt là sự tái sinh của các tế bào của tổ chức da. Phơi nắng sớm có nguy cơ làm sẹo hóa thành màu nâu, điều này sẽ làm nổi rõ dạng vẻ xấu xí của một di chứng giải phẫu. Mỗi vết sẹo, nhỏ hay lớn, đều cần được bảo vệ.

Hỏi : Vì những lý lẽ gì mà mặt trời là một một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Bởi vì những người bị mụn luôn luôn có cảm tưởng rằng tình trạng của họ sẽ được cải thiện dưới ánh nắng mặt trời. Thoạt đầu sự làm rám da (bronzage) làm cho đều nước da mặt, “ ngụy trang ” các nốt mụn. Sự dày lên của da như thế che dấu các vi nang (microkyste), nguồn gốc của các mụn mọc. Những lúc đi hè về, da phản ứng lại rất nhanh chóng bằng một đợt nổi mụn rất quan trọng, với sự tái xuất hiện các thương tổn..

Hỏi : Những trường hợp phơi nắng thụ động là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Trong xe hơi, người ta, như ở tren bờ biển, chịu những tia UVA đi xuyên qua kính : kính của kính chắn gió và kính của các kính bên. Để tránh những ban đỏ thường xảy ra nơi mặt, cần thận trọng bôi một loại kem có tính chất bảo vệ chống nắng cao trước khi đi nghỉ hè. Cũng vậy, vào lúc hoạt động ngoài trời, thể thao hay không (như làm vườn, xén cỏ..), người ta quên rằng những phần hở sẽ chịu những tác dụng có hại do phơi nắng mặt trời quá mức : bỏng, các vết, sự lão hóa da sớm, v..v. Do đó lợi ích mặc quần áo nhẹ thích hợp hay bôi một lớp kem ngăn ánh nắng.

Hỏi : Hiệu quả thật sự của các loại kem chắn toàn thể (crèmes à écran total) là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Thuật ngữ “ chắn toàn thể ” (écran total) là không thích hợp bởi vì một loại kem không bao giờ bảo vệ hoàn toàn cả. Những liều lượng sử dụng trên da không đủ để tạo nên một màng chắn toàn thể, và có thể có một sự hủy hoại các bộ lọc lúc phơi nắng, làm mất khả năng che chở. Mặt khác hiệu quả của thuốc có thể giảm khi ống thuốc nằm dưới ánh nắng. Những tên gọi của những kem chắn toàn thể này sẽ thay đổi : ta sẽ nói là che chở nhẹ, trung bình, cao hãy rất cao (hiệu quả gần hai giờ).

Hỏi : Mặt trời cũng có những lợi ích của nó chứ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Một bức xạ được gọi là “ánh sáng thấy được” có một tác dụng có lợi lên khí chất, làm thư giãn sự căng thẳng. Những tia cực tím cho phép cơ quan tổng hợp vitamine D.
(PARIS MATCH 16/7- 22/7/2009)

6/ THÂN HÌNH CỦA CON GÁI LIÊN KẾT VỚI TUỔI KINH NGUYỆT.

Theo những công trình nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu quốc tế (trên 17.510 người dân châu Âu), được công bố trong “ Nature Genetics”, hai gène được mang trên nhiễm sắc thể số 9 phát khởi dấu hiệu kinh nguyệt đầu tiên. Những gène này cũng có một tác động lên thân hình (taille). Những cô gái có kinh nguyệt sớm sẽ có thân hình bé hơn, bởi vì chịu sớm hơn một sự tiếp xúc với oestrogène, điều này làm phát khỏi một tín hiệu đóng các sụn tăng trưởng (cartilage de croissance), được gọi là sụn kết hợp (cartilage de conjugaison).
(PARIS MATCH 23/7-29/7/2009)

7/ THẦY THUỐC CỦA JACKSON CÔNG NHẬN ĐÚNG LÀ ĐÃ “ GÂY MÊ ” ÔNG TA.

HOA KỲ. BS Conrad Murray, thầy thuốc riêng của Michael Jackson, đã công nhận trước các nhà điều tra là đã tiêm Propofol cho người ca sỉ vào ngày qua đời của ông ta, người ta biết được hôm thứ ba từ một nguồn thân cận với giới điều tra. Propofol là một thuốc gây mê có tác dụng mạnh, chỉ được sử dụng ở bệnh viện. Các nhà điều tra nghĩ rằng chính chất này đã gây nên cái chết của Michael Jackson hôm 25 tháng 6 vừa qua ở nhà riêng của ông ở Los Angeles.

BS Murray cũng đã công nhận là trước đây đã nhiều lần tiêm cho Jackson chất thuốc này để giúp ông ta ngủ. Viên luật sư của người thầy thuốc mãi đến nay vẫn đảm bảo rằng vị khách hàng của ông ta đã không kê toa cũng như đã không tiêm một chất thuốc nào đó có thể gây nên tử vong.

Một cuộc khám soát đã xảy ra hôm thứ ba tại phòng mạch và nhà riêng của Conrad Murray ở Las Vegas. Cuộc lục soát này đã diễn ra dưới sự hiện diện của những người hữu trách của DEA (Drug Enforcement Administration), cơ quan liên bang chống ma túy. Các nhân viên của DEA, hôm 22/7 đã tiến hành một cuộc khám soát ở trong bệnh viện của người thầy thuốc, ở Houston, Texas.

BS Conrad Murray bị nghi là đã tiêm tĩnh mạch Propofol cho Jackson để giúp ông ta ngủ. Các nhà điều tra nghiêng về giả thuyết của một biến cố ngừng tim gây nên bởi chất thuốc gây mê rất mạnh này, một nguồn thần cận với giới điều tra đã tuyên bố như vậy với AP.

Như vậy cái thòng lọng đang siết dần lại quanh người thầy thuốc riêng của Michael Jackson, tuy nhiên nhà chức trách vẫn không cho ông ta là khả nghi.

Viên luật sư của người thầy thuốc, Edward Chernoff, đảm bảo rằng BS Murray “ đã không kê toa hay đã tiêm bất cứ thuốc gì có thể giết chết Michael Jackson ”. Hôm thứ hai, ông từ chối “ bình luận những tin đồn, những lời ẩn ý và những luận cứ phát xuất từ những kẻ nặc danh ”.

Propofol có thể gây nên khó thở và hạ nhịp tim cũng như huyết áp. Do những nguy cơ này, nên chỉ có nhân viên y tế được đào tạo và hoạt động trong môi trường bệnh viện mới có thẩm quyền sử dụng thuốc gây mê này mà thôi. Nhưng, vẫn theo những lời tâm sự với AP, Jackson thường sử dụng Propofol như một thuốc ngủ và đánh thức buổi sáng : một thầy thuốc tiêm propofol để làm Jackson ngủ và ngừng tiêm khi người ca sĩ muốn thức dậy. Các nhà điều tra nghĩ rằng điều đó kéo dài từ hai năm nay và tìm cách xác lập xem đã có bao nhiêu thầy thuốc đã thực hiện việc tiêm chích thuốc gây mê này cho Michael Jackson.
(LE SOIR 29/7/2009)

8/ NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH ĐƯỢC CHO PHÉP UỐNG CÀ PHÊ.

Trái với điều mà ta tưởng, cà phê không có hại, ngay cả đối với những người đã từng là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim. Một công trình nghiên cứu mới đây của Thụy Điển, đã theo dõi, trong hơn 10 năm, 1370 bệnh nhân, được nhập viện vì một nhồi máu cơ tim giữa năm 1992 và 1994, đã cho phép quan sát thấy rằng tỷ lệ tử vong ngay cả được giảm bớt nơi những người uống cà phê đều đặn, và điều này liên hệ với liều lượng. Những tác dụng chống oxy hóa và chống viêm không đủ để giải thích kết quả này.
( PARIS MATCH 9/7-15/7/2009)

9/ BỆNH PARKINSON GÂY BỆNH CHO CÁC NHÀ NÔNG NHIỀU HƠN.

Sự sử dụng các thuốc trừ sâu làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson nơi các nông dân. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Alexis Elbaz và các đồng nghiệp (Inserm và đại học Pierre-et-Marie-Curie) trên 700 hội viên của Mutualité sociale agricole. Kết quả : những bệnh nhân bị bệnh Parkinson đã bị tiếp xúc thường xuyên và dài lâu với các thuốc trừ sâu hơn là những người lành mạnh. Các thuốc trừ sâu, đặc biệt là các organophosphorés, làm tăng gấp đôi nguy cơ phát triển bệnh. Ở châu Âu, hàng năm có 800.000 tấn thuốc trừ sâu được xịt rảy, nên những người nông dân là những người đầu tiên bị ảnh hưởng : 800.000 người ở Pháp năm 2005. Bệnh Parkinson không phải là một bệnh thường xảy ra, do đó nguy cơ tuyệt đối vẫn còn thấp, BS Elbaz phát biểu như vậy. Tuy nhiên, đó là bệnh thoái hóa thần kinh thứ hai thường xảy ra nhất sau bệnh Alzheimer. Bệnh này có một nguồn gốc môi trường nhưng cũng có một nguồn gốc di truyền.
(SCIENCE ET VIE 8/2009)

10/MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI CHỐNG LAO.

Là vấn đề y tế công cộng quan trọng, bệnh lao đa đề kháng (tuberculose multirésistante) thường xảy ra trong vài nước như Nga hay Trung Quốc. Bệnh lao này là do những giống gốc đề kháng với các thuốc kháng lao có hiệu quả nhất cho đến nay. Nhưng, nhờ việc thêm vào điều trị chuẩn một thứ thuốc mới, do đó có khả năng tiêu diệt những mầm bệnh trong các dịch tiết phế quản, như một công trình nghiên cứu trên khoảng 50 bệnh nhân đã chứng tỏ. Loại thuốc mới chống lao này, có tên mật mã là TMC207, thuộc vào lớp diarylquinolines và nơi tác dụng của nó là một enzyme, ATP synthetase, thuộc trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Tỷ lệ làm tiệt trùng các dịch tiết là 49% thay vì 9% nếu không có TMC207. Những công trình nghiên cứu sắp đến sẽ cho biết thuốc này (không làm bệnh nhân bỏ điều trị hơn so với điều trị chuẩn) có thật sự chứng tỏ hiệu quả vi trùng học và lợi ích lâm sàng của nó hay không.
(SCIENCE ET AVENIR 8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (2/8/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#14 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 09 August 2009 - 05:44 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/CUỘC CHẠY ĐUA SẢN XUẤT VACCIN A(H1N1) GIA TỐC GIỮA CÁC PHÒNG BÀO CHẾ.

Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên đã bắt đầu. Và “ The Lancet ” tự hỏi về việc sử dụng các thuốc kháng virus.

Trong khi tuần qua, các xí nghiệp sản suất vaccin lớn như Sanofi Pasteur, Novartis hay Baxter đua nhau kín đáo về bước tiến trong sự sản xuất vaccin đại dịch, thì bổng đột ngột các nhà công nghiệp dược phẩm bắt đầu truyền đạt thông tin cởi mở hơn. Đến độ OMS nêu lên khả năng rằng vaccin có thể sẽ có để sử dụng trong vài nước vào cuối tháng 9 đến.

Đầu tiên, hãng bào chế dược phẩm Baxter loan báo hôm thứ tư là đã hoàn tất hồi tháng 7 sự sản xuất những lô vaccin đầu tiên. Hãng chỉ cần 12 tuần là đủ, bắt đầu từ “ hạt giống ”, giống gốc virus được phân phát bởi OMS. Và những trắc nghiệm cuối cùng (được gọi là “ giai đoạn 3 ”) trên 3.500 người đã được hoàn thành.

Novartis đã phản ứng lại tức thời bằng cách loan báo là đã bắt đầu tiêm vaccin riêng của hãng cho 6.000 người ở Vương Quốc Anh, ở Đức và ở Hoa Kỳ. Ngay tức khắc, Sanofi Pasteur loan báo chính thức là đã bắt đầu trắc nghiệm, ngay từ 6/8, những thử nghiệm lâm sàng trên 2.000 người ở Hoa Kỳ để trắc nghiệm tính sinh miễn dịch (immunogénicité) và mức độ dung nạp của vaccin này.

Sự thay đổi chiến lược truyền đạt thông tin diễn ra đột ngột : tuấn vừa rồi, nhiều hãng bào chế vaccin (trong đó có Sanofi Pasteur) đã bác bỏ dứt khoát, “ vì lý do an ninh ”, những yêu cầu phóng sự của báo Figaro về những nơi chế tạo vaccin. Tuy vậy, bài diễn văn chính thức của OMS (đã gặp gỡ hai lần liên tiếp những đại diện của 30 nhà chế tạo) hướng về một sự hợp tác quốc tế. Đó là xác lập một chiến lược toàn bộ nhằm sản xuất điều hợp vaccin cúm đại dịch A(H1N1).

Theo Margaret Chan, tổng giám đốc OMS, một sự đóng góp rất nghiêm chỉnh của các xí nghiệp dược phẩm của các nước phía bắc và phia Nam để huy động nguồn vốn nhằm sản xuất 4,9 tỷ liều vaccin.

Ngoài những hợp đồng đã được ký kết với các chính phủ, những hợp đồng bảo đảm một khối lượng bán đã được ấn định trước, những dữ kiện khoa học mới có lẽ làm gia tăng nhu cầu vaccin : công trình phân tích méta, được thực hiện bởi National Institute for Health and Clinical Excellence ở Vương quốc Anh, được công bố hôm nay trong The Lancet, xác lập rằng các thuốc kháng virus Tamiflu và Relenza chỉ làm giảm vừa phải thời gian của các triệu chứng nơi những người khỏe mạnh hay có nguy cơ. Kết luận của The Lancet : những chiến lược tiêm chủng, hay sự thực hiện những xét nghiệm chẩn đoán nhanh, là hiệu quả và chắc chắn hơn, kinh tế hơn việc sử dụng các thuốc kháng virus một cách đại trà.
(LE FIGARO 8/8-9/8/2009)

2/ ANH CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH CHIẾN ĐẤU CHO BUỔI TỰU TRƯỜNG.

Londres. Gần 8,5 triệu liều có thể được phân phát trong các trường học.

Trong khi làn sóng thứ hai của virus A (H1N1) được loan báo vào mùa thu đến, nhật báo The Guadian tiết lộ rằng chính phủ Anh có thể thiết đặt chiến dịch chủng ngừa quan trọng nhất kể từ 1964, năm của chiến dịch chủng ngừa chống bệnh đậu mùa. Ngoài các thầy thuốc gia đình, các y tá trong các trường học sẽ được góp phần để chủng ngừa tất cả những thiếu niên giữa 5 và 16 tuổi, trong 33.700 trường học mà nước Anh hiện có. “Ý tưởng nhằm trước tiên vào các trường học là hợp lý ”[/i], một nguồn thân cận của The Guadian đã giải thích như vậy.

Department for Children, Schools and Families đã xác nhận hôm qua rằng chính phủ đang xem xét một kế hoạch chủng ngừa như vậy. Còn Bộ y tế Anh thì đã từ chối xác nhận nguồn tin và chỉ rõ rằng hiện nay chiến lược đã không hoàn toàn được xác định. “ Chưa có một quyết định rõ ràng nào đã được thông qua về cách thức phân phát vaccin ”. Các phòng mạch của các thầy thuốc gia đình vẫn là những nơi chính yếu cho mọi yêu cầu tiêm chủng, một phát ngôn viên của Bộ y tế đã giải thích như vậy.

Nếu vaccin vượt qua không trở ngại các trắc nghiệm lâm sàng, thì yêu cầu tiêm chủng sẽ rất cao ở Anh, là nước ở Châu Âu bị ảnh hưởng nhất bởi virus. Nhưng còn phải xem những người nghiệp vụ y tế có đủ nhiều để thực hiện tiêm chủng vaccin cho toàn thể các trường học hay không : trên 25.000 trường học mà nước Anh hiện có, người ta chỉ đếm được 1.447 y tá mà thôi.

SỐ TRƯỜNG HỢP GIẢM XUỐNG.

Tin tức này xảy ra vào ngày hôm sau của những lời tuyên bố của OMS. BS Marie-Paul Kieny, nữ giám đốc của đơn vị vaccins của OMS, đã chỉ rõ rằng các vaccin có lẽ sẽ không được sẵn sàng trước tháng 9. Do đó chương trình tiêm chủng sẽ không bắt đầu trước đầu tháng 10 đối với những người lạc quan nhất.

Làn sóng đại dịch đầu tiên ở Anh đang chấm dứt. Số các trường hợp cúm A mới ở Ecosse và Anh đã giảm nhiều, theo những thống kê sau cùng, được công bố hôm thứ năm bởi Cơ quan bảo vệ sức khỏe. Tuần qua, nước Anh đã thống kê được 30.000 trường hợp mới, so với 110.000 tuần trước. 9 người tử vong do hậu quả của virus, nâng tổng số người chết trong nước lên 36 người.

Đến nay, không có một dấu hiệu nào cho thấy virus đang biến dị thành một giống gốc nghiêm trọng hơn, theo Bộ y tế Anh. Nhưng còn quá sớm để vui mừng. Cố vấn y tế chính của chính phủ, Sir Liam Donaldson báo trước :

“ Chúng tôi hầu như chắc chắn rằng một làn sóng dịch mới sẽ tác động lên chúng ta. Chúng tôi dự kiến rằng, vào lúc tựu trường, điều đó sẽ gia tăng trở lại ”.
(LE FIGARO 8/8-9/8/2009)

3/ VIRUS A(H1N1) ĐÃ GÂY NHIỄM HEO TỪ NHIỀU NĂM QUA.

Virus A(H1N1) đúng là một virus của heo. Thẻ căn cước di truyền (carte d’identité génétique) của nó, được giải mã bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế, tiết lộ rằng virus này phát xuất từ một sự kết hợp chưa từng có của hai virus heo đã được biết, kết quả của một sự pha trộn của các virus người, heo và gia cầm. Sự “ tạp giao ” (croisement) cuối cùng, đã đưa đến bản hiện nay của virus, được thực hiện vào lúc vận chuyển heo giữa Bắc Mỹ và Eurasie. Sự truyền đầu tiên cho người xảy ra nhiều tháng trước khi trường hợp đầu tiên được chính thức công nhận. Để vạch lại nguồn gốc của virus, nhóm nghiên cứu đã so sánh các gène của virus A(H1N1) với các gène của 796 virus cúm và như vậy có thể định ngày tháng virus xuất hiện.

Và rất đáng ngạc nhiên : một giống gốc virus y hệt đến hơn 90% với loại virus đang lưu hành hiện nay, đã hiện diện nơi heo từ 9 ….17 năm nay ! Mà không ai lo lắng gì cả ! Theo các nhà nghiên cứu, một sự thiếu cảnh giác là nguyên nhân của sự lan tràn của virus. Thật vậy heo là một “ melting-pot ” trong đó, các virus người, gia cầm và heo thường xuyên tái phối hợp với nhau, một cách thường xuyên và rất kín đáo.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

4/ CÚM : 8 CHỮ ĐỂ BIẾT TẤT CẢ VỀ VIRUS MỚI.

A(H1N1) : Virus này được xem như là mới bởi vì đó là một cocktail chưa từng có của những thông tin di truyền phát xuất từ cúm heo, chim và người. Tên của nó ? “ A ”, bởi vì nó thuộc vào loại nguy hiểm nhất về mặt y học, đứng trước các virus của cúm B hay C. H để chỉ hémagglutinine và N để chỉ neuraminidase, hoặc hai protéine nằm ở bề mặt của virus. Hémagglutinine cho phép virus thâm nhập vào trong các tế bào đích (cellules cibles) ; neuraminidase cho phép phóng thích virus để nó có thể gây nhiễm những tế bào khác. Có nhiều loại hémagglutinine và neuraminidase khác nhau. Do đó thể có nhiều loại kết hợp khả dĩ, như virus lịch sử của cúm Tây Ban Nha, cũng thuộc loại H1N1, hay virus của cúm gà H5N1 đáng sợ.

ĐẠI DỊCH : Chính vào ngày 11/6 mà OMS đã gọi cúm A (H1N1) là cúm “ đại dịch ” (pandémie). Khi một căn bệnh lan tràn một cách rất nhanh chóng trong một tập thể hay một lãnh thổ trong một thời kỳ giới hạn, thì người ta gọi là dịch bệnh (épidémie). Nếu dịch bệnh này lan rộng trên một vùng bao gồm nhiều nước, khi đó người ta chuyển qua giai đoạn đại dịch. Thế mà, vào đầu tháng sáu, 30.000 trường hợp đã được thông báo trong 74 nước. Nhưng chính sự lan rộng của căn bệnh, chứ không phải mức độ nghiêm trọng của nó, đã biện minh cho việc nâng cấp đại dịch này : theo các dữ kiện có được khi đó, trong phần lớn các trường hợp, các bệnh nhân chỉ có những triệu chứng hiền tính và họ thường lành bệnh mà không cần một điều trị nào

TỶ LỆ TẤN CÔNG (TAUX D’ATTAQUE): Đó là tỷ lệ dân chúng khả dĩ bị nhiễm trùng bởi virus. Với virus A (H1N1), điều đó có khả năng liên quan đến toàn thể dân chúng, không có phòng vệ miễn dịch chống lại virus mới này. Trong thực tế, sự quan sát các dịch bệnh trong quá khứ chỉ cho thấy rằng chỉ một nửa dân chúng là thật sự bị nhiễm bởi virus cúm mới. Hơn nữa, vì nhiều người bị nhiễm trùng không có một triệu chứng nào, tỷ lệ tấn công có thể xác nhận được bởi các thầy thuốc là khoảng 35% đối với virus này. Hoặc khoảng 20 triệu người ở Pháp.

TỶ LỆ SINH SẢN (TAUX DE REPRODUCTION): Đó cũng như là thang Richter của các nhà virus học. Tỷ lệ này biểu hiện số người bị lây nhiễm bởi một người bệnh duy nhất ở một nơi xác định nào đó. Ví dụ, người ta biết rằng trong một chiếc máy bay, một hành khách bị cúm cổ điển làm lây nhiễm trung bình hai người. Đối với cúm A (H1N1), tỷ lệ này đang còn đang được xác định, mặc dầu người ta biết rằng bình thường nó ít thay đổi từ virus cúm này qua virus khác. Tuy nhiên tỷ lệ có thể dao động tùy theo các loại dân chúng. Nói chung nó cao hơn đối với các trẻ em, bởi vì các nhà trẻ và các trường học là những nơi tiếp xúc được lặp đi lặp lại.

LÀN SÓNG THỨ HAI (DEUXIEME VAGUE) : từ ngữ này minh họa một điều chứng thực vẫn không được giải thích rõ : việc gần như biến mất được tiếp theo sau bởi một sự tái xuất hiện đột ngột của các đại dịch cúm. Ví dụ, cúm Tây Ban Nha đã gây nên 3 làn sóng nối tiếp nhau. Nhưng ở mỗi đại dịch có một kịch bản của nó. Đối với cúm A (H1N1), các mô hình (modèles) của các chuyên gia cũng tiên đoán ba làn sóng dịch. Làn sóng đầu tiên vào mùa hè này (tháng bảy và tháng tám) trong Nam bán cầu ; làn sóng thứ hai vào mùa thu này ở Bắc bán cầu, có khả năng quan trọng nhất bởi vì có liên quan phần lớn dân chúng thế giới ; sau cùng, làn sóng thứ ba lại xuất hiện ở Nam bán cầu vào tháng bảy và tháng tám năm 2010.

TÍNH ĐỘC LỰC (VIRULENCE): Tính độc lực được đo tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh gây nên bởi một vi trùng. Đối với cúm, chỉ có sự đo tỷ lệ tử vong (létalité) (số các người chết trong số các trường hợp cúm được khai báo) mới cho phép giải thích tính độc lực. Tuy nhiên là một tiêu chuẩn gián tiếp, bởi vì nói chung không phải virus cúm giết người, mà những nhiễm trùng khác đã hiện diện hay lợi dụng virus để tấn công cơ thể. Trong lịch sử của các trận dịch cúm, có một tý lệ tử vong trung bình : khoảng một tử vong trên 1.000 người bị nhiễm trùng. Nếu virus A (H1N1) đại dịch có thể gây chết nhiều hơn virus cúm mùa, không phải vì nó độc lực hơn, mà bởi vì nó là virus mới và tấn công những người không có phòng vệ miễn dịch thật sự chống lại nó.

VACCIN : Vaccin chống virus cúm mùa gồm có một virus A(H1N1) nhưng thuộc một loại khác với virus A (H1N1) đại dịch. Theo những dữ kiện được công bố vào tháng năm bởi CDC (trung tâm kiểm soát bệnh tật Atlanta) và vẫn còn được tranh cãi, thì 33% những người trên 60 tuổi được bảo vệ một phần bởi vì họ đã được tiếp xúc với những dạng A (H1N1) khác nhau, lưu hành trong những năm 1950, vào lúc được chủng ngừa trước đây hay đã bị một nhiễm trùng. Đó là điều mà người ta gọi là “ bảo vệ chéo ”, mà 6 đến 9% những nguời từ 18 đến 64 tuổi cùng được thừa hưởng. Ngược lại, những trẻ từ 0 đến 10 tuổi là dễ bị thương tổn nhất bởi vì đã không bao giờ gặp những dạng virus này. Đó là lý đó tại sao việc chế tạo một vaccin đặc hiệu chống lại A (H1N1) được thực hiện bắt đầu mùa hè này.

TÁI PHỐI HỢP DI TRUYỀN (REASSORTIMENT GENETIQUE): Virus cúm có một tính chất độc đáo : hai virus khác nhau có thể trao đổi một phần vật liệu di truyền của chúng (ARN) khi chúng gây nhiễm cùng lúc nơi cùng ký chủ. Virus A (H1N1) có thể còn được biến đổi hay không ? Vâng, bởi vì nó còn có thể tái phối hợp với một virus khác, ví dụ với virus của cúm mùa vào mùa đông này. Điều này có thể gây phiền phức, bởi vì virus A (H1N1) cúm mùa lưu hành hiện nay đề kháng với một trong những thuốc kháng virus chính (Tamiflu) và có thể truyền sự đề kháng này cho virus A (H1N1) đại dịch.
(SCIENCE ET VIE 8/2009)

5/ RƯỢU TỐT VÀ XẤU CHỐNG BỆNH ALZHEIMER

PREVENTION. Theo một công trình nghiên cứu được công bố mới đây, uống một hoặc hai ly rượu vang mỗi ngày làm giảm bớt nguy cơ bị bệnh Alzheimer nơi những người già.

Về rượu, dường như không bao giờ có gì là quyết định và lý tưởng cả. Trong khi cuốn sách mỏng của viện quốc gia ung thư (Inca) cách nay vài tháng chỉ rõ rằng việc uống chỉ một ly rượu mỗi ngày làm gia tăng một ít nguy cơ mắc phải ung thư, thì một công trình nghiên cứu mới đây, được trình bày vào đầu tuần này, nhấn mạnh rằng cũng sự uống rượu có mức độ này làm giảm xác suất trở thành nạn nhân của bệnh Alzheimer.Tài liệu xuất bản sau cùng này, được trình bày nhân hội nghị các chuyên gia ở Vienne, Áo, dành cho căn bệnh thoái hóa thần kinh Alzheimer, dựa trên một cuộc điều tra, được tiến hành nơi 3.079 người tuổi từ 75 và hon. Những người này đã được quan sát trong 6 năm và đã được yêu cầu ghi chú một cách chính xác việc uống rượu của họ. Rồi họ được chia thành 4 loại : không hề uống rượu, từ 1 đến 7 ly rượu mỗi tuần, 8 đến 14 ly mỗi tuần và hơn 14 ly được uống trong cùng thời gian, theo Kaycee Sink, một trong các tác giả của công trình nghiên cứu được thực hiện bởi đại học Hoa Kỳ Wake Forest de Winston-Salem (Bắc Caolina). Sau khi xem xét các bệnh nhân mỗi 6 tháng, thì ra trong số những người chỉ uống giới hạn mỗi ngày một hay hai ly rượu, nhất là rượu vang, thì nguy cơ bị bệnh Alzheimer được giảm 37%.

Ngược lại, trong số những người vốn đã có những rối loạn nhẹ về trí nhớ và đã uống hơn 14 ly mỗi tuần, nguy cơ bị bệnh Alzheimer tăng cao đến 2 lần nhiều hơn so với những người kiêng uống bất cứ loại rượu nào.

MỘT LỰA CHỌN “ CORNELIEN ”

Trong một báo cáo, được xuất bản năm 2007, đối chiếu một số lớn các công trình được thực hiện trên toàn thế giới, Inca kết luận rằng “ việc uống rượu đều đặn không được khuyến nghị. Sự gia tăng nguy cơ là đáng kể ngay cả đối với một sự tiêu thụ rượu có mức độ với một nguy cơ càng cao khi sự tiêu thụ càng lớn ”. Ý niệm này hiển nhiên gây nên sự la ó phản đối nơi những nhà làm rượu và những nhà trồng nho, nhưng cũng nơi vài thầy thuốc, xác nhận rằng tiêu thụ rượu mức độ thấp là có lợi, đặc biệt là chống lại các bệnh tim mạch. G.S Dominique Marininchi, tổng giám đốc Inca, đã tìm cách làm giảm bớt cuộc luận chiến : “ Chúng tôi đã muốn cho một thông tin. Và nói rằng, về rượu, ngưỡng tiêu thụ không nguy cơ, nghĩa là ngưỡng mà người ta không quan sát thấy tác dụng có hại về mặt ung thư, là rất thấp. Lời phát biểu của chúng tôi không phải là cấm đoán, nhưng là để thông tin.” Thực ra, tất cả vấn đề là muốn biết chúng ta có muốn một cuộc sống với một nguy cơ zero hay không : bởi vì uống rượu có mức độ cũng có những lợi ích khác (cảm thấy thoải mái và làm dễ đời sống xã hội).

Ở Vienne, người ta nhắc lại rằng với sự gia tăng tuổi thọ, khoảng 16 triệu người sẽ bị bệnh Alzheimer ở Châu Âu vào năm 2050, so với 7 triệu được thống kê năm 2.000. Bị một ung thư hay mất trí nhớ : một lựa chọn cornélien.
(LE FIGARO 6/8/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học số 119, Đề Mục Số 1)CUỘC LUẬN CHIẾN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA UNG THƯ VÀ SỰ TIÊU THỤ RƯỢU

6/ MỘT THÀNH PHẦN CỦA NHO CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI NHỮNG NHIỄM TRÙNG GÂY CHẾT NGƯỜI.

Những thí nghiệm trên chuột đã cho thấy rằng resvératrol có thể ngăn cản các nhiễm trùng huyết (septicémie).

Rượu vang đỏ tiếp tục làm say mê mọi loại nhà khoa học.Và một công trình nghiên cứu mới phát hiện những lợi ích mới của một vài thành phần của rượu vang đỏ, có thể góp phần vào tác dụng có lợi của nó đối với sức khỏe khi được tiêu thụ có mức độ. Những nhà nghiên cứu của Ecosse và Singapour đã quan tâm đến những tính chất chống viêm của một phân tử có nhiều trong rượu vang, resvératrol. Và trên các con chuột phòng thí nghiệm, họ đã có thể chứng tỏ rằng những tính chất chống viêm của resvératrol là có thực, và tìm một lời giải thích.

Resvératrol là một hydrocarbure (polyphénol của lớp stilbènes), được sản xuất bởi thực vật để bảo vệ chúng chống lại những tác nhân gây bệnh, các côn trùng hay vi khuẩn. Nho, các quả dâu tằm hay lạc sản xuất resvératrol với số lượng nhiều. Cũng như vài loại cây, thông hay cây bạch đàn. Và đầu những năm 1990, các công trình nghiên cứu có khuynh hướng chứng tỏ rằng resvératrol là tác nhân chịu trách nhiệm của “ French paradox ” (“ nghịch lý Pháp ”), được liên kết với một sự nhạy cảm ít hơn với các bệnh tim mạch.

TÍNH CHẤT CHỐNG VIÊM

Ngày nay, chính những tính chất chống viêm của resvératrol đã được nêu lên. Các nhà nghiên cứu đã lấy hai nhóm chuột. Ở nhóm thứ nhất họ đã cho resvératrol. Ở nhóm thứ hai, họ không cho gì cả. Rồi họ tiêm vào cả hai nhóm chuột những tác nhân gây viêm mạnh, có khả năng làm phát khởi nhiễm trùng huyết, có thể gây nên tử vong.

Những con chuột, đã được nhận resvératrol, vẫn tiếp tục hoàn toàn mạnh khỏe, trong khi những con chuột không được cho resvératrol đã phát triển những triệu chứng viêm mạnh. Và những nhà nghiên cứu đã có thể chứng tỏ rằng resvératrol tác dụng bằng cách ngăn cản sự tạo thành của 2 enzyme, vốn đóng một vai trò thiết yếu trong các quá trình viêm. Mặc dầu rất còn sơ khởi, những kết quả này có thể mở đường cho những phép điều trị hiệu quả hơn chống lại các bệnh nhiễm trùng. Thật ra mục tiêu của công trình nghiên cứu của chúng tôi là nhận diện một hướng liệu pháp để giúp điều trị những bệnh viêm nặng, Alirio Alendez, thuộc đại học Glasgow đã giải thích như thế.Bây giờ phải cụ thể hoá tất cả những điều đó trên người.
(LE FIGARO 6/8/2009)

7/ POLYPILL : TIẾN BỘ ĐIỀU TRỊ HAY ĐIỀU LẠ MẮT ?

Sự phối hợp của nhiều loại thuốc trong cùng một viên thuốc duy nhất, nhằm kiểm soát nguy cơ tim mạch, là một triển vọng hấp dẫn. Giáo sư Olivier Gurné (Cliniques Universitaires Saint-Luc, Bruxelles) điểm tình hình về điều mới lạ này và yêu cầu chúng ta có một cái nhìn khá phê phán. “ Polypill ” phải chăng thật sự là “ viên thuốc diệu kỳ ” (wonder pill).

Hỏi : Giáo sư Gurné, ý niệm về viên thuốc phối hợp (pilule combinée) đã sinh ra đời như thế nào ?
Olivier Gurné : ý niệm viên thuốc phối hợp (pilule combinée) hay “ polypill ”, như các người Anglo-Saxons thường gọi, đã có từ cách nay vài năm.
Ngay vào năm 2003, sự tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng sự phối hợp của nhiều loại thuốc nhằm vào tim mạch, trong cùng một viên thuốc duy nhất, làm giảm khoảng 80% tỷ lệ mắc phải những biến cố tim mạch hay những biến cố mới, nơi những người 55 tuổi hoặc hơn và nơi những người đã có một bệnh tim mạch.

Hỏi : Những dữ kiện mới đây có khuynh hướng xác nhận nó…
Olivier Gurné : Thật vậy, đó là công trình nghiên cứu TIPS (The Indian Polycap Study), đã được trình bày nhân một hội nghị Tim học quan trọng ở Hoa Kỳ và đã đưa đến sự công bố một bài viết trong một tờ báo y học nổi tiếng.

Công trình nghiên cứu này, được tiến hành ở Ấn Độ, nơi 2053 người tuổi từ 45 đến 80, không bị bệnh tim mạch, nhưng có ít nhất một yếu tố nguy cơ. Công trình đã so sánh một viên thuốc phối hợp (pilule combinée) chứa 5 loại thuốc (3 thuốc chống cao áp, một thuốc làm giảm nồng độ mỡ trong máu và aspirine) với cùng các thuốc loại thuốc này nhưng được cho riêng rẻ, dưới dạng đơn liệu pháp (monothérapie) hay dưới dạng kết hợp khác nhau các viên thuốc.

Hỏi : Các kết quả cho chúng ta biết những gì ?
Olivier Gurmé : Các kết quả cho thấy rằng hiệu quả của “ polypill ” lên huyết áp, mỡ và sự làm loảng máu (fluidification du sang) gần như tương đương với hiệu quả có được bởi một điều trị có tác dụng đặc hiệu lên một trong các tham số này. Nói một cách khác, quy tụ năm loại thuốc trong cùng một viên thuốc không làm biến đổi hiệu quả của những loại thuốc này khi chúng được cho một cách riêng rẻ.

Phát xuất từ những nhận xét này, các tác giả của công trình nghiên cứu cho rằng “ polypill ” có thể làm giảm 62% các biến cố tim mạch.

Tính dung nạp cũng y hệt nhau : sự chịu thuốc không bị biến đổi bởi sự gia tăng số các loại thuốc trong “ polypill ”. Tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân bỏ điều trị không phải là không đáng kể vì lẽ tỷ lệ này là 10 đến 15%.

Hỏi : Nếu tính hiệu quả và độ dung nạp của “ polypill ” là giống với các điều trị được cho riêng rẻ, thế thì đâu là lợi ích của nó ?
Olivier Gurné : Chủ yếu là sự dễ sử dụng. Mục đích của viên thuốc phối hợp là làm dễ sự tuân thủ điều trị. Sự tuân thủ này có khuynh hướng giảm với số các viên thuốc được uống vào mỗi ngày. Vậy chúng ta có thể tưởng tượng rằng sự quy tụ của 5 loại thuốc trong một viên thuốc duy nhất là có lợi trên quan điểm này.

Hỏi : Ông nghĩ thế nào ?
Olivier Gurné : Dầu cho triễn vọng này có hấp dẫn thế nào chăng nữa, nó cũng khiến tôi phải bày tỏ vài điều dè dặt.Việc đánh giá của viên thuốc phối hợp đã chỉ được nhắm vào những yếu tố nguy cơ, chứ không phải vào những biến cố tim mạch.

Có thể rằng một sự kiểm soát thích hợp của những yếu tố này làm giảm các biến chứng, nhưng điều đó còn cần được chứng minh. Việc giảm 62% được các nhà nghiên cứu nói đến không gì khác hơn là một sự suy diễn. Sẽ cần phải xác nhận điều đó bằng những nghiên cứu bổ sung.

Sau đó, nếu “ polypill ” có thể cải thiện sự tuân thủ điều trị, thì đồng thời nó làm giảm khả năng theo một điều trị nhắm đích và cá thể hóa (traitement ciblé et individualisé), hoàn toàn tương ứng với profil nguy cơ riêng cho mỗi người.

Sau cùng, và nhất là, vài người đi đến chỗ xem “ polypill ” như là một viên thuốc nhiệm màu cho phép họ coi thường những quy tắc vệ sinh cơ bản : cóc cần một chế độ ăn uống quân bình, luyện tập thể dục hay cai thuốc lá vì lẽ “ viên thuốc nhiệm màu ” bảo vệ tôi.

Lý luận đơn giản này thật đặc biệt nguy hiểm. Thật vậy chúng ta vẫn phải là những tác nhân của nền y tế của chúng ta. Nếu viên thuốc phối hợp đưa đến một loại thụ động thỏa mãn, thì nó phải được cấm chỉ không một phán xét nào khác.

Hỏi : Sau hết những ứng viên tốt nhất của sự sử dụng viên thuốc phối hợp là những ai ?
Olivier Gurné : “ polypill ” có thể to ra hữu ích nơi những bệnh nhân kiêm nhiệm các yếu tố nguy cơ và cảm thấy khó khăn buộc phải uống nhiều loại thuốc.

Thật vậy, sự tuân thủ điều trị của một liệu pháp cá thể hóa buộc phải đáp ứng với những cố gắng giáo dục được triển khai bởi thầy thuốc gia đình hay thầy thuốc chuyên khoa tim. Polypill có thể có một lợi ích nơi những người ít nhạy cảm hay tiếp thu với khía cạnh giáo dục vốn gắn liền với công tác của chúng ta.
(CŒUR ET ARTERE 6/2009)

Đọc thêm :
VIÊN ĐA DƯỢC GIẢM NGUY CƠ TIM MẠCH
Thời Sự Y Học số 120 Đề Mục Số 1/ CHỈ MỘT VIÊN THUỐC ĐỂ CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TIM MẠCH

8/ MÁY BAY : NHỮNG LỜI KHUYÊN ĐỐI VỚI CÁC HÀNH KHÁCH.

Những chuyến đi bằng đường hàng không, mà số lượng rất gia tăng vào mùa hè, có liên hệ đến gần hai tỷ người mỗi năm. Thời gian kéo dài của vài chuyến bay, kết hợp với sự lão hóa của dân số, đã làm dễ sự xuất hiện những vấn đề về sức khỏe, mới đây đã được xem xét lại bởi một nhóm nghiên cứu người Mỹ trong một bài báo của Lancet. Áp lực bên trong các cabine tương ứng với một độ cao từ 1.524 đến 2.438 mét, làm giảm áp suất oxy trong không khí thở từ 95 xuống 60 mmHg. Do đó, sự hạ hàm lượng oxy trong máu có thể tạo nên nơi những người bị viêm phế quản tắc mãn tính những suy hô hấp trong lúc bay. Do đó trước khi đi máy bay cần thăm khám. Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse) với biến chứng nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire) đã được biết rõ đã xảy ra sau 8 giờ bay. Phương pháp phòng ngừa tốt nhất : cử động các cẳng chân một cách đều đặn, uống nhiều nước và nơi những người có tố bẩm, mang tất chun dài (bas de contention).. hoặc tiêm héparine dưới da trước khi đi. Đối với nguy cơ nhiễm khuẩn trong trường hợp dịch, phương pháp phòng ngừa là mang mặt nạ.
(PARIS MATCH 12/8/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học số 119 Đề Mục Số 7/ VỚI NGÀY CÀNG NHIỀU NHỮNG CHUYẾN BAY ĐƯỜNG DÀI, TỶ LỆ MẮC CÁC BỆNH LÝ NGÀY CÀNG BAY CAO

9/ MỘT PHỤ NỮ CÓ THAI KHÔNG NÊN CỬ ĂN.

Michael Symonds, trưởng phòng sức khỏe trẻ em của đại học Nottingham.

Càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn uống của một phụ nữ có thai có một tác động lên sức khỏe về sau của đứa bé.

Hỏi : Hai cơ quan y tế Hoa Kỳ yêu cầu các phụ nữ bị tăng thể trọng chỉ được lên cân 4 đến 8 kg trong thời kỳ thai nghén, điều này cần một chế độ ăn uống kiêng cữ. Ông nghĩ thế nào ?
Michael Symonds : Khó mà cho những lời khuyến nghị chung chung. Bởi vì chứng béo phì là một yếu tố nguy cơ đối với phụ nữ cũng như đối với em bé, nên các phụ nữ này phải là đối tượng của một sự theo dõi. Tuy nhiên, sự kiêng cữ ăn uống trong thời kỳ thai nghén không phải là điều tốt. Nó có thể gây nên sự xuất hiện những vấn đề sức khỏe nơi trẻ em, lúc trở thành người lớn : cao huyết áp, bệnh đái đường, các bệnh thận...Những thí nghiệm của chúng tôi trên cừu đã chứng tỏ điều đó một cách rõ ràng.

Hỏi : Những thí nghiệm này diễn ra như thế nào ?
Michael Symonds : Chúng tôi đã theo dõi hai nhóm cừu cái trong thời kỳ thai nghén. Nhóm thứ nhất ăn uống bình thường. Nhóm thứ hai buộc phải theo một chế độ ăn uống trong 1/3 thời kỳ thai nghén (giảm bớt 50% calories). Những con cừu non của hai nhóm sau đó được đặt vào trong một môi trường làm dễ sự béo phì (ít khả năng hoạt động vật lý, ăn uống thỏa thuê). Tất cả đã trở nên béo phì. Nhưng những con cừu non mà cừu mẹ vốn đã theo một chế độ kiêng khem bị có thêm những vấn đề : loạn chức năng của mô mỡ và đề kháng insuline, mà ta biết là dẫn đến các biến chứng của béo phì (đái đường, các bệnh tim mạch). Như thế chế độ ăn uống kiêng khem của cừu mẹ đã làm cho các cừu non dễ bị thương tổn hơn.

Hỏi : Cừu há chẳng phải quá cách xa với người để có thể suy diễn những kết quả này ?
Michael Symonds : Trái lại đó là một mô hình tốt để nghiên cứu tác dụng của hạn chế calories. Sự phát triển thai nhi của cừu gần giống với sự phát triển thai nhi người ; mỡ của nó có tính chất tương tự với mỡ của chúng ta. Mặt khác những kết quả mà chúng tôi có được trên cừu phù hợp với những nghiên cứu dịch tễ học trên người. Những công trình nghiên cứu này đặc biệt cho thấy rằng, sau nạn đói mà những người Hòa Lan đã chịu đựng trong Đệ Nhị Thế Chiến, thì những đứa con của họ ngày nay bị nhiều bệnh tim mạch và đái đường hơn so với những phụ nữ đã không hề biết đến những hạn chế ăn uống.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)

10/ LÀM VIỆC BAN ĐÊM VÀ GIỜ GIẤC KHÔNG ĐIỂN HÌNH : KHI ĐỒNG HỒ SINH HỌC BỊ RỐI LOẠN.

Làm việc ban đêm, giờ giấc thay đổi, trực gác, đó là những bó buộc mà vài người làm việc đã trải qua, với những hậu quả trên sức khỏe.

Những nhịp sinh học (rythmes circadiens) được ghi trong các gènes có lẽ từ hơn hai tỷ năm và hiện diện ngay cả ở cyanobactérie. Nơi những động vật có vú, chim và loài bò sát, những nhịp sinh học này được xác định bởi một mô não biệt hóa, các nhân trên giao thoa thị giác (noyaux suprachiasmatiques). Các nhân này tiếp nhận những thông tin ánh sáng từ những tế bào hạch (cellules ganglionnaires) của võng mạc, qua dây thần kinh thị giác. Hệ thống rất phức tạp này, dưới sự phụ thuộc vào khoảng 12 gène, điều khiển cả một loạt các tham số, diễn biến theo một chu kỳ khoảng 24 giờ : sự luân phiên thức ngủ (alternance veille sommeil), sự tiết các hormone khác nhau, thân nhiệt, huyết áp, sự phân chia tế bào...

RỐI LOẠN NHỊP, RỐI LOẠN SỨC KHOẺ.

Chúng ta là những động vật sống ban ngày và được chương trình hóa để ngủ vào ban đêm. Nhưng những yêu cầu của vài nghề nghiệp (những nghề y tế và cứu thương, những người điều khiển tổng đài …) và những bức thiết kinh tế của các xã hội hậu công nghiệp của chúng ta, buộc nhiều người phải theo những giờ giấc làm việc không điển hình (horaires atypiques). Hậu quả khả dĩ đầu tiên của công tác trực gác là shiftwork sleep disorder, được đặc trưng bởi một sự mất ngủ vào các giai đoạn của , với một hậu quả lên món nợ ngủ (dette de sommeil), vì lẽ những người bị rối loạn này ngủ 1-4 giờ ít hơn so với những người làm việc ban ngày. Điều này dẫn đến một tình trạng ngủ gà vào những thời kỳ thức tỉnh. Những yếu tố nguy cơ cá nhân là những nhu cầu căn bản , typologie (những người “ buổi sáng ” nhạy cảm hơn), giới tính (rối loạn thường xảy ra hơn nơi các phụ nữ) và tuổi (những người có tuổi hơn ít dung nạp hơn công việc trực gác).

Công việc trực gác (travail posté) cũng là một yếu tố nguy cơ của những rối loạn dạ dày-ruột (sự ngon miệng, rối loạn transit, loét dạ dày-ruột) và chuyển hóa (thặng dư thể trọng, hội chứng chuyển hóa và bệnh đái đường). Công việc trực gác cũng được liên kết với cao huyết áp. Đặc biệt người ta đã phát hiện sự hủy bỏ nhịp ngày đêm của huyết áp trong những thời kỳ làm việc ban đêm, trong khi lúc làm việc ban ngày một sự hạ các trị số vào ban đêm từ 10 đến 20% đã được quan sát. Các phụ nữ cũng không được miễn trừ bởi vấn đề này : người ta đặc biệt ghi nhận ảnh hưởng của làm việc trực gác lên tính không đều của kinh kỳ và giảm khả năng sinh đẻ. Về mặt sản khoa, sự liên kết với một sự gia tăng tần số các sinh non và trọng lượng thấp của thai nhi lúc sinh đã được nhận thấy. Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư đã thực hiện một duyệt xét tư liệu và đã kết luận rằng làm việc trực gác gảy nên sự hủy bỏ nhịp ngày đêm, có lẽ có khả năng sinh ung thư nơi người. Nhiều cơ chế có thể giải thích hiệu quả này.

Thật vậy, một loạt các chức năng bị ảnh hưởng bởi nhịp ngày đêm : sự giải độc các độc chất bởi gan, sự phân chia tế bào, sự tăng sinh tế bào. Những ung thư liên hệ là những ung thư vú, nội mạc tử cung, đại tràng và tuyến tiền liệt.Thời gian chịu trên 20 năm dường như có tính chất quyết định, cũng như những yếu tố nhạy cảm cá nhân.

Trên bình diện cá nhân, những hậu quả của việc làm trực gác cũng có tính chất xã hội và gia đình : cuộc sống xã hội và gia đình không được thỏa mãn, đời sống tình dục bị rối loạn, nguy cơ ly dị gia tăng. Nguy cơ bị tai nạn cũng gia tăng dầu đó đang lúc công tác hay lúc cầm lái. Những tai nạn này cũng có những hậu quả quan trọng trên bình diện tập thể và y tế cộng đồng. Phải biết rằng 4 tai họa quan trọng của thế kỷ XX (chìm tàu Titanic, Three Mile Island, Bhopal, Tchernobyl) đã xảy ra vào giữa đêm từ 1 giờ 30 đến 4 giờ sáng.
(LE GENERALISTE 21/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/8/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#15 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 17 August 2009 - 01:37 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : KẾ HOẠCH CHO BUỔI TỰU TRƯỜNG.

Chính các ông tỉnh trưởng sẽ lấy quyết định đóng cửa các cơ sở bị lây nhiễm bởi đại dịch.

Trong khi bảng tổng kết sau cùng báo cáo 180.000 bệnh nhân và 1.462 người chết trên thế giới, thì nước Pháp và các trường học chuẩn bị đối đầu với cúm A (H1N1). Để ngày tựu trường không biến thành cơn ác mộng và để ngày nhập học không phải là dấu hiệu của sự bành trướng đột ngột của đại dịch, ông Bộ trưởng Giáo dục quốc gia chuẩn bị và dự kiến “ đóng cửa phòng ngừa tất cả các trường học ”, nếu virus cúm trở nên độc lực hơn.

Học thuyết đóng cửa các trường học là một chủ đề nhạy cảm. Vì lẽ các bố mẹ vừa lo lắng khi thấy con em mình bị lây nhiễm, đồng thời ngập ngừng khi thấy trường học bị đóng cửa nhiều ngày, thậm chí trong 12 tuần, thời điểm của đỉnh cao đại dịch. Trong tình trạng hiện nay của virus, không quá độc lực, sự đóng các trường học bị lây nhiễm trong vòng một tuần, như điều đó đã được thấy trong tháng sau, được dự kiến. “ Điều đó đã là hiệu quả ”, Claude Wachtel, chuyên viên về cúm đã đánh giá như vậy. Theo ông, ở Pháp dịch bệnh ít tiến triển hơn so với Anh, là nơi chính sách ít hà khắc hơn và những kỳ nghỉ hè xảy ra muộn hơn. Trên thực tế, các học sinh có thể gây nhiễm ngay cả trước khi các triệu chứng xuất hiện. Và cúm lan tràn cực kỳ nhanh trong các trẻ em. “ Những trẻ nhỏ là những ổ chứa virus, Claude Wachtel đã giải thích như vậy. Chúng dễ bị mắc bệnh hơn, dễ gây nhiễm hơn và lâu hơn những người trưởng thành. ”

NHỮNG CÂN NHẮC KINH TẾ.

Sự đóng cửa trường kềm hãm sự lây nhiễm này. Mỗi năm, vào tháng hai, những kỳ nghỉ học tác động như một coupe-grippe. Số các trường hợp cúm mùa (grippe saisonnière) giảm 15% trong khi đại dịch được cầm lại. Do đó việc đóng các trường học có những ưu điểm của nó trong việc quản lý gánh nặng của các cơ sở y tế, đồng thời cùng lúc tránh cho tất cả các trẻ em khỏi bị bệnh. Tuy nhiên, một nhóm nghiên cứu Pháp-Anh đã cho thấy, trong The Lancet, rằng sự đóng cửa trường 3 tháng đưa đến tỷ lệ vắng mặt bổ sung 18%, các bố mẹ phải giữ con cái, và một sự thất thu từ 0,2 đến 1% của PIB.

Tuy nhiên việc quyết định đóng cửa toàn bộ, nếu có tính đến những cân nhắc kinh tế, sẽ được thúc bách bởi khả năng biến dị của virus, diễn biến một cách không tiên đoán được. “ Trong trường hợp không có sự can thiệp y tế, bilan của Pháp có thể được xác lập trong khoảng giữa 9 và 21 triệu người bệnh, những tử vong giáng vào từ 91.000 đến 212.000 người vào cuối đại dịch. 500.000 đến 1 triệu người có thể phát triển những biến chứng cần phải nhập viện, ta có thể đọc được những dữ kiện này trong kế hoạch quốc gia phòng ngừa và chống đại dịch cúm của SGDN."
(LE FIGARO 12/8/2009)

2/ CÁC TRẺ EM : NHỮNG MỤC TIÊU ƯU TIÊN CỦA H1N1.

Chính các trẻ em là những đối tượng bị ảnh hưởng nhất bởi cúm A, ở Âu Châu và trên thế giới.

Từ khi xuất hiện vào tháng 4 vừa rồi ở Mexico, chúng ta biết rằng virus H1N1 của cúm A không tương ứng với sơ đồ cổ điển của cúm mùa (grippe saisonnière). Thật vậy, cúm mùa chủ yếu gây bệnh cho người già trong khi cúm A đánh vào nhiều trẻ em mạnh khỏe, tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Ở Âu Châu, theo những thống kê của ECDC (European Center for Disease prevention and Control), lứa tuổi này là bị ảnh hưởng nhất với gần 35% các trường hợp không nhập viện và đứng hàng thứ hai đối với các trường hợp được nhập viện với 25%, sau lứa tuổi 20-29. Những công trình nghiên cứu được thực hiện ở Hoa Kỳ, Canada, Chili, Nhật Bản, Anh đều chứng tỏ như vậy.

OMS hiện nay đang thiết lập profil dịch tễ của những nhóm dân nguy cơ của đại dịch cúm. Chúng ta sẽ xem các trẻ em có thuộc vào trong các nhóm nguy cơ hay không. Tuy nhiên chúng ta có thể nghĩ như vậy, bởi vì, dầu cho cúm A ít nghiêm trọng chăng nữa, các trẻ nhỏ vẫn mẫn cảm đối với cúm và có thể có những biến chứng như co giật hay viêm tai. Tuy nhiên, hiện nay, cơ quan OMS có căn cứ ở Genève, cho rằng các nhân viên y tế sẽ phải được chủng ngừa ưu tiên để không làm xáo trộn các tổ chức y tế.

NGHIÊN CỨU CỦA ANH.

Ở phòng liên lạc của OMS, người ta nhấn mạnh rằng, dẫu sao, chính mỗi nước sẽ lấy những biện pháp thích ứng. Chiến lược này được giải thích vì những lý do cầm quyền, nhưng cũng bởi vì mức độ nghiêm trọng của cúm A thay đổi nhiều từ nước này qua nước khác.

Trong lúc chờ đợi vaccin (còn sẽ phải chờ nhiều tuần) và những quyết định của các chính quyền quốc gia, các bố mẹ quan tâm nhận được thông tin. Hôm kia, người ta đã nói nhiều về một công trình nghiên cứu của Anh, được công bố trong British Medical Journal, cho rằng các trẻ em bị cúm A không được điều trị bằng Tamiflu.

Hôm qua, Cơ quan Afssaps đã giải thích trong một thông báo rằng lời khuyến nghị này không áp dụng ở Pháp, ở đây Tamiflu phải được kê toa, nhưng ở Anh, là nơi chẩn đoán được thực hiện bằng điện thoại, các trẻ em không bị cúm cũng có thể sử dụng loại thuốc này.
(LE FIGARO 12/8/2009)

3/ CÁC BỆNH THOÁI HÓA THẦN KINH : HY VỌNG CỦA ĐA LIỆU PHÁP (PLEOTHERAPIE).

G.S Daniel Cohen, nhà khám phá bộ gène (génome) người, giải thích chiến lược điều trị mới này, nhằm đồng thời nhiều tác nhân chịu trách nhiệm của bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative).

Hỏi : Đa liệu pháp (pléothérapie) là gì ?
G.S Daniel Cohen : Phương pháp mới này nhằm điều trị các bệnh nhân theo 3 nguyên tắc. 1. Sử dụng những hỗn hợp thuốc. 2. Các thuốc đã phải được thương mãi hóa (được chấp thuận bởi chánh quyền y tế). 3. Sự hiệu chính cocktail thuốc được thực hiện với những liều lượng dành cho em bé.

Hỏi : Tại sao phương thức mới này ?
G.S Daniel Cohen : Chúng ta đang chịu một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng : hầu như không còn thuốc mới nữa, nhất là đối với những bệnh thoái hóa thần kinh maladies neurodégénératives). Chúng ta đang bị kẹt máy. Bệnh Alzheimer, Parkinson và những bệnh lý tương cận khác vẫn luôn luôn không có điều trị chữa lành... Có một lỗ trống lớn ở đó ! Cho đến mãi ngày nay, phương pháp thông thường là tìm cách nhắm đích vào một yếu tố gây rối loạn duy nhất, nguồn gốc của một căn bệnh. Thường thường chúng ta thành đạt được, nhưng ngày nay chúng ta đã đi đến giới hạn : số những bệnh nhân có thể chữa lành với một phương thuốc duy nhất đang ở bên bờ cạn kiệt. Vậy thì phải phát minh một thế hệ những thuốc mới.

Hỏi : Chiến lược điều trị đa liệu pháp (pléothérapie) này nhằm vào cái gì ?
G.S Daniel Cohen : Một bệnh thần kinh hiếm khi là do một phân tử duy nhất (một protéine), mà thường do nhiều phân tử tạo thành một hệ thống. Thay vì nhắm vào một đích duy nhất như thường lệ, chúng tôi đã quyết định tấn công đồng thời nhiều đích. Nhưng để được như thế, trước hết phải nhận diện chúng. Sự nhận biết này đã có thể thực hiện nhờ một phương pháp phân tích di truyền rất phức tạp, mà chúng tôi đã hiệu chính và đặt tên là “ Nexus ”. Phương thức phức tạp này cho phép, từ những mẩu nghiệm máu, kiểm kê những protéine gây rối loạn, là nguồn gốc của một căn bệnh, bằng cách nhận diện trước hết những gène “ chế tạo ” chúng (ghi mã chúng).

Hỏi : Làm sao người ta trung hòa được những phân tử chịu trách nhiệm này ?
G.S Daniel Cohen : Phương cách của chúng tôi trước hết nhằm tìm kiếm trong số các thuốc có sẵn trên thị trường, những thuốc nào khả dĩ có một hiệu quả lên các mạng protéine bị rối loạn. Rồi thì phối hợp chúng, với những liều lượng nhỏ, thành một cocktail điều trị hiệu quả. Đó là một ý tưởng rất đơn giản : người ta tạo cái mới từ cái cũ.

Hỏi : Đến nay, những thử nghiệm nào đã được thực hiện ?
G.S Daniel Cohen : Chúng tôi đã áp dụng phương pháp này cho 3 loại bệnh thoái hóa thần kinh (neurodégénérescence) : bệnh Charcot-Marie-Tooth (gốc di truyền), một bệnh khác do độc chất và bệnh Alzheimer. Trước hết trong phòng thí nghiệm, chúng tôi đã có thể quan sát một hiệu quả rất rõ rệt của những cocktail các phân tử, nhắm vào các mạng protéine, được nhận diện bởi phương pháp phân tích Nexus. Trong một giai đoạn hai, chúng tôi đã chuyển qua nghiên cứu động vật đối với bệnh Charcot-Marie-Tooth và đối với bệnh thần kinh do độc chất. Trong hai trường hợp, hàng trăm con chuột, mang cùng những bệnh thoái hóa thần kinh như người, đã được chữa lành mà không có những tác dụng phụ. Đối với bệnh Alzheimer, được cổ võ bởi những kết quả thu được trong phòng thí nghiệm, sắp đến chúng tôi sẽ bắt đầu những nghiên cứu của chúng tôi nơi động vật.

Hỏi : Khi nào ông sẽ bắt đầu những thử nghiệm trên người ?
G.S Daniel Cohen : Ngay năm 2010, chúng tôi sẽ bắt đầu điều trị những bệnh nhân bị bệnh Charcot-Marie-Tooth đặc biệt gây tật nguyền. Đối với công trình nghiên cứu quốc tế này, chúng tôi đang chọn lọc 200 bệnh nhân ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ. Nếu những thử nghiệm trên người chứng rõ, các thuốc được sử dụng bằng phương pháp đa liệu pháp (pléothérapie) sẽ xuất hiện trên thị trường 3 hay 4 năm sau đó.

Hỏi : Những bệnh lý nào khác sẽ có thể được điều trị bởi đa liệu pháp (pléothérapie) ?
G.S Daniel Cohen : Trên nguyên tắc người ta sẽ có thể điều trị tất cả các nhu cầu y khoa : các rối loạn tâm thần, như các loạn tâm thần, Toc, chứng bỏ ăn (anorexie), bệnh tự kỷ (autisme), nhưng cũng những bệnh hiếm quan trọng.
(PARIS MATCH 9/7-15/7/2009)

4/ NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ VỢ LÔI KÉO NHỮNG PHỤ NỮ ĐỘC THÂN.

Theo một công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Jessica Parker và Melissa Burkley, thì đại đa số những phụ nữ độc thân bị lôi kéo bởi những người đàn ông đã có gia đình. Những phụ nữ độc thân này đã đọc các bản văn mô tả những người đàn ông, được trình bày như là độc thân hay sống lứa đôi, và phải chỉ rõ với loại đàn ông nào họ ước muốn làm quen và làm nhân tình. Những phụ nữ này đại đa số đã chọn người đàn ông đã có gia đình. Còn các người đàn ông thì thường thích những phụ nữ độc thân hơn. Có một giải thích (sinh học) cho tất cả những điều này : các phụ nữ ở tuổi sinh đẻ muốn tìm kiếm một người bạn đường đã có thử thách trên hai bình diện, đó là khả năng sinh đẻ và khả năng chăm lo con cái. Hai lãnh vực mà những người đàn ông đã có gia đình thường có một lợi thế.
(CERVEAU et PSYCHO 7-8/2009)

5/ ĐỂ SỐNG LÂU HƠN, HÃY ĂN ÍT HƠN.

Một sự giảm cung cấp calo làm chậm lại sự lão hóa và làm giảm rõ rệt nguy cơ mắc phải ung thư, bệnh đái đường và teo não bộ của... các con khỉ, tạp chí Science đã báo cáo như vậy.

Những kết quả của công trình nghiên cứu này, được tiến hành trong 20 năm trên nhiều chục con khỉ (các macaque rhésus) có thể mang lại cách nhìn chi tiết nhất về tác động của hiện tượng này và những ý nghĩa của nó trên người, các tác giả của những công trình này đã nhấn mạnh như thế.

“ Chúng tôi đã có thể cho thấy rằng sự giảm calo có thể làm chậm lại sự lão hóa trong một loài của các con linh trưởng ”, BS Richard Weindruch, giáo sư y khoa thuộc Đại Học Wisconsin, tác giả chính của công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ ngày 10/7, đã phát biểu như vậy.

“ Chúng tôi đã quan sát thấy rằng việc giảm cung cấp calo làm giảm 3 lần nguy cơ phát triển những căn bệnh liên quan với tuổi và làm gia tăng tỷ lệ sống thêm ”, ông nói như vậy. Vào lúc kết thúc công trình nghiên cứu, một nửa (50%) các động vật được để cho tự do ăn uống thỏa thuê vẫn còn sống, so sánh với tỷ lệ 80% những động vật trong nhóm tiêu thụ 30% ít hơn cùng những thức ăn.

76 macaque rhésus được chọn lọc cho công trình nghiên cứu này là những con khỉ trưởng thành tuổi từ 7 đến 14 tuổi. Ngày nay, chỉ còn 33 con, trong đó 11 con ăn xã láng và 20 con chịu một chế độ giảm calo.

Tuổi thọ trung bình của những con khỉ này là 27 tuổi. Động vật lớn tuổi nhất của công trình nghiên cứu là 29 tuổi.

“ Sự giảm calo có một tác động mạnh lên sự gia tăng tuổi thọ nếu chúng ta xem tỷ lệ tử vong là do những bệnh liên kết với tuổi tác, BS Weindruch đã nhấn mạnh như vậy.Tỷ lệ các khối u ung thư và các bệnh tim mạch nơi những động vật của công trình nghiên cứu là một nửa ít hơn nơi những con khỉ chịu một sự hạn chế calo, so với nhóm chứng ăn uống tự do không giới hạn ”, ông đã xác nhận như thế.

Lại còn đặc sắc hơn, bệnh đái đường hoàn toàn vắng mặt nơi những động vật chịu một sự giảm calo trong khi bệnh này thường xảy ra nơi những con khỉ tiêu thụ mọi thức ăn mà chúng muốn . “ Đến nay, chúng tôi đã quan sát thấy một sự vắng bóng hoàn toàn bệnh đái đường trong nhóm có cung cấp calo được thu giảm ”, BS Weinbruch đã nhấn mạnh như vậy. “ Ngoài ra sức khỏe não bộ của những động vật chịu sự giảm calo rõ rệt tốt hơn ”, BS Sterling Johnson, một thầy thuốc khoa thần kinh của Đại Học Wisconsin đã ghi nhận như vậy.

“ Công trình nghiên cứu này có thể giúp chúng ta hiểu những tác dụng của một sự giảm calo lên sự mất các tế bào thần kinh với quá trình lão hóa ”, ông đã giải thích như vậy. Các nhà khoa học quan tâm những tác dụng được chứng minh của việc giảm calo lên sự kéo dài tuổi thọ từ những công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện trong những năm 30 trên chuột.
(LE SOIR 12/7/2009)

6/ ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI Ở THỤY SĨ : MỔ NÃO BẰNG SIÊU ÂM.

TECHNOLOGIES. Các nhà ngoại thần kinh Thụy Sĩ lần đầu tiên trên thế giới đã có thể thực hiện các can thiệp ngoại khoa của não bộ mà không cần phải mở hộp sọ nhờ sử dụng siêu âm, đại học Zurich đã loan báo như vậy hôm thứ hai. Các BS Daniel Jeanmonod và Ernst Martin đã áp dụng vào ngoại khoa trong sọ (chirurgie intracranienne) kỹ thuật siêu áp điều tiêu có năng lượng cao (technique des ultrasons focalisés de haute énergie) (UFHE), đã được sử dụng từ nhiều năm nay trong niệu khoa để chống lại các ung thư tuyến tiền liệt.

Trong một công trình nghiên cứu lâm sàng bắt đầu tháng 9 năm 2008, mười người trưởng thành đã chịu những phẫu thuật với kết qua thành công và không có biến chứng. Những cuộc phẫu thuật đã được thực hiện không cần gây mê, trên những bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo.

Trong các phẫu thuật, 1.024 máy phát (émetteur) gởi những làn sóng siêu âm xuyên qua hộp sọ. Sự tăng cao nhiệt đó được sinh ra như thế, thường xuyên nằm dưới sự kiểm soát.

Những bệnh nhân được điều trị bị những cơn đau bệnh thần kinh (douleurs neuropathiques), BS Martin đã xác nhận như vậy. Bệnh lý này đặc biệt đánh vào những người bị liệt 4 chi (tétraplégiques) hay đã bị cắt cụt chi. Não bộ không còn tiếp nhận những tín hiệu từ các chi nữa, các dây thần kinh của các chi gởi những kích thích gây nên sự đau đớn. Các siêu âm đã cho phép làm im những kích thích này.

Các nhà khoa học của Zurich hy vọng có thể mở rộng trường sử dụng của các siêu âm đến các khối u của não bộ hay đến các can thiệp sau các tai biến mạch máu não.
(LE SOIR 23/6/2009)

7/ HƯỚNG VỀ MỘT PHÁT HIỆN SỚM CỦA UNG THƯ BUỒNG TRỨNG.

Một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa nhận diện một chất chỉ dấu di truyền (marqueur génétique) có liên hệ trong bệnh này.

Một ngày nào đó, người ta sẽ có thể nhận diện được rất sớm những phụ nữ có những nguy cơ sẽ phát triển ung thư buồng trứng đáng sợ nhờ những trắc nghiệm di truyền hay không ? Một nhóm những nhà nghiên cứu quốc tế, được lãnh đạo bởi các người Anh Paul Pharoah (đại học Cambridge) và Simon Gayther (University College de Londres), vừa vượt qua bước đầu tiên khi khám phá ra một đột biến di truyền (variant génétique) thường gặp, làm gia tăng 20 đến 40 % nguy cơ xuất hiện những ung thư buồng trứng. Những kết quả của công trình nghiên cứu to lớn này, bao gồm gần 10.000 phụ nữ bị ung thư buồng trứng và 13.000 người chứng, vừa được công bố trong Nature Genetics.

Mặc dầu tương đối hiếm (6.800 những trường hợp mới mỗi năm ở Anh, 4.400 ở Pháp), các ung thư buồng trứng có một tiên lượng u tối bởi vì chúng thường được chẩn đoán muộn, ở một giai đoạn mà khối u đã có một kích thước lớn và đã di căn đi nơi khác. Ở Pháp, các ung thư buồng trứng đứng hàng thứ 5 gây tử vong do ung thư nơi phụ nữ, với hơn 3.000 người chết mỗi năm. Trong 10% các trường hợp, một yếu tố gia đình được tìm thấy có liên hệ, cứ một trường hợp trên hai, với sự biến dị của vài loại gène, cũng có liên hệ trong những ung thư vú gia đình.

CHIẾN LƯỢC MỚI.

Để xác định những yếu tố di truyền khác làm dễ phát triển những ung thư buồng trứng, Paul Pharoah và các cộng tác viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu di truyền nhằm vào một số lượng lớn đối tượng. Rất được thịnh hành để nhận diện những tố bẩm gây những bệnh đa gène (maladies polygéniques) (như bệnh đái đường hay những bệnh tim mạch), chiến lược mới này nhằm so sánh các bộ gène (génome) của hàng ngàn người bệnh và của những người chứng. Nhờ các puces à ADN, các nhà nghiên cứu thăm dò những biến dị của các dãy gène (séquence des gènes).

Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể phân lập được một đột biến di truyền (un variant génétique) nằm trên một đoạn của nhiễm sắc thế số 9, đặc biệt liên hệ với ung thư buồng trứng. Theo các tính toán của họ, nguy cơ phát triển khối u này là 40% cao hơn nơi những phụ nữ mang một bản sao kép của sự “ khác nhau ” này so sánh với những phụ nữ không có nó.

Các tác giả của công trình nghiên cứu tin chắc rằng, nhiên hậu, phương thức này sẽ cho phép phát hiện những phụ nữ có khả năng nhất bị ung thư buồng trứng, để theo dõi họ sát hơn. Điều đó sẽ cải thiện kiến thức của chúng ta về sinh học của những ung thư này, và dẫn đến phát triển những điều trị hiệu quả hơn, họ đã nói thêm như thế. “Đó là một công trình vững chắc và rất đáng quan tâm, nhưng vẫn phải thận trọng về những dấu hiệu lâm sàng ”[/i], G.S Dominique Stoppa-Lyonnet, trưởng khoa di truyền ung thư thuộc Viện Curie đã phát biểu như vậy.

Theo nhà nghiên cứu này, chúng ta còn rất xa mới có được những trắc nghiệm về yếu tố tố bẩm này. “ Vẫn còn phải nhận diện nhiều yếu tố nhạy cảm di truyền. Chính các tác giả cho rằng đột biến của chúng chỉ giải thích 0,7% của thành phần đa di truyền của các ung thư buồng trứng. Sự khác nhau di truyền này làm nguy cơ mắc phải ung thư buồng trứng chuyển từ 1% lên 1,4 %. Không phân biệt lắm so với các gène tố bẩm gia đình (BRCA1 và BRCa2), nhân nguy cơ lên 10 đến 40 ”.
(LE FIGARO 7/8/2009)

8/ CÁC THUỐC ĐUỔI MUỖI CÓ ĐỘC KHÔNG ?

Một cách ngắn gọn, thuốc đuổi muỗi (répulsif anti-moustiques) được gọi là DEET (thay cho chữ diéthyltoluamide). Ngày nay đó là thuốc đuổi muỗi được sử dụng nhất trên thế giới để xua đuổi những con muỗi cái, khi chích động vật hay người để nuôi dưỡng, có thể truyền những bệnh nghiêm trọng như chikungunya, bệnh dengue, hay sốt rét. Bệnh sốt rét gây nên 400 đến 900 triệu truờng hợp sốt , và một đến 3 triệu tử vong. Việc sử dụng một thuốc đuổi muỗi không đủ để bảo vệ chống lại muỗi chích và được sử dụng kèm với các thuốc dự phòng.

DEET phổ biến đến độ (200 triệu người dùng mỗi năm) nồng độ của nó thường được chỉ rõ trên các gói thuốc đuổi muỗi vì những liều lượng của nó là một lý lẽ bán : thật vậy các thuốc có nồng độ từ 25 đến 30% DEET có hiệu quả hơn và thời gian tác dụng dài hơn (3 đến 5 giờ chống lại muỗi anophèle).Những lời khuyến nghị hiện hành khuyên không nên dùng DEET nơi những phụ nữ có thai.

Nhưng những công trình mới, được công bố tuần này trong tờ báo chuyên môn BMC Biology gieo một mối nghi ngờ về tính vô hại của thuốc đối với con người. Vincent Corbel của Viện Nghiên Cứu Phát triển Montpellier và Bruno Lapied của đại học Angers (Pháp) và các đồng nghiệp chứng minh rằng thuốc đuổi muỗi này ức chế một enzyme chủ chốt của hệ thần kinh trung ương, acétylcholinestérase, cùng cách với các thuốc trừ sâu carbamate.

Thế mà những thuốc trừ sâu độc cho thần kinh này thường được sử dụng phối hợp với DEET và những nhà nghiên cứu đã khám phá rằng DEET tương tác với các carbamate và làm gia tăng độc tính của chúng.“ Chúng tôi không nói rằng sự sử dụng bình thường của DEET sẽ giết chết người ta. Nhưng rằng ở một vài nồng độ và lúc dùng phối hợp, nó có thể nguy hiểm, đặc biệt là đối với các phụ nữ có thai và các trẻ em ”, Vincent Corbel đã chỉ rõ như vậy.

Các tác giả chủ trương “ thăm dò hơn nữa độc tính của hợp chất này, nhất là sự tương tác của nó với những thuốc khác hay với những thuốc trừ sâu khác có cùng tác dụng ”. Hơn nữa, một trong những giải thích khả dĩ của “ hội chứng của Chiến tranh Vùng Vịnh ” (syndrome de la Guerre du Golfe) là sự sử dụng phối hợp bởi các binh sĩ Hoa Kỳ các thuốc đuổi muỗi này với những nồng độ cao pyridostigmine như chất đối kháng chống lại sự nhiễm độc thần kinh của khí như sarin. Mối liên hệ giữa hội chứng này với một sự tiếp xúc với các chất ức chế acétylcholinestérase dầu sao được xác lập.

Thế thì có nên do dự sử dụng những thuốc đuổi muỗi này hay không ? “ Đó là một phản ứng quá đáng đối với nội dung của công trình nghiên cứu, vốn chỉ phác họa ra một giả thuyết ”, G.S Alfred Bernard, nhà chuyên gia độc chất học của UCL đã giải thích như vậy. Thật vậy cần phải tiếp tục kiểm tra giả thuyết, nhưng ở giai đoạn nghiên cứu này không vì thế chịu bỏ những lợi ích của thuốc chống lại các nguy cơ của các bệnh gây nên bởi muỗi này. So với DDT nổi tiếng, một thuốc trừ sâu organochloré với hậu quả tai hại do độc tính của nó, các organophosphorés không gây những tác dụng mãn tính. Ví dụ chúng không thể đi qua hàng rào nhau nơi người mẹ mang thai. Dĩ nhiên cần phải tôn trọng liều lượng, nhưng những triệu chứng ngộ độc (chảy nước dãi ngẫu nhiên, đống tử khép lại) chỉ đạt được với những nồng độ quan trọng hơn nhiều những nồng độ được sử dụng với các thuốc đuổi muỗi này. Sự đi qua hàng rào da đã bị giới hạn nhờ tính chất thích mỡ (lipophilie) được làm giảm nhiều hơn ”[/i].
(LE SOIR 7/8/2009)

9/ MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐỂ PHÁT HIỆN NHỮNG BẤT THƯỜNG THAI NHI.

Chẳng bao lâu nữa, chỉ cần lấy máu nơi người mẹ tương lai sẽ cho phép phát hiện nhiều bệnh di truyền trầm trọng của phôi thai.

Chẩn đoán tiền sinh (diagnostic prénatal) của chứng thể ba 21 (trisomie 21), của bệnh mucoviscidose, của những bệnh cơ (myopathies) nặng và của những bệnh di truyền gây tật nguyền nghiêm trọng khác, chẳng bao lâu nữa có thể dựa trên một xét nghiệm máu đơn giản nơi người mẹ. Chính một tờ báo Anh, The Guardian, tiết lộ báo cáo của những công trình nghiên cứu, được tài trợ bởi giới hữu trách y tế Anh (National Health Service) lên đến 2,2 triệu Euro.

Ngày nay, hai kỹ thuật “ xâm nhập ”, được thực hiện giữa tuần lễ thứ 10 và 16 của thai nghén, cho phép chẩn đoán tiền sinh nhiều bệnh di truyền hay nhiễm sắc thể : chọc dò màng ối (amniocentèse) (lấy dịch màng ối và những tế bào mà nó chứa, xuyên qua bọc ối) và sinh thiết lá nuôi (biopsie de trophoblastes, nhau tương lai). Tiếc thay hai kỹ thuật này gây nên các sẩy thai trong khoảng 1% các trường hợp đối với lần đầu và đến 2% các trường hợp đối với lần thứ hai.

Lynn Chitty, thuộc University College Hospital de Londres, đã điều khiển chương trình nghiên cứu này, tỏ ra rất phấn khởi : “ Thật thích thú bởi vì, trong tương lai, để chẩn đoán những bệnh di truyền và những bất thường nhiễm sắc thể nơi các em bé sẽ được sinh ra đời, hàng ngàn phu nữ sẽ không còn phải chịu những phương pháp xâm nhập với nguy cơ gây sẩy thai nữa ”.


TỪ 250 ĐẾN 265 EM BÉ ANH ĐƯỢC CỨU THOÁT.

Chỉ riêng ở Anh, kỹ thuật mới này sẽ cứu mỗi năm 250 đến 265 em bé mạnh khỏe, mà hiện nay chúng phải trả giá cho những kỹ thuật hiện hành. Phương pháp đã hoàn toàn thay thế thủ thuật chọc dò màng ối (amniocentèse) để tìm kiếm những bất tương hợp thai nhi-mẹ của nhóm máu Rhésus (incompatibilités foetomaternelles). Những bất tương hợp này làm các em bé sẽ được sinh ra đời chịu một nguy cơ quan trọng bị chứng thiếu máu chết người.

Nhà tiên phong thật sự của chẩn đoán tiền sinh (diagnostic prénatal) là Dennis Lo, một nhà sinh học, đã chứng minh cách nay khoảng một chục năm rằng ADN lưu thông một cách tự do trong máu người mẹ và có thể được trích ra. Nhưng những tế bào thai nhi lưu thông trong máu là rất hiếm, khoảng 1 trên 10 triệu các bạch cầu và 5 tỷ hồng cầu mỗi ml máu.

Nhiều tiến bộ từ tháng chín năm 2006 đã chuẩn bị địa bàn cho những nghiên cứu người Anh : ví dụ kỹ thuật Iset, được hiệu chính bởi Patrizia Paterlini-Bréchot (đơn vị Inserm 807), đã cho phép tập trung những tế bào thai nhi và phát hiện những biến dị di truyền và những bất thương nhiễm sắc thể với một độ tin cậy bằng với chọc dò màng ối hay sinh thiết lá nuôi (biopsie de trophoblastes). Ví dụ bệnh mucoviscidose, căn bệnh nghiêm trọng phá hủy dần dần các lá phổi của những đứa trẻ bị bệnh, có thể được phát hiện trên thai nhi nhờ tìm kiếm sự biến dị của gène CFTR, chịu trách nhiệm bệnh trong máu của người mẹ.

Tiến bộ khác năm 2008 : các nhà nghiên cứu của đại học Standford cũng đã phát hiện trong máu người mẹ sự hiện diện của nhiễm sắc thể thừa (chromosomes surnuméraires), đặc trưng cho bệnh trisomie.
(LE FIGARO 1/8/2009)

10/ CHỌC DÒ MÀNG ỐI, MỘT KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN TIỀN SINH ĐANG CÀNG NGÀY CÀNG ÍT SỬ DỤNG.

Được thực hiện chủ yếu để xác nhận bệnh thể ba 21 (trisomie 21) nơi một thai nhi, xét nghiệm này càng ngày càng thuờng được tránh sử dụng.

Đó là một thăm khám chuẩn mà nhiều phụ nữ có thai sẽ không cần đến nữa. Khoảng 90.000 thủ thuật chọc dò màng ối được thực hiện mỗi năm ở Pháp (hơn một thai nghén trên 10), một con số theo dự kiến sẽ giảm một nửa trong những năm đến, nhờ một chiến lược mới phát hiện bệnh thể ba 21 (trisomie 21).

Được thực hiện dưới sự kiểm tra của siêu âm vào đầu đệ nhị tam cá nguyệt của thai nghén (giữa tuần lễ mất kinh 15 và 18), thủ thuật này nhằm lấy dịch ối, trong đó thai nhi ngâm mình. Trong hầu hết các trường hợp, mục tiêu là nghiên cứu các nhiễm sắc thể của nó (caryotype) : chủ yếu là để xác nhận hay phủ nhận bất thường nhiễm sắc thế thường gặp nhất : trisomie 21. Thật vậy, một thai nghén trên 700 bị liên hệ bởi nhiễm sắc thể thừa này, một trên 100 khi người mẹ tuổi hơn 40.

Với những kỹ thuật cổ điển, caryotype có được trong khoảng 10 ngày. Những phương pháp nhanh hơn, được sử dụng trong vài khoa sản, cho một kết quả đầu tiên trong 48 giờ. Hiếm hơn, một chọc dò màng ối là cần thiết để tìm kiếm một khuyết tật đóng của tube neural (Spina bifida), những biến dị di truyền (như mucoviscidose hay một bệnh cơ) hay một nhiễm trùng (toxoplasmose, bệnh thủy đậu, rubéole..).

Ngoài chấn thương tâm lý đối với phụ nữ có thai, nguy cơ chính của thủ thuật xâm nhập này là phát khởi một sẩy thai. Tuy nhiên biến chứng này vẫn hiếm : 0,5 đến 1% các trường hợp, và còn ít hơn đối với những người thao tác được huấn luyện.

CÁC PHỤ NỮ LO LẮNG KHÔNG ĐÚNG CHỖ.

Trong trường hợp cổ điển, sự phát hiện bệnh trisomie 21 dựa vào siêu âm của tam cá nguyệt đầu và phân tích các chất chỉ dấu máu vào đầu tam cá nguyệt thứ hai. Trong trường hợp nghi ngờ, một chọc dò màng ối được đề nghị. Khám nghiệm chuẩn này cho phép quyết định, nhưng nhiều phụ nữ (đến 20%) bị lo lắng, nhưng caryotype sau cùng lại hóa ra bình thường.

Vào tháng sáu 2007, Haute Autorité de santé đã khuyến nghị một điều tra phát hiện vào tam cá nguyệt đầu, phối hợp siêu âm và đo nồng độ các chất chỉ dấu mới trong máu, sớm hơn và hiệu quả hơn.

Được áp dụng từ nhiều năm nay trong nhiều nước khác, kỹ thuật mới thực hiện trong một thì này cho phép giảm khoảng 7% so những dương tính giả. Ở Pháp, chiến lược này đã được thiết đặt thành công trong vài khoa sản, đặc biệt là ở Necker (Paris) và ở Hôpital américain de Neuilly.

“ Phương pháp điều tra phát hiện mới này sẽ được phổ biến dần dần kể từ tháng 10 ”, G.S Yves Villes, trưởng khoa Sản Phụ Khoa của bệnh viện Necker đã đánh giá như vậy. Trong một công trình nghiên cứu sơ khởi trên 22.000 phụ nữ được thực hiện bởi vị thầy thuốc này, việc điều tra phát hiện của tam cá nguyệt đầu đã cho phép chia ba số các trường hợp chọc dò màng ối. Các thầy thuốc sản khoa dự kiến ít nhất một sự sụt giảm một nửa số các trường hợp.
(LE FIGARO 1/8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (16/8/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#16 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 25 August 2009 - 02:43 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ Ở CHÂU ÂU MỘT LÀN SÓNG CÚM MỚI CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI HƠN.

Với mùa thu đến, vaccin được cung cấp giới hạn cho những tháng còn lại.

Mối lo âu về một giống cúm mới có thể bớt căng trong mùa hè, nhưng hàng triệu người châu Âu chẳng bao lâu nữa sẽ đón nhận một lời nhắc nhở rõ ràng về tính độc lực của cúm khi các chính phủ đang sửa soạn cho một chiến dịch tiêm chủng đại quy mô nhằm tránh xa một làn sóng nhiễm trùng thứ hai, và có thể gây chết người hơn.

Với một làn sóng các trường hợp virus H1N1 khác, được dự kiến ngay vào tháng chín, các chuyên gia y tế nói rằng cuộc chiến đấu để chế ngự cúm đại dịch đầu tiên trong 4 thập niên qua đang vừa mới diễn ra ở Châu Âu.

Các viên chức y tế của Liên Hiệp Châu Âu nhấn mạnh rằng hầu hết các trường hợp cúm xảy ra nơi người là nhẹ và rằng các bệnh nhân hồi phục mà không cần điều trị gì đặc biệt. Trong một dấu hiệu bình thường khác, một ủy ban của Liên Hiệp Châu Âu tuần qua đã khuyến nghị các trường mở lại như thường sau kỳ nghỉ hè.

Nhưng với lượng vaccin giới hạn, được dự kiến sẽ có để sử dụng năm nay, các giới hữu trách y tế đang chuẩn bị cho nhiều trường hợp cúm hơn cho mùa thu và mùa đông sắp đến, là khi virus sẽ lan tràn dễ dàng hon.

“ Nếu chúng ta bị nhiều nhiễm trùng hơn, thì sẽ có nhiều biến chứng hơn nhiều xảy ra nơi những người có tình trạng bệnh lý và điều này có nghĩa là sẽ có nhiều tử vong hơn nhiều ”, Nigel Dimmock, giáo sư danh dự của khoa sinh học, thuộc Đại Học Warwick ở Anh, và là một chuyên viên về cúm đã nói như vậy.

Cho đến hôm chủ nhật, Trung tâm châu Âu Ngăn ngừa và Kiểm tra Bệnh tật, một cơ quan của Liên Hiệp Châu Âu có căn cứ ở Thụy Điển, đã báo cáo 38.187 các trường hợp được xác nhận và 60 trường hợp tử vong trong các nước châu Âu, so với một tổng số toàn bộ 228.921 các trường hợp được xác nhận và 2.084 trường hợp tử vong trên khắp thế giới. Những con số thống kê này cho thấy rằng châu Âu đã bị một số tương đối nhỏ các trường hợp. Theo Tổ chức y tế thế giới, các nước ở Bắc và Nam Mỹ đã báo cáo đại đa số các trường hợp nhiễm trùng và tử vong. Nhưng đây đúng là lúc, các chuyên gia tin tưởng như thế, các người Âu Châu nên chuẩn bị cho một cuộc bộc phát lan tràn hơn.

Mô hình toàn bộ của sự lan tràn của virus chỉ rõ rằng “ đại dịch chỉ mới bắt đầu ở châu Âu ”, Nikki Shindo, một nữ phát ngôn viên về cúm của OMS đã nói như vậy.

Đến 30% dân chúng Anh có thể bị nhiễm trùng trong mùa cúm đến, theo một nữ phát ngôn viên của Bộ Y Tế Anh. Trong một mùa cúm bình thường, từ 2 đến 15% dân chúng bị gây nhiễm, bà đã nói như vậy.

Cho đến hôm chủ nhật, nước Anh đã có 12.903 những trường hợp được xác nhận và 44 trường hợp tử vong được báo cáo, nhiều nhất trong bất cứ nước châu Âu nào, theo ECDC. Cuối tuần qua, 39 người bị nghi cúm heo được đưa vào phòng hồi sức ở Anh.

Tháng 8 này, các xét nghiệm đã xác nhận những triệu chứng của virus H1N1, không có trường hợp nặng, trên 59 sinh viên và 5 cán bộ giảng dạy của trung tâm ngôn ngữ cho các sinh viên nước ngoài ở Pháp, gần Monaco. Trường xác nhận rằng đã có những trường hợp cúm heo được xác nhận nhưng từ chối cho thêm những bình luận.

Những trường ngoại ngữ khác ở Pháp đã áp dụng những biện pháp thận trọng. Accent Français ở Montpellier, có khoảng 150 sinh viên tuổi 16 hoặc hơn, từ các nước Đức, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh và Hoa Kỳ, đã dự trù mặt nạ và yết thị những thông báo về vệ sinh.

Đến hôm chủ nhật, đã có 1.125 các trường hợp và một tử vong được báo cáo ở Pháp, theo E.C.D.C.

“ Virus hiện giờ không có vẻ hung hãn thái quá, Odile Launay, giám đốc của Trung tâm tiêm chủng học Cochi-Pasteur ở Paris đã nói như vậy, “ nhưng nó có thể trở nên độc lực hơn .”

Bà ta nói rằng các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đã ngạc nhiên về sự xuất hiện liên tục các trường hợp mới trong suốt mùa hè, là khi các virus cúm, nói chung, vẫn ít được thấy hơn.

Theo E.C.D.C, Tây Ban Nha đã báo cáo 11 trường hợp tử vong, con số cao thứ hai trong Liên Hiệp Châu Âu, nhưng đã báo cáo 1.538 các trường hợp, ít hơn nhiều so với Anh. Đức đã báo cáo 1.493 những trường hợp được xác nhận, theo ECDC, nhưng không có trường hợp tử vong.Viện Robert Koch, một cơ quan của Đức phụ trách kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật, mới đây đã nói rằng số các trường hợp đã gia tăng đều đặn, với nhiều trường hợp có nguồn gốc bản xứ hơn là từ các công dân trở về từ những chuyến du lịch ra nước ngoài.

OMS đã nói rằng khoảng 1/3 của dân chúng thế giới có thể sẽ bị nhiễm trùng vào lúc đại dịch được xác lập và có thể được xem như là một virus cúm mùa (seasonal flu virus), trong vòng hai đến ba năm.

Thông thường quá trình phát triển vaccin cần thời gian lâu, vì vậy giới hữu trách ở châu Âu đã áp dụng những thủ tục nhanh để có được vaccin càng nhanh càng tốt.

Các công ty dược phẩm như Baxter, GlaxoSmithKline và Novartis đang thích ứng những vaccin hiện có với giống gốc H1N1, theo European Medicines Agency ở Luân Đôn. GlaxoSmithKline và Sanofi Pasteur cũng đang phát triển những vaccin khác “ trên một cơ sở gia tốc ”, cơ quan đã nói như vậy.

Vấn đề cấp bách nhất hiện nay mà các chỉnh phủ đang đương đầu là chọn những nhóm có nguy cơ nhất trong các nước của họ để các tiêm chủng được thực hiện ưu tiên một cách đúng đắn một khi khi chúng trở nên được phổ biến rộng rãi.

“ Sẽ có những quyết định rất phức tạp phải được thực hiện, BS Shinto của OMS đã nói như vậy. “ Không một nước nào sẽ có một cách đúng lúc những lượng vaccin được yêu cầu.”

Bà đã nói rằng bà hy vọng virus sẽ theo một mô hình giống với mô hình của một cúm mùa bình thường, hơn là tiếp tục theo một mô hình được thấy trong vài tháng qua, trong đó những người trưởng thành trẻ, tuổi từ 17 đến 19, là nhóm tuổi thông thường nhất bị bệnh bởi virus.

Có thể có “ một bức tranh hoàn toàn khác với bức tranh mà chúng ta đã thấy trong làn sóng đầu tiên ”, BS Shinto đã nói như vậy. Bà nói thêm rằng virus có thể lan tràn với số lượng lớn hơn nơi những thành viên ít hoạt động hơn của nhóm dân chúng như những người già, những nhỏ tuổi và các phụ nữ có thai.

Quan điểm của BS Shinto phản ánh rộng rãi các kế hoạch của chính phủ Anh, được phát họa hôm thứ năm, đặt ưu tiên tiêm chủng cho khoảng 5 triệu người ở Anh, lớn hơn 6 tháng và dưới 65 tuổi, là những đối tượng dễ bị thương tổn hơn đối với cúm mùa do những tình trạng bệnh như bệnh tim và bệnh đái đường. Hai triệu nhân viên y tế cũng sẽ nằm trong danh sách ưu tiên.

Bộ trưởng y tế Pháp, Roselyne Bachelot, vào cuối tháng 7 đã nói rằng ưu tiên sẽ dành cho các viên chức cao cấp chính phủ và cho những người tiếp xúc nhất với virus qua công việc, như các nhân viên y tế và những người tiếp xúc với . Ở Pháp và ở Anh, các phụ nữ có thai và những người có hệ miễn dịch suy yếu cũng sẽ nhận ưu tiên. Nhưng cả hai chính phủ Anh và Pháp sẽ không thực hiện một chương trình tiêm chủng tổng quát đối với các trẻ ở lứa tuổi học đường.

Mario Vaillo de Mingo, một phát ngôn viên của Bộ y tế Tây Ban Nha, đã nói hôm thứ hai rằng chính phủ của ông đã gởi đơn đặt hàng 57 triệu liều vaccin từ những công ty dược phẩm Novartis và GlaxoSmithKline, và sẽ chuẩn bị tiêm chủng cho 40% dân chúng. Ông nói rằng kế hoạch của Tây Ban Nha cũng đã dự kiến tiêm chủng cho tất cả các trẻ đến tuổi 14 nếu cần.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 18/8/2009)

2/ CÚM A (H1N) : NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA CUỘC CHẠY ĐUA VACCIN.

Chúng ta sẽ có một sự bảo vệ hiệu quả chống virus cúm mới vào mùa thu này hay không ? Các thử nghiệm đang được tiến hành.

Sự hiệu chính các vaccin đặc hiệu chống lại virus cúm mới A (H1N1) là một cuộc chạy đua với thời gian : căn bệnh đã lan truyền trong 170 nước, với một sự gia tăng các trường hợp, đặc biệt ở Nam bán cầu. Những cuộc chạy đua này sẽ được đánh dấu bởi những giai đoạn cần thiết, mà thời gian không thu giảm được, để đảm bảo khả năng của vaccin gây nên một đáp ứng của hệ miễn dịch có hiệu quả, cũng như để phát hiện những tác dụng phụ có thể xảy ra.

Hỏi : Ai chế tạo những vaccin mới ?
Đáp : OMS kiểm kê được khoảng 20 nhà công nghiệp có giấy phép đưa ra thị trường đối với một vaccin chống cúm mùa (vaccin antigrippal saisonnier). 3 phòng bào chế chi phối sự sản xuất trên thế giới : GlaxoSmithKline (GSK) của Anh, Novartis của Thụy Sĩ và Sanofi Pasteur của Pháp.

Hỏi : Việc hiệu chính hiện đang đến đâu rồi ?
Đáp : Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên với các vaccin thí nghiệm đã bắt đầu. BS Marie-Paule Kieny, nữ giám đốc của Initiative pour la recherche vaccinale của OMS, kiểm kê được “ 7 nhà chế tạo đã bắt đầu những thử nghiệm lâm sàng ”, đang được tiến hành “ trong ít nhất 5 nước : Trung Quốc, Úc Đại Lợi, Vương Quốc Anh, Đức và Hoa Kỳ ”.

Thử nghiệm tại châu Âu của Sanofi Pasteur (sẽ diễn ra ở Pháp và Phần Lan) sẽ khởi đầu trong các tuần tới, Benoit Rungeard, giám đốc thông báo sản phẩm của hãng đã chỉ rõ như vậy. Thử nghiệm tại Hoa Kỳ của Sanofi Pasteur đã đang được tiến hành. Cũng vậy, phòng bào chế GSK sẽ tiến hành thử nghiệm châu Âu trong nhiều nước, “ đặc biệt ở Đức, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp ”, BS Soizic Courcier, diecteur médical của GSK đã xác nhận như thế.

Hỏi : Những thử nghiệm này có mục đích gì ?
Đáp : Những thử nghiệm này là cần thiết để xác định liều lượng tối ưu phải tiêm để gây nên một đáp ứng hiệu quả của hệ miễn dịch chống virus. Chúng sẽ cho phép đánh giá sự cần thiết hay không liên kết một chất hỗ trợ (adjuvant), nhằm tăng cường tính hiệu quả của vaccin. Sau cùng những thử nghiệm này sẽ cho phép xác định xem một liều duy nhất là đủ hay phải tiêm hai liều. Vấn đề này là căn bản bởi vì, đối với cùng một số lượng vaccin được sản xuất, số người sẽ có thể được tiêm chủng khi đó thay đổi từ liều đơn hay liều kép.

Hỏi : Các vaccin được chế tạo như thế nào ?
Đáp : Tất cả các hãng bào chế sản xuất từ cùng giống gốc virus, được gởi vào hồi cuối tháng năm bởi những trung tâm công tác của OMS. Những trung tâm này cũng đã gởi những thuốc thử dùng trắc nghiệm tính hiệu quả của vaccin. Chúng được sản xuất từ các protéine bề mặt của virus (mà những chữ đầu là H và N) và từ một giống gốc virus cúm được làm vô hại. Do đó “ virus thuốc chủng ” (virus vaccinal) này là một hybride không sinh bệnh, mang những kháng nguyên đặc hiệu của giống gốc A (H1N1) mà người ta muốn gây miễn dịch chống lại nó. Sự cấy thường được thực hiện trên lòng trắng trứng gà, nhưng cũng trên các tế bào.

Hỏi : Người ta có chắc chắn là các thuốc chủng sẽ có hiệu quả khi cần đến không ?
Đáp : Nếu virus A (H1N1) biến dị nhiều vào mùa thu tới, thì tính hiệu quả của các vaccin có thể bị xét lại. Hiện nay, những biến dị như thế đã không được quan sát thấy.

Hỏi : Sự an toàn của các vaccin được đánh giá như thế nào ?
Đáp : Cũng như mọi thử nghiệm với các sản phẩm y tế, các nghiên cứu được kiểm tra nghiêm ngặt (ủy ban éthique, sự cần thiết của một sự thoả thuận được soi sáng...). Phòng bào chế sẽ nhờ đến một thầy thuốc, trong một bệnh viện hay một trung tâm tiêm chủng. Người thầy thuốc này sẽ là người thăm dò (investigateur) chính, BS Courcier đã giải thích như vậy. Chính trách nhiệm của người thầy thuốc này là tuyển mộ những người tình nguyện, tiến hành thử nghiệm và thu thập các dữ kiện. Số người tham dự (khoảng 1.500 đến 2.000 người) không luôn luôn cho phép phát hiện những tác dụng phụ hiếm hoi. Một theo dõi được dự kiến vào lúc các chiến dịch tiêm chủng.

Hỏi : Ai tham dự vào những thử nghiệm lâm sàng và trong những điều kiện nào ?
Đáp : Đó là những người tình nguyện lành mạnh, đã được đăng ký trên các hồ sơ của những trung tâm thực hiện những thử nghiệm lâm sàng hay được tuyển mộ theo nhu cầu. Ở Pháp, tiền thù lao của một người tham dự những thử nghiệm lâm sàng không thể vượt quá 4.500 euro mỗi năm. Những thử nghiệm của Sanofi Pasteur được tiến hành trên 3 nhóm tuổi (không có thù lao, với sự thoả thuận của bố mẹ), những người trưởng thành và những người già.

Hỏi : Trong những thời hạn nào các thuốc chủng sẽ có để sử dụng ?
Đáp : Theo OMS, một khi một giống gốc mới của virus cúm đại dịch đã được xác nhận, phải cần 5 đến 6 tháng trước khi một vaccin, đã nhận giấy phép đưa ra thị trường, được giao hàng. Sự điều chế và sự kiểm tra giống gốc được sử dụng cho vaccin cần đến hai tháng. Sự chế tạo và sự kiểm tra chất lượng của những lô đầu tiên, dành cho những thử nghiệm lâm sàng, cần 9 tuần.

Những thử nghiệm lâm sàng cần ít nhất 4 tuần. Tiếp theo là thời hạn để xin giấy phép, mà thời gian thay đổi tùy theo cấp điều hòa xem đó là một vaccin mới hay là một sự thay đổi giống gốc đối với một vaccin đã được cho phép. Ngoài ra, trong khung cảnh chuẩn bị vaccin chống virus cúm gà H5N1, các phòng bào chế đã cho đăng ký các “ prototypes ”, điều này làm tăng nhanh thủ tục xin phép.

Dẫu sao, Sanofi Pasteur nghĩ là sẽ có được những kết quả đầu tiên của những thử nghiệm lâm sàng trong vòng tháng mười. Sự sản xuất sau đó sẽ bắt đầu, không phải chờ đợi sự cho phép sau cùng đưa thuốc ra thị trường. Những nhà chế tạo khác có thể đi nhanh hơn : vào đầu tháng tám, bộ trưởng y tế Pháp Roselyne Bachelot đã tuyên bố là muốn tiêm chủng bắt đầu vào cuối tháng chín.
(LE MONDE 16/8-17/8/2009)

3/ MỘT VIRUS BIẾN DỊ TÊN GỌI LÀ LAZARE.

Một sự thất thoát từ phòng thí nghiệm có thể đã làm tái xuất hiện virus cúm Tây ban Nha. Một tổ tiên của H1N1, chịu trách nhiệm đại dịch hiện nay.

Và nếu như cúm đã được gây nên do một sai lầm của con người ? Điều đó có thể giống với một trong những lý thuyết đồng mưu (théorie conspirationniste) đang nảy nở trên Internet. Và tuy vậy, giả thuyết này không có gì là kỳ cục : theo một công trình nghiên cứu được công bố ngày 16 tháng sáu trong tạp chí rất đứng đắn New England Journal of Medicine, virus chịu trách nhiệm dịch cúm hiện nay phát xuất từ một giống gốc của cúm Tây Ban Nha năm 1918, được thả ra trong thiên nhiên sau một tai nạn phòng thí nghiệm, xảy ra trong những năm 1970. Các nhà nghiên cứu của đại học Pittsburgh (Pensylvanie) đã thực hiện một cuộc điều tra cảnh sát thật sự để đi đến kết luận này, bằng cách tái tạo lịch sử của virus từ một thế kỷ, xuyên qua các biến dị và tái phối hợp của bộ gène của nó. Một giống gốc xứng đáng với tên gọi Lazare, bởi vì nó không ngừng biến mất rồi tái xuất hiện.

Sau khi đã gây nên 50 triệu nạn nhân vào đầu thế kỷ XX, virus H1N1 đã tiếp tục lưu hành có tính cách dịch địa phương (endémie) cho đến năm 1957, rồi im đi hoàn toàn, được thay thế bởi những giống gốc cúm mùa khác. Không còn ai nghe nói nữa về nó trong 20 năm, cho đến khi một bệnh dịch kỳ lạ khởi phát vào tháng giêng năm 1976, trong số các binh sĩ của một căn cứ quân sự Mỹ, ở Fort Dix (New Jersey) : 230 quân nhân ngã bệnh, một trong số này tử vong. Các phân tích cho thấy rằng đó là một loại H1N1 mới, phát xuất từ một giống gốc của sốt heo (fièvre porcine), lưu hành một cách dịch địa phương trong những trại chăn nuôi của vùng. Chính phủ của Gerald Ford hoảng hồn và phát động một chiến dịch tiêm chủng : 40 triệu người Mỹ nhận các mũi tiêm, nhưng 532 người phát triển một hội chứng Guillain Barré, một bệnh tự miễn dịch gây nên do những tác dụng phụ của vaccin, và 32 người chết vì biến chứng này. Chiến dịch được quyết định vội vàng là một tai họa vô ích : giống gốc thì ra ít độc lực hơn một cúm mùa và nó không có vẻ lan tràn ra ngoài căn cứ quân sự của New Jersey.

Tuy vậy, vài tháng sau đó, vào tháng 1/1977, một bệnh dịch cúm khác xảy ra ở Liên Sô, Hồng kông và miền bắc Trung Quốc. Ngạc nhiên : đó lại là virus H1N1, khác với virus H1N1 của căn cứ quân sự Mỹ ở Fort Dix, nhưng rất gần với H1N1 của đại dịch toàn cầu 1918, mà người ta tin là đã được dập tắt ! Những bệnh dịch gây nên bởi các virus tương tự nhau đến độ đó chỉ có thể là một giống gốc từng đuợc bảo quản trong một máy đông lạnh. Những virus được đông lạnh này có lẽ đã không hoạt động trong suốt hai thập niên. “ Chúng tôi không thể nhận diện thủ phạm, nhưng sự tái xuất hiện của H1N1 trong năm 1977 dường như được gây nên bởi con người ”, Shanta Zimmer, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Từ thời điểm này (1977), virus đã không ngừng lưu hành, dưới rất nhiều biến thể, động vật hay người. Gần một nửa bộ gène của giống gốc 2009 bao gồm những phần tử của cúm Tây Bạn Nha nổi tiếng của cuối Đệ Nhất Thế Chiến. Ai có thể đã đưa nó lưu hành trở lại ? Các mối nghi ngờ hướng về phía Nga hay Trung Quốc, là nơi đại dịch 1977 đã khởi phát, nhưng các giới hữu trách y tế của hai nước này cật lực đính chính. Các người Mỹ cũng có thể có phần trách nhiệm. Bệnh dịch Fort Dix đã gây nên một nỗi hoảng sợ, trong nhiều tháng trời đã chiếm các trang đầu của các tờ báo bên kia Đại Tây Dương. Biến cố đã lôi kéo sự chú ý của các nhà dịch tễ học trên toàn thế giới và đã gây nên một làn sóng nghiên cứu khoa học về H1N1, thúc đẩy các nhà sinh học mở hộp Pandore, bằng cách mang ra trở lại các mẫu nghiệm của giống gốc năm 1918, vốn được bảo quản trong các máy lạnh của phòng thí nghiệm.
(EXPRESS 20-26/8/2009)

4/ TẠI SAO VÀI NGƯỜI LÀ NHỮNG NGƯỜI DẬY SỚM.

NEUROLOGIE. Một biến dạng di truyền (mutation génétique) hiếm giải thích rằng vài người chỉ cần ngủ 4 đến 6 giờ.

Đại đa số cần ngủ 8 giờ mỗi đêm. Một số nhỏ, không uống cà phê lẫn các chất kích thích, chỉ ngủ 6 thậm chí 4 giờ mỗi đêm. Những người này, ngủ vào lúc 22 giờ và thức dậy, tươi mát như một đóa hoa hồng vào 4 giờ sáng và bắt đầu làm việc, trong khi những người đồng loại vẫn còn nằm trên giường, say sưa trong một giấc ngủ không kìm hãm được. Những người dậy sớm (lève-tôt) này, làm thèm muốn những người không hài lòng rằng ngày của họ không đủ dài để có thể hoàn thành các dự án, thật ra là những người có các gène biến dị (mutants). Họ có một sự biến dị lên một gène (DE2), mà những người khác không có.

Nhóm của các chuyên gia thần kinh, được lãnh đạo bởi Ying Hui-fu, thuộc đại học Californie ở San Francisco, có một con chủ bài lớn trong nghiên cứu : ngân hàng ADN của 60 gia đình người Mỹ có những rối loạn về giấc ngủ, đã chấp nhận cho họ một mẫu nghiệm máu. Thật vậy vào năm 2001 và 2005, các nhà nghiên cứu California đã nổi danh do nhận diện một sự biến dị trên một gène (Per2), can thiệp trong những chu kỳ của giấc ngủ, nguồn gốc của một rối loạn rất đặc biệt : hội chứng gia đình giai đoạn giấc ngủ tiến triển (Syndrome familial de phase de sommeil avancé, tiếng Anh là FASPS). Những người bị bệnh này có một thời gian ngủ 8 giờ giống hệt với thời gian trung bình của con người, nhưng giấc ngủ này hoàn toàn bị xê xích trong thời gian. Thật vậy, những bệnh nhân này ngủ vào khoảng 18 giờ hay 19 giờ và thức dậy lúc 3 giờ hay 4 giờ sáng, khi mọi người đang còn ngủ.

Từ lúc có được khám phá này, các nhà nghiên cứu khai thác các dữ kiện ADN mà họ có được. Công trình của họ tiến từng bước nhỏ, nhưng tiến triển. Chính như thế mà họ vừa nhận diện được một sự biến dị trên một gène (DEC2) nơi một bà mẹ và đứa con gái chỉ cần ngủ 6 giờ mỗi ngày. Thế mà sự biến dị này không xảy ra nơi 5 thành viên khác của cùng gia đình ; những người này như đại đa số dân chúng cần ngủ 8 giờ mỗi ngày. Gène DEC2 can thiệp trong nhịp sinh học (rythme circadien), điều hòa sự phân chia tế bào, can thiệp vào lúc ngủ và oxygénation.

MỘT HỆ THỐNG PHỨC TẠP.

Sự biến dị được khám phá bởi Ying Hui-fu và nhóm nghiên cứu của ông rất là hiếm. Họ đã chỉ tìm thấy điều đó trong ADN của hơn 250 người mà họ đã phân tích vào dịp này. Tuy vậy họ đã có thể kiểm tra tính hiệu quả của nó lúc đưa vào gène bị biến dị (gène muté) nơi các con chuột chuyển di truyền (souris transgénique), mô hình động vật tốt nhất để nghiên cứu giấc ngủ. Họ đã quan sát thấy rằng các con chuột bị biến đổi này ngủ ít hơn và cần hồi sức ít hơn lúc chúng bị làm mất ngủ. Cũng vậy nơi các drosophiles bị biến đổi về mặt di truyền.

“ Câu hỏi muốn biết người ta cần ngủ bao nhiêu không những chỉ có lợi ích thực tiễn mà nó còn giúp chúng ta hiểu tốt hơn giấc ngủ vận hành như thế nào ”, Mehdi Tafti thuộc đại học Lausane đã phân tích như vậy. Thật vậy, giấc ngủ là một hệ thống phức tạp mà các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa hiểu được. Đặc biệt họ có nhiều khó khăn trong việc làm sáng tỏ những mối tương tác giữ các nhịp sinh học (rythme circadien), con lắc (balancier) thức (veille) và ngủ (sommeil) (homéostasie: hằng nội môi), môi trường và các gène mà ngày nay người ta còn đo lường vai trò chủ chốt.
(LE FIGARO 17/8/2009)

5/ “ ĐỒNG HỒ SINH HỌC CHỐNG LẠI GIẤC NGỦ ”.

COGNITION. Những người ngủ muộn (couche-tard) vẫn tỉnh táo lâu hơn những người ngủ sớm (lève-tôt), một công trình nghiên cứu chụp hình ảnh não bộ tiết lộ như vậy. Lúc thực hiện như thế, công trình này chứng minh vai trò chủ chốt của đồng hồ sinh học (horloge circadien) trong sự đề kháng của chúng ta chống lại giấc ngủ.

Hỏi : Sự cảnh giác (vigilance) của chúng ta tiến triển trong ngày. Tại sao ?
Pierre Maquet : Chúng ta biết rằng hiện tượng này liên kết với hai yếu tố, đồng hồ sinh học nội tại (horloge circadien interne), mà trung tâm là một nhân nhỏ nằm trong vùng dưới đồi (hypothalamus) ở trung tâm não bộ, và nội hằng định (homéostasie) hay áp lực ngủ (pression de sommeil), nghĩa là nhu cầu ngủ gia tăng với thời gian trôi qua trong ngày. Nhưng người ta không biết hai yếu tổ này tương tác với nhau như thế nào. Chúng tôi đã muốn hiểu điều đó bằng cách nhờ đến chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale).

Hỏi : Ông đã tiến hành như thế nào ?
Pierre Maquet : Chúng tôi đã quyết định nghiên cứu hiện tượng này nơi những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt) (ngày mẫu : 5 giờ –20 giờ) và những người ngủ rất trễ (extrêmes couche-tard) (11 giờ-2 giờ) bởi vì những yếu tố đồng hồ sinh học (circadien) và nội hằng định (homéostasie) rất khác nhau nơi hai loại người này. Chúng tôi đã thực hiện hai buổi chụp hình ảnh bằng résonance fonctionnelle với họ, một vào buổi sáng, 1 giờ 30 sau khi thức dậy và một vào buổi chiều, 10 giờ 30 sau khi thức dậy, trong suốt những thời gian này họ phải thực hiện một công tác rất đơn giản được gọi là thời gian phản ứng (temps de réaction) : nhìn một đồng hồ bấm giờ (chronomètre) được điều chỉnh ở mức zero và làm dừng lại ngay khi đồng hồ khởi động. Chúng tôi muốn phân biệt giữa những đáp ứng não bộ của chúng, chịu trách nhiệm thời gian phản ứng trung bình và nhanh.

Hỏi : Ông đã nhận thấy gì ?
Pierre Maquet : Không có một sự khác nhau nào giữa hai nhóm vào buổi sáng. Ngược lại vào buổi tối, những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt), để duy trì một hiệu nang trung bình, hoạt hóa vùng đồi thị (thalamus), một vùng thường được kích thích nơi những người bình thường, khi họ bị thiếu ngủ. Những người ngủ muộn (couche-tard) không cần điều đó. Ngoài ra, những người ngủ muộn đã thành công phản ứng nhanh bằng cách hoạt hóa đồng hồ sinh học nơi não bộ, điều mà những người dậy sớm không thực hiện được. Nói một cách khác, sau một ngày 10 giờ 30 , những người ngủ muộn thức tỉnh hơn những người ngủ sớm, và họ cưỡng lại tốt hơn áp lực ngủ nhờ đồng hồ sinh học của họ.

Hỏi : Chúng ta có thể kết luận điều gì ?
Pierre Maquet : Chúng ta phải tôn trọng nhịp sinh học (rythme biologique) của chúng ta : để làm việc buổi tối, một người dậy sớm sẽ rút từ kho dự trữ của mình trong khi một người ngủ muộn sẽ được giúp đỡ bởi đồng hồ sinh học (horloge circadienne) của họ.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)

6/ MỘT ĐIỀU TRỊ CHỐNG LẠI CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Bằng cách phối hợp hai kỹ thuật, thần kinh học can thiệp (neurologie interventionnelle) tỏ ra rất hiệu quả chống lại những tai biến mạch máu não.

Một thủ thuật mới điều trị cấp cứu các tai biến mạch máu não vừa được hiệu chính ở bệnh viện Bichat. Được tiến hành phối hợp với Samu, lính cứu hỏa và các trung tâm tiếp nhận thần kinh-mạch máu (centre d’accueil neurovasculaire) (có 8 trung tâm ở nội thành Paris), thủ thuật mới này tỏ ra quyết định trong việc khai thông và tái thông dòng (recanaliser) động mạch hay các động mạch não bị bít tắc bởi một cục máu đông và cải thiện một cách đáng kể tỷ lệ sinh tồn. Hiện nay, đó chỉ là một kinh nghiệm nghiên cứu lâm sàng, chỉ được tiến hành trong bệnh viện này, và trên vài chục bệnh nhân. Công trình nghiên cứu Recanalise, được lãnh đạo bởi G.S Pierre Amarenco ở trung tâm tiếp đón và và điều trị tai biến mạch máu não (centre d’accueil et de traitement de l’attaque cérébrale) của bệnh viện Bichat, vừa được công bố bởi tạp chí The Lancet.

Trên 150.000 các tai biến mạch máu não (AVC) xảy ra mỗi năm ở Pháp, 30.000 xảy ra nơi những người dưới 50 tuổi. Một sự yếu vận động đột ngột hay một sự bại liệt bán thân, một rối loạn đột ngột vận ngôn, một sự chóng mặt, rối loạn thị giác, một sự tê cóng của một phần của cơ thể phải được thăm khám tức thời, bởi vì đó là một cấp cứu tuyệt đối (urgence absolue). Từ 15 năm nay, điều trị chuẩn được công nhận bởi Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits da santé), đối với những bệnh nhân có một tai biến mạch máu não do tắc nghẽn một động mạch não, là một điều trị tĩnh mạch (traitement intraveineux), căn cứ trên một thuốc enzyme, RTPA (activateur de plasminogène tissulaire), làm tan cục máu đông.

Điều trị này chữa lành bệnh nhân trong 40% các trường hợp nhưng chỉ với điều kiện thuốc được tiêm duới 3 giờ sau những triệu chứng đầu tiên. Và RTPA chỉ khai thông động mạch bị bít tắc của não bộ trong 25 đến 60% các trường hợp (và 30% các bệnh nhân có động mạch bị bịt tắc trở lại).

Có một phương cách khác : đưa thuốc trực tiếp vào tiếp xúc với cục máu đông (caillot) : đầu mút của một cathéter nhỏ xíu được đưa lên qua động mạch đùi, động mạch chậu, động mạch chủ, và động mạch cảnh. RTPA được tiêm lúc tiếp xúc với cục máu đông (kissing the clot). Được thực hiện trong 6 giờ, kỹ thuật này cho phép khai thông động mạch trong 60 đến 70 % các trường hợp.

ĐƯỢC TIÊM TIẾP XÚC VỚI CỤC MÁU ĐÔNG.

Sau cùng, các thầy thuốc đã tưởng tượng ra (và sử dụng một cách thí nghiệm) các dây thòng lọng (lasso), các rổ (panier) hay các mở nút chai (tire-bouchons) bé xíu, được đưa vào đầu của các cathéter để lấy cục máu đông đi một cách cơ học.

Công trình nghiên cứu Renalise phối hợp hai phép điều trị : ngay khi chẩn đoán tai biến mạch máu não được thực hiện bằng hình ảnh ở bệnh viện, RTPA được tiêm truyền tĩnh mạch. Không để mất thời gian, bệnh nhân được mang đến salle de cathétérisme. Người ta đưa một ống thông lên trong động mạch của bệnh nhân và RTPA được tiêm vào lúc cathéter tiếp xúc với cục máu đông.

Trong thời gian đầu, nhóm nghiên cứu của bệnh viện Bichat đã điều trị bằng RTPA tiêm tĩnh mạch nơi chỉ 107 bệnh nhân trong số 173 trường hợp tai biến mạch máu não giữa tháng hai 2002 và tháng tư 2007. Kết quả : 52% các động mạch đã được “ khai thông ”. Rồi giữa tháng năm 2007 và tháng 10 năm 2008, kỹ thuật tiêm trong động mạch (technique intra-artérielle) đã được thêm vào cho 53 bệnh nhân trong số 122 người bệnh được đưa vào trong nhóm này : sự khai thông trở lại đã có hiệu quả trong 87% các trường hợp. Tác động lên số trường hợp được chữa lành là quan trọng: 60% các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới đã thấy các triệu chứng được cải thiện hay biến mất, so với 39% các bệnh nhân được điều trị bằng đường tĩnh mạch quy ước.

Động mạch được khai thông càng nhanh thì kết quả càng tốt : nếu can thiệp xảy ra dưới 3 giờ 30 sau khởi đầu của các triệu chứng tai biến mạch máu não, 93% các bệnh nhân được chữa lành tức thời và vẫn như vậy sau 3 tháng theo dõi.

Chỉ có vấn đề là cuộc chạy đua với thời gian này sẽ tốn kém về mặt nhân lực và sự vận hành chức năng của các khoa cấp cứu thần kinh-mạch máu (urgences neurovasculaires), được huy động đồng thời với các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh quang tuyến (neuroradiologie).
(LE FIGARO 21/8/2009)

7/ HẦU HẾT CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO (AVC) TÁI PHÁT XẢY RA TRONG 24 GIỜ SAU MỘT TAI BIẾN THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ TẠM THỜI (AIT).

Gần một nửa các tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral), xảy ra trong 7 ngày sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT : accident ischémique transitoire), được khởi phát trong 24 giờ đầu. Chính vì thế việc đánh giá những bệnh nhân này phải được xem như là vô cùng khẩn cấp (extrêmement urgent) chứ không chỉ đơn thuần là nhanh chóng.

Đó là điều mà các nhà nghiên cứu người Anh đã giải thích trong Neurology. Vài khuyến nghị mới đây khuyên đánh giá các bệnh nhân bị một tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT : accident ischémique transitoire) hay một thiếu máu não cục bộ tạm thời (ischémie cérébrale transitoire) trong vòng 24 giờ, nhưng người ta không biết bao nhiêu tai biến mạch máu não tái phát xảy ra trong những giờ đầu này, cũng như không biết điểm số ABCD2 có xác định một cách đáng tin cậy các tái phát trong giai đoạn này hay không.

Peter Rothwell và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu về các tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT) và các tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral) (Oxford Vascular Study). Họ đã xác định nguy cơ tai biến mạch máu não tái phát vào lúc 6, 12 và 24 giờ, được định nghĩa như là sự xuất hiện đột ngột những triệu chứng thần kinh sau một hồi phục ban đầu.

Trong số 1.247 bệnh nhân đầu tiên bị AIT hay AVC, 35 bệnh nhân đã bị những tai biến mạch máu não tái phát trong 24 giờ, tất cả trong cùng vùng chi phối bởi động mạch. Những nguy cơ AVC vào lúc 6, 12 và 24 giờ sau 488 AIT đầu tiên là 1,2%, với 42% các AVC trong 30 ngày sau một AIT xảy ra trong 24 giờ đầu. Nguy cơ vào lúc 12 và 24 giờ được liên kết mạnh với điểm số ABCD2. Vài trong số các bệnh nhân đã tham gia một thử nghiệm đánh giá cấp cứu sau một AIT và ngay những người đã hướng một đánh giá tương đối cấp cứu đã bị những đợt mới trước đánh giá này.

Đối với các tác giả, sự kiện khoảng một nửa các AVC tái phát trong 7 ngày sau một AIT xảy ra trong 24 giờ đầu nhấn mạnh sự cần thiết một đánh giá cấp cứu. Các chuyên gia nhấn mạnh, và rất đúng : sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT), bệnh nhân phải được nhập viện càng nhanh càng tốt, để cho phép tìm kiếm và điều trị những yếu tố nguy cơ có can dự trong trường hợp của mỗi cá thể.

Những khuyến nghị hiện nay xác lập rằng một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT) phải được thăm dò bởi một thầy thuốc chuyên khoa trong vòng 24 giờ. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng 64% các bệnh nhân đã bị một cơn mới trong 24 giờ sau AIT, đã thăm khám thầy thuốc trước cơn mới này. Nhưng không có bệnh nhân nào đã được cho aspirine. Thật vậy, tất cả những nạn nhân của AIT phải nhận aspirine và phải được thăm dò càng nhanh càng tốt. Trong mục đích xác định mức độ cấp cứu của sự thăm dò cần được thực hiện, một algorithme căn cứ trên thang ABCD2 được xác lập. Người ta xét đến tuổi trên 60 (1 điểm), cao huyết áp tâm thu (1 điểm), cao huyết áp tâm trương (1 điểm), liệt nhẹ một bên (2 điểm) hay rối loạn lời nói không do vận động (1 điểm), các triệu chứng kéo dài dưới 60 phút (1 điểm), và bệnh đái đường (1 điểm). Một thầy thuốc chuyên khoa phải nhất thiết được hội chẩn trong 24 giờ khi điểm số > hoặc = 4, một thời hạn tối đa một tuần có thể dành cho những trường hợp khác.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/6/2009)
(LE GENERALISTE 25/6/2008)

8/ BỆNH LAO ĐỀ KHÁNG THUỐC ĐANG THẮNG THẾ.

Các nhà nghiên cứu từng hy vọng rằng các vị khuẩn lao kháng thuốc ít lay truyền hơn. Nhưng không phải như vậy.

Tin xấu trên mặt trận chống lao, bệnh giết chết mỗi năm khoảng 1,6 triệu người trên thế giới. Các giống gốc vi khuẩn của căn bệnh hô hấp này càng lúc càng tỏ ra có khả năng đề kháng đối với các kháng sinh hiện có và đang thắng thế. Khuynh hướng này phải chăng là do một sự theo dõi điều trị kém, cho phép các vi khuẩn biến dị xuất hiện và lấn át các vị khuẩn nhạy cảm với thuốc ? Hay là do khả năng tự nhiên của các “ siêu vi khuẩn ” mới làm lây nhiễm con người ?

Giả thuyết thứ hai này, khiến giới y khoa lo sợ, dường như được xác nhận bởi hai công trình nghiên cứu mới đây. Công trình thứ nhất, do một nhóm nghiên cứu người Úc thực hiện, cho thấy rằng cái giá phải trả của chuyển hóa không ảnh hưởng lên khả năng của trực khuẩn Koch truyền từ người này qua người khác. Hy vọng là những giống gốc không đề kháng (souches non résistantes) sẽ giữ ưu thế trong ổ sinh thái (niche écologique) của chúng, đó là 2/3 nhân loại bị nhiễm một cách tiềm tàng, ở đó các vi khuẩn yên ngủ trong lúc chờ đợi chuyển qua tấn công khi hệ phòng thủ miễn dịch bị suy giảm. Trong trường hợp phát bệnh, các thuốc lúc đó sẽ có hiệu quả.

Tiếc thay, sơ do này dường như bị công kích kịch liệt. Mark Tanaka (đại học Nouvelle-Galles-du Sud, Kensington, Úc ) và các đồng nghiệp đã phác họa những mô hình toán học, từ các vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes) được lấy ở Venezuela (từ năm 1936 được tiếp nhận một kế hoạch có hiệu quả chống bệnh lao), ở Cuba và ở Estonie, ở đây nhưng cố gắng dự phòng được thực hiện lẻ tẻ hơn nhiều.

Những mô hình này cho thấy rằng sự thịnh hành của những giống gốc đề kháng (souches résistantes) phát sinh ở Cu Ba và Estonie không còn do việc cho thuốc nữa, mà từ nay nó có thể được quy cho sự lan truyền giữa các cá thể. Tình hình khác với Venezuela, ở đây các giống gốc đề kháng ít có thời gian hơn để tiến triển và có được, do biến dị, nhưng khả năng lan truyền tốt hơn.
(LE MONDE 17/8/2009)

9/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ TỰ TỬ NƠI CÁC NGƯỜI TRẺ TUỔI.

Những thanh niên dưới 25 tuổi tiêu thụ các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs) có nguy cơ có những ý nghĩ tự tử (pensées suicidaires) hai lần nhiều hơn những người sử dụng một placebo. Như thế các người trẻ tuổi có cùng nguy cơ với các thiếu niên và các muốn kết liễu cuộc đời.

Tác dụng nổi bật nhất nơi các thiếu niên uống những viên thuốc này nhưng bị một rối loạn tâm thần khác với bệnh trầm cảm (dépression). Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được công bố trong tạp chí y học British Medical Journal.

Công cuộc điều tra đã phân tích 372 công trình nghiên cứu, trong đó 12 loại thuốc chống trầm cảm khác nhau đã được trắc nghiệm. Những người trưởng thành trên 25 tuổi không còn có nữa những ý nghĩ tự tử và các lão niên trên 65 tuổi có ít hơn những ý nghĩ này khi họ sử dụng các thuốc chống trầm cảm.

“ Rõ ràng là các thuốc chống trầm cảm được đặc trưng bởi hiệu năng và những tác dụng phụ khác nhau ”, giáo sư John Geddes (đại học Oxford) đã chỉ rõ như vậy. Ông khuyên các thầy thuốc giới hạn việc cho toa các thuốc chống trầm cảm nơi các người dưới 18 tuổi và khuyến nghị liệu pháp nhận thức (thérapie cognitive).

Nhà nghiên cứu Marc Stone nói thêm rằng các kết quả của công trình nghiên cứu bảo vệ ý tưởng cho rằng các thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những tác dụng độc lập : những tác dụng phụ bao gồm những tư tưởng và hành vi tự tử và tác dụng bảo vệ làm giảm sự trầm cảm và do đó làm giảm các nguy cơ tự tử.
(LE GENERALISTE 20/8/2009)

10/ CÁI BỤNG BỰ CỦA NGƯỜI UỐNG BIA : MỘT HUYỀN THOẠI ?

Niềm tin dân gian cho rằng người uống bia mang những dấu hiệu nghiện nơi chiếc bụng bự của minh. Nhưng có chính xác là việc uống bia xác định một cách trực tiếp vòng thân (tour de taille) ? Các nhà nghiên cứu người Đức và Thụy Điển đã nghiên cứu sự liên kết của hai yếu tố này.

Trong công trình nghiên cứu Epic (European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition), được thực hiện ở Potsdam (7.876 đàn ông, 12.749 phụ nữ), M. Schutze đã ghi nhận việc uống bia vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và đã theo dõi tiến triển của vòng thân trong 8,5 năm.

Sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với sự tiến triển của thể trọng và của vòng háng (tour de hanche), các nhà nghiên cứu đã nhận thấy một sự liên kết duong tính nơi đàn ông, nhưng không nơi phụ nữ, giữa sự tiêu thụ bia và vòng thân (tour de taille) vào lúc đầu công trình nghiên cứu. So với những người uống rất ít, những người đàn ông uống một lít bia mỗi ngày có thêm 17% nguy cơ thấy vong thân gia tăng.

Đối với các tác giả, uống bia làm gia tăng vòng thân, nhung vòng thân này liên kết mật thiết với sự lên cân đồng thời nói chung. Kết luận, các kết quả của công trình nghiên cứu không xác nhận niềm tin dân gian thông thường cho rằng bia có tác dụng đặc biệt lên bụng. Đối với một vài người, nếu mỡ bụng tích tụ ở đó, điều này đúng hơn là do sự nhàn rỗi không hoạt động, vệ sinh ăn uống kém, chứng nghiện thuốc lá...
(LE JOURNAL DU MEDECIN 21/8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (24/8/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#17 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 02 September 2009 - 11:36 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG TRẬN ĐẠI DỊCH LỚN THỜI TRUNG CỔ.

Đại dịch (Pandémie)... Cái chữ chứa đầy sự đe doạ này đã tái xuất hiện với bệnh cúm mexico, như vậy chứng minh rằng loài người mặc dầu đã đạt được những tiến bộ khó tin trong lãnh vực y khoa và vệ sinh, vẫn không tránh được các tai ương mà người ta tưởng là đã vĩnh viễn chế ngự được. Từ khi sự sống xuất hiện trên trái đất, từ khi con người, theo sơ đồ của Darwin, là phát triển cuối cùng, các bệnh tật vẫn hiện diện cùng với sự lây nhiễm được gây nên bởi nhiều trong số các chứng bệnh này. Thời sự làm chúng ta hồi tưởng lại những tai ương lớn đã giáng xuống châu Âu trong một phần lớn của thời kỳ Trung Cổ, ngăn cản như thế mọi sự tiến triển dân số, còn tệ hơn là trong vài thời kỳ lịch sử, đã gây nên một sự thoái lui ngoạn mục. Có lẽ trong số những bệnh dịch mạnh mẽ nhất mà hành tinh đã trải qua, có trận dịch của bệnh dịch hạch đen (peste noire), xuất hiện vào năm 1346 và đạt đến tuyệt đỉnh của nó hai năm sau đó. Những tàn phá như thế đã được biết rõ suốt trong thời kỳ Thượng Cổ, nhưng hiện tượng các thành phố xuất hiện ngay thế kỷ thứ X sẽ làm dễ sự lan tràn nhanh chóng của bệnh dịch.

SỰ BẤT LỰC LÀ THUỐC ĐIỀU TRỊ DUY NHẤT.

Từ Phương đông, dịch hạch xâm chiếm Sicile ngay năm 1346, Constantinople, Hy Lạp và một phần của Ý vào đầu năm 1347. Dịch hạch đã gây nhiều tử vong đến độ nó buộc giáo hoàng phải thừa nhận sông Rhône như là nơi an nghỉ cuối cùng của những xác chết, mà người ta không biết phải làm gì với chúng. Một lời chứng đặc biệt hùng hồn cho chúng ta biết tất cả hoặc hầu như tất cả những biểu hiện của căn bệnh này. Lời chứng này xảy ra cùng thời và là tác phẩm của một học giả vì lẽ được ký bởi tu sĩ dòng franciscain Michel di Piazza : “ Vào đầu tháng 10 của năm 1347, hai thuyền chiến (galères) thuộc những người dân của thành Gênes, trốn sự nổi giận lôi đình của trời mà họ đã nhen nhúm lên do những hành động gian ác của họ, đã đi vào trong hải cảng Messine. Những người dân thành Gênes này mang nơi họ một căn bệnh độc lực đến độ, những người vô phước ngỏ lời với họ đã mắc phải một căn bệnh chết người, vô phương cứu chữa … họ cảm thấy những cơn đau nhói đi xuyên qua thân thể, không còn sức lực. Chẳng bao lâu sau đó, trên đùi hay phần trên của cánh tay xuất hiện một hạch xoài (bubon) có kích thước của một đậu lăng (LEntille), mà những người bình dân gọi là “ hạch xoài lửa ” (bubon de feu). Áp-xe này gây nhiễm trùng toàn cơ thể đến độ bệnh nhân mửa ra máu, với một sức mạnh phi thường. Những cơn mửa này kéo dài trong 3 ngày bởi vì không có cách gì làm ngừng lại được, trong khi người bệnh thở hắt ra và chết. Sau khi những người dân của thành Messine khám phá ra rằng sự chết đột ngột này phát xuất từ những người dân thành Gênes, thì họ vội vàng tống xuất những người này ra khỏi thành phố và hải cảng của họ. Nhưng căn bệnh vẫn tồn tại và là nguyên nhân của một số lượng người chết khủng khiếp. Chẳng bao lâu, người ta thù hằn nhau đến độ nếu một đứa con trai bị bệnh, thì bố từ chối săn sóc nó. Dẫu sao, nếu người cha dám đến gần người bệnh, thì ông ta bị lây nhiễm ngay và không thể thoát tử vong xảy ra trong vòng 3 ngày. Chưa phải là hết : những người bà con thân thuộc, tất cả những kẻ sống trong cùng nhà người bệnh và ngay cả mèo và những gia súc khác cũng chết theo người bệnh.” Sự mô tả thật khủng khiếp khi ta biết rằng những nạn nhân của căn bệnh đã không có thì giờ để sắp xếp công việc trước khi chết, cũng như không kịp nhận lễ xức dầu thánh (onction), điều này là điều không thể tưởng tượng được ở Tây phương Cơ đốc giáo. Michel di Piazza tâm sự với chúng ta rằng, vài vị linh mục, sau khi chỉ kịp nghe xong lời thú tội cuối cùng của người hấp hối, thì đã bị quật ngã tức thời bởi căn bệnh và chết gần như lập tức bên cạnh bệnh nhân. Đến độ dân chúng của thành Messine phải quyết định rời bỏ thành phố để đi tị nạn và cắm trại giữa những khu vườn nhỏ, còn những người dân khác thì thích lánh mình ở Catane hơn.

Hai thuyền chiến, bị đuổi ra khỏi thành Messine, tiếp tục gieo chết chóc xuyên qua nước Ý. Pise và Toscane đến lượt bị dịch bệnh, bị phá hủy đến tận tổ chức xã hội, mà Boccace sẽ kể lại như sau : “ Người ta không còn giúp đỡ cho nhau nữa, người ta chẳng bận tâm đi thông báo cho những thành viên của gia đình. Các người bệnh bị bỏ rơi, tai ương này làm chai cứng các trái tim đến độ anh bỏ em , chú bỏ cháu , vợ bỏ chồng ; lại còn tệ hại hơn và gần như khó tin, cha và mẹ bỏ chạy trốn khỏi con cái.”

Vậy y khoa và các thầy thuốc đã có thể mang lại những phương thuốc nào ? Họ chỉ có một câu trả lời duy nhất, đó là sự bất lực. Họ không thể hành nghề vi sợ đến lượt mình sẽ bị lây nhiễm và do đó sẽ chẳng nhận được một lợi tức nào. Tuy nhiên người thầy thuốc của giáo hoàng Clément VI đã chứng thực rằng vài người bệnh sống sót vì lẽ các hạch xoài của họ đã có thể chín mùi. Những phương thuốc duy nhất được biết là từ đại học y khoa Paris và tuy vậy đó chỉ là những điều cấm chỉ : không được ăn thức ăn lạnh và cá bởi vì cá sống dưới nước. Sự kích động, sự giận dữ và sự say sưa có tiếng là nguy hiểm. Vài thầy thuốc, dám mạo hiểm đến gần các bệnh nhân của họ, mặc một chiếc áo choàng dài, tận cùng bởi một đôi gant và một mặt nạ, ở đầu mặt nạ có một máy hô hấp với các cỏ thơm nhằm thanh lọc không khí. Đó cũng là những bát sữa tươi, được đặt trong các phòng ngủ và cực chẳng đã, người ta đặt lên môi của người hấp hối bánh mì nóng, hy vọng như thế xua đuổi căn bệnh ra khỏi người hấp hối. Còn lạ kỳ hơn nữa, người ta mang các đàn cừu ra các đường phố và hy vọng rằng hơi thở của chúng sẽ làm thanh khiết không khí khỏi các chướng khí. Lại còn lạ lùng hơn, một triết gia khác khuyên đem gió đóng chai. Không phải là điều dễ thực hiện. Và sau cùng, mặc dầu danh sách còn chưa đầy đủ, lời khuyến nghị của một đồ đệ của Esculape, yêu cầu trộn vào nước tiểu của mình đủ loại cây cỏ, trong đó có cây ngải đắng và cứ mỗi sáng uống một liều nhỏ !

Sau cùng, sẽ phải đợi đến năm 1374 để thấy chính quyền áp dụng những biện pháp hiệu quả để chống lại bệnh dịch hạch. Một đạo luật đầu tiên được thông qua ở Reggio de Calabre với những lời lẽ như sau : “ Mọi người bị bệnh dịch hạch sẽ được đưa ra khỏi thành phố, vào trong các cánh đồng để chết hoặc lành bệnh ở đó. Những người đã săn sóc những người bị dịch hạch sẽ phải bị cấm cung trong 10 ngày trước khi có thể tái tiếp xúc với những người đồng loại. Giới giáo sĩ sẽ có bổn phận thăm khám các bệnh nhân và tố cáo họ với chính quyền nếu không sẽ bị hỏa thiêu và tịch thu tài sản. Những người truyền bệnh dịch hạch sẽ bị nhà nước tịch thu tài sản. Ngoại trừ những người được cách ly trong mục đích này, không ai có thể săn sóc những người bị bệnh dịch hạch mà không bị tử hình và tịch thu tài sản.” Sự cách ly kiểm dịch(mise en quarantaine) được sinh ra đời, hay ít ra là sự giữ tách xa (mise à l’écart), bởi vì quarantaine chỉ thời gian 40 ngày, trong đó những người di dân mới đến, vừa đổ bộ từ một con tàu và được giữ ở cach xa thành phố, thời gian cần thiết để xem những người nhập cư này có phát triển căn bệnh rùng rợn đó hay không. Trong tương lai, chính những biện pháp cách ly này sẽ cho phép ngăn chặn tốt hơn bệnh dịch. Và, ngoài hình phạt thánh thần, vì còn cần phải chỉ định xem ai là những người chịu trách nhiệm bệnh dịch này, nên một lần nữa chính những người Do Thái đã bị chỉ định và bị thiêu trên giàn hỏa, đặc biệt ở Narbonne và Bourgogne, những pogrom (những cuộc tàn sát người Do thái) báo hiệu những cuộc tàn sát khác còn tệ hại hơn. Người ta trách họ làm nhiễm độc các giếng nước. Những lời buộc tội phi lý vì lẽ cũng như những người dân còn lại khác, họ bị trừng phạt thật nặng nề.

BỆNH SỐT NHIỀU MỒ HÔI (SUETTE)

Trong số các bệnh dịch ít được nhắc nhớ đến bởi vì đến nay vẫn còn không được biết rõ, đó là dịch sốt ra nhiều mồ hôi được gây nên bởi sốt cao và nổi ban da. Dịch bệnh mà ta goi là suée hay suette anglaise bởi vì người ta đã tưởng tượng rằng dịch bệnh này sinh ra đời ở Anh, có nguồn gốc trong cái khí hậu ẩm ướt đã bị chế giễu ngay ở thời Trung cổ, vì lẽ tiếng đồn muốn rằng ở đây mưa 5 năm liền mà không có một chút trời quang đãng. Vậy chính trong cái khí hậu sầu thảm này và những điều kiện vệ sinh tệ hại mà căn bệnh mới này sẽ phát sinh. Những tình trạng phóng đãng đủ loại, dầu giai cấp xã hội là gì, làm cho căn bệnh tấn công những người khỏe mạnh, có khuynh hướng chè chén, hơn là vào các phụ nữ và những người già. Bệnh dịch bắt đầu năm 1485 và được mô tả như sau bởi nhà biên niên sử thời đó : “ Đột ngột, một thứ mồ hôi gây chết người và nóng bỏng xâm chiếm toàn thân thể, kích thích máu, làm dạ dày và đầu nóng như lửa. Những nỗi đau đớn này kinh khủng đến độ các bệnh nhân phải nằm liệt giường. Không chịu được cái nóng quấy nhiễu này, các người bệnh vứt bỏ các khăn trải giường và mền chiếu.” Bệnh dịch biến mất nhanh cũng như lúc đến nhưng đã tái xuất hiện nhiều lần vào đầu thế kỷ 16. Thế thì làm sao giải thích lịch sử y học đã thường không đề cập đến bệnh dịch trong những thế kỷ tiếp theo sau đó ? Chúng ta sẽ được cho lời giải thích vào thế kỷ thứ 19 : đơn giản là bởi vì căn bệnh đã không được liệt kê bởi những người Hy Lạp và Latin, nên nó không thể hiện hữu trong tâm trí của những thầy thuốc chỉ lấy kiến thức cổ đại như là tài liệu tham khảo duy nhất. Về phần mình, Erasme đã hoàn toàn nắm vững, mặc dầu sự im lặng của những người đương thời, những lý do của sự xuất hiện của bệnh sốt mồ hôi.
(LA SEMAINE MEDICALE 1/6/2009)

2/ “ VIRUS H1N1 LAN TRÀN VỚI MỘT TỐC ĐỘ KHÔNG TUỞNG T ƯỢNG ĐƯỢC ”.

Theo bilan toàn bộ được công bố hôm thứ sáu 28/8 bởi OMS, cúm A (H1N1) đã giết chết ít nhất 2.185 người. Số các người bị nhiễm bệnh vào thời điểm này lên đến ít nhất 209.438, trong hơn 177 nước. H1N1 đã trở nên virus cúm thống trị trên thế giới. Nó thay thế virus của cúm mùa.

Ngày 24 tháng 4, OMS đã phát ra một báo động trên thế giới, loan báo rằng hàng trăm trường hợp cúm đã được ghi nhận ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ.

Ngày 1 tháng sáu, tổng giám đốc OMS, BS Magaret Chan, đã tuyên bố cúm A (H1N1) là đại dịch đầu tiên của thế kỷ XXI. Trong cuộc nói chuyện đặc biệt dành cho báo Le Monde, bà điểm lại tình hình và giải thích về chiến lược của OMS.

Hỏi : Đại dịch hiện nay thách thức tất cả các dấu mốc của chúng ta.
BS Magaret Chan : Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta thấy một đại dịch diễn biến dưới mắt của chúng ta. Ngày xưa, thế giới luôn luôn bị bất ngờ, không có thời gian bàn bạc về những phương tiện để đương đầu với căn bệnh. Cách nay vài năm, từ lúc phát khởi virus của cúm gia cầm H5N1, được thể hiện bởi một căn bệnh cực kỳ nghiêm trọng, với 50% đến 60% những trường hợp tử vong, các bộ trưởng y tế đã thảo luận với OMS về phương cách hoạch định công tác chuẩn bị đối với mối đe dọa đại dịch, lấy cúm Tây Ban Nha 1918 làm quy chiếu. Virus 2009 A (H1N1) hoàn toàn khác. Đó là virus mới, và hầu như không có ai đã được miễn dịch chống lại nó. Virus này lan tràn rất dễ dàng, nhưng không gây bệnh nặng nơi hầu hết những người mắc bệnh. Những yếu tố này không thích hợp với những kế hoạch đã được chuẩn bị, và cần phải thích ứng chúng. Vậy, không có gì phải ngạc nhiên khi người ta tự hỏi tại sao đại dịch hiện nay không tương ứng với điều mà họ đang chờ đợi, và nhận thấy rằng người ta đang làm thái quá. Nhưng tôi không đồng ý với quan điểm này.

Hỏi : Đại dịch hiện nay tạo nên những mối đe dọa nào ?
BS Magaret Chan : Trước hết, virus này du hành với một tốc độ không tưởng tượng nổi, chưa từng có. Trong vòng 6 tuần, nó vượt qua cùng khoảng cách với những virus khác trong 6 tháng ! Số người bị nhiễm khuẩn cũng chưa từng có. Đến 30% những người dân của những nước có mật độ cao về dân số có nguy cơ bị nhiễm khuẩn. Không có những kế hoạch chuẩn bị, chúng ta sẽ không có khả năng có một đáp ứng có tổ chức.
60% các tử vong xảy ra nơi những người vốn có những vấn đề về sức khỏe. Điều này có nghĩa là 40% những trường hợp tử vong xảy ra nơi những người trưởng thành trẻ tuổi, mạnh khỏe, chết trong vòng 5-6 ngày sau một viêm phổi do virus. Đó là sự kiện đáng lo ngại nhất. Công tác điều trị những người này rất nặng nề và khó khăn.
Trong nhiều quốc gia, những phòng cấp cứu và những đơn vị hồi sức tăng cường cực kỳ được đòi hỏi, thậm chí quá tải. Trong thế giới 6,8 tỷ người của chúng ta, điều gì sẽ xảy ra nếu nhiễm trùng ảnh hưởng lên 20% đến 30% dân số ? Điều gì sẽ xảy ra nếu căn bệnh trở nên nghiêm trọng hơn, nhưng chúng ta lại không được chuẩn bị ? Nhiều phương tiện nhân vật lực sẽ được sử dụng dành cho những người bệnh bị bệnh ung thư, các bệnh tim mạch...

Hỏi : Đúng thế, bà sẽ trả lời gì đối với những kẻ e sợ rằng việc chống lại H1N1 được thực hiện với ảnh hưởng lên sự chống những bệnh chết người khác ?
BS Magaret Chan : Câu hỏi hợp lý. Cần thiết phải quy tụ những nguồn bổ sung. Không nên cởi quần áo Pierre để rồi mặc vào cho Paul. Mỗi chính phủ có trách nhiệm phải chuẩn bị cho điều tệ hại nhất, và hy vọng cái tốt nhất. Nó là kế toán về cách bảo vệ các công dân. Theo định nghĩa, các đại dịch cúm không thể dự kiến được. Đúng vây, căn bệnh hiền tính, và chúng ta hy vọng rằng nó sẽ là như vậy khi làn sóng thứ hai sẽ xảy đến vào mùa thu này. Nếu không phải là như thế, thì các chính phủ làm sao có thể biện minh trước công luận của họ nếu không làm những điều cần thiết để chuẩn bị ?

Hỏi : Cuộc chạy đua sản xuất vaccin chống cúm A (H1N1) đã được phát động. Giống gốc đầu tiên được OMS gởi cho các nhà chế tạo đã cho những năng suất làm thất vọng. Chúng ta có nguy cơ bị chậm lại so với lịch trình được dự kiến hay không ?
BS Magaret Chan : Chúng tôi đã nói rằng phải cần 5-6 tháng để hiệu chính những lô vaccin đầu tiên. Hiện nay, chúng ta đang còn trong thời gian chờ đợi.

Hỏi : Chúng ta sẽ có những vaccin này đúng lúc và với lượng đầy đủ không ?
BS Magaret Chan : Không phải trong những tháng đến. Trước khi thiết lập kế hoạch chống virus cúm gia cầm H5N1, năng suất sản xuất hàng năm trên thế giới là 450 triệu liều, và chủ yếu trong những nước phát triển. Năng suất này đã tăng lên 900 triệu liều. Mặc dầu cho số lượng này vẫn không đủ đi nữa, nhưng điều đó đã không xảy ra đối với những đại dịch trước đây.

Hỏi : Còn đối với các nước đang phát triển thì sao ?
BS Magaret Chan : Chúng tôi đã nhận những cam kết biếu không với một số lượng tổng cộng 150 triệu liều. Chúng tôi tiếp tục đối thoại để làm gia tăng số lượng, nhưng cũng để thương thuyết việc mua những liều bổ sung. Nhưng không nên quên những can thiệp không phải thuốc : rửa tay, ở tại nhà nếu đau bệnh... Tôi mới đi Ouganda về, tôi đã viếng thăm một ngôi làng trong đó phương tiện truyền tin duy nhất là radio, và ở đó những người tình nguyện tham dự những công tác y tế. Chủ tịch làng là người duy nhất có điện thoại di động. Chúng ta phải suy nghĩ phương cách phổ biến tin tức bằng SMS.

Hỏi : Vẫn có những nghi vấn về chất lượng và mức độ an toàn của những thuốc chủng tương lai chống lại H1N1…
BS Magaret Chan : Nhà chức trách điều hòa đang gia tốc quá trình để vaccin được phép đưa ra thị trường, nhưng chỉ với những gì liên quan dến các thủ tục hành chánh. Không có vấn đề làm phương hại mức độ an toàn và hiệu quả của các vaccin. Các thử nghiệm lâm sàng cho chúng ta những giải đáp về các tác dụng phụ dương tính của các vaccin này, nhưng chúng ta phải rõ ràng : vì lẽ số người được trắc nghiệm có giới hạn, nên các tác dụng phụ vô cùng hiếm không phải luôn luôn xuất hiện. Hội chứng Guillain Barré (một biến chứng thần kinh khả dĩ) xảy ra theo tần số một trường hợp trên một triệu người được tiêm chủng. Vậy chúng ta có nguy cơ bị mắc phải biến chứng này.
Ngay cả với những sản phẩm có chất lượng, vẫn luôn luôn có những tác dụng phụ. Vì lẽ đó, OMS đã đưa ra những lời khuyến nghị về việc theo dõi y tế cần phải đảm bảo, một khi vaccin được sử dụng. Nhưng phải phân biệt những tác dụng thật sự liên kết với vaccin và những tác dụng trùng hợp trong thời gian mà không có mối liên hệ nhân quả. Nếu chúng ta chứng thực những tác dụng đặc biệt liên kết với vaccin, chúng ta sẽ báo cáo và các chính phủ cũng sẽ phải làm như vậy. Giới truyền thông phải đóng vai trò của họ : lưu ý công chúng những tin tức quan trọng nhất, cũng như họ phải theo dõi công tác của chúng ta.

Hỏi : Chúng ta cần gì nhất trong cuộc đấu tranh chống lại H1N1 ?
BS Magaret Chan : Chúng ta cần sự lãnh đạo về chính trị, những kế hoạch tốt chống lại bệnh, một sự điều hòa tốt và một sự thực hiện tốt. Điều đó không chỉ thuộc trách nhiệm của các bộ y tế. Một vài can thiệp có những ý nghĩa kinh tế và xã hội lớn, ví dụ đóng cửa các trường học.
Phải xét đến tất cả các khía cạnh của vấn đề. Sau cùng, sự ủng hộ của công luận là cần thiết. Đầu tư tốt nhất có thể có được đối với một chính phủ là sự truyền tin đại dịch (communication pandémique) : nhận diện những cơ chế truyền tin thích hợp cho mỗi quốc gia, để dân chúng tiếp nhận thông tin đúng lúc và một cách minh bạch.
(LE MONDE 31/8/2009)

3/ CÚM A : CHỦNG NGỪA CÓ THỂ NGAY GIỮA THÁNG MƯỜI.

SANTE. Ủy ban khủng hoảng liên bộ “ Đại dịch cúm ” đã tiết lộ hôm qua những chi tiết của chiến dịch được dự kiến để ngăn chặn sự lan tràn của virus H1N1.

Tất cả những người Pháp nào mong muốn đều sẽ có quyền nhận tiêm chủng miễn phí, được đề nghị bắt đầu từ tháng mười. Chiến dịch này sẽ được phát động nếu tình hình và những lời khuyến nghị của các chuyên gia biện minh điều đó. “ Chúng ta gặp phải một virus có độc lực ở mức độ trung bình, nghĩa là tương đương với hoặc hơi cao hơn cúm mùa, nhưng với một khả năng lây truyền mạnh mẽ ”, hôm qua Roselyne Bachelot, bộ trưởng y tế Pháp đã chỉ rõ như thế.

Theo bảng thông báo mới nhất của Viện theo dõi y tế, ở Pháp sự lưu hành của virus “ được xác nhận nhưng vẫn còn được giới hạn ”.
  • Ai sẽ được tiêm chủng ? Sự tiêm chủng sẽ không bắt buộc. Tuy nhiên, bà bộ trưởng y tế, muốn đề nghị vaccin chống cúm H1N1 “ cho tất cả những người nào mong muốn ”, đã gởi đơn đặt hàng 94 triệu liều nơi 4 phòng bào chế dược phẩm với tổng phí 1 tỷ euro. Hôm qua những lô vaccin đầu tiên đã được tiếp nhận, với số lượng hạn chế. Hiện nay, các vaccin này được bảo quản trong một nơi được giữ kín, do biện pháp an ninh. Chiến dịch chủng ngừa sẽ không bắt đầu trước khi nhận giấy phép cho lưu hành trên thị trường, được dự kiến vào giữa tháng 10. Một danh sách những người ưu tiên sẽ được căn cứ trên những chỉ dẫn của OMS, các phân tích của Viện theo dõi y tế và của tổng giám đốc y tế. Những nhân viên y tế (trong đó các thầy thuốc và y tá làm trong khoa sơ sinh học và hồi sức nhi đồng (néonatologie và réanimation pédiatrique), các phụ nữ có thai và những người có sức khỏe yếu ớt là những người được ưu tiên tiêm chủng.
  • Chiến dịch tiêm chủng sẽ diễn ra như thế nào ? Chiến dịch tiêm chủng sẽ trải ra trong 4 tháng và sẽ diễn ra trong các trung tâm tiêm chủng (centre de vaccination), được thành lập trong các nhà tập thể dục hay các phòng đa năng, để không làm ứ đọng các bệnh viện. Thông tư dự kiến tối thiểu 3 địa điểm cho mỗi tỉnh, những địa điểm quan trọng nhất có thể tiếp nhận đến 2.100 người mỗi ngày theo chế độ tăng cường.Việc tiêm chủng các học sinh và của tất cả cộng đồng giáo dục sẽ được đảm bảo bởi những toán di động trong các trường học. Các thầy thuốc gia đình, các sinh viên hay những người hưu trí sẽ được mời tham dự.
  • Sẽ có theo dõi về mặt y tế hay không ? Những phiếu tiêm chủng sẽ được phân phát bởi Assurance-maladie. Hai liều thuốc chủng, được tiêm mông cách nhau tối thiểu 3 tuần, sau đó sẽ được giao. Về điểm này chính phủ nhấn mạnh về “ yêu cầu có thể truy tìm những người được tiêm chủng ”, để bảo đảm rằng hai liều tiêm sẽ được thực hiện với cùng vaccin. Sự theo dõi này cũng sẽ cho phép nghiên cứu những tác dụng phụ gây nên bởi thuốc mới.
  • Những thử nghiệm đã cho thấy rằng các vaccin là hiệu quả và an toàn hay không ? Nhiều nghiên cứu lâm sàng còn đang được tiến hành trên thế giới để xác nhận tính hiệu quả và độ dung nạp tốt của các vccin chống H1N1 trong những loại dân khác nhau (những người trưởng thành, những người già, trẻ em…).

Những kết quả của những thử nghiệm này, đang còn được tiến hành bởi mỗi hãng dược phẩm với thuốc chủng do mỗi hãng chế tạo, sẽ được chờ đón trong những tuần đến. Tuy nhiên các hãng bào chế đã có những dữ kiện an lòng, thu được với các vaccins “ maquettes ” (cùng thành phần nhưng trên cơ sở của một giống gốc H5N1). Các chuyên gia không lo ngại về tính hiệu quả của vaccin, trừ phi giống gốc H1N1 biến dị. Còn về những tác dụng phụ ? Các vaccin chống cúm mùa có thể gây nên những phản ứng tại chỗ nhưng thường được dung nạp tốt. Nguy cơ của một tiêm chủng đại quy mô là nguy cơ thấy xuất hiện những tác dụng phụ hiếm, đặc biệt là những phản ứng miễn dịch-dị ứng (réactions immunoallergiques). Vào năm 1976, các người Mỹ, đã tiêm chủng vội vàng cho 40 triệu người chống lại bệnh cúm và đã gây nên hơn 500 trường hợp hội chứng Guillain-Barré (một bệnh thần kinh thường thoái biến), trong đó 32 tử vong. Ngoài ra, để sản xuất các vaccin H1N1 này, vài hãng bào chế đã sử dụng những kỹ thuật học chưa từng có (cấy tế bào, các tá dược mới) mà người ta chưa có nhiều kinh nghiệm.
(LE FIGARO 28/8/2009)

4/ Roselyne Bachelot : “ CHÚNG TA PHẢI CHUẨN BỊ CHO TRƯỜNG HỢP TỆ HẠI NHẤT ”

Tiến triển của đại dịch, kế hoạch của chính phủ, vaccin... bộ trưởng y tế Pháp Roselyne Bachelot trả lời phỏng vấn báo L’Express. Và bào chữa là đã không “ làm thái quá ”.
Hỏi : Có phải bà luôn luôn cho rằng nước Pháp là nước được trang bị tốt nhất để đương đầu với đại dịch ?
Roselyne Bachelot : Sự đánh giá tán dương này không phát xuất từ tôi, mà từ OMS ! Kế hoạch của chúng tôi chống đại dịch đã được trắc nghiệm và cải thiện, nó được củng cố bởi sự tạo thành những dự trữ thuốc và các mặt nạ, và chúng tôi có nhũng hợp đồng giữ trước vaccin với nhiều nhà công nghiệp, điều này làm đa dạng hóa nguồn cung cấp cho chúng tôi. Chúng tôi đang có một “ hộp dụng cụ ” (boite à outil) thật sự, nhưng chúng tôi chỉ dùng mỗi một dụng cụ trong trường hợp thật sự cần thiết : tôi không muốn rơi vào trong tinh thần hệ thống.

Hỏi : Các trung tâm cách ly được dự kiến trong kế hoạch Đại Dịch (plan Pandémie) vẫn luôn luôn hoạt động chứ ? Cũng như khả năng truy tìm các hành khách (traçabilité des voyageurs) lúc đến Pháp ?
Roselyne Bachelot : Không : lại nữa chúng tôi là những người thực tiễn. Kế hoạch Đại dịch của chúng tôi đã được phát thảo để đương đầu với virus H5N1, một virus rất độc lực nhưng ít gây lây nhiễm. Dĩ nhiên chúng tôi thích nghi sự đáp ứng của chúng tôi đối với H1N1, là một virus ít độc lực và rất lây nhiễm.

Hỏi : Hiện nay chúng ta có xác định tốt hơn số các bệnh nhân và những trường hợp tử vong có thể dự kiến được hay không ?
Roselyne Bachelot : Các chuyên gia mà tôi hỏi hầu như mỗi ngày đều nói với tôi rằng đặc điểm chính của virus là không thể tiên đoán đoán được. Virus cúm mùa trung bình gây nên 2,5 triệu bệnh nhân và khoảng 2.000- 2.500 người chết mỗi năm. Vài kịch bản của Viện theo dõi y tế (InVS : institut de veille sanitaire) dự kiến, đối với cúm A, 20 triệu người bị bệnh. Vậy thì chúng ta có thể lo sợ một số tương đương 20.000 tử vong nếu tỷ lệ tử vong (taux de létalité) cũng giống với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Nhưng, tôi nhắc lại, đó là một kịch bản không tính đến những biện pháp mà chúng tôi đã dự kiến, trong đó có sự chủng ngừa.

Hỏi : Việc đếm số bệnh nhân có còn một ý nghĩa hay không ?
Roselyne Bachelot : Vào giai đoạn này, chúng tôi không còn đếm số cá nhân một cách hệ thống (comptage individuel systématique), mà đếm số nhân dân (comptage populationnel). Theo mạng Sentinelles của Inserm, tuần lễ đầu tiên của tháng tám, số thăm bệnh nơi các thầy thuốc vì những triệu chứng cúm được ước tính là 37 trên 100.000 dân. Tuần trước con số này là 48 trên 100.000 dân. Tiến triển không đáng kể. Hai con số này, hơn trên mức trung bình của cúm mùa (bởi vì có cúm quanh năm), nhưng vẫn dưới ngưỡng dịch bệnh (seuil d’épidémie), là 70 trên 100.000 dân. Nói như vậy, những thăm khám vì những triệu chứng cúm không nhất thiết là do bệnh cúm và lại còn ít hơn là do cúm A .

Hỏi : Chúng ta có phải sợ một tỷ lệ tử vong cao hơn đối với các phụ nữ có thai ?
Roselyne Bachelot : Về các phụ nữ có thai, chúng tôi theo dõi các diễn biến của các trường hợp ở Nam ban cầu. Những trường hợp này xác nhận rằng các phụ nữ có thai phải được ưu tiên che chở.

Hỏi : Nước Pháp có những trường hợp đáng lo ngại không ?
Roselyne Bachelot : Vâng, năm trường hợp cúm trên 10 vẫn đáng quan ngại. Nhưng dĩ nhiên, những con số này có thể tiến triển thường trực.

Hỏi : Nếu các trường học bị đóng cửa, có nguy cơ sự vắng mặt phụ nữ làm gia trọng sự khan hiếm các nhân viên điều dưỡng của bệnh viện hay không ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi có thể dự kiến rằng các trẻ em của nhân viên bệnh viện sẽ được chăm lo để không ảnh hưởng lên túc số nhân viên y tế.

Hỏi : Chúng ta há không phải là đã mua quá nhiều Tamiflu ? Vài bệnh nhân không cần đến nó, và thuốc này ngay cả nguy hiểm cho các trẻ em... Nếu tính đến phí tổn, phải chăng đó thật sự là một giải pháp ?
Roselyne Bachelot : Tamiflu, đó không phải là giải pháp, nhưng là một trong những yếu tố của đáp ứng. Tamiflu này không được sử dụng một cách hệ thống.Thuốc này được dành cho những trường hợp nặng và cho những người có nguy cơ. Chúng ta biết rằng virus cúm A nhạy cảm với nó, điều này là một tin vui : lúc đầu không hiển nhiên như thế. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng Tamiflu gây nên những tác dụng phụ, đó là lý đó tại sao không nên sử dụng dụng nó nếu không có toa của thầy thuốc.

Hỏi : Chúng ta có thể sử dụng Tamiflu quá hạn hay không ?
Roselyne Bachelot : Các công trình nghiên cứu cho thấy khả năng kéo dài thời gian sống của thuốc 2 năm, điều mà chúng ta sẽ làm. Ngược lại, các lô thuốc uống trẻ em quá hạn. Các viên thuốc sẽ cho phép bù thiếu sót này.

Hỏi : Việc tiêm chủng bắt buộc (vaccination obligatoire) đi đến đâu rồi ?
Roselyne Bachelot : Sự tiêm chủng được đề nghị cho tất cả các công dân sẽ không bắt buộc, nhưng được khuyến nghị, qua một chiến dịch thông tin lớn. Chúng ta sẽ chuẩn bị thực hiện, nếu cần, cái sẽ có thể là chiến dịch tiêm chủng quan trọng nhất trong đất nước của chúng ta.

Hỏi : Người ta sẽ được tiêm chủng ở đâu ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi đang làm việc tích cực để tạo lập các trung tâm được dành cho tiêm chủng. Mỗi tỉnh sẽ làm tốt nhất tùy theo hệ thống loại hình của lãnh thổ mình...

Hỏi : Khi nào bà hy vọng nhận những vaccin đầu tiên ? Các vaccin này có thể được thương mãi hóa cấp bách , ngay cả trước khi được chuẩn y ?
Roselyne Bachelot : Còn có nhiều điều không chắc chắn về năng suất của giống gốc và quá trình conditionnement của vaccin. Có thể những lô đầu tiên sẽ đến vào cuối tam cá nguyệt thứ ba. Nhưng tôi không dự kiến sẽ sử dụng một vaccin không thỏa mãn những yêu cầu trước khi được giấy phép lưu hành trên thị trường. Và nếu người ta tìm thấy những sản phẩm như thế trên Internet, tôi chỉ có thể khuyên những người tư nhân không nên mua chúng.

Hỏi : Chính phủ há đã chẳng phải lầm khi chỉ đặt hàng 16 triệu liều ở Novartis, phòng bào chế dường như tiến bước nhất trong phát triển một vaccin ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi đã gởi đơn đặt hàng cho nhiều hãng bào chế, sẽ cho phép trải việc cung cấp các vaccin ra suốt trong mùa thu và chủng ngừa toàn thể dân chung. Một số nước đã ưu tiên mua các vaccin. Chúng tôi cũng đã giữ trước (pré-réservations), mà cách nay vài năm, điều này không được căn cứ trên quốc tịch của các hãng bào chế.

Hỏi : Những ai sẽ được tiêm chủng ưu tiên ?
Roselyne Bachelot : Những bệnh nhân mang những bệnh nhiễm trùng mãn tính, đặc biệt là đường hô hấp.

Hỏi : Chúng ta há không phải làm thái quá ? Chính phủ há không phải là nạn nhân của hội chứng máu bị ô nhiễm (syndrome du sang contaminé) ?
Roselyne Bachelot : Tôi ưa thích rằng người ta trách chúng tôi hôm nay làm quá nhiều thay vì sẽ trách chúng tôi trong 3 tháng nữa không làm khá đủ … Đó không phải là một động tác thông tin. Đứng trước loại đe dọa như thế này, chừng nào chúng ta không được chuẩn bị cho cái điều tệ hại nhất, nghĩa là chúng ta không được chuẩn bị.
(EXPRESS 20-25/8/2009)

5/ 8 CÂU HỎI TRONG LÚC CHỜ ĐỢI VACCIN.
  • Tôi có phải giao con tôi cho những nơi tập thể?
    Nếu chính quyền quyết định đóng cửa các trường học và các nhà trẻ, thì câu hỏi này sẽ không được đặt ra. Nhưng nếu không phải vậy, sự lựa chọn đối với mỗi cá nhân thật là hóc búa. “ Chúng ta biết rằng những nơi này là những phương tiện hiệu quả nhất để làm lây nhiễm các trẻ em (và bố mẹ chúng) với bất cứ vi trùng nào ”, Vincent Racaniello, chuyên viên vi trùng học ở đại học Columbia, Hoa Kỳ, đã giải thích một cách không quanh co như vậy. Lý do ? Sự tập trung các trẻ em làm các vi trùng sinh sản dễ dàng, và khuynh hướng các trẻ em sờ mó các đồ vật và đưa tay lên miệng. Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng nguy cơ mắc phải một bệnh nhiễm trùng ở nhà trẻ (viêm tai, viêm dạ dày-ruột, viêm màng não) được nhân lên gấp 3 đến 12 tùy theo tuổi và bệnh lý.Vậy thì, nếu câu hỏi là “ tránh những nơi tập thể có sẽ bảo vệ tôi chống lại virus A/H1N1 hay không ?, về mặt thống kê câu trả lời là không. Nhưng nếu câu hỏi là : “ có đáng bỏ công hay không ? ”, câu trả lời tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của virus. Các bố mẹ có phải lo sợ, khi biết rằng gần 60% các trường hợp cúm A trên thế giới có liên quan đến những trẻ dưới 18 tuổi ? Đối với Arnault Pfersdorff, thầy thuốc nhi khoa của bệnh viện Sainte-Anne de Strasbourg, nguy cơ lây nhiễm không đáng lo ngại, vì lẽ thoạt đầu cúm A không nguy hiểm hơn cúm cổ điển. Các trẻ em vẫn có thể đến trường, như thế quá trình sinh miễn dịch của mỗi cá thể sẽ được thực hiện một cách tự nhiên, ông đã giải thích như vậy. Mối âu lo hướng nhiều hơn vào các nhũ nhi dưới 1 tuổi và nhất là dưới 6 tháng : người ta nghĩ rằng lứa tuổi này sẽ nhạy cảm hơn, nhưng hôm nay chúng ta không chắc điều đó.” Thật vậy, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và Nhật Bản, vào tháng 7, đã khám phá ra rằng virus A (H1N1) gây nhiều viêm phổi nặng hơn so với các virus gây cúm mùa. Thế mà, do hệ miễn dịch của chúng chưa được thành thục, các trẻ em dưới 2 tuổi dễ bị mắc bệnh hơn. Mặc dầu việc không mang con đến nhà trẻ là vô ích, nhưng tốt hơn vẫn phải luôn luôn cảnh giác.


  • Loại khăn tay nào nên dùng : giấy hay vải ?
    Chính bởi vì chúng ta không vứt bỏ khăn tay bằng vải (mouchoirs en tissu) mà loại khăn tay này bị cấm chỉ. Ví dụ, vào năm 2003, một công trình nghiên cứu về virus của cúm gia cầm H7N7 (đã làm lây nhiễm các công nhân của một trại nuôi công nghiệp ở Hoà Lan) đã cho phép xác định rằng việc dùng những khăn tay bằng vải đã góp phần làm lan truyền virus hơn là dùng các khăn tay bằng giấy (mouchoirs en papier). Thật vậy, các virus, vốn bị giam trong các dịch tiết, nằm trong bọc quần áo và làm lây nhiễm các đồng tiền, các chiếc chìa khóa, và nhất là các bàn tay của người sử dụng. Vậy, các khăn tay bằng giấy dường như hiệu quả hơn, với điều kiện được vứt bỏ sau khi dùng... nếu không, vấn đề vẫn như nhau ! Về các khăn tay “ chống virus ” (mouchoirs antiviraux) được thương mãi hóa ở Pháp cách nay ít lâu, lợi ích của chúng vẫn còn hạn chế. Nguyên tắc ? Các khăn tay này được bao bọc bởi những chất diệt virus, loại bỏ hầu hết các virus lúc được tiếp xúc. Những nếu lượng dịch tiết mũi quan trọng, thì chỉ có một phần là thật sự bị hủy diệt. Biện pháp hiệu quả nhất vẫn là rửa tay sau khi hỉ mũi, nhà vi trùng học Vincent Racaniello đã nhắc lại như vậy.


  • Có nên tránh những phương tiện giao thông công cộng hay không ?
    Nếu anh bị bệnh, thì đó là điều hiển nhiên. Ngược lại, vô ích tránh chúng chỉ do biện pháp thận trọng. “ Một ít lương tri là đủ, Vincent Racaniello đã trấn an như vậy. Nếu anh đụng vào các nắm cửa, đừng đưa tay lên mặt trước khi rửa chúng. Và nếu ai đó ho và hách xì gần anh, thì tốt hơn hãy thay đổi toa xe. ” Mặc dầu xe bus và xe lửa có thể làm dễ sự lây nhiễm, tuy nhiên chúng đóng một vai trò hạn chế trong sự lan truyền toàn bộ của dịch bệnh. Ở Nhật Bản, là nơi mối liên hệ giữa dịch bệnh và các phương tiện giao thông công cộng được nghiên cứu nhiều nhất, người ta đã cho thấy rằng việc đóng các xe lửa đô thị (train de banlieue) chỉ cho phép giảm 5% số trường hợp toàn thể lúc có một dịch bệnh do virus.


  • Có nên để mắc cúm bây giờ để thoát khỏi một dạng độc lực hơn vào mùa đông này ?
    Tin đồn đã lan truyền suốt mùa hè : tốt hơn là để bị lây nhiễm bởi virus A (H1N1) hiện nay, tương đối vô hại, hơn là sẽ bị nguy cơ mắc phải bệnh vào mùa thu hay vào mùa đông, khi virus có khả năng nguy hiểm hơn. Nhất là khi đó các phòng mạch và các bệnh viện sẽ bị tràn ngập. “ Có một phần sự thật trong đó, nhưng đối với một chánh phủ, khó mà cho những lời khuyên như vậy ” , Arnault Pfersdorff đã công nhận như thế. Cúm nổi tiếng năm 1918 đã xảy ra thành hai đợt. Vào làn sóng thứ hai, virus bị biến đổi và đã trở nên gây chết người hơn. Và một công trình nghiên cứu năm 2008 đã cho thấy rằng những người đã được tiếp xúc với virus trong làn sóng đầu, vào mùa xuân và mùa hè năm 1918, đã được bảo vệ vào lúc xảy ra làn sóng thứ hai, vào mùa thu. Nói như vậy, không có nghĩa là virus A (H1N1) sẽ trở nên độc hại hơn : vào trong hầu hết các dịch bệnh cúm trước đây, độc lực đã không tiến triển với thời gian.


  • Có cần thiết phải mang mặt nạ hay không ?
    Cho mãi đến ngày nay, không có một công trình nghiên cứu khoa học nào đã chứng minh được một cách rõ ràng tính hiệu quả đặc hiệu của mặt nạ này. Mặc dầu một thí nghiệm được tiến hành trên hàng ngàn sinh viên của đại học Michigan (Hoa Kỳ), vào năm 2006 và 2007, vào lúc cúm mùa, cho thấy rằng việc mang mặt nạ “ ngoại khoa ”, kết hợp với rửa tay thường xuyên, cho phép thu giảm 50% tỷ lệ mắc phải các hội chứng cúm. “ Nhưng những kết quả thu được không cho phép phân tách các tác dụng của mặt nạ và những tác dụng của rửa tay ”, Allison Aiello, nhà nghiên cứu chỉ đạo cuộc điều tra đã muốn xác nhận như vậy. Một sự mập mờ càng gây băn khoăn hơn khi ta biết rằng các mô hình ngoại khoa, được trao cho đại chúng trong các hiệu thuốc, chỉ bảo vệ những hạt lớn tích chứa virus, bồng bềnh trong không khí, nhưng không bảo vệ những khí dung” (aérosols) bé xíu, cũng có khả năng truyền bệnh. Chỉ có những mặt nạ thuộc loại FFP2 mới có thể ngăn chặn chúng.


  • Có nên hoãn lại dự định có thai không ?
    Vào tháng bảy, một hội phụ huynh ở Anh đã khuyến nghị các phụ nữ chờ đợi cho dịch cúm đi qua rồi mới có thai. Lý lẽ ? Virus A (H1N1) làm gia tăng nguy cơ bị các biến chứng (sẩy thai, sinh non, viêm phổi). Thai nghén làm gia tăng nhịp tim và sự tiêu thụ oxy và làm giảm năng suất của phổi, làm phổi yếu đi. Về hệ miễn dịch, nó mất tính hiệu quả. “ Nhưng tất cả các bệnh cúm khả dĩ nghiêm trọng nơi các phụ nữ có thai ”, thầy thuốc chuyên khoa bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ Julia McMillan đã nhấn mạnh như vậy. Vậy, hiện nay không có gì là cần thiết phải hoãn lại một thai nghén. Ngoại trừ một chi tiết là xác suất mắc phải cúm sẽ cao hơn nhiều lúc đại dịch.


  • Những đồ vật nào là dễ truyền virus nhất trong đời sống hàng ngày ?
    Các tay nắm cửa, điện thoại cầm tay, các robinet, cac bàn chữ computer ... Trong y khoa, các bề mặt, các chất hay đồ vật bị lây nhiễm với một vi trùng gây bệnh và đóng một vai trò trong việc gây lan tràn một bệnh mang một tên : các formites. Các bệnh viện, trong cuộc đấu tranh chống lại những nhiễm trùng bệnh viện (infections nosocomiales), đã trở thành các chuyên gia truy đuổi các formites. Các công trình nghiên cứu bệnh viện đã cho thấy rằng virus cúm vẫn tồn tại ở bên ngoài cơ thể con người. Từ vài giờ đến vài ngày tùy theo bề mặt và lớp niêm dịch bảo vệ nó ! Các vật liệu cứng và không xốp (plastique, kim loại hay gỗ) là thuận lợi nhất cho sự sống còn của virus cúm, trung bình được ước tính là hai ngày, so với chỉ vài giờ trên da, trên vải hay giấy. Tại sao có một sự khác nhau như thế ? Các nhà vi trùng học cho rằng tính không xốp của bề mặt khiến virus bị khô đi nhanh chóng hơn, điều này gây nên sự tiêu huỷ lớp vỏ bọc bảo vệ nó.Vậy nếu như tất cả các đồ vật đều có một mối nguy cơ, thì những đồ vật không xốp mà ta sờ mò thường trực là những nhà vô địch tích chứa các mầm bệnh. Cũng coi chừng các đồng tiền. Vào năm 2008, một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng virus cúm, bị giam giữ trong niêm dịch, có thể sống còn ở đó cho đến 17 ngày ! Dầu thế nào đi nữa, vecteur cuối cùng vẫn là những bàn tay, mà ta đưa lên mặt sau khi đã sờ mó các đồ vật bị lây nhiễm, và trên đó virus tồn tại ít nhất một giờ. Chúng ta sẽ không bao giờ lặp đi lặp lại điều đó khá đủ : để tránh mắc phải bệnh cúm, phải thường xuyên rửa tay. Hơn 10 lần mỗi ngày, theo các chuyen gia bệnh nhiễm trùng.


  • Tôi có được bảo vệ nếu như tôi đã bị bệnh cúm vào mùa đông vừa qua ?
    Mặc dầu virus A (H1N1) hoành hành hiện nay là một phối hợp chưa từng có của các phần tử siêu vi trùng (particules virales), nó vẫn có những điểm tương tự với các virus cúm khác. Có thể là những người, đã bị bệnh cúm năm vừa rồi hay đã được chủng ngừa một phần, được bảo vệ chống lại nó. Nhưng chỉ một phần mà thôi. Và các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết tầm cỡ của “ khả năng bảo vệ chéo ” này, có thể chỉ là tối thiểu. Theo các dữ kiện được công bố vào tháng năm bởi CDC, 33% những người trên 60 tuổi một phần được bảo vệ, bởi vì họ đã được tiếp xúc với các dạng khác của virus A (H1N1) trong những năm 1950 khi bị nhiễm trùng hay khi được tiêm chủng. Một “ bảo vệ chéo ” mà từ 6 đến 9% những người từ 18 đến 64 tuổi cũng được hưởng. Ngược lại, những trẻ em từ 0 đến 10 tuổi sẽ dễ nhạy cảm nhất bởi vì chúng đã không bao giờ gặp phải dạng virus này.

(SCIENCES ET VIE 9/2009)

6/ VITAMINE D CÓ CHO PHÉP ĐỀ KHÁNG TỐT HƠN CHỐNG LẠI VIRUS MỚI H1N1 ?

Trong lúc phân tích những nồng độ trong máu của vitamine D của những nạn nhân bị bệnh cúm, các nhà nghiên cứu Canada hy vọng tìm thấy một phương cách mới bảo vệ chống lại virus cúm, và đặc biệt là bảo vệ chống lại biến dị mới H1N1.

Ở Canada, Cơ quan y tế công cộng (Agence de santé publique) đã phát động một công trình nghiên cứu rộng lớn để xác định mối liên hệ giữa vitamine D và mức độ nghiêm trọng của những triệu chứng của cúm. Globe and Mail (26/7/2009)[/color] đã giải thích rằng các người Canada đã thiết lập dự án này ngay từ năm qua và họ đã làm thích ứng nó tùy theo loai virus biến dị mới xuất hiện. Đó là kiểm tra xem những người, đã bị một bệnh cúm thể nhẹ, có những nồng độ vitamine D trong máu cao hơn hay không, so với những người đã phát triển những biến chứng, thậm chí tử vong gây nên bởi cùng virus H1N1. Công trình nghiên cứu này là một bộ phận của một dự án nghiên cứu rộng rãi hơn, đặc biệt quan tâm đến tuổi tác, giới tính, trọng lượng, các bệnh tật tiềm tàng và các tiền sử tiêm chủng của những người mắc phải cúm, trong mục đích làm dễ sự chống lại đại dịch.

Cách nay đã lâu các nhà khoa học đã nêu câu hỏi về mối liên kết khả dĩ giữa vitamine D và bệnh cúm, đặc biệt là bởi vì trong hai bán cầu, bệnh cúm là một bệnh chủ yếu xây vào mùa đông : “ những nồng độ thấp của chất dinh dưỡng vitamine D dường như tương ứng với sự xuất hiện của virus influenza.”, Cơ quan liên bang đã giải thích như thế và báo trước rằng còn phải chứng tỏ xem có một mối liên hệ nhân quả giữa một nồng độ thấp vitamine D và nguy cơ mắc phải bệnh cúm hay không, nhưng cơ quan nghĩ rằng phương cách này là khá hứa hẹn để làm giảm mức độ nghiêm trọng của của các nhiễm trùng.Thí dụ trong những năm 40, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các con chuột nhận một chế độ ăn uống nghèo vitamine D thi nhạy cảm với bệnh cúm hơn so với những con chuột có nồng độ vitamine D bình thường.

“ Bằng cớ cho rằng vitamine D dường như giúp hệ miễn dịch chống lại những vật lạ là gần như rõ ràng, GS Reinhold Vieth (Đại học Toronto) đã xác nhận như thế. Việc nghiên cứu về mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm và các nồng độ vitamine D sẽ cho phép xác định xem những yếu tố dinh dưỡng có thể được sử dụng để giúp chống lại các virus ”.

Lý thuyết hiện nay là vitamine D tăng cường hệ miễn dịch: ví dụ chúng ta thấy rằng vitamine D có một bảo vệ nào đó chống lại bệnh lao. Cơ quan y tế công cộng nói rõ rằng mặc dầu cơ chế chưa được biết rõ nhưng những nghiên cứu mới đây gợi ý rằng vitamine D gây nên sự sản xuất các chất chống vi trùng có khả năng vô hiệu hóa nhiều tác nhân nhiễm khuẩn, trong đó có virus influenza.

Ngoài ra, một chủ đề nghiên cứu đầy hứa hẹn liên quan đến một phương pháp phòng ngứa và/hoặc điều trị ít tốn kém. Đối với Cedric Garland (Đại học Californie), có thể ta không cần phải chờ đợi các kết quả : theo ông, mọi người sống trên vĩ tuyến 30 mỗi năm phải cho kiểm tra nồng độ vitamine D trong máu của mình và dùng các bổ sung nếu cần. Đó là chưa kể đến trong những năm qua nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất những lợi ích để ngăn ngừa một sự thiếu hụt vitaline D và những tác dụng tốt của vitamine này lên sức khỏe nói chung. Trong nhiều nước, các chuyên gia đề nghị tăng cao cac nguồn dinh dưỡng đối với vitamine này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)

7/ MỘT PROTEINE PHÁT ĐỘNG SỰ TU SỮA MÔ TIM.

Tái tạo một trái tim bị thương tổn sau một nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) phải chăng chẳng bao lâu nữa là điều có thể thực hiện được ? Mãi đến nay, các thương tổn được cho là không thể sửa chữa được, bởi vì những tế bào cơ tim (myocarde) cùa người trưởng thành không còn phân chia được nữa và do đó không có thể tái sinh những vùng bị hư hỏng. Thế mà, một phân tử, có khả năng khởi động lại sự tăng trưởng của chúng, vừa được khám phá bởi các nhà nghiên cứu của bệnh viện nhi đồng Boston (Hoa Kỳ). Neuréguline-1 là một protéine đóng một vai trò trong sự tăng trưởng của tim và của hệ thần kinh. In vitro, các tế bào tim trưởng thành của chuột đã phản ứng với yếu tố tăng trưởng : chúng bắt đầu phân chia, tăng trưởng và tăng sinh trở lại. Sau đó các nhà nghiên cứu quyết định tiêm phân tử neuréguline-1 này vào các con chuột đã bị một nhồi máu cơ tim. 12 tuần sau, 46% của phần tim bị thương tổn đã tái sinh và các chức năng tim đã được cải thiện. Cách nay hai năm, cùng nhóm nghiên cứu đã khám phá một phân tử có những tính chất tái sinh y hệt, nhưng phải được đưa vào trong tim. Đây không phải là trường hợp đối với neuréguline-1, được tiêm vào trong máu. Nếu những thử nghiệm tương lai nơi người tỏ ra chứng thực, thì protéine này sẽ cho phép không phải chỉ duy nhất nhờ vào các tế bào gốc (cellules souches), đường lối nghiên cứu đầy hứa hẹn khác về sự tái sinh của mô tim.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

8/ MỘT HƯỚNG MỚI CHỐNG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.

RECHERCHE. Một vi khuẩn hiện diện trong khuẩn chí ruột (flore intestinale) có thể làm dễ sự phát triển của các khối u đại-trực tràng.

10.000 đến 100.000 tỷ vi khuẩn tạo nên khuẩn chí ruột càng ngày càng làm quan tâm các nhà nghiên cứu. Các ký chủ thông thường này của ống tiếu hóa người mặc dầu có nhiều tác dụng thuận lợi lên sức khỏe, nhưng chúng cũng dường như có liên hệ trong số gia tăng các bệnh lý : các bệnh viêm mãn tính của ruột, chứng béo phì, và từ nay…ung thư đại-trực tràng, mà người ta ghi nhận đuợc 37.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp. Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực hiện nơi chuột bởi Cynthia Sears (đại học John Hopkins, Baltimore), một trực khuẩn của khuẩn chí ruột này có thể làm dễ sự phát triển của những khối u rất thường xảy ra. Những kết quả này đã được công bố hôm qua trên site của tạp chí Nature Medicine.

Giả thuyết về vai trò gây ung thư của vài vi trùng tiêu hóa đã được gợi lên ngay những năm 1970. Từ đó, những công trình của người Úc Barry Marshall đã cho phép kiểm tra giả thuyết này nơi dạ dày, bằng cách cho thấy vai trò chủ chốt của vi khuẩn Helicobacter pylori trong sự xuất hiện của các viêm dạ dày mãn tính, lót đường cho các ung thư dạ dày xảy ra sau đó. Điều trị bằng kháng sinh những loét và viêm dạ dày như thế đã cho phép làm giảm sút tần số của những khối u này trong nhiều nước. Đến nầy, không có một vi khuẩn sinh bệnh nào được nhận diện ở đại-trực tràng.

Nhóm nghiên cứu của Cynthia Sears đã quan tâm đến một vi khuẩn ruột đặc biệt, một Bacteroides fragilis tiết một độc tố, được gọi là ETBF. Chịu trách nhiệm gảy ỉa chảy cấp tính nơi người lớn và trẻ em, vi khuẩn này sinh sống không gây triệu chứng trong ruột của một bộ phận không phải là nhỏ của dân chúng, lên đến 35% theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ.

VIÊM MÃN TÍNH

Nơi các con chuột nhạy cảm với các ung thư đại-trực tràng về mặt di truyền, sự hiện diện của nó trong ống tiếu hóa đã gây nên một sự viêm nhiễm mãn tính của niêm mạc, làm gia tăng tần số xuất hiện của các khối u. Các tác giả cũng đã chứng minh rằng sự viêm nhiễm gây nên bởi giống gốc Bacteroides này dựa trên một dân số các bạch cầu đặc biệt : vài tế bào lympho CD4 sản xuất một yếu tố hoà tan được gọi là IL 17. Nơi các động vật mà yếu tố này đã có thể được vô hiệu hóa, sự viêm nhiễm và quá trình sinh ung thư đã được thu giảm, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Ngược lại tiến triển hướng về một viêm đại tràng rồi một ung thư đã không được quan sát thấy nơi những động vật mang Bacteroides fragilis không biểu hiện độc tố.

“ Độc tố này có tác dụng làm chẻ đôi một protéine, cadhérine, cần thiết cho tính chất kín (étanchéité) của hàng rào tiêu hóa, Nadine Cerf-Bensussan, nữ giám đốc của đơn vị Inserm 793, nghiên cứu về sự tương tác giữa biểu mô ruột và hệ miễn dịch đã giải thích như vậy. Thế mà, tính chất toàn vẹn của hàng rào này là cần thiết để giới hạn sự đi vào của các vi khuẩn hiện diện trong lòng ruột và tránh một phản ứng viêm mãn tính quá mức trong ruột, mà ta biết là sẽ làm dễ sự phát sinh ung thư tại chỗ.”

“ KHỞI ĐẦU CỦA MỘT KỶ NGUYÊN MỚI ”

Bacteroides fragilis tiết độc tố phải chăng sẽ có thể là một tương đương của các Helicobacter pylori trong trường hợp của những ung thư đại tràng? “ Giả thuyết này thật là quyến rũ, nhưng nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt dịch tễ học, vẫn cần thiết để làm nòng cốt cho nó khi áp dụng trên người và xác định xem vi khuẩn này có đáp ứng đúng những định đề của Koch, xác lập một mối liên quan nhân quả giữa một vi trùng và một căn bệnh, Nadine Cerf-Bensussan đã đánh giá như vậy. “ Bacteroides fragilis có lẽ là một yếu tố, nhưng có thể không phải là yếu tố duy nhất ”, BS Thierry Piche, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa của CHU de Nice đã nói thêm vào như vậy. Theo nhà chuyện gia về các probiotiques này, chính trong lúc nghiên cứu các bộ gènes vi khuẩn (génomes bactériens) mà những profil của khuẩn chí ruột liên kết với ung thư đại-trực tràng sẽ có thể được nhận diện.

“ Chủ đề là phức tạp và kiến thức của chúng ta thì rất hạn chế, nhưng chúng ta ở trong giai đoạn đầu của một kỷ nguyên mới của những mối tương quan giữa chúng ta với những vi trùng mà chúng ta tàng chứa ”, BS Didier Raoult, chuyên khoa vì trùng học của CHU de Marseille đã đánh giá như vậy. Nhiên hậu, mục tiêu sẽ là tìm cách kiểm soát chúng để khai thác những tính chất có lợi và ngăn ngừa những tác dụng có hại của chúng đối với sức khỏe của chúng ta. ”
(LE FIGARO 24/8/2009)

9/ CHỬI THỀ GIÚP CHỊU ĐỰNG ĐAU ĐỚN.

Phát ra một lời nguyền rủa làm giảm sự cảm nhận đau đớn và làm gia tăng mức độ chịu đựng. Richard Stephens và các đồng nghiệp của đại học Keele, Anh Quốc, đã quan sát thái độ và nhịp tim của những người tình nguyện nhúng cánh tay vào nước lạnh 5 độ C. Kết quả thật là kỳ lạ : họ có thể để chi bị nhúng trong nước lạnh với thời gian gần như hai lần lâu hơn nếu họ cứ lặp đi lặp lại tùy thích một lời chửi rủa do họ chọn lựa, so với khi họ chỉ dùng một chữ có tính cách trung lập hơn, dùng để mô tả một cái bàn. Mặt khác, nhịp tim đập của họ gia tăng, dấu hiệu của một phản ứng sinh tồn tự nhiên. Theo các nhà nghiên cứu, chửi thề cắt đứt mối liên hệ giữa sự sợ hãi và sự cảm nhận đau đớn, mang lại những lợi ích tâm lý lẫn vật lý. Một phản xạ phổ biến chỉ được dùng trong trường hợp đau đớn, các nhà nghiên cứu chủ xướng như vậy. Bởi vì trong trường hợp lạm dụng, phản xạ sẽ mất đi tính hiệu quả. Còn phải biết xem, ngoài việc chịu đựng lâu hơn, nó có cho phép chịu được một đau đớn mạnh mẽ hơn không.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

10/ MỘT XÉT NGHIỆM NƯỚC MIẾNG PHÁT HIỆN SINH NON.

Chẳng bao lâu nữa, một xét nghiệm đơn giản và không xâm nhập có thể phát hiện bằng nước miếng những phụ nữ có nguy cơ sinh non. Chúng ta biết rằng progestérone đóng một vai trò trong khởi đầu chuyển dạ bằng cách làm dễ sự căng của tử cung trong thời kỳ thai nghén. Các nhà khoa học Anh của University College de Londres đã quan tâm đến việc hiệu chính một xét nghiệm đơn giản để đo nồng độ hormone này. Đó là điều mà họ đã thực hiện thành công trong nước miếng của những bà mẹ tương lai. Họ đã thu thập các mẫu nghiệm của khoảng một trăm phụ nữ được biết là có nguy cơ sinh non và đã có những tiền sử sẩy thai.

Kết quả của các phân tích : các phụ nữ sinh con trước 34 tuần thai nghén (thời gian thai nghén bình thường là 37 tuần) có một nước miếng chứa một nồng độ progestérone thấp. Mà progestérone cũng được biết là có tính chất kháng viêm. Điều này gợi ý rằng một nồng độ thấp của hormone này có thể góp phần làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng vi khuẩn, yếu tố của sinh non.
(SCIENCE ET AVENIR 9/ 2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (2/9/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#18 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 09 September 2009 - 10:22 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ 1918-2009 : LỊCH SỬ KỲ LẠ CỦA VIRUS H1N1.

Virus mới này, được nhận diện vào tháng tư vừa rồi, là hậu duệ trực tiếp của tác nhân khủng khiếp gây bệnh cúm được gọi là Tây Ban Nha, đã gây nên 20 đến 50 triệu người chết giữa năm 1918 cà 1920. Nhưng từ đó, nó đã chịu nhiều biến dị (mutation) và tái phối hợp (recombinaison) di truyền với những virus cúm khác, điều này đã góp phần làm giảm bớt tính độc lực của nó.

Virus cúm H1N1 chưa từng có, hôm nay đang đi vòng quanh hành tinh với một tốc độ như sấm chớp, đã đến từ đâu ? Mặc dầu các nhà nghiên cứu chưa hết truy tìm tất cả các giai đoạn của lộ trình cực kỳ phức tạp của virus, nhưng họ đã nhận diện một cách chắc chắn một trong những tổ tiên xa xăm và danh tiếng của nó. “ H1N1 của đại dịch 2009 là một trong những hậu duệ thế hệ thứ tư của virus cúm Tây Ban Nha năm 1918 ”, G.S Anthony Fauci, thuộc Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH), mới đây đã nhấn mạnh như thế trong New England Journal of Medicine. Có thể nói đó là một cháu chắt, cuối cùng hơi giống với ông tổ của nó, trên bình diện di truyền cũng như trên mặt độc lực.

Virus khủng khiếp của cúm Tây Ban Nha, đã gây nên từ 20 đến 50 triệu người chết trên thế giới, mặt khác có thể tự hào có nhiều đồng đội khác. “ Tất cả những virus cúm nguồn gốc của đại dịch hay những báo động đại dịch ở thế kỷ XX phát xuất từ virus H1N1 của năm 1918, sau những tái phối hợp ít nhiều phức tạp ”, G.S Patrick Berche, chuyên gia vi trùng học của bệnh viện Necker Paris đã giải thích như vậy. Được tái tạo dần dần bởi các chuyên gia virus học và các nhà dịch tễ học, lịch sử của các virus cúm (trong đó có 3 họ A, B, C) và đặc biệt là những loại phụ (sous-types) A (H1N1) càng ngày càng giống với một saga familial.

NHỮNG CON CHIM MANG VIRUS.

Đã hơn 90 năm qua, các tác nhân gây nhiễm này lưu hành một cách liên tục trên thế giới, làm lây nhiễm nhiều loài động vật khác nhau và được biến đổi về mặt di truyền lúc đi từ loài động vật này qua động vật khác. “ Để hiểu điều gì đã xảy ra từ năm 1918, không nên xem các virus cúm như là những thực thể riêng biệt, mà tưởng tượng 8 gènes của chúng như là những đội viên của một đội hình ”, Anthony Fauci đã giải thích như vậy. Một đội hình (équipe) mà các đội viên cùng chơi..Cho đến khi được chuyển đến một đội hình thể thao khác để làm cho nó có hiệu năng hơn.

Từ năm 1918 (những gì xảy ra trước đó vẫn còn là một bí ẩn), ổ chứa chính của các virus H1N1 là gia cầm, các loài chim, và đặc biệt là các loài chim hoang dã, là những vecteur mang virus nhưng không nhạy cảm với sự nhiễm trùng. Đồng thời, những giống gốc của H1N1 đã lưu hành từ thời điểm này một cách thường trực trong các loài heo và người. Nơi người, các virus này đã biến hóa với thời gian và đã chịu trách nhiệm các bệnh cúm mùa thông thường giữa năm 1918 và 1957. Thông thường nhưng với vài ngoại lệ... “ Vào năm 1946 và 1950 xuất hiện 2 giống gốc mới khá độc lực, đã lan tràn trong nhiều nước trước khi thoái lui ”, Patrick Berthe, xem hai trận dịch này như là những đại dịch “ bị sẩy ”, đã kể lại như vậy. Theo ông, virus H1N1 hiện nay là hậu duệ trực tiếp của virus của năm 1950, điều này có thể giải thích sự kiện hiện nay những người trên 60 tuổi tương đối được bảo vệ.

Vào năm 1957, một sự kiến bất ngờ. Các virus H1N1 đột ngột từ giã con người. Chúng biến mất hoàn toàn và vào năm đó được thay thế bởi một giống gốc mới khác, H2N2, nguồn gốc của trận đại dịch cúm lần thứ hai của thế kỷ XX, xuất hiện ở châu Á. “ Virus A (H2N2) là mới, các kháng thể phát xuất từ các nhiễm trùng trước không có một hiệu quả nào để chống lại nó, bởi vì nó là kết quả của một sự tái phối hợp (réassortiment) giữa virus người (H1N1) và gia cầm ”, GS Claude Hannoun, một trong các chuyên gia về bệnh này ở Pháp, đã viết như vậy trong tác phẩm của ông La Grippe : ennemi intime, sẽ được xuất bản vào ngày 10/9 năm nay.

MỘT BIẾN CỐ CHỦ YẾU VÀO NĂM 1918

Như là điều thường xảy ra, virus đại dịch mới “ ăn thịt ” (cannibalise ) toàn bộ những virus khác. “ Virus H1N1 sẽ chỉ tái xuất hiện nơi người 20 năm sau, vào năm 1977, Patrick Berthe đã nói tiếp như vậy.. Và điều lạ lùng là khi chúng trở lại vào luc đó, về mặt di truyền chúng y hệt với các virus của năm 1950. Các nhà khoa học hôm nay nghĩ rằng đó hoặc là một virus, vốn được đông lạnh ở một nơi nào đo, đã tái nổi dậy, hoặc là một sự lây nhiễm phát xuất từ một phòng thí nghiệm.” Sau năm 1977, các virus này lại tiếp tục sự lưu hành cổ điển mùa đông nơi loài người. Vào năm 1998, một biến cố chủ yếu sau đó sẽ xảy ra nơi các con heo ở Mỹ : một virus H1N1 heo tái phối hợp với những giống gốc gia cầm và người. Vài trường hợp nhiễm trùng ở người bởi virus mới phức tạp này đã được mô tả trong những năm qua ở Hoa Kỳ. Vào tháng tư vừa qua, khi các nhà khoa học của trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) mổ xẻ bộ gène (génome) của virus mới H1N1, họ đã tìm thấy 6 gène của tác nhân gây nhiễm được phân lập vào năm 1998, liên kết với hai gène xuất phát từ virus gây nhiễm các con heo châu Âu...... Cuộc gặp gỡ di truyền này đã được thực hiện như thế nào ? Một ngày nào đó người ta sẽ tìm thấy người bệnh nhân bị nhiễm trùng đầu tiên hết hay không ? Đối với các nhà khoa học, vẫn còn nhiều ẩn số. Nhưng càng ngày càng có nhiều nhà khoa học gợi ý rằng một sự theo dõi chăm chú hơn thế giới heo sẽ cho phép phát hiện sớm hơn virus H1N1 mới này.
(LE FIGARO 3/9/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : THAI NGHÉN, MỘT THỜI KỲ CÓ NGUY CƠ.

Trong thời kỳ thai nghén, các phụ nữ mắc phải virus H1N1 có nguy cơ cao bị biến chứng và tử vong. Đó là điều được chứng tỏ bởi một nhóm các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, đã sưu tập, ở Hoa Kỳ, những trường hợp nhiễm trùng bởi virus đại dịch H1N1, xảy ra nơi những phụ nữ có thai trong những tháng đầu tiên của trận đại dịch hiện nay, cũng như những tử vong liên kết với virus này trong hai tháng đầu tiên của dịch bệnh này.

Giữa 15/4 và 18/5/2009, các trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) của 13 tiểu bang Hoa Kỳ đã đăng ký 34 trường hợp được xác nhận hay có khả năng bị nhiễm trùng bởi virus đại dịch H1N1 nơi các phụ nữ có thai. Các triệu chứng đều tương tự với những triệu chứng được tìm thấy trong dân chúng nói chung.

11 trong số các phụ nữ có thai này, hoặc 32%, đã được nhập viện. Tỷ lệ này cao hơn trong dân chúng nói chung (4,2%).

Giữa 15/4 và 16/6/2009, các CDC đã ghi nhận 6 trường hợp tử vong của các phụ nữ có thai, tất cả đã phát triển một bệnh viêm phổi và một hội chứng suy hô hấp cấp tính (syndrome de détresse respiratoire aigue), cần phải thông khí cơ học (ventilation mécanique). Trong số những người này, một béo phì, hai có những vấn đề nội khoa không nghiêm trọng khác và ba có sức khoẻ tốt.

Vậy đối với Denise Jamieson và các cộng sự viên, các phụ nữ có thai có thể có một nguy cơ bị các biến chứng cao hơn khi họ bị nhiễm trùng bởi virus mới H1N1. Các dữ kiện này đi theo chiều hướng của những khuyến nghị hiện nay chủ trương điều trị nhanh chóng các phụ nữ có thai bị ô nhiễm bởi virus H1N1 bằng các thuốc kháng virus.

Trong những lời bình luận được công bố trong Journal Watch Infectious Diseases ( 5/8/2009)[/color], BS Mary Wilson đánh giá rằng các phụ nữ có thai phải được tiêm chủng ưu tiên chống lại H1N1 : “ Sự tiêm chủng trong thời kỳ thai nghén cũng có thể bảo vệ đứa trẻ sau khi sinh “, bà ta đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/9/2009)

3/ MICHAEL JACKSON, MỘT NẠN NHÂN CỦA HỘI CHỨNG BRUGADA ?

Sự phối hợp của propofol và hội chứng Brugada có thể gây chết người. Theo thầy thuốc chuyên khoa tim Pedro Brugada, người đã mô tả hội chứng này, Michael Jackson có lẽ bị chết do hậu quả của sự phối hợp kém may mắn này.

Mặc dầu một cuộc giải phẫu tử thi và những xet nghiệm đã được thực hiện, nhưng nguyên nhân tử vong của Michael Jackson vẫn còn bị tranh cãi. Không nghi ngờ gì nữa, ngôi sao nhạc Pop đã chết do hậu quả của ngừng tim, nhưng người ta không biết trong trường hợp chính xác nào. Theo thầy thuốc của Jackson, Conrad Murray, người ca sĩ đã được tìm thấy bất tỉnh trong phòng của anh ta và người thầy thuốc đã cố gắng hồi sinh nhưng không thành. Từ đó người ta đã hay biết rằng Jackson bị chứng bệnh mất ngủ mãn tính, được điều trị bởi những thuốc giảm đau và những thuốc ngủ mạnh, trong số đó có propofol và các benzodiazépine. Ngày 28/8 vừa qua, viên thầy thuốc đã bị chính thức buộc tội giết người không cố ý (homicide involontaire).

Đối với BS Pedro Brugada, làm việc ở bệnh viện Onze Lieve Vrouw, Alost (Bỉ), Michael Jackson đã chết vì hội chứng Brugada, gây nên bởi một thuốc gây mê. Căn bệnh mà ông đã mô tả vào năm 1992, cùng với người em Josep, là một bệnh di truyền nhiễm sắc thể thường tính trội (maladie génétique autosomique dominane) hiếm có, được đặc trưng bởi một trái tim bình thường về phương diện học, một nâng cao đoạn ST (sus-décalage du segment ST) và một bloc nhánh phải (bloc de branche droit) trên điện tầm đồ, liên kết với một nguy cơ gia tăng bị loạn nhịp thất (arythmie ventriculaire), có thể dẫn đến ngất xỉu hay chết đột ngột. Đôi khi ngừng tim là triệu chứng đầu tiên (và cuối cùng !). Một sự biến dị của gène SCN5A là nguyên nhân của hội chứng này, nhưng những gène khác có thể liên hệ đến. Sự biến dị này làm rối loạn các kênh sodium (canal sodique) trong cơ tim.

Năm 2008, hai thầy thuốc chuyên khoa tim đã khám phá ảnh hưởng của các thuốc gây mê, trong đó có propofol, lên các kênh sodium. Propofol là một chất gây mê tổng quát có thời gian tác dụng ngắn và theo Pedro Brugada, các tử vong đã xảy ra ở Hòa Lan trong các can thiệp ngoại khoa thông thường nơi những bệnh nhân mang hội chứng này.

Propofol, được mệnh danh là “ sữa của chứng quên ” (lait de l’amnésie) do màu trắng sữa, được đăng ký trong hơn 50 nước và thay thế thiopental vốn được sử dụng trước đây. Propofol không được xem là thuốc giảm đau và trên nguyên tắc có thể được dùng với những thuốc chống đau khác. Ngược lại sự liên kết của propofol với một chất làm suy giảm hô hấp (un déprimant respiratoire) bị chống chỉ định. Thế mà dường như người ca sĩ đúng là đã phối hợp hai thứ thuốc này.

Đối với Pedro Brugada, ngôi sao nhạc Pop vậy thì có lẽ đã không chết do hậu quả của một hành động giết người không cố ý, mà là do một sự phối hợp chết người của một thuốc gây mê và một thuốc giảm đau, đã gây nên một rối loạn nhịp không hồi phục được trên một trái tim vốn đã bị ảnh hưởng bởi hội chứng Brugada. Do đó Brugada tuyên bố là rất ngạc nhiên khi thấy thầy thuốc pháp y, thực hiện giải phẫu tử thi Michael Jackson, đã không xét đến khả năng này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/9/2009

4/ ASPIRINE LÀM GIẢM 29% TỶ LỆ TỬ VONG 29%.

Theo JAMA số 12/8 vừa qua, sự sử dụng hàng ngày acide acétylsalicylique làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư đại-trực tràng và tỷ lệ tử vong chung, nhất là nơi những người có khối u siêu biểu hiện COX-2. Từ nay vấn đề phòng ngừa nơi những người trên 50 tuổi được đặt ra.

Theo một vài nhà sử học, aspirine còn xưa hơn cả Hippocrate. Các trích chất của cây dương liễu chứa hoạt chất của nó, đã được sử dụng vào thời đại đồ đá mới (Néolithique), do các tính chất chống đau, kháng viêm và hạ nhiệt. Chính vào năm 1899 mà aspirine được thương mãi hóa lần đầu tiên và từ đó danh sách các lợi ích của nó ngày mỗi dài ra. Lợi ích sau cùng là hoạt tính chống tiểu cầu (activité antiplaquettaire).

Với những liều lượng nhỏ (giữa 75 và 300 mg/ ngày, tùy theo các công trình nghiên cứu), các tính chất chống ngưng kết (propriétés antiagrégantes) của nó ngăn ngừa một cách hiệu quả sự tạo thành những cục máu đông trong các huyết quản mà không gây nên thương tổn đáng kể. Đồng thời, từ nhiều năm nay, một số các công trình nghiên cứu đã muốn chứng tỏ lợi ích về lâu về dài của nó trong vài ung thư như vú, tiền liệt tuyến, miệng, họng, thực quản, đại-trực tràng và dạ dày.

Vì các liều lượng được chỉ định luôn luôn có thể gây nên xuất huyết dạ dày hay ruột, nên sự sử dụng nó đã không bao giờ được chính thức khuyến nghị để phòng ngừa nguyên phát hay thứ phát trong dân chúng nói chung. Nhưng, hôm nay, các dữ kiện thuận lợi tích lũy đến độ vài chuyên gia đặt lại vấn đề. Đứng trước một ung thư phát triển thầm lặng, với một tỷ lệ sống tùy thuộc vào mức độ nhanh chóng của sự can thiệp, thì há không nên sử dụng hay sao một hoá học liệu pháp đơn giản, hiệu quả và ít tốn kem, dầu phải chịu vài tác dụng phụ có thể xử lý được ?

TỶ LỆ TỬ VONG GIẢM 29%.

Mối liên hệ giữa aspirine và ung thư đại-trực tràng không phải mới có từ hôm qua. Ngay vào năm 2005, một công trình nghiên cứu được thực hiện trên 82.911 phụ nữ được đưa vào trong cuộc điều tra dịch tễ học “ Nurses’ Health Study ”, được theo dõi từ 1980 đến 2000, đã cho thấy rằng những phụ nữ uống đều đặn 325 mg aspirine, hai lần mỗi tuần, đã có một sự giảm 23% nguy cơ mắc phải ung thư đại-trực tràng, so với những phụ nữ không uống đều đặn. Vào thời kỳ này, người ta đã nhấn mạnh rằng sự giảm nguy cơ chỉ đáng kể bat đầu từ 10 năm sử dụng và liên kết với liều lượng. Trong những trường hợp thái quá, các phụ nữ đã uống hơn 10 liều aspirine mỗi tuần trong 10 năm có nguy cơ bị ung thư giảm 53%.

Năm 2007, một công trình nghiên cứu của Anh, tiến hành trên 7.500 người giữa năm 1970 và đầu của những năm 80, với một theo dõi 10 năm, tương ứng với một thời gian tối thiểu để một adénome phát triển thành ung thư, gợi ý rằng sự sử dụng mỗi ngày 300 mg aspinrine là một yếu tố bảo vệ chống lại ung thư đại-trực tràng. Những kết quả đã cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại- trực tràng nơi những người có nguy cơ được giảm 73% dưới aspirine, với một tác dụng phụ thuộc vào thời gian điều trị, liều lượng, sự tôn trọng uống thuốc của bệnh nhân.

Trong công trình nghiên cứu mới này, nhôm cửa Andrew Chan (Haward Medical Scholl) đã theo dõi hai nhóm 1.279 bệnh nhân bị ung thư đại-trực tràng ở những giai đoạn trầm trọng khác nhau, được điều trị và được theo dõi trong 12 năm, giữa năm 1980 và 2008 ; 43% trong số những bệnh nhân này uống aspirine mỗi ngày sau khi ung thư được chẩn đoán. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng aspirine mỗi ngày làm giảm 29% tỷ lệ tử vong gây nên bởi ung thư đại-trực tràng và làm giảm 21% tỷ lệ tử vong toàn thể.

Mối liên hệ giữa aspirine và quá trình sinh ung thư là mối liên hệ nào ? Ngày nay, chúng ta biết rằng aspirine ngăn cản sự tăng trưởng khối u bằng cách ức chế một enzyme (COX-2), chịu trách nhiệm phản ứng viêm và sự tăng sinh của các tế bào và được siêu biểu hiện trong phần lớn của các ung thư đại trực- tràng. Bằng cớ là trong một nhóm phụ gồm những bệnh nhân có cả khối u COX-2 dương tính được nhận diện bởi histochimie, nguy cơ tử vong do ung thư đại-trực tràng là 61% thấp hơn nơi những bệnh nhân uống aspirine so với những người không uống.

GIỮA PHÒNG NGỪA VÀ NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ.

Nhiều công trình nghiên cứu quan sát và các thử nghiệm lâm sàng đã xác lập lợi ích của aspirine trong việc phòng ngừa các adénome và polype có nguy cơ. Tuy nhiên không có những lời khuyến nghị chính thức về sự phòng ngừa này, có lẽ là do những tác dụng phụ được biết của aspirine như kích thích dạ dày-ruột và xuất huyết đường tiêu hóa. Vậy có phải vì thế mà phải bỏ ý tưởng hay theo đuổi nó ?

Đối với G.S André Van Gossum (thầy thuốc chuyên khoa dạ dày-ruột của bệnh viện Erasme, Bỉ), “ Từ nhiều năm nay ý tưởng này đã được tiếp tục theo đuổi nhưng hiện nay, ở bệnh viện Erasme cũng như nơi khác ở Bỉ, aspirine không được đề nghị cho các bệnh nhân để phòng ngừa nguyên phát hay thứ phát. Tuy nói vậy, nhưng sự tích lũy của các dữ kiện khiến một ngày nào đó sẽ phải tự nêu câu hỏi về tỷ suất giữa lợi ích và nguy cơ, trên quy mô dân chúng, theo những gì được thực hiện trong phòng ngừa các bệnh tim mạch. Trước hết, chúng ta có thể hình dung nhắm đến các bệnh nhân có nguy cơ ung thư không có chống chỉ định về tiêu hóa hoặc thận. Trong trường hợp này, việc sử dụng aspirine nơi những người 50 tuổi thật là nhất cử lưỡng tiện ! ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)

5/ NHỮNG ĐỀ KHÁNG MỚI VỚI BỆNH SỐT RÉT.

Cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục. Nhiều công trình nghiên cứu vừa cho thấy rằng ký sinh trùng gây bệnh sốt rét sắp trở nên đề kháng với điều trị tốt nhất hiện nay, artémisine.

Thuốc chống sốt rét rất hiệu quả này, trích từ một loại cây ngải (armoise), dược thảo hiện diện từ hơn 2.000 năm nay trong dược điển Trung Hoa, đã đóng góp vào sự giảm mạnh của nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum : trong những năm vừa qua, nhiễm ký sinh trùng sốt rét đã giảm một nửa trong 1/3 các nước bị ảnh hưởng, OMS đã chỉ rõ như vậy trong báo cáo mới nhất.

Trong khi phần lớn các giống gốc của ký sinh trùng sốt rét đáng sợ Plasmodium falciparum đã trở nên đề kháng với các điều trị cổ điển với chloroquine hay phối hợp antifoliques-antifoliniques, chúng bị tiêu diệt trong vòng chưa được hai ngày nơi những bệnh nhân được điều trị bằng một sự phối hợp có chất cơ bản là artémisine. Thế mà, theo hai công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí The New England Journal of Medicine, thì thời hạn này đã chuyển qua 3 ngày trong tây-bắc của Cambodge. Chính trong vùng này mà cách nay gần 50 năm đã xuất hiện những giống gốc đề kháng hiện đang tàn phá châu Phi. Theo các chuyên gia, cần khẩn cấp theo dõi những di chuyển của những nhóm dân bị nhiễm ký sinh trùng tại địa phương và kê đơn cho họ một cách hệ thống những phối hợp thuốc có chất cơ bản là artémisine thay vì dùng nó đơn độc, điều này làm dễ sự xuất hiện của những giống gốc đề kháng.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2009)

6/ CÁC THUỐC TRỪ SÂU LÀM TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ BỊ BỆNH PARKINSON.

Alexis Elbaz là thầy thuốc chuyên khoa thần kinh-dịch tễ học thuộc Inserm. Ông vừa điều hành một công trình nghiên cứu về tác động của các thuốc trừ sâu lên trên vài trăm nông dân Pháp.

Hỏi : Công trình nghiên cứu mà ông vừa công bố bàn về ảnh hưởng của các thuốc trừ sâu lên sức khỏe của các người làm nghề nông. Kết luận của ông là gì ?
Alexis Elbaz : Nơi các nông dân đã rải các chất thuốc trừ sâu trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của họ, các kết quả của chúng tôi chỉ rõ rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson được nhân lên 1,8 lần, so với những người đã không sử dụng các thứ thuốc này. Ngoài ra chúng tôi cho thấy rằng nguy cơ này gia tăng với thời gian và tần số sử dụng. Nhưng đó cũng là một trong những lần đầu mà một họ thuốc trừ sâu được đặc biệt quy cho trách nhiệm. Thật vậy, một phân tích sâu hơn, được thực hiện trên các nhà nông nam giới, đã phát hiện rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson được nhân lên 2,4 lần nơi những người đã từng xử lý đất trồng của họ với các thuốc trừ sâu organo-chlorés. Tuy nhiên công trình nghiên cứu của chúng tôi không cho phép loại bỏ sự liên hệ của những chất khác ít thường được sử dụng hơn.

Hỏi : Bao nhiêu người đã tham dự vào công trình nghiên cứu của ông ?
Alexis Elbaz : Chúng tôi đã so sánh 224 bệnh nhân Parkinson của Mutualité sociale agricole với 557 người cũng thuộc cơ quan này, nhưng không bị bệnh. Các nhà nông được hỏi về tính chất, thời gian và tần số sử dụng các thuốc trừ sâu ; nhưng cũng được hỏi về phương pháp rải thuốc, loại đất trồng, diện tích của cơ sở kinh doanh…Rồi thì chúng tôi tìm kiếm một mối liên hệ có thể có với bệnh Parkinson đối với 29 họ thuốc trừ sâu. Chúng tôi đã chỉ thực hiện việc tìm kiếm này đối với những người đàn ông, bởi vì nói chung chính họ được giao phó rải thuốc. Bây giờ chúng tôi nghiên cứu xem vài đất trồng có bị liên hệ hơn so với những đất trồng khác hay không.

Hỏi : Người ta biết gì về các thuốc trừ sâu organochloré ?
Alexis Elbaz : Từ khoảng 10 năm nay, các công trình nghiên cứu về các thuốc trừ sâu organochloré gia tăng. Đuợc thực hiện in vitro hay trên các động vật, nhiều trong số những công trình này kết luận về tính độc hại của các thuốc trừ sâu organochloré đối với các neurone dopaminergique. Chính những tế bào thần kinh này bị thoái hóa nơi những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson. Nhưng cách tác dụng của chúng không hoàn toàn được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, nước Pháp, cũng như nhiều nước khác, đã dần dần cấm chỉ sử dụng các thuốc trừ sâu này, đến độ rút chúng ra khỏi thị trường vào năm 2007. Nhưng các thuốc trừ sâu organochloré được sử dụng rộng rãi giữa những năm 1950 và 1990, trên nhiều đất trồng : trái cây, rau xanh, nho, bắp, tournesol, colza..Và người ta biết rằng chúng vẫn còn tồn tại trong môi trường nhiều năm sau khi phun thuốc.

Hỏi : Thế nào nếu chỉ tiếp xúc các thuốc trừ sâu với những nồng độ thấp ?
Alexis Elbaz : Thật vậy, các kết quả của chúng tôi đặt câu hỏi về các hậu quả của một sự tiếp xúc với nồng độ thấp của dân chúng, qua đường không khí, nước và thực phẩm. Những công trinh nghiên cứu bổ sung là cần thiết để trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên một công trình nghiên cứu mới đây được tiến hành ở Californie đã gây sự chú ý. Theo các tác giả, những người vung ven, sống trong một bán kính 500 m chung quanh những cánh đồng được xử lý bởi các thuốc trừ sâu thuộc họ “ carbamates ”, và bởi những thuốc diệt cỏ Paraquat, có một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh Parkinson.
(LA RECHERCHE 9/2009)

7/ÁNH SÁNG CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON.

Hướng bất ngờ nhưng hoàn toàn nghiêm chỉnh : vài nhóm nghiên cứu trên thế giới sử dụng ánh sáng để điều trị bệnh Parkinson. Lợi ích điều trị của ánh sáng liệu pháp có cường độ thấp (luminothérapie de basse intensité ; LLLT : Low Level Light Therapy) vừa được chứng tỏ in vitro bởi một công trình nghiên cứu của đại học Virginie. Trong căn bệnh thần kinh thoái hóa này, được đặc trưng bởi một sự thiếu hụt dopamine, ta biết rằng các thể hạt (mitochondries), nơi dự trữ năng lượng của tế bào, có một chuyển hóa bị chậm lại. Nhóm nghiên cứu của Patricia Trimmer đã cho các tế bào thần kinh tiếp xúc trong hai giờ với một bức xạ laser có độ dài sóng 810 (nanomètres), LLLT, theo một tần số gần giống với tia hồng ngoại (infrarouge). Kết quả : các tác giả đã ghi nhận sự thức dậy của các thể hạt !

Một phương thức khác, lần này để chẩn đoán. Phương pháp dựa trên sự hiệu chính một chụp hình ảnh tinh tế, đo rất chính xác hàm lượng sắt của các vùng não bộ khác nhau, ngay trước khi xuất hiện các triệu chứng. Thật vậy, chúng ta biết vai trò độc hại gây nên bởi sự tích tụ sắt và các hợp chất sắt-dopamine trong não bộ. Một nhóm nghiên cứu của đại học Keele (Anh) cố gắng tận dụng ánh sáng rất hiệu năng của synchroton Diamond Light Source, máy gia tốc các hạt (accélérateur de particules) ở Oxfordshire. Như thế để phát hiện sớm những rối loạn thần kinh ảnh hưởng lên 4 triệu người trên thế giới này.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2009)

8/ TESTOSTERONE, VŨ KHÍ CỦA CÁC NỮ THƯƠNG GIA.

WASHINGTON. Các kích thích tố nam giải thích tính táo bạo của các phụ nữ trong lãnh vực tài chánh : theo một công trình nghiên cứu mới của Hoa Kỳ, nồng độ testostérone của những phụ nữ này càng cao, thì hành vi của họ về việc chấp nhận những nguy cơ về tài chánh càng gần với các người đàn ông.

“ Các phụ nữ có nồng độ testostérone cao nhất có khuynh hướng nhận lấy các nguy cơ. Họ ít sợ hơn về điều đó ”, theo Luigi Zingales, nhà nghiên cứu của đại học Chicago và người phụ trách những công trình được công bố trong Archives của viện hàn lâm khoa học quốc gia.

Zingales và nhóm nghiên cứu đã trắc nghiệm các nồng độ testostérone của hơn 500 sinh viên của MBA, nam và nữ, và đã yêu cầu họ lựa chọn giữa sự chấp nhận một khen thưởng tài chánh, mà số tiền được ấn định, hay chấp nhận một nguy cơ nhưng được một số tiền lớn hơn. Nói chung, các nam sinh viên có một nồng độ testostérone cao hơn nồng độ của các nữ sinh viên, và đã chọn chấp nhận nguy cơ dễ dàng hơn các nữ sinh viên. Nhưng các nữ sinh viên, vốn có một nồng độ testostérone cao, nhận lấy nguy cơ 7 lần nhiều hơn so với những nữ sinh viên có nồng độ testostérone bình thuong. Mặt khác, không có một sự khác nhau nào trong việc chấp nhận nguy cơ giữa các nữ hay các nam sinh viên có một nồng độ testostérone tương đối thấp, hoặc 90% các nữ sinh viên và 31% các nam sinh viên.
(METRO 31/8/2009)

9/ NHỮNG TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA CÁC STATINES CÓ THỂ KÉO DÀI.

Các statines, trong khi làm giảm cholestérol, có một tác dụng bảo vệ đối với các mạch máu. Mặc dầu các thuốc statines đã cách mạng hóa các điều trị trong tim học từ hơn 15 năm nay, tuy vậy chúng không tránh khỏi có các tác dụng phụ. Một vài bệnh nhân phát triển các bệnh cơ, được thể hiện bởi những đau đớn và một sự phá hủy các mô. Đối với phần lớn các bệnh nhân phát triển các bệnh cơ (myopathies), các triệu chứng biến mất trong vài tuần sau khi ngừng điều trị, Annette Draeger, thuộc đại học Berne (Thụy Sĩ) đã giải thích như vậy. Nhưng hiện tượng này không hồi phục đối với tất cả các bệnh nhân : “ Một vài người vẫn còn có những vấn đề cơ sau hơn một tháng không sử dụng statines.” Quan sát này đến nay vẫn không được giải thích, và không có profil bệnh nhân mà sự phá hủy cơ có thể tiên đoán được trước khi điều trị.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

10/ ONG CẮN CÓ THỂ ĐE DỌA CÁC TRÁI THẬN CỦA TRẺ EM.

Người ta biết rằng ong đốt có thể gây nên choáng phản vệ (choc anaphylactique), nhưng người ta biết ít hơn về nguy cơ thương tổn đặc biệt xảy ra nơi thận do loại tai biến này. Sự kiểm lại 45 trường hợp xảy ra nơi các cho thấy rằng suy thận cấp tính đã xảy ra sau khi bị ong đốt. Sự phá hủy các hồng cầu gây nên thiếu máu với thiểu niệu (oligurie), nhiễm toan chuyển hóa (acidose métabolique), sụt giảm nồng độ sodium và gia tăng nồng độ potassium và créatinine. Sự thấm tách phúc mạc (dialyse péritonéale) đã cho phép điều trị thành công các trẻ em.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/9/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#19 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 20 September 2009 - 11:22 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/CÚM A (H1N1) : ĐÁNH GIÁ ĐẦU TIÊN VỀ ĐỘC LỰC TRỰC TIẾP CỦA H1N1.

Theo những đánh giá đầu tiên, tỷ lệ tử vong trực tiếp của virus A (H1N1) trong nam bán cầu là 100 lần cao hơn tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Nhưng, đó chỉ mới là những suy dẫn không hoàn toàn.

Có tương tự với cúm mùa hay không ? Có gây chết người hơn hay không ? Khó mà có một ý nghĩ chính xác về độc lực của virus mới H1N1 vào giờ phút này. Thế thì tại sao không xem những gì xảy ra ở nam bán cầu, vào cuối mùa đông nam cực này ? Đó là điều mà GS Antoine Flahaut, giáo sư y tế công cộng ở Pháp, đã thực hiện. Ông đã quan tâm đến các dữ kiện có được đối với Nouvelle-Calédonie và đảo Maurice và đã cho công bố, vào ngày 23 tháng 8 vừa qua, những kết luận của ông trên site của PloS Currents Influenza. Dĩ nhiên đó vẫn luôn luôn là những ước đoán một phần.

Ở Nouvelle-Calédonie, người ta ước tính rằng 30.000 nhiễm trùng đã xảy ra, trong đó có 3 trường hợp tử vong được xác nhận nơi các người trẻ (8,27 và 58 tuổi). Ở đảo Maurice, các ước tính là 70.000 nhiễm trùng và 7 tử vong (từ 4 đến 53 tuổi) đã được báo cáo.

Lần đầu tiên chúng tôi có ở đây một sự đánh giá (một phần) về độc lực của giống gốc đại dịch cúm A (H1N1) này. Vậy chúng tôi có thể ước tính tỷ lệ tử vong trực tiếp do virus H1N1 là 1 trường hợp đối với 10.000 nhiễm trùng, hoặc khoảng 100 lần cao hơn tỷ lệ tử vong của cúm mùa (1/1 triệu), Antoine Flahaut đã xác nhận như vậy. Ông nhắc lại rằng đó là một mẫu nghiệm giới hạn và lấy từ trên đảo, nhưng rằng những con số này có thể hữu ích đối với chính quyền để hiệu chính các kế hoạch đại dịch trong trường hợp độc lực sẽ tương tự vào mùa thu này ở bắc bán cầu.

TỶ LỆ TỬ VONG TRỰC TIẾP.

Tỷ lệ tử vong của cúm là do 3 nguyên nhân chính, ông còn giải thích như vậy. Nguyên nhân đầu tiên là tỷ lệ tử vong trực tiếp bởi một bệnh phổi do virus (pneumopathie virale), gây nên một hội chứng suy hô hấp cấp tính (SDRA : syndrome de détresse respiratoire aigue). “ Nói chung, với cúm mùa, tỷ lệ tử vong trực tiếp là ngoại lệ ”. Nhưng với H1N1, “ đó gần như là tỷ lệ tử vong duy nhất mà hôm nay người ta quan sát thấy và thống kê trong những vùng phát triển của thế giới ”. Nguyên nhân thứ hai là sự bội nhiễm vi khuẩn, đang biến mất trong các nước phát triển vì có sẵn các thuốc kháng sinh (tuy nhiên cần bắt đầu cho đúng lúc).

Sau cùng, nguyên nhân thứ ba là tỷ lệ tử vong do mất bù của những bệnh lý nghiêm trọng, thường là nơi các người già hay những người bị bệnh mãn tính. Từ khoảng 20 năm nay, tỷ lệ này hầu như không thu giảm được mặc dầu chủng ngừa đại trà được thực hiện nơi các người già, GS Falhaut đã bình luận như vậy : “ Thật là nghịch lý, đó lại là tỷ lệ tử vong thường xảy ra nhất trong các nước phát triển, nhưng nó hiếm khi được báo cáo bởi vì người thầy thuốc hiếm khi quy cho cúm trên cơ sở cá nhân. Như vậy đối với đại dịch, cũng như suốt trong thời gian cúm mùa, chỉ lúc nghiên cứu các thống kẻ về tử vong của tất cả các nguyên nhân, mà người ta nhận thấy rằng đã có một sự tăng quá mức tỷ lệ tử vong (1/1000) nơi có đại dịch đi qua. Vậy ta không thể đánh giá tỷ lệ tử vong toàn bộ vào lúc này, chỉ từ các trường hợp tử vong được báo cáo, bởi vì cần nghĩ đến việc thêm vào tỷ lệ tử vong gián tiếp ”.

Người thầy thuốc người Pháp nghĩ rằng cũng không nên hy vọng quá nhanh rằng cúm này sẽ trừ miễn các người già : “ Bất hạnh thay cúm mới này giết những người già chắc chắn cũng nhiều bằng cúm mùa, nhưng không phải bằng tỷ lệ tử vong trực tiếp, vậy không hay ít có thể thấy được ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/9/2009)

2/ MỔ DẠ CON KHÔNG PHẢI LÀ LỰA CHỌN TỐT NHẤT ĐỐI VỚI TRẺ EM.

Những em bé sinh ra do mổ phiên dạ con (césarienne élective) không những phát triển nhiều biến chứng hậu sản hơn, nhưng chúng cũng thường bị bệnh hơn về lâu về dài. Đó là kết luận được rút ra từ những dữ kiện mới đây từ Hoa Kỳ, là nơi mà hiện nay cứ ba đứa bé sinh ra đời thì có một được mổ dạ con.

Số những trường hợp sinh bằng mổ dạ con cao ở Hoa Kỳ là do nhiều yếu tố. Ngoài các chỉ định y khoa, như một thời kỳ chuyển dạ đặc biệt kéo dài hoặc những lý do có thể chấp nhận khác, người ta chứng thực rằng nhiều phụ nữ muốn được sinh bằng đường bụng. Sau một lần mổ dạ con đầu tiên, những lần sinh sau đó cũng được lên chương trình trong 80% các trường hợp, nhất là bởi vì nguy cơ vỡ tử cung. Những lý lẽ pháp y cũng góp phần giải thích số lượng cao của các trường hợp mổ dạ con : nguy cơ không đáng kể đối với người mẹ, không đau bụng và sàn hội âm không bị thương tổn.

NGẮN VÀ DÀI HẠN

Một công trình nghiên cứu, được công bố trong The Lancet, được thực hiện trên 672 trường hợp sinh đẻ, nhằm nghiên cứu sát những vấn đề được phát triển nơi em bé sau khi sinh. Các đứa trẻ sinh ra đời bằng đường âm đạo dường như ít phát triển các biến chứng, trong khi những trẻ được sinh bằng mổ dạ con cấp cứu có nhiều vấn đề nhất. Sau mổ phiên dạ con, một số lượng tương đối quan trọng các em bé phải được đưa vào khoa trẻ sơ sinh, vì thiếu oxy, giảm glucose-huyết và những vấn đề hô hấp, so với những em bé ra đời bằng đường âm đạo.

Mặc dầu những lời khuyến nghị nghiêm chỉnh khuyên không được mổ phiên dạ con trước 39 tuần, nhưng dường như 50% phẫu thuật mổ dạ con xảy ra trước thời hạn này. Một khía cạnh đáng ngạc nhiên là việc lựa chọn mổ phiên dạ con được xem như là một thể hiện của tính tự trị của người mẹ và rằng những bà mẹ tương lai thường lớn tuổi hơn và thường có một văn bằng đại học.

Ngoài những biến chừng trước mắt, chúng ta chứng thực các nguy cơ ở một lứa tuổi lớn hơn. Theo một phân tích méta, các đứa trẻ sinh ra bằng mổ dạ con có 20% nguy cơ cao hơn bị hen phế quản hay bệnh đái đường loại 1, cũng như dị ứng thức ăn và béo phì. Do đó tổn phí vốn đã cao của mổ dạ con lại được tăng cường thêm do những điều trị về lâu về dài. Trái với những vấn đề có thể xảy ra trước mắt, là lúc sinh bệnh lý có vẻ tương đối hiển nhiên, các nguyên nhân của một bệnh lý phát triển về lâu về dài khó phát hiện hơn.

Do đó, ta có thể kết luận rằng việc lựa chọn của người mẹ, muốn tránh chuyển dạ và phải bị mổ dạ con cấp cứu, không là lý tưởng đối với đứa bé, trước mắt và lâu dài. Thật vậy, việc tính đến những lý do cá nhân có liên quan đến sự thoải mái và sự vẹn toàn vật lý khó có thể bào chữa trên bình diện đạo đức.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/9/2009)

3/ CẢNH CÁO MỚI CHỐNG ASPIRINE.

CARDIOLOGIE. Theo một công trình nghiên cứu của Ecosse, nơi những người lành mạnh, việc sử dụng hàng ngày có nhiều nguy cơ hơn là lợi ích.

Lại một đợt mới trong câu chuyện dài tranh cãi chung quanh aspirine. Nơi những người mạnh khỏe, uống aspirine mỗi ngày với những liều lượng nhỏ để ngăn ngừa các tai biến tim-mạch chỉ làm gia tăng các nguy cơ xuất huyết, các thầy thuốc Ecosse đã đánh giá như vậy. Công trình nghiên cứu của họ, được tiến hành nơi 3.300 người không có những tiền sử lớn về tim trong hơn 8 năm, vừa được trình bày ở hội nghị của Hiệp hội tim học châu Âu, diễn ra ở Barcelone.

Từ khi được thương mãi hóa, cách nay hơn 100 năm, danh sách các lợi ích tiềm tàng của thuốc chống đau này không ngừng dài ra. Lại gần đây, các người Mỹ đã đưa ra những lợi ích của một sự tiêu thụ hàng ngày trên tỷ lệ sống còn của những bệnh nhân bị ung thưa đại-trực tràng. Về các tính chất chống kết tụ của aspirine (làm loãng máu), chúng đã được xác lập một cách rộng rãi nơi những người có nguy cơ tim mạch cao, bị cơn đau thắt ngực (angine de poitrine) hay có những tiền sử về nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não.

Lợi ích phòng ngừa được bàn cãi hơn nơi những người lành mạnh, vì lẽ lợi ích này phải được cân bằng với những nguy cơ xuất huyết gây nên bởi aspirine, đặc biệt là ở dạ dày-ruột. Mặc dầu những điều không chắc chắn này, càng ngày càng có nhiều người tự ý muốn thử uống aspirine mỗi ngày với liều lượng nhỏ.

Ý tưởng của G.S Gerry Fowkes (đại học Edimbourg) là nghiên cứu những tác dụng về lâu về dài của một tiêu thụ như thế nơi những người không có triệu chứng gì hết, nhưng được xem như là có nguy cơ gia tăng bị bệnh tim mạch. Để nhận diện ra họ, các thầy thuốc écosse đã căn cứ trên những kết quả của một thăm khám đơn giản, chỉ số huyết áp thu tâm (index de pression systolique) (tỷ số giữa huyết áp được đo ở mắc cá chân và ở cánh tay). Trắc nghiệm này cho phép phát hiện chúng viêm động mạch chi dưới trước khi được biểu hiện bằng những cơn đau đớn.

Trong số 30.000 người tuổi từ 50 đến 75, phát xuất từ dân chúng nói chung, khoảng 3.350 đã được nhận diện. Trong 8 năm, những người này đã nhận mỗi ngày 100 mg (5-10 lần ít hơn so với liều lượng được sử dụng trong trường hợp đau đớn thông thường) hay một placebo. Cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân đã không biết thuốc gì đã được cấp cho bệnh nhân. Cuối cuộc thử nghiệm, những người được cho aspirine về mặt thống kê đã có số lượng những biến cố tim mạch (tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim…) giống với những người đã dùng placebo. Rõ ràng, thuốc chống ngưng kết (aspirine) đã không có một tác dụng bảo vệ nào. Ngoài ra, 2% các bệnh nhân của nhóm aspirine đã phải bị nhập viện vì những xuất huyết nặng, so với chỉ 1,2% của những người chứng.

CUỘC BÀN CÃI CHƯA CHẤM DỨT.

GS Fowkes nhấn mạnh rằng 40% các cá nhân đã không uống thuốc aspirine đều đặn. Theo ông , sự tuân thủ điều trị kém này có thể giải thích sự không có bảo vệ tim mạch, nhưng không có thể tính đến điều đó, bởi vì nó tương ứng với bộ phận được gặp trong đời sống thật sự hàng ngày, đó là những điều trị phòng ngừa.

Đối với G.S Peter Weissberg, giám đốc y tế của British Heart Foundation, người đã giúp đỡ tài trợ công trình này, những kết luận của ông “ nhất trí với những lời khuyến nghị của chúng tôi hiện nay, theo đó những người đã không được chẩn đoán có một bệnh mạch máu hay tim và không có những triệu chứng, không nên sử dụng aspirine bởi vì nguy cơ xuất huyết có thể quan trọng hơn các lợi ích ”.

Những cuộc bàn cãi vẫn không chấm dứt. Cách nay vài tháng, trong The Lancet, một phân tích của các công trình nghiên cứu chính về chủ đề này (thực hiện trên toàn bộ 95.000 người có nguy cơ thấp) trái lại đã đánh giá rằng sự sử dụng aspirine mỗi ngày làm giảm 12% các nhồi máu cơ tim, nhưng với cái giá một sự gia tăng quá mức những xuất huyết tiêu hóa. Các chuyên gia hiện diện ở hội nghị Barcelone cũng ghi nhận rằng túc số của những người tham dự của công trình nghiên cứu écosse quá thấp để có thể rút ra những kết luận khẳng định.
(LE FIGARO 1/9/2009)

4/ FORMOL ĐE DỌA 190.000 NGƯỜI LÀM VIỆC Ở PHÁP.

Formol ở khắp nơi hay hầu như ở khắp nơi. Nhưng những tác dụng y tế của nó là độc hại. Formol hay formaldéhyde, chất sát khuẩn hay chất cố định nhựa (fixateur de résine), tùy theo các trường hợp, có mặt trong các lớp trát đất, các bức tường, đồ đạc bàn ghế, các plastiques… Kết quả : gần 190.000 người làm việc ở Pháp bị tiếp xúc với chất này, Afsset (Agence française de sécurité santitaire de l’environnement et du travail) đã báo động như vậy. Và 78.000 người trong số này vượt quá trị số giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp do hít hoặc 0,25 mg/m3 trong 8 giờ. Có liên hệ là những người làm việc trong lãnh vực y tế (các chuyên viên cơ thể bệnh lý, tiếp xúc với mô người phát xuất từ các sinh thiết hay những can thiệp ngoại khoa) nhưng cũng những người trong các lãnh vực nông nghiệp, kỹ nghệ hóa học, làm gỗ, kỹ nghệ dệt và, mỉa mai thay cho số phận, những công nhân mai táng.

Afsset vừa khuyến nghị một tăng cường “ tức khắc ” những hành động phòng ngừa và theo dõi đối với chất formol này, được xếp loại là sinh ung thư từ 5 năm nay. Nếu sự kích thích mắt thường xảy ra trong trường hợp tiếp xúc cấp tính, về lâu về dài và đối với những tiếp xúc lặp đi lặp lại với những nồng độ cao ít nhất 5mg/m3, các dự kiện chứng nhận sự xuất hiện của các ung thư của tỵ hầu (cancer du nasopharynx). Cơ quan an ninh y tế của Pháp nhấn mạnh sự cần thiết của những công trình nghiên cứu để khám phá những chất thay thế cho formol.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2009)

5/ CHẲNG BAO LÂU NỮA VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) SẼ XUẤT HIỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG.

CONTRACEPTION . Viên thuốc này, theo nguyên tắc của viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau (pilule du lendemain), có thể uống trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, và không chỉ uống vào ngày hôm sau.

Sau viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau là viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain). Một viên thuốc ngừa thai cấp cứu mới, được sử dụng trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, theo dự kiến sẽ xuất hiện trong các hiệu thuốc của Pháp từ nay đến cuối tháng chín. Được đặt tên là EllaOne, viên thuốc được thương mãi hóa bởi HRA Pharma, với liều duy nhất, đã được Châu Âu cấp giấy phép cho lưu hành vào tháng năm, và chờ đợi đèn xanh cuối cùng của Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA : Agence européenne du médicament) ngày 24 tháng chín. Sau đó thuốc sẽ được thương mãi hóa ở Pháp rồi rất nhanh ở Anh và Đức.

EllaOne cũng sẽ là đối tượng của nhiều bài thuyết trình khoa học ở hội nghị phụ khoa châu Âu, diễn ra vừa qua ở Rome. Theo những công trình nghiên cứu lâm sàng, hiệu quả của nó sẽ là khoảng 95%, hằng định trong 5 ngày, hoặc tương ứng với thời gian sống của các tinh trùng. Trong số 1.241 phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu chính cho đến cùng, 26 (hoặc 2,1%) đã bị có thai. Con số này là dưới tỷ lệ 5,5% của các phụ nữ sẽ có thể bị mang thai nếu họ đã không sử dụng một phương pháp ngừa thai nào. ElleOne do đó tránh được khoảng 3/5 các thai nghén được chờ đợi ”, EMEA đã xác nhận như vậy. Về các tác dụng phụ, thường đó là những cơn đau bụng hay những rối loạn kinh kỳ.

“ HIỆU QUẢ LÂU HƠN ”

Tính hiệu quả của levonorgestrel (Norlevo), viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) được thương mãi hóa vào năm 1999, là không thay đổi trong 24 giờ đầu, nhưng chỉ còn 60% sau 48 đến 72 giờ. Mặt khác việc uống thuốc được khuyên trong 12 giờ đầu nếu có thể được, chậm nhất là 3 ngày sau giao hợp không hoặc kém được bảo vệ.

Theo phòng bào chế HRA Pharma, sự tương phản về hiệu năng giữa hai dược phẩm được giải thích bởi sự khác nhau về cách tác dụng. “ Levonorgestrel là một progestatif, nó ức chế sự phóng noãn nhưng không còn tác dụng nữa kể từ lúc cao điểm của sự tiết LH (pic de LH : sự tiết hormone làm phát khởi sự phóng noãn), Luc Massart giám đốc của HRA Pharma đã giải thích như vậy. EllaOne, mà hoạt chất là ulipristal acetate, là một chất điều biến đặc hiệu (un modulateur spécifique) của các thụ thể đối với progertérone (SPRM). Nó cũng ức chế sự phóng noãn, nhưng vẫn có hiệu quá lâu hơn, cho đến khi vỡ các noãn nang (rupture folliculaire). Thế mà đó lại là thời kỳ có nhiều giao hợp nhất.” EllaOne cũng có thể gây nên những biến đổi ở niêm mạc tử cung, mặt khác EMEA đã chỉ rõ như vậy. Theo hãng bào chế HRA Pharma, tính chất này mang lại hy vọng về những lợi ích trong một vài bệnh của tử cung. “ Các thử nghiệm đang được tiến hành trong bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose) và các u xơ tử cung (fibromes utérins) ”, Luc Massart lại còn ghi nhận như vậy.

Tuy nhiên vài hiệp hội cơ đốc giáo lo ngại về việc xuất hiện của dược phẩm mới này, mà về phương diện hóa học họ xem là giống với viên thuốc làm sẩy thai RU486. Mặt khác, các công trình nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng RU486, chất đối kháng của progestérone, cũng có hiệu quả như là thuốc ngừa thai cấp cứu, mặc dầu nó không được cho phép luu hành trên thị trường trong mục đích này.

“ MỘT TIẾN BỘ THẬT SỰ ”

Đối với Bs Elisabeth Anbeny, thầy thuốc phụ khoa và chủ tịch của Hiệp hội ngừa thai của Pháp, thì không có một chút mập mờ nào. “ EllaOne ngăn cản sự phóng noãn, trong khi RU486 chống lai sự làm tổ của trứng ở tử cung, bà nhấn mạnh như thế. Đó là một tiến bộ thật sự so với Norlevo, mà chúng ta đã chứng kiến những thất bại không thể bàn cãi vào đâu được. ” Theo bà vẫn còn tồn tại hai vấn đề. Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) sẽ chỉ có thể được cấp với đơn thuốc của BS, trái với Norlevo, được bán tự do. Về giá cả, viên thuốc mới này hẳn phải đắc hơn nhiều so với viên thuốc của ngày hôm sau đang được sử dụng hiện nay (giá khoảng 7,5 Euro).

Mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc ngừa thai cấp cứu (Norlevo và générique) được bán ở Pháp. Điều này không nghĩa lý gì, so với 25 triệu tình huống nguy cơ mang thai (quên uống thuốc, tai biến préservatif..) mà các công dân gặp phải mỗi năm. Và không đáng kể gì, so với 200.000 sẩy thai mỗi năm trong đất nước của chúng ta.
(LE FIGARO 8/9/2009)

6/ THẤM TÁCH (DIALYSE) : HY VỌNG CỦA THẬN NHÂN TẠO MANG THEO NGƯỜI.

RECHERCHE. Một công ty Hoa Kỳ đã nghĩ ra một máy thấm tách (appareil de dialyse) được mang nơi đai quần và cho phép bệnh nhân sống hầu như bình thường. Vẫn còn phải tìm nguồn tài chánh để hoàn thành những trắc nghiệm đánh giá sau cùng.

Những buổi thấm tách chán ngắt một ngày kia sẽ có thể được thay thế bằng một quả thận nhân tạo bé nhỏ được mang thường trực ? Từ nhiều thập niên, các nhà nghiên cứu tìm kiếm các máy thấm tách nhỏ xíu này : chúng sẽ cho phép bệnh nhân tiếp tục công việc trong khi các quả thận được thanh lọc. Mãi đến ngày hôm nay, những niềm hy vọng của họ không thành, không có một prototype nào khá đáng tin cậy và hiệu năng để có thể được thương mãi hóa. Nhưng một mô hình được hiệu chính bởi một hãng Hoa Kỳ mang lại những niềm hy vọng mới.

Cách nay hai năm, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã công bố các kết quả đáng phấn khởi của quả thận nhân tạo có thể mang theo người này nơi 8 bệnh nhân suy thận ở giai đoạn cuối. Được trang bị bởi các bình điện 9 volts, chiếc máy nặng 5kg có thể được mang ở đai quần. Máy hoạt động theo cùng nguyên tắc với các máy thấm tách cổ điển.

Một công trình nghiên cứu mới, được công bố ngày 20 tháng 8 vừa qua trong một tạp chí chuyên khoa, Clinical Journal of the American Society of Nephrology, đã kết luận rằng các hiệu năng kỹ thuật của máy là đủ để đề nghị nó như là một thay thế cho thấm tách cổ điển. “ Mục tiêu là mục tiêu của một sự lọc (filtration) 24 giờ trên 24 giờ, 7 ngày trên 7 ngày, như những trái thận bình thường vậy ”, BS Victor Gura, tác giả của công trình nghiên cứu và cố vấn khoa học của Xcorporeal, công ty Hoa Kỳ phát triển những trái thận nhân tạo mang theo người này.

QUÁ TRÌNH THU NHỎ TIẾP TỤC

Sự thu nhỏ (miniaturisation) tiếp tục, và những chiếc máy thế hệ thứ ba từ nay cân nặng dưới 4kg, thầy thuốc Hoa Kỳ tiếp tục nói. “ Không còn có trở ngại quan trọng về kỹ thuật đối với các trái thận nhân tạo có thể mang theo người ”, ông nhấn mạnh như thế đồng thời đưa ra những lợi ích khả dĩ đối với đời sống hàng ngày của các bệnh nhân và kinh tế. Giai đoạn sắp đến là tiến hành những thử nghiệm lâm sàng với quy mô lớn hơn. Nếu như những thử nghiệm này được chứng thực, thì các máy thân nhân tạo mang theo người sẽ có thể được thương mãi hóa trong một thời hạn hai năm.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2009)

7/ MỘT THUỐC CHỐNG LOÃNG XƯƠNG KÉO DÀI TUỔI THỌ.

Hiếm khi những tác dụng phụ của một thứ thuốc lại tỏ ra dễ chịu. Acide zolédronique (Aclasta, Zometa) là một ngoại lệ : các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Duke đã khám phá ra rằng thuốc này, được sử dụng chống lại bệnh loãng xương (ostéoporose), làm giảm 28% nguy cơ tử vong nơi những bà già, những nạn nhân của một gãy xương háng gây nên bởi chứng loãng xương ! Tiêm thuốc này vào 2.000 phụ nữ, acide zolédronique đã làm giảm xác suất bị một gãy xương thứ hai, nhưng cũng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi và bệnh tim mạch. Trong số những lời giải thích khả dĩ, “ acide zolédronique có thể tác dụng lên tim, làm giảm nguy cơ loạn nhịp, hay tăng cường hệ miễn dịch.” Nhưng nếu như những tác dụng của nó vẫn còn bí hiểm, chúng vẫn đáng lưu ý đối với 3 triệu người Pháp bị bệnh loãng xương.
(SCIENCE ET VIE 9/2009).

8/ VIÊM MÔ MỠ LÀM DỄ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG NƠI NHỮNG NGƯỜI BÉO PHÌ.

Đó là điều được xác nhận bởi 4 nhóm những nhà nghiên cứu, sau những thí nghiệm được tiến hành trên chuột. Viêm phát triển trong mô mỡ của những người béo phì được liên kết với sự thâm nhiễm với số lượng quan trọng của những tế bào miễn dịch, các tế bào T hay đại thực bào.Thế mà những đại thực bào được biết là làm gia tốc sự phát triển sự đề kháng đối với insuline, thành phần của bệnh đái đường loại 2. Vì đâu có một sự đổ xô đến như thế của những đại thực bào ? Đó là do một hormone, leptine, hiện diện với lượng lớn hơn nơi các động vật béo phì. Thật vậy, leptine ức chế sự đến trong mô mỡ của những tế bào lympho T điều hòa (Treg : lymphocytes T régulateurs), thường có nhiệm vụ làm chủ hoạt động của những tế bào lympho T cổ điển và kềm hãm sự tuyển mộ của những đại thực bào. “ Bằng cách điều biến hoạt động của những tế bào lympho T, chúng ta sẽ có thể cắt đứt vòng luẩn quẩn giữa các tế bào mỡ và những tế bào miễn dịch ”, Satoshi Nishimura, thuộc đại học Tokyo, đã đề xuất như vậy cho một điều trị chống lại bệnh đái đường do béo phì.
( SCIENCE ET VIE 9/2009)

9/ NGƯỜI TA CÓ THỂ ĐỌC TRONG TƯ TƯỞNG MÀ KHÔNG CẦN PHẢI ĐI SÂU VÀO TRONG NÃO BỘ.

Các vi điện cực được đặt ở bề mặt của não bộ đã thành công bắt được những tín hiệu thần kinh có biên độ thấp kiểm soát các cử động của cánh tay.

Những vi điện cực này (40 mcm) có thể phân biệt được những tín hiệu phát ra bởi một hay nhiều neurone, cũng như những neurone điều khiển cử động của các chi. Vậy những vi điện cực này cũng hiệu quả như những điện cực có thể cắm vào trung tâm của não bộ trong những vùng kiểm soát những cử động hay lời nói, nhưng chúng an toàn hơn nhiều vì không có tính cách xâm nhập. “ Nhiên hậu, những điện cực mới này sẽ cho phép biến đổi những ý định của những người bị bại liệt hay bị cắt cụt chi thành những tín hiệu cơ học nhằm kiểm soát những cử động của họ ”, GS Paul House, người phụ trách dự án ở đại học Utah (Hoa Kỳ) đã hớn hở phát biểu như vậy.
(SCIENCES ET VIE 9/2009)

10/ CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CÓ THỂ GÂY NÊN NHỮNG CỬ ĐỘNG BẤT THƯỜNG.

Theo sự duyệt xét của hơn 150 công trình nghiên cứu, các di chứng của các tai biến mạch máu não có thể gây nên sự xuất hiện của những cử động bất thường trong 1 đến 4% các trường hợp. Những cử động bất thường này xảy ra từ một đến 5 năm sau đột qụy (stroke). Ngoài những co cứng (contractures) thuộc loại bệnh Parkinson, những cử động thường thấy nhất là những cử động không tự ý, xuất hiện nhanh, được biết dưới tên hémichorée-hémiballisme. Chúng thường biến mất một cách ngẫu nhiên nhưng một điều trị có thể cần thiết để kiểm soát chúng.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/9/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#20 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 28 September 2009 - 02:29 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ VACCIN CHỐNG BỆNH SIDA : SAU CÙNG CÁC KẾT QUẢ DƯƠNG TÍNH !

Cuộc thử nghiệm vaccin với quy mô rộng lớn nhất được tiến hành cho đến ngày hôm nay đã cho phép làm giảm 1/3 nguy cơ nhiễm trùng bởi virus HIV. Nhưng còn nhiều điều cần phải làm.

Mặc dầu vaccin chống bệnh sida chưa có cho ngày mai, nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử của dịch bệnh mà một thử nghiệm lâm sàng cho hé thấy khả năng phòng ngừa sự lây nhiễm bởi virus HIV. Nguy cơ bị nhiễm trùng sida giảm 31% nơi những người được tiêm chủng so với những người đã nhận một placebo, hôm thứ năm 24/9, các nhà tổ chức cuộc thử nghiệm tiêm chủng đã loan báo như vậy. “ Đó là một bước tiến quan trọng, giáo sư Jean –François Delfraissy, giám đốc ANRS (Cơ quan quốc gia nghiên cứu về bệnh si da và các bệnh viêm gan virus) đã chào mừng.Tuy nhiên vẫn còn khiêm tốn và không đủ. Chúng ta chưa có một vaccin chống sida.” Được trắc nghiệm nơi 16.000 người tình nguyện ở Thái Lan có huyết thanh âm tính (séronégatif), thử nghiệm kết hợp hai vaccin khác nhau (un cocktail de deux vaccins) được chế tạo cách nay 10 năm. Vaccin đầu tiên được tiêm là Alvac, được bào chế bởi Sanofi Pasteur và vaccin thứ hai Aidsvax B/E VaxGen. Hai vaccin, nhằm vào các chủng gốc lưu hành ở Thái Lan, được tiêm cách nhau một khoảng thời gian 6 tháng, vaccin thứ hai tăng cường tác dụng của vaccin thứ nhất, theo chiến lược primovaccination, tiếp theo bởi một tiêm chủng nhắc lại (“ prime boost ”). Những người tình nguyện được khám lại mỗi 6 tháng trong vòng 3 năm sau khi tiêm chủng, đồng thời mỗi lần khám bệnh họ nhận “ những lời khuyên về phương cách phòng ngừa nhiễm trùng bởi HIV ”. Những kết quả thô sơ của thử nghiệm giai đoạn III này, được gọi là RV 144, đã được trình bày hôm qua nhân một cuộc họp báo được tổ chức bởi Sanofi-Pasteur, là hãng bào chế Alvac-HIV, một trong hai vaccin. Mặc dầu họ không ngớt đưa ra những lời tuyên bố phấn khởi, nhưng các phát ngôn viên của quân đội Hoa Kỳ và Bộ y tế Thái Lan (đã tiến hành nghiên cứu), đã không chi tiết bao nhiêu về các dữ kiện. Những dữ kiện này sẽ được phát triển vào hội nghị quốc tế về các vaccin sẽ diễn ra ở Paris từ 19 đến 22 tháng 10.

Hai thử nghiệm quy mô lớn đầu tiên, được tiến hành với các vaccin thế hệ thứ nhất, đã thất bại. Để gia tăng các cơ may thành công, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nhờ đến chiến lược “ prime-boost ” (primovaccination rappel), nhằm tiêm một vaccin đầu tiên để khơi mào đáp ứng miễn dịch, rồi một vaccin thứ hai, tính chất khác, để khuếch đại sự sản xuất các kháng thể.Vaccin đầu tiên, Alvac-HIV, được sản xuất từ một virus gây nhiễm trùng chim hoàng yến (canari) (canarypox) bị biến đổi về mặt di truyền. Virus này không có thể sống sót trong các tế bào người nhưng cho phép đưa vào các gène mật mã cho các protéine miễn dịch của HIV. Vaccin thứ hai, AIDSVAX là một dạng tổng hợp của một protéine thuộc lớp vỏ của virus, gpl120.

Được trắc nghiệm riêng rẽ, hai vaccin này đã không mang lại một sự bảo vệ miễn dịch nào. Trong thử nghiệm Thái Lan, được bắt đầu vào năm 2003, 16.000 người tình nguyện, tuổi từ 18 đến 30 và được xem như có nguy cơ “ trung bình ” bị lây nhiễm bởi HIV, đã được chia thành hai nhóm : 8.000 người đã nhận cocktail vaccin, 8.000 người nhận các placebo. Vào thời kỳ đó, một bộ phận của cộng đồng y khoa đã đứng lên chống lại công trình nghiên cứu này, được cho là cần phải bàn cãi về mặt đạo đức. 3 năm sau khi chấm dứt các tiêm chủng, các vaccin đã xác nhận tính dung nạp tốt của chúng. Nhất là, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, sau cùng chúng đã chứng tỏ một hiệu quả : 74 trường hợp sida đã xảy ra trong nhóm placebo, 51 trong số những người được tiêm chủng, hoặc một sự giảm 31%, có ý nghĩa về mặt thống kê. “ Những kết quả của công trình nghiên cứu , thể hiện một sự tiến bộ khoa học đáng kể, là điều chứng minh đầu tiên rằng một vaccin có thể ngăn ngừa nhiễm trùng bởi HIV trong dân chúng trưởng thành và có một tầm quan trọng lớn ”, OMS và Onusida đã tuyên bố như vậy. “ Rất là đáng phấn khởi. Những kết quả này cũng cho thay chiến lược “ prime-boost ” đáng được nghiên cứu sâu ” , BS Catherine Hankins, trưởng cố vấn khoa học của Onusida đã chỉ rõ như vậy. “ Những kết quả này là khiêm tốn, nhưng đây là lần đầu tiên người ta có một dấu hiệu dương tính đối với một vaccin ”, GS Anthony Fauci thuộc Viện quốc gia dị ứng và các bệnh nhiễm trùng (Hoa Kỳ) đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên ông nhấn mạnh rằng vẫn còn nhiều câu hỏi phải giải quyết trước khi dự kiến đưa ra thị trường. “ Người ta không biết thời gian bảo vệ do vaccin mang lại là bao nhiêu, cũng như không biết là vaccin này sẽ có hiệu quả trong những loại dân chúng khác hay không, chẳng hạn những người đồng tính luyến ái hay nghiện ma túy ”, Anthony Faucy đã ghi nhận như thế. Các chuyên gia Pháp khác lại còn thận trọng hơn. “ Phải tiết chế bớt niềm phấn khởi của chúng ta, đó chỉ là một sự giảm 31%, và chúng ta không biết tại sao những người này lại được bảo vệ ”, GS Françoise Barré-Sinoussi, Giải Nobel Y Học 2008 do đã tham gia vào việc khám phá virus HIV, đã phản ứng như vậy.

“ Tin vui đầu tiên, đó là sự thông tin về những biện pháp phòng ngừa đã rất là có hiệu quả, bởi vì đã chỉ có 125 trường hợp lây nhiệm trên 16.000 người ", giám đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu về sida (ANRS) Jean François Delfraissy đã phát biểu như vậy.

Tuy nhiên, GS Yves Levy, phụ trách về những thử nghiệm vaccin ở ANRS nhắc lại rằng “ sau 30 ứng viên vaccin trong 20 năm, ít nhất chúng ta có được một dấu hiệu cho thấy rằng có thể làm giảm các nguy cơ ”. “ Một vaccin có hiệu quả trong 30% hay 50% các trường hợp sẽ có thể đóng một vai trò quan trọng nếu vaccin này nằm trong một hệ thống phòng ngừa được tăng cường. Chưa có giải pháp độc nhất để chống lại sida ”, Michel Sidibé, giám đốc của Onusida đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 25/9/2009)
(LE MONDE 26/9/2009)

2/ H1N1 : ĐIỀU TRA VỀ CÁC NGUY CƠ CỦA VACCIN.

Các chuyên gia muốn tỏ ra khá yên lòng, nhưng những điều khó dự kiến vẫn còn tồn tại.

Các vaccin được hiệu chính nhanh chóng, chứa các chất bảo quản (conservateurs) hay các chất bổ trợ (adjuvants) có tiềm năng gây độc. Đang lưu truyền các lời đồn đại quá đáng nhất về các vaccin chống cúm đại dịch A (H1N1), mà chiến dịch tiêm chủng sẽ bắt đầu trong tháng 10 này ở Pháp. Theo một thăm dò mới nhất, ¼ dân Pháp hoàn toàn không muốn được chủng ngừa. Và mối ngờ vực cũng không tha miễn những người chuyên ngành y tế. CNMSE (Coordination nationale médicale santé environnement) yêu cầu những bằng cớ khoa học “ chứng minh rằng sự tiêm chủng này là cần thiết và không nguy hiểm, nhất là đối với các phụ nữ mang thai và các trẻ em nhỏ tuổi ”. Thí dụ cơ quan này lo ngại về sự hiện diện của các chất bổ trợ (adjuvants) (những sản phẩm nhằm làm gia tăng đáp ứng miễn dịch đối với vaccin) như squalène, “ bị buộc tội trong hội chứng của các cựu chiến binh của chiến tranh vùng Vịnh (syndrome des vétérans de la guerre du Golfe) ”. Cơ quan này cũng tự hỏi về thiomersal, chất bảo quản chứa thủy ngân. “ Chủ yếu các vaccin đại dịch có cùng thành phần với các vaccin đã được sử dụng mà không có vấn đề từ hơn 60 năm nay để chống lại cúm mùa (grippe saisonnière) ”, BS Rebecca Martin, thuộc văn phòng châu Âu của OMS đã nhấn mạnh như vậy. “ Các vaccin chống cúm nói chung được dung nạp tốt, Paul Léophonte, thầy thuốc chuyên khoa Phổi, tác giả của tác phẩm “ les Grippes en question ” đã xác nhận như vậy. Những tác dụng phụ thông thường nhất là những phản ứng tại chỗ. Hiếm hơn, người ta quan sát thấy một phản ứng toàn thể với sốt, mệt mỏi, v..v, nhanh chóng biến mất sau đó. Về các biến chứng thần kinh rất là hiếm hoi, như hội chứng Guillain-Barré, được thể hiện bởi những bại liệt thường thoái triển trong vài ngày : 1 trường hợp trên 1 triệu người được tiêm chủng. Ngoài những kháng nguyên virus, những khác nhau giữa các vaccin rất được biết rõ này và các vaccin mới đại dịch là gì ? Trước hết là kỹ thuật sản xuất. Để tiết kiệm thời gian, hãng Baxter của Hoa Kỳ đã cho không sử dụng phương pháp cấy cổ điển lên các trứng phôi thai mà theo phương pháp cấy tế bào Vero, phát xuất từ khỉ. “ Đó là kỹ thuật mới, còn đang được trắc nghiệm lâm sàng, nhưng kỹ thuật này không gợi lên mối e ngại nào đặc biệt ”, BS Martin đã đảm bảo như vậy.

Khác nhau khả dĩ khác : sự hiện diện trong các vaccin đại dịch những chất bảo quản (conservateurs) như thiomersal. Việc nhờ đến hợp chất này được biện minh để làm giảm nguy cơ lây nhiễm bởi vi khuẩn, nhưng thành phần của nó với chất cơ bản thủy ngân làm lo ngại những người tiêu thụ. “ Trong những năm 2000, thiomersal đã được rút ra khỏi những vaccin bởi vì bị nghi là nguồn gốc của những rối loạn như autisme, Fabienn Bartoli, thuộc Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế Pháp đã giải thích như vậy. Từ đó, các công trình nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy rằng căn bệnh này vẫn tiếp tục tiến triển, điều này gián tiếp làm an lòng.” Theo bà, vậy thì sử dụng nó là hợp pháp, bởi vì cán cân giữa những lợi ích của thiomersal (một vài để tránh những sự lây nhiễm vi trùng) và độc tính của nó (không được chứng minh) vẫn còn dương tính. Còn về các chất bổ trợ (adjuvants) thì sao ? Các vaccin cúm mùa không chứa chất bổ trợ, trừ Gripguard (Novartis), được sử dụng nhất nơi những người già mà những đáp ứng miễn dịch yếu hơn, GS Léophonte đã chỉ rõ như vậy. Đối với những vaccin đại dịch, 4 hãng bào chế, mà Pháp đã gởi đơn đặt hàng, có chiến lược riêng của mỗi hãng. “ Lợi ích của các chất bổ trợ (adjuvants) này là có được cùng đáp ứng miễn dịch với một lượng vaccin thấp hơn. Trong một tình huống khẩn cấp y tế, điều đó cho phép chúng ta sản xuất được nhiều hơn, Pascal Barollier, phát ngôn viên của Sanofi-Pasteur đã giải thích như vậy. Hãng đang tiến hành những thử nghiệm lâm sàng của vaccin chống H1N1, có hoặc không có một chất bổ trợ mới, được gọi là AF03. “ Tổng cộng, vaccin đã được trắc nghiệm trên nhiều ngàn người, Pascal Barollier đã đánh giá như vậy. Novartis sử dụng một chất bổ trợ tên là MF59, hiện diện từ hơn 10 năm nay trong các vaccin cúm mùa. Hơn 40 triệu liều của chất bổ trợ mà chất cơ bản là squalène, đã được cấp trên thế giới, cho những nhóm có nguy cơ hay với sự suy giảm miễn dịch, nhưng không gây nên một báo động pharmacovigilnce nào ”, BS Martin đã đảm bảo như vậy.

Ở hãng Baxter, không có một chất bổ trợ nào được sử dụng. Trong ý kiến về chiến lược tiêm chủng, Hội đồng cao cấp y tế công cộng Pháp đã khuyến nghị nên sử dụng hơn các vaccin không có chất bổ trợ trong vài nhóm dân chúng (đặc biệt là các phụ nữ có thai và các nhũ nhi).

TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG.

Tuy nhiên vì thiếu các dữ kiện với quy mô lớn về các chất bổ trợ (adjuvant), GS Léophonte tự hỏi về tính chất có căn cứ của một tiêm chủng đại trà (vaccination de masse). “ Vaccin được biện mình nơi những người có nguy cơ bị những thể nặng. Nhưng vẫn phải thận trọng về một chiến dịch quy mô lớn , làm gia tăng các nguy cơ mắc phải các tác dụng phụ ngoại lệ ”, ông đã nêu lên như vậy. Những chuyên gia có tiếng khác tán thành một tiêm chủng mở rộng (vaccination élargie), để bảo vệ đồng thời cá nhân và tập thể. Mặc dầu các kỹ thuật chế tạo các vaccin chống cúm đã tiến triển trong những thập niên qua, 532 trường hợp Guillain-Barré (trong đó 30 tử vong), đã xảy ra ở Hoa Kỳ vào năm 1976 sau chiến dịch tiêm chủng vội vàng 40 triệu người, vẫn còn trong tất cả các ký ức. “ Các nước phải thiết đặt các hệ thống phản ứng cảnh giác dược (pharmacovigilance) và thông tin cho nhau ”, Rebecca Martin đã nhấn mạnh như thế.
(LE FIGARO 21/9/2009)

3/ H1N1 : TIÊM CHỦNG CÁC NGƯỜI GIÀ ?

Các trận dịch bệnh cúm được liên kết với một lệ tử vong cao do tim và các vaccin có một tác dụng bảo vệ.

GRIPPE. Một cuộc điều tra, được công bố hôm nay trong tạp chí y học Anh The Lancet tiết lộ rằng vào các trận dịch cúm mùa, giữa 30 và 50% các tử vong quá mức (surmortalité) là do các cơn nhồi máu cơ tim. Như vậy, nhất là đối với các người già, virus của bệnh cúm không giết bệnh nhân một cách trực tiếp, mà làm dễ sự mất bù của một tình trạng tổng quát vốn mỏng manh, nhất là đối với những người trên 65 tuổi. Công trình này, được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu y tế công cộng người Anh, cũng gợi ý rằng sự tiêm chủng sẽ làm giảm nguy cơ tử vong do tim vào luc dịch bệnh cúm. Trong bối cảnh hiện nay, và dưới ánh sáng của những yếu tố này, các người già có nên được tiêm chủng chống bệnh cúm A (H1N1) nhằm chống lại tỷ lệ tử vong quá mức này ? Hiện nay, các người già không nằm trong diện ưu tiên qua các lời khuyến nghị của các giới hữu trách y tế hiện hành, ngoại trừ trong trường hợp các nguy cơ được xác nhận một cách rõ ràng.

Mỗi năm, trung bình có 6.000 tử vong được liên kết với cúm mùa. Nói chung tỷ lệ tử vong cao hơn (surmortalité) này chỉ được quan sát hậu nghiệm (a posteriori). “ Khi người ta xem xét đường cong của tỷ lệ tử vong của dân chúng theo thời gian, người ta nhận thức mỗi năm rằng có một đỉnh cao nhỏ xảy ra đồng thời với dịch cúm, G.S Antoine Flahaut (nhà dịch tễ học, chuyên gia về bệnh cúm, giám đốc Viên cao học y tế công cộng) đã giải thích như thế. Tỷ lệ tử vong quá mức này thay đổi tùy theo năm, từ 1000 đến 8.000 tử vong mỗi năm. ”

“ ẤN ĐỊNH ƯU TIÊN THEO THỨ BẬC ”

Vào lúc cúm mùa, ở Pháp, trung bình 6 triệu người bị mắc phải virus, 6.000 người tử vong vì bệnh, hoặc một tử vong trên 1.000 người bệnh (tỷ lệ tương tự ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và Úc). Trên 6.000 tử vong này, chỉ 600 được công nhận là có liên hệ trực tiếp với cúm (như các giấy khai tử chỉ rõ). Mặt khác tỷ lệ tử vong cao hơn (surmortalité) do cúm này có liên quan 90% những người hơn 65 tuổi và 87% những người trên 75 tuổi. “ Người ta không biết nguyên nhân của những tử vong này. Có hai giả thuyết, hoặc là cúm gây nên một sự mất bù của một bệnh có trước nơi người già, hoặc nhiễm trùng cúm làm mất quân bình một tình trạng tổng quát vốn mong manh, Antoine Flahault nói thêm như vậy. Trong 90% các trường hợp, người thầy thuốc đã không quy tử vong cho cúm ”.

Trong những điều kiện này, có nên khuyến nghị tiêm chủng một cách hệ thống những người già chống lại virus H1N1 vì lẽ không thể loại trừ một tỷ lệ tử vong cao hơn mà không có thể nhận thấy được ? “ Tôi nghĩ rằng, do thận trọng, vì lẽ tỷ lệ tử vong cao hơn mà chúng ta chỉ có thể đánh giá sau này, nên cần phải khuyến nghị vaccin H1N1 cho tất cả các người già ", GS Antoine Flahault đã trả lời như vậy. Đồng thời ông cũng cho rằng chính do thận trọng mà chúng ta sẽ tiêm chủng chống lại virus của cúm mùa. Đúng vậy, hiện nay không có một yếu tố nào về tỷ lệ tử vong của những người già cho thấy những dữ kiện đáng lo ngại. “ Một số các công trình nào đó chỉ rõ rằng những người sinh trước năm 1957 dường như tương đối được bảo vệ chống lại bệnh cúm do H1N1 này ", GS Paul Léophonte (giáo sư chuyên khoa phổi ở Toulouse) đã đảm bảo như vậy. " Tôi nghĩ rằng phải ấn định ưu tiên tiêm chủng theo thứ bậc, hơn là thực hiện những tiêm chủng đại trà.” Theo giáo sư Claude Hannoun, chuyên gia bệnh cúm, " hiện nay tỷ lệ tử vong cao hơn do virus H1N1 đã không được quan sát thấy nơi những người già, dường như ít nhạy cảm hơn với virus này ”.
(LE FIGARO 22/9/2009)

4/ CÔNG NGHIỆP DƯỢC PHẨM CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT KHỞI ĐÃ THỰC HIỆN NHỮNG TIẾN BỘ ĐÁNG KỂ.

Được hiệu chính trong một thời gian kỷ lục, các vaccin của các hãng bào chế Trung quốc chống cúm A có đáng tin cậy hay không ? Câu trả lời thay đổi tùy theo người đối thoại ở Trung Quốc hay Châu Âu. “ Không có sự tin chắc đối với vaccin này hơn so với những vaccin khác của Trung Quốc, vốn đã không có tiếng về mức độ đáng tin cậy và không được chuẩn nhận ở Châu Âu. Cộng đồng y khoa nước ngoài ở Trung quốc nói chung khuyến nghị dùng các vaccin nước ngoài ”, một chuyên viên y tế phương tây ở Bác Kính đã nhấn mạnh như vậy. Mặc dầu cũng thận trọng, Bruno Lina, chủ trì nhóm giám định và thông tin về bệnh cúm, tỏ ra ít ngờ vực hơn : “ Rất khó trả lời câu hỏi này, bởi vì chúng tôi thiếu thông tin, Chúng tôi không biết mức đòi hỏi của giới hữu trách y tế Trung quốc và các kết quả của những thử nghiệm lâm sàng đã chưa được công bố. "

Mặc dầu sự mù mờ này, các chuyên gia không tỏ ra lo ngại. “ Những vaccin duy nhất có thể nguy hiểm là những vaccin được thực hiện từ các sinh vật như vaccin chống bệnh sốt vàng (fièvre jaune)", Didier Raoult, giáo sư đại học y khoa Marseille, đã giải thích như vậy. " Đó không phải là trường hợp đối với các vaccin chống cúm, được chế tạo từ những tác nhân gây nhiễm trùng được làm bất hoạt.” Cùng lắm, những người được tiêm chủng có thể bị một cơn sốt và ban đỏ tồn tại nơi tiêm chủng.

Vậy mặc dầu Trung quốc đưa ra những thông tin một cách nhỏ giọt, không có lý do gì để ngờ vực cả. “ Tôi không ngạc nhiên chút nào khi thấy các hãng bào chế Trung Quốc đua tranh với các hãng bào chế Tây Phương, Didier Raoult đã phân tích như vậy. Điều đó chỉ thể hiện tính năng động cùa đất nước này về nghiên cứu các bệnh nhiễm trùng. Chúng ta sẽ phải làm quen với những thành công của những nhà nghiên cứu Châu Á, bởi vì họ rất mạnh và tiến nhanh .”

ĐIỀU TRỊ ÍT HIỆU QUẢ HƠN.

Những tiêu chuẩn y tế của Trung quốc, mềm dẻo hơn so với Tây phương, đã có thể làm dễ Sinovac và Hualan trong cuộc chạy đua này. Ở Pháp, một vaccin phải bảo vệ ít nhất 70% những người được tiêm chủng mới có thể được đưa ra thị trường. “ Có thể là giới hữu trách Trung quốc ưa thích hơn phát động nhanh chóng một điều trị ít hiệu quả hơn để đuổi kịp tốc độ của dịch bệnh. Một chiến lược hợp lý khi phải bảo vệ hơn 1 tỷ người ”, M.Lina đã tuyên bố như vậy.

Việc lựa chọn vaccin một liều được chế tạo bởi Sinovac và Hualan tán trợ cho giả thuyết này. Có lẽ với một liều duy nhất khó có thể có cùng mức độ bảo vệ như với hai liều, các nhà chế tạo Châu Âu đã tiên đoán như thế.

Tuy nhiên, hiệu chính một vaccin và sản xuất nó theo một quy mô lớn là hai việc làm khác nhau.Về sản xuất với quy mô lớn, Trung Quốc còn phải chứng tỏ khả năng. Nhưng phải công nhận rằng công nghiệp dược phẩm của các nước đang phát khởi (pays émergents) đã thực hiện những tiến bộ đáng kể từ một thập niên qua. Cách nay không lâu, Ẩn Độ trở thành nhà sản xuất vaccin thế giới đầu tiên.
(LE MONDE 10/9/2009)

5/ ALZHEIMER : NHỮNG GENES MỚI GÂY BỆNH.

NEUROLOGIE. Khám phá quan trọng này của Anh-Pháp mở ra những hướng điều trị mới.

Bệnh Alzheimer gây bệnh cho 850.000 người ở Pháp. Những dự phòng cho tương lai vẫn còn u tối, với số các bệnh nhân tăng dần vì tuổi thọ được kéo dài ra. Thế mà cho đến ngày nay, các khả năng điều trị lại rất hạn chế. Tạp chí khoa học đã công bố hôm qua các kết quả rất hứa hẹn của hai nhóm nghiên cứu, một của Pháp và một của Anh, với sự khám phá 3 gène mới có liên hệ trong dạng thông thường của bệnh Alzheimer, đã cho phép hiểu rõ hơn các cơ chế của bệnh đồng thời mở ra những hướng điều trị mới. Đó là những yếu tố mẫn cảm di truyền (facteurs de susceptibilité génétique) đầu tiên được nhận diện, kể từ khi gène của apolipoprotéine E (mà vài dạng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh lên 4 lần) được khám phá vào năm 1993.

Căn bệnh thần kinh nghiêm trọng này được đặc trưng bởi một sự thoái hóa dần dần của não bộ, được thể hiện bởi những rối loạn về trí nhớ, về trí thông minh và về hành vi. Các gia đình và các bệnh nhân, đã sống một cách rất đau khổ với căn bệnh này, đang trong chờ một phép điều trị có khả năng ngăn ngừa, làm hoãn lại hay làm chậm lại tiến trình của nó.

CÁC KỸ THUẬT GENOTYPAGE VÀ CÁC NGÂN HÀNG ADN.

Vào năm 2008, nhờ các kỹ thuật génotypage được hiệu chính và nhờ các ngân hàng mẫu nghiệm ADN được lấy nơi những người bị bệnh Alzheimer, một nhóm nghiên cứu đa ngành của Pháp đã lao mình vào một cuộc phiêu lưu khoa học quan trọng : so sánh tất cả các gène của 2 .000 bệnh nhân bị bệnh Alzheimer với các gène của 5.000 người cùng lứa tuổi nhưng không bị bệnh này, nhằm nhận diện những khác nhau có thể có. Sau công trình khổng lồ và cực nhọc này, các nhà nghiên cứu Pháp khám phá ra hai gène có liên quan trong căn bệnh Alzheimer. “ Vào tháng 7/2009, những kết quả đầu tiên của chúng tôi rất là lý thú và chúng tôi đã trình bày chúng nhân hội nghị thế giới về bệnh Alzheimer được tổ chức ở Vienne, sau khi đã đề nghị công bố chúng trên Nature Genetics, giáo sư Philippe Amouyel, giám đốc của một đơn vị nghiên cứu của Viện Pasteur Lille, đã kể lại như vậy. Và ở Vienne, thật ngạc nhiên ! Các nhà nghiên cứu Anh cũng loan báo là đã nhận diện, từ 6.000 bệnh nhân, hai gène liên kết với bệnh này, trong đó một giống hệt với gène của chúng tôi. ” Vậy 3 dạng di truyền mới, làm dễ sự xuất hiện bệnh Alzheimer hay bảo vệ chống lại nó, vừa được khám phá. Mặt khác các nhà nghiên cứu Pháp và Anh sau đó đã xác nhận rằng các gène mà họ đã không nhận diện đúng là một yếu tố làm dễ sự xuất hiện bệnh Alzheimer. Tất cả những dữ kiện này sau đó được lập lại nơi gần 4000 bệnh nhân châu Âu.

Gène đầu tiên được khám phá, nằm trên nhiễm sắc thế 8, là gène của một protéine, clusterine. Sự việc gène này có một hình dạng nào đó, có một tác dụng bảo vệ chống lại bệnh và làm giảm nguy cơ bị bệnh 15%. “ Protéine này sẽ can thiệp vào trong sự tạo thành các mảng protéines bêta-amyloides, một trong những biến cố sinh học quan trọng đặc trưng của bệnh Alzheimer ”, GS Amouyel đã giải thích như vậy. Protéine này có thể là một mục tiêu của công nghiệp dược phẩm trong việc hiệu chính các thuốc có khả năng loại bỏ các mảng amyloide hay ngăn cản sự tích tụ của chúng.

Gène thứ hai có liên quan đến thụ thể của một protéine khác có liên hệ trong những hiện tượng viêm và làm gia tăng nguy cơ 15%. Khám phá này xác nhận ảnh hưởng của những cơ chế viêm trong bệnh Alzheimer (những bệnh nhân bị viêm khớp sử dụng các thuốc chống viêm thường ít bị bệnh Alzheimer hơn những bệnh nhân khác) và đẩy mạnh ý tưởng thử nghiệm các thuốc chống viêm trong bệnh này. Gène thứ ba được khám phá bởi những nhà nghiên cứu người Anh, picalm, can thiệp vào trong sự truyền luồng thần kinh và làm giảm nguy cơ 15%.

“ Để tìm ra những thuốc mới, phải hiểu cơ chế bệnh, GS Amouyel đã nói thêm như vậy, đó là tất cả ý nghĩa của những công trình mà chúng tôi đang tiếp tục tiến hành, với các gène làm dễ sự xuất hiện bệnh mới mà chúng tôi đang nghiên cứu.” Không có vấn đề dùng những kết quả nghiên cứu này trong khung cảnh một điều tra phát hiện di truyền (dépistage génétique) hay biến chúng thành một công cụ chẩn đoán. Ảnh hưởng của các gène không hẳn là yếu tố quyết định duy nhất. Những yếu tố nguy cơ khác liên hệ với môi trường cũng góp phần trong quá trình thoái hóa não bộ này.
(LE FIGARO 7/9/2009)

6/ MỘT THẾ HỆ CÁC THUỐC KHÁNG ĐÔNG RẤT HỨA HẸN.

Các antivitamines K, được kê đơn từ nhiều thập niên qua cho những người có nguy cơ cao bị các tai biến mạch máu não, phải chăng chẳng bao lâu nữa sẽ trở nên lỗi thời ? Hiệu quả nhưng khó vận dụng, các thuốc kháng đông (anticoagulants) này làm gia tăng sự xuất hiện của các xuất huyết, nhất là ở đường tiêu hóa. Dabigatran, một thuốc kháng đông mới, gây chảy máu rõ rệt ít hơn nhưng đống thời vẫn có hiệu năng ít nhất là tương tự, theo một thử nghiệm rộng rãi được trình bày tại hội nghị tim học ở Barcelonne. Công trình nghiên cứu, đã được thực hiện trên 18.000 bệnh nhân mắc bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire) (một rối loạn nhịp tim dễ đưa đến các tai biến mạch máu não), cũng đã được công bố trên site Internet của New England Journal of Medicine. Dabigatran đã được thương mãi hóa bởi hãng Boehringer Ingelheim dưới tên Pradaxa trong một chỉ định khác. “ Đó là một công trình có tầm quan trọng chủ yếu ”, GS Jean-Yves le Heuzey (PARIS) đã đánh giá như vậy. Theo thầy thuốc chuyên khoa tim này, dabigatran và những thuốc tương cận khác, còn đang được trắc nghiệm lâm sàng, sắp đến sẽ được đề nghị ưu tiên một trong vài trường hợp rung nhĩ.
(LE FIGARO 1/9/2009)

7/ UNG THƯ LƯỠI : MỘT ROBOT NGOẠI KHOA ĐẦU TIÊN.

BS Gilles Dolivet, thầy thuốc ngoại Tai Mũi Họng của Trung tâm chống ung thư Alexis-Vautrin, Nancy, bình luận những lợi ích của kỹ thuật mới robot hóa.

Hỏi : Các ung thư lưỡi có thường xảy ra không ? Những điều trị thông thường là gì ?
BS Gilles Dolivet : Ở Pháp, người ta thống kê được hơn 2.000 trường hợp mỗi năm, trong đó 90% xảy ra nơi đàn ông và 10% nơi phụ nữ. Có nhiều phương pháp điều trị tương ứng với tiến triển của bệnh. Mặc dầu các ung thư này có kích thước nhỏ, ta có thể mổ chúng mà không cắt xẻo nhiều (không lấy đi một phần quá lớn của lưỡi) và sau đó cho bệnh nhân làm phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) (4-6 tuần sau phẫu thuật). Nhưng khi các khối u này quá lớn, ta sẽ gắng phối hợp hóa học liệu pháp và phóng xạ liệu pháp.

Hỏi : Hậu phẫu diễn ra như thế nào ?
BS Gilles Dolivet : Các bệnh nhân vẫn phải được nhập viện hai hoặc ba tuần bởi vì đó là một phẫu thuật nặng nề. Thầy thuốc ngoại khoa phải thực hiện một đường xẻ, mở cổ cho đến tận xoang miệng và đôi khi buộc phải mở khí quản (trachéotomie) (một canule được đặt vào trong khí quản trong suốt khoảng 10 ngày). Bệnh nhân được nuôi bằng một ống thông (sonde). Lúc tỉnh dậy, để làm giảm đau, cần điều trị bằng morphine. Thường phải chờ đợi 6 tháng để có thể tái tục một đời sống hoạt động.

Hỏi : Những kết quả thu được với các protocoles này là gì ?
BS Gilles Dolivet : Ở tại chỗ và vùng (locorégional), ta có các kết quả tốt trong 70 đến 75 % các trường hợp, và ta thống kê được nơi những bệnh nhân này từ 50 đến 55% tỷ lệ chữa lành sau 5 năm.

Hỏi : Kỹ thuật ngoại khoa mới bằng robot hóa (robotisation) là gì ?
BS Gilles Dolivet : Kỹ thuật mới này được thực hiện với robot Da Vinci, được thiết đặt bên cạnh bệnh nhân. Chiếc máy này gồm có một console và ba cánh tay có khớp, trong đó một cánh tay mang hai caméra bé xíu và hai dụng cụ khác có kích thước rất nhỏ (5mm). Cuộc giải phẫu diễn biến thành hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, hai caméra được đặt trong xoang miệng của bệnh nhân, cho phép phẫu thuật viên nhìn bằng hai mắt theo 3 chiều của phẫu trường (rất được phóng đại bởi hệ thống quang học). Rồi thì, phẫu thuật viên đưa vào các đầu của hai cánh tay của robot, trong đó một cánh tay được trang bị bởi một chiếc kềm mảnh, còn cánh tay kia bởi một cái móc nhỏ cầm máu (crochet coagulant). Suốt trong giai đoạn hai, phẫu thuật viên, sau khi đặt đầu mình vào vị trí đối diện với hai màn ảnh tí xíu giống các chiếc ống dòm, thao tác lên hai tay gác (manettes) để điều khiển với một mức độ chính xác cực kỳ những cử động của cánh tay có khớp. Cái móc cầm máu (crochet coagulant) phẫu tích khối u với một mức độ an toàn lớn lao.

Hỏi : Lợi ích lớn nhất của kỹ thuật bằng robot hóa (technique par robotisation) là gì ?
BS Gilles Dolivet : Nhờ cái nhìn được khuếch đại lên phẫu trường, phẫu thuật viên có thể thăm dò những vùng khác của xoang miệng, vốn khó có thể tiếp cận được với ngoại khoa truyền thống. Vậy phẫu thuật viên, trong cùng một thì mổ, có thể can thiệp lên những thương tổn khác, được khám phá trong lúc mổ.

Hỏi : Với robot này, những hậu phẫu diễn ra như thế nào ?
BS Gilles Dolivet : Những kết quả đầu tiên cho thấy một sự giảm đáng kể thời gian nhập viện (khoảng 10 ngày). Vì các đau đớn ít hơn, do đó bệnh nhân nhân dùng ít các chất nha phiến hơn. Sự hồi phục chức năng diễn ra nhanh hơn và phóng xạ liệu pháp có thể được tiến hành nhanh hơn. Đó là một kỹ thuật mới và chúng tôi chỉ mới có một thời gian nhìn lại từ hai đến ba năm, nhưng chúng tôi đã chứng thực, sau thời hạn này, cùng kết quả với ngoại khoa cổ điển. Dẫu sao cũng có những chống chỉ định : một vài dạng xoang miệng không cho phép đưa các dụng cụ vào được tốt.

Hỏi : Những ưu điểm của can thiệp bằng robot hóa này là gì ?
BS Gilles Dolivet : Có 4 ưu điểm : 1. Một mức độ chính xác cao hơn của động tác mổ. 2. Khả năng phát hiện và điều trị những thương tổn khác.3. Hậu phẫu ít đau đớn hơn.4. Hồi phục chức năng diễn ra nhanh hơn.

Hỏi : Tại Pháp, ở đâu ta có thể được mổ với phương thức mới này ?
BS Gilles Dolivet : Trong 5 trung tâm bệnh viện (centres hospitaliers) : CHU de Nancy, de Tours và de Lyon-Sud, Trung tâm chống ung thư của thành phố Lille và bệnh viện Georges-Pompidou ở Paris.
(PARIS MATCH 10/9-16/9/2009)

8/ NHỮNG ĐIỀU MỚI ĐỔI VỚI LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG (ENDOMETRIOSE).

Mãi đến nay, lạc nội mạc tử cung (endométriose) chỉ có thể được phát hiện nhờ soi ổ bụng (laparoscopie). Nhưng một phương pháp mới đang làm thay đổi cục diện.

Lạc nội mạc tử cung không phải là một bệnh hiếm, người ta ước tính từ 10% đến 15% số các phụ nữ đang mắc phải bệnh hay sẽ phải đối đầu vào một ngày nào đó, với hậu quả là đau vùng hố chậu (douleurs pelviennes), đau lúc kinh kỳ (dysménorrhée), đau lúc giao hợp (dyspareunie) và các rối loạn về khả năng có thai. Mãi đến hôm nay, chẩn đoán chỉ có thể được xác lập nhờ soi ổ bụng, một kỹ thuật xâm nhập đòi hỏi phải nhập viện và gây mê. Tuy nhiên có cái mới, mà những kết quả của một công trình nghiên cứu mới đây đã vừa chứng tỏ điều đó. Các nhà nghiên cứu đã phát triển một xét nghiệm mới cho phép phát hiện lạc nội mạc tử cung trên cơ sở một sinh thiết của nội mạc tử cung, bất thường nơi các phụ nữ bị bệnh này. Thật vậy, mật độ của các sợi thần kinh 14 lần cao hơn bình thường.

MỘT TIỂU CHUẨN TỐT.

Công trình nghiên cứu được thực hiện qua các sinh thiết nội mạc tử cung (biopsie endométriale) của 99 phụ nữ đã đi khám bệnh vì những cơn đau vùng hố chậu và/hoặc những rối loạn khả năng sinh sản. Các kết quả đã được so sánh với những kết quả của soi ổ bụng (xác nhận rằng 64 trong các phụ nữ này bị bệnh lạc nội mạc tử cung).

Xét nghiệm căn cứ trên mật độ của các sợi thần kinh cũng dương tính nơi tất cả các bệnh nhân này trừ một. Có 6 dương tính giả, tuy nhiên hai trong số này có những tiền sử lạc nội mạc tử cung. Kết cục, mức độ nhạy cảm lên đến 98% và mức độ đặc hiệu 83%, điều này, theo các nhà nghiên cứu, cũng tốt như các số điểm (scores) có được qua nội soi ổ bụng. Ngay cả các thầy thuốc phụ khoa có kinh nghiệm về soi ổ bụng có khi bỏ sót một chẩn đoán lạc nội mạc tử cung.

Trắc nghiệm mới cho phép nhận diện tốt hơn các phụ nữ sẽ cần đến một nội soi ổ bụng. Và có thể điều này chưa chấm hết, bởi vì công cuộc nghiên cứu hiện nay đang hướng về các chất chỉ dấu máu (marqueurs sanguins), lại còn ít xâm nhập hơn so với sinh thiết.
(LE GENERALISTE 10/9/2009)

9/ SỰ LÀNH MẠNH RĂNG VÀ NGUY CƠ MẠCH VÀNH.

Viêm cận răng (parodontite) là một viêm nhiễm mãn tính của các lợi răng do một nhiễm trùng bởi vi khuẩn, gây nên một sự hủy hoại xương và các dây chằng giữ các chiếc răng trong các ổ răng (alvéoles osseues) của chúng. Căn bệnh thông thường này (gây bệnh đến hai người trên ba), thường được liên kết với chứng xơ mỡ động mạch, mà các biểu hiện cấp tính (nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực không ổn định) tương quan với một sự viêm nhiễm. Mặt khác có nhiều yếu tố nguy cơ chung cho hai căn bệnh này (thuốc lá, đái đường, béo phì và tình trạng bất hoạt vật lý).

Hậu quả lôgíc : một nhóm các chuyên gia khuyến nghị rằng những người bị viêm cận răng (parodontite) phải được đánh giá trên bình diện tim mạch và nếu cần, nhận những điều trị tim thích hợp để làm giảm nguy cơ các tai biến liên kết với xơ mỡ động mạch.
(CŒUR et ARTERES 9/2009, số 4)

10/ ĐẬU NÀNH BẢO VỆ CHỐNG XUẤT HUYẾT NÃO.

Một công trình nghiên cứu khoa học chỉ rõ rằng đậu nành có thể mang lại khả năng bảo vệ chống lại các xuất huyết não. Những người tiêu thụ tối thiểu 300 g các sản phẩm mà chất cơ sở là đậu nành mỗi tuần, có một nguy cơ xuất huyết giảm 77% so với những người tiêu thụ dưới 50 g mỗi tuần.

Xuất huyết là một trong những dạng thông thường nhất của bệnh tim mạch. Sự tiêu thụ đậu nành có thể có một tác dụng thuận lợi lên các nguy cơ đột qụy (stroke). So với những người [i]“ lành mạnh ”
, những người vốn đã bị một cơn đột qụy dường như tiêu thụ các sản phẩm có chất đậu nành ít hơn nhiều. Thế mà, một người tiêu thụ các sản phẩm có chất đậu nành càng nhiều, thì các nguy cơ bị xuất huyết càng thấp.

Những khám phá này xuất phát từ một công trình nghiên cứu được tiến hành nơi 838 người Hoa thuộc hai giới tính với tuổi trung bình là 65. Trong nhóm những người này, 374 người đã từng bị một đợt xuất huyết não trong quá khứ. Những người khác là những người [i]“ lành mạnh ”
và tạo nên nhóm kiểm chứng. Cả hai nhóm được hởi về sự tiêu thụ hàng tuần các sản phẩm có chất cơ bản là đậu nành, như fèves de soja, nước uống đậu nành và tofu.
(LE GENERALISTE 17/9/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (27/09/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#21 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 23 October 2009 - 09:42 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : CÁC VACCIN THẬT SỰ CHỨA NHỮNG CHẤT GÌ ?

Dĩ nhiên là các kháng nguyên, nhưng cũng là một phối hợp của các chất làm hoạt hóa quá trình miễn dịch : chất bổ trợ (adjuvant). Chính do hỗn hợp có tiếng “ sulfureuse ” này mà có sự khác nhau.

Ngày 1 tháng sáu khi Margaret Chan, bà giám đốc của Tổ Chức Y Tế thế giới, tuyên bố “ toàn đại dịch cúm A (H1N1) bây giờ đã bắt đầu ”, tức thời các phòng bào chế sản xuất vaccin đã lao vào một cuộc chạy đua ráo riết. Họ có thời gian 6 tháng để giao cho các cấp hữu trách y tế thế giới 900 triệu liều vaccin. Tại sao nhiều như vậy và nhanh như thế ? Sự vội vàng được biện minh trên bình diện y tế : bởi vì đó là một virus chưa từng có, A (H1N1) phân tán càng nhanh nhất là nó lưu hành trong một dân chúng được gọi là “ ngây thơ ”, nghĩa là không có các phòng vệ miễn dịch chống lại nó. Trong những điều kiện này, chế tạo và phân phối rộng rãi một vaccin mang tính chất khẩn cấp, mặc dầu , sau mua đông nam cực mà nó đã hoành hành, virus A (H1N1) không có vẻ là tên giết người khủng khiếp đáng sợ vào lúc khởi đầu đại dịch.

Một cách cụ thể, để bảo vệ các cá thể trước khi họ phải đối đầu với virus này, một vaccin toàn đại dịch (vaccin pandémique) phải đáp ứng hai điều bắt buộc : có sẵn sử dụng với số lượng lớn trong một khoảng thời gian tối thiểu và gây miễn dịch càng nhanh càng tốt những người được tiêm chủng. “ Vào đầu tháng 7, OMS đã liệt kê 33 dự án khác nhau về vaccin, sẵn sàng được phát triển trong 26 hãng bào chế, Marie-Paule Kieny, nữ giám đốc của Sáng kiến nghiên cứu về các vaccin của OMS, đã giải thích như vậy. Không có thể nói bao nhiêu sẽ thật sự được đưa ra thị trường. Nhưng một điều chắc chắn : sẽ không có một, mà nhiều loại vaccin được đề nghị ”. Điều gì phân biệt chúng với nhau ? Chủ yếu là sự sử dụng hay không một chất bổ trợ (adjuvant). Hoặc là những chất mà cổ điển nhất là các muối aluminium và các chất mới nhất là các hỗn hợp dầu, có khả năng làm hoạt hóa các tế bào miễn dịch. Lúc tiêm một vaccin chứa những chất này, cơ thể phản ứng mạnh mẽ hơn và nhanh hơn. Những tính chất này không phải là không có những tác dụng nghịch. Đó là những phản ứng thật sự do vaccin hay được cho là như vậy.Trong trường hợp của các chất bổ trợ dầu (adjuvant huileux) mới đây, các nguy cơ bị các tác dụng phụ (nhất là các phản ứng tự miễn dịch) không hoàn toàn được gạt bỏ đối với những đối tượng có sức khỏe mỏng manh (các phụ nữ có thai, những trẻ em rất nhỏ tuổi và những người bị các bệnh mãn tính). Chính vì thế, vài nước trong đó có Hoa Kỳ không muốn sử dụng chúng. Còn nước Pháp thì chỉ không khuyến nghị chúng đối với những nhóm người có nguy cơ này mà thôi.

CHẤT BỔ TRỢ TỎ RA HỮU ÍCH CHỐNG LẠI VIRUS H1N1.

Để hiểu vai trò của các chất bổ trợ (adjuvant), chúng tôi nhắc lại rằng một vaccin chứa các kháng nguyên, các phân tử đặc hiệu đối với một vi trùng (vi khuẩn hay virus), thúc đẩy hệ miễn dịch chế tạo các phòng vệ chống lại sự xâm nhập của các kháng nguyên này. Như vậy cơ thể sau đó sẽ biết tự vệ chống lại vi trùng. Chỉ có điều là việc thêm các chất bổ trợ trong công thức vaccin không phải luôn luôn hữu ích. Vì những lý do sinh học không phải luôn luôn được hiểu rõ, vài kháng nguyên vi trùng làm hệ miễn dịch đáp ứng tốt, còn những kháng nguyên khác thì lại không. Ví dụ không cần phải cho các chất bổ trợ đối với các vaccin chống bệnh sởi, bệnh quai bị, bệnh rubéole hay cúm mùa. Ngược lại, các chất bổ trợ tỏ ra quý giá để chống lại các tác nhân gây bệnh như các virus cúm không điển hình. Chính công trình nghiên cứu của H5N1 từ năm 2005 đã hướng phần lớn các phòng bào chế trong việc lựa chọn các công thức vaccin với chất bổ trợ được thêm vào. Vì vậy, các hãng dược phẩm hàng đầu như GlaxoSmithKline (GSK), Novartis và Sanofi Pasteur đã chuẩn bị các công thức vaccin theo các đặc điểm của virus cúm gia cầm. Gây tử vong trong 60% các trường hợp, rất khó có thể lan truyền, virus H1N5 cũng đặc biệt ít gây miễn dịch (immunogène), nghĩa là một sự tiêm chủng chỉ gây rất ít các kháng thể. “ Đối với cúm mùa (grippe saisonnière), các virus khá tương cận đã lưu hành trong nhung năm trước, do đó không cần phải cho chất bổ trợ, và chỉ một liều chứa 15 mcg kháng nguyên cũng đủ để gây nên một miễn dịch bảo vệ trong 15 ngày sau khi tiêm, Jean-François Saluzzo, chuyên gia virus của hãng bào chế Sanofi Pasteur đã giải thích như vậy. Nhưng trong trường hợp cúm gia cầm (grippe aviaire), nếu không sử dụng chất bổ trợ, phải nhận hai liều chứa 90 mcg kháng nguyên mỗi liều.” với ít nhất 3 tuần giữa hai lần tiêm chủng, đó là thời gian mất đi trước khi đạt được một miễn dịch bảo vệ.

H5N1 ít có khả năng gây miễn dịch (immunogène) đến độ các chất bổ trợ cổ điển có chất căn bản là muối aluminium, được sử dụng từ 80 năm nay trong nhiều vaccin nhưng khó nhọc trong việc gảy kích thích miễn dịch. Novartis và Sanofi Pasteur do đó đã chọn đưa vào trong vaccin đại dịch một loại chất bổ trợ còn rất ít được sử dụng, các nhũ tương dầu (émulsions huileuses) mà chất cơ bản là squalène, một chất dầu thiên nhiên mà ta đặc biệt tìm thấy trong dầu gan cá mập (do đó có tên là squalène). Các chất bổ trợ dầu tác dụng như thế nào ? Bằng cách bắt bẫy các kháng nguyên trong các giọt nhỏ, các chất bổ trợ cho phép các kháng nguyên được tiếp xúc dài lâu với các tế bào của hệ miễn dịch có nhiệm vụ nhận diện chúng : các tế bào sợi nhánh (cellules dendritiques). Nhưng không chỉ như vậy. “ Chất bổ trợ dầu như thế làm gia tăng khả năng thực bào những kháng nguyên của những tế bào sợi nhánh (cellules dendritiques), rồi biểu hiện lên bề mặt của chúng những bộ phận khác nhau của những kháng nguyên này. Chính đúng những bộ phận khác nhau này báo động các tế bào lympho nơi các hạch bạch huyết và khởi động sự sản xuất các kháng thể thích ứng.”, Nathalie Garçon, nhà nghiên cứu ở GSK đã giải thích như vậy. Bà cũng nói rõ thêm rằng các vaccin với chất bổ trợ bảo vệ chống lại các “ anh em họ ” của virus đại dịch, xuất hiện trong trường hợp xảy ra biến dị.

Trong trường hợp đại dịch, các chất bổ trợ có hai lợi ích : dịch tễ và miễn dịch học. Về mặt dịch tễ học, bởi vì thêm chất bổ trợ vào trong công thức vaccin, đó là sử dụng ít kháng nguyên hơn để được cùng phản ứng miễn dịch bảo vệ. Thế mà sự sản xuất các kháng nguyên (được thực hiện trong đa số các trường hợp với các trứng gà được nhiễm bởi virus) là giai đoạn lâu dài nhất trong việc chế tạo vaccin. Về phương diện miễn dịch học : trên quan điểm cá nhân, một người được tiêm chủng với một vaccin có chất bổ trợ sẽ chỉ cần một liều duy nhất, như thế được bảo vệ 3 tuần nhanh hơn những người khác. Và cũng chống lại những dạng biến dị của virus.Tuy vậy, nếu vào lúc bắt đầu đại dịch, tất cả dường như chỉ rõ rằng việc sử dụng vaccin trên quy mô lớn với chất bổ trợ dầu (adjuvant huileux) có nhiều lợi ích hơn các nguy cơ, tính sinh miễn dịch của virus A (H1N1) dường như tỏ ra tốt hơn so với dự kiến. Các nghi vấn về các nguy cơ do các chất bổ trợ gây nên do đó nặng ký hơn, nhất là các chất bổ trợ mà chất cơ bản là dầu đã không bao giờ đã được sử dụng với quy mô lớn. Mặc dầu các thử nghiệm lâm sàng không cho thấy mối nguy hiểm nào đặc biệt, nhưng các thử nghiệm này chỉ được giới hạn vào một số lượng nhỏ của dân chúng được khảo sát. Sự xuất hiện của một tác dụng xảy ra đồng thời với việc tiêm chủng, mặc dầu không liên kết với sự tiêm chủng này đi nữa, vẫn có nguy cơ làm mắt tín nhiệm lên tất các các vaccin.

MỘT CƠ HỘI TỐT ĐỐI VỚI CÁC NHÀ CÔNG NGHIỆP.

Nhưng trước khi quyết ủng hộ hay chống lại các chất bổ trợ, sẽ phải đợi các kết quả của toàn bộ các thử nghiệm lâm sàng, mà mục đích là đo lường đáp ứng miễn dịch được gây nên bởi các kháng nguyện của A (H1N1). Ngay cuối tháng 8, hãng bào chế Trung Quốc Sinovac cho rằng, đầu không có chất bổ trợ, vẫn có thể có một đáp ứng miễn dịch. Trong khi GSK và Novartis tiếp tục phát triển các vaccin với chất bổ trợ, thì Sanofi Pasteur đã quyết định phát động những thử nghiệm vaccin không có những chất này. “ Triển vọng có các vaccin có hiệu quả không cần chất bổ trợ không còn là ảo tưởng nữa, Daniel Floret, chủ tịch của Uỷ ban kỹ thuật về các chủng ngừa đã công nhận như vậy. Không những lợi ích miễn dịch của các chất bổ trợ có thể giảm, mà còn cả lợi ích dịch tễ nữa. Bởi vì các chiến dịch chủng ngừa đại trà có lẽ sẽ không được các chính phủ theo đuổi. Tuy vậy, ở Pháp và trong các nước khác, nơi các chính quyền y tế đã thúc đẩy các phong bào chế phát triển các vaccin với chất bổ trợ, dầu sao đi nữa các đơn đặt hàng sẽ phải được tôn trọng. Và các vaccin này khi đó sẽ được khuyến nghị đối với nhân viên y tế, thuộc bộ phận các nhóm dân phải được bảo vệ ưu tiên, và đối với những người trưởng thành có sức khoẻ tốt. Ngược lại, các vaccin không có chất bổ trợ sẽ được dành cho các nhóm dân có nguy cơ. “ Một điều chắc chắn : ngay cả khi tính hữu ích của những chất bổ trợ mới cuối cũng đã không được chứng tỏ trong đại dịch này, nó cũng sẽ tạo một cơ hội tốt đối với các nhà công nghiệp, Bertrand Bellier, chuyên viên về vaccin, thuộc Phòng thí nghiệm sinh học và điều trị các bệnh lý miễn dịch, thuộc nhóm bệnh viện Pitié-Salpêtrière đã giải thích như vậy. Bởi vì họ nhận một sự cho phép đầu tiên đưa ra thị trường trên một số lượng lớn dân chúng, các phòng bào chế sau đó sẽ sử dụng chúng dễ dàng hơn trong các vaccin khác.”
(SCIENCE ET VIE 10/2009)

2/ VACCINS H1N1 : MỘT LIỀU DUY NHẤT CÓ THẾ ĐỦ.

PANDEMIE. Các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên một số nhỏ người tình nguyện đã chứng minh tính hiệu quả của hai ứng viên vaccin chống virus mới.

Tất cả đã diễn ra rất nhanh, từ lúc khám phá một virus cúm mới ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư vừa qua, rồi sự hiệu chính các giống gốc virus trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu, rồi sự sản xuất một vaccin và sự phát động các thử nghiệm đầu tiên trên người. Chính cũng vì sự cần thiết phải đuổi kịp virus trước khi lan tràn xảy ra mà sự cạnh tranh giữa các hãng dược phẩm biện minh cho cuộc chạy đua chớp nhoáng này.

Hôm qua site Internet của tạp chí quốc tế New England Journal of Medicine đã công bố những kết quả của những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên, thu được từ những người tình nguyện được tiêm chủng, với hai vaccin khác nhau, một được bào chế bởi Novartis, vaccin kia bởi CSL Biotherapis. Với những kết luận đáng phấn khởi, vì lẽ, theo những chiến lược tiêm chủng, từ 15 đến 21 ngày sau khi tiêm, các cobaye người có được một miễn dịch chống lại virus, được chứng nhận bởi những nồng độ kháng thể bảo vệ quan trọng trong máu, ngay cả với chỉ một liều đơn độc.

KHÔNG CÓ BIẾN CHỨNG TRẦM TRỌNG ĐƯỢC QUAN SÁT

Những dữ kiện đầu tiên về vaccin của CSL, được trắc nghiệm ở Úc trên 240 người từ 18 đến 64 tuổi, được tuyển mộ vào tháng 7/2009, và sau khi đã nhận, bằng một mũi tiêm duy nhất, một nửa trong số những người tình nguyện 15 mcg protéine vaccin, và một nửa kia 30 mcg. Trong khi giới hữu trách y tế dự kiến rằng hai liều tiêm cách nhau 15 hoặc 3 tuần sẽ cần thiết để có được một sự bảo vệ, vaccin này gây nên một hiệu quả đầy đủ với một liều duy nhất 15 mcg và không gây những tác dụng phụ đáng kể nơi 96% trong số 120 người trưởng thành đã tham gia vào công trình nghiên cứu này. Gần 45 % những người được tiêm chủng đã có những tác dụng phụ hiền tính hay ngắn hạn (đau nơi chỗ chích, đau đầu...). Không có biến chứng nghiêm trọng nào đã được quan sát.

“ Đó là một tin vui, bởi vì nếu phải cần hai liều, điều đó sẽ làm giảm rất nhiều khả năng có sẵn vaccin ở Hoa Kỳ và trên thế giới ”, BS Anthony, giám đốc viện quốc gia các dị ứng và các bệnh nhiễm trùng, có nhiệm vụ phát triển một vaccin chống H1N1 ở Hoa Kỳ, đã tuyên bố như vậy.

Một thử nghiệm khác được tiến hành với một ứng viên vaccin được phát triển bởi hãng Novartis cũng tỏ ra đáng lưu ý và chỉ rõ rằng một liều duy nhất có thể đủ. Được trắc nghiệm ở Anh trên 175 người, theo những sơ đồ khác nhau với những liều khác nhau, những kết quả sơ bộ cho thấy rằng vaccin này, với một mũi tiêm duy nhất, đã gây nên sự sản xuất kháng thể sau 14 ngày, sau một liều duy nhất. Với những tác dụng phụ không đáng kể, tuy nhiên phải biết rằng những thử nghiệm như thế, nhằm vào một số lượng nhỏ các bệnh nhân, không có thể quan sát thấy những biến chứng hiếm, thậm chí đặc biệt.

Giữa 21 và 24/9, ủy ban các chuyên viên của Cơ quan dược phẩm châu Âu đã xem xét các hồ sơ của 3 vaccin đầu tiên chống cúm được đệ trình, hồ sơ của GSK, hồ sơ của Novartis và hồ sơ của Baxter.
(LE FIGARO 13/9/2009)

3/ HƯỚNG VỀ MỘT PHÁT HIỆN BẰNG XÉT NGHIỆM MÁU CỦA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.

Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng một xét nghiệm máu đơn giản có thể thay thế sự phát hiện hiện nay căn cứ trên Hemoccult (tìm máu ẩn trong phân).

SANTE PUBLIQUE. Phải chăng các xét nghiệm phân để phát hiện các ung thư đại trực tràng chẳng bao lâu nữa sẽ được thay thế bởi những xét nghiệm máu đơn giản, dễ được chấp nhận bởi các bệnh nhân hơn ? Trên thế giới, nhiều nhóm nghiên cứu, gồm cả Pháp, đã bắt đầu những nghiên cứu như thế. Hôm qua, hãng OncoMethylome Sciences đã trình bày các kết quả lâm sàng đáng phấn khởi của xét nghiệm máu trong một hội nghị châu Âu về ung thư ở Berlin.

Ở Pháp cũng như trong nhiều nước, việc phát hiện các khối u đại-trực tràng cần đến test Hemoccult, tìm kiếm sự hiện diện của máu ẩn (không thấy được bằng mắt trần) trong phân. Tuy nhiên, những hiệu năng của trắc nghiệm này hạn chế : trắc nghiệm có thể âm tính với sự hiện diện của ung thư, và dương tính giả (chẩn đoán khi đó được loại trừ bởi soi đại tràng). Thế hệ mới những trắc nghiệm miễn dịch (tests immunologiques), sẽ được sử dụng ở Pháp từ 2010, tỏ ra đáng tin cậy hơn, nhưng đó vẫn là những xét nghiệm phân, mà vài người không mong muốn.

Trắc nghiệm OncoMethylome Sciences có mục tiêu phát hiện những liều thấp của hai gènes de méthylation (được gọi là SYNEI và FOXEI) trong máu. Hai gène này rất có liên quan đến ung thư đại-trực tràng và hiếm khi hiện diện nơi những người không bị những khối ung thư này, các nhà nghiên cứu người Bỉ đã biện minh như thế. Méthylation de ADN là một cơ chế kiểm soát bình thường của sự biểu hiện của các gènes. Nhưng một méthylation quá mức của vài trong những gène này (như các gènes suppresseurs de tumeurs) được liên kết với sự phát triển của các ung thư. Tổng cộng, công trình nghiên cứu, được tiến hành bởi BS Joost Louwagie, đã đưa vào 686 người chứng, và 193 người có một ung thư đại-trực tràng. Độ nhạy cảm của xét nghiệm máu (số các bệnh nhân được nhận diện một cách đúng đắn bởi xét nghiệm) đã được đánh giá là 77%, và tính đặc hiệu của nó (tỷ lệ các xét nghiệm âm tính nơi những người không bị bệnh) là 91%. Để so sánh, độ nhạy cảm của Hemoccult là khoảng 50 đến 60%.Tuy nhiên việc đánh giá trắc nghiệm của người Bỉ chưa hẳn đã chấm dứt. Đối với các nhà nghiên cứu, giai đoạn sắp đến là xác nhận những kết quả trong một dân số 7.000 người, tham dự vào một chương trình phát hiện ở Đức.

Thật ra, như các chuyên gia Pháp xác nhận, các dữ kiện được trình bày ở hội nghị Berlin chỉ là sơ bộ. Độ nhạy cảm của các xét nghiệm không được tốt lắm đối với các khối u giai đoạn 1 và 2 (ít tiến triển), Guy Launoy (Inserm, Caen) đã nhấn mạnh như thế.

TIỀN LƯỢNG CỦA CÁC KHỐI U.

Các nhà nghiên cứu người Pháp mặt khác nhắc lại rằng việc tìm kiếm máu trong phân, mặc đẩu không hoàn hảo, có ưu điểm là cũng phát hiện những thương tổn tiền ung thư (các polypes) có thể được điều trị. Nhất là, đối với Guy Launoy cũng như đối với GS Iradj Sobhani (thầy thuốc chuyên khoa gan ruột ở bệnh viện Henri-Mondor de Créteil), những kết quả của một xét nghiệm phát hiện sẽ chỉ có thể được giải thích nếu xét nghiệm này đã được thực hiện...trong một nhóm dân tiếp cận với điều tra phát hiện. “ Trên thế giới, nhiều nhóm nghiên cứu về những xét nghiệm phát hiện không phải trên phân. Những xét nghiệm này sẽ được hoan nghênh về mặt khả năng có thể được chấp nhận ”; GS Sobhani tiếp tục nói như vậy. Nói chung, công cuộc nghiên cứu các chỉ dấu sinh học (biomarqueurs) càng ngày càng tích cực trong ung thư học, để phát hiện, nhưng cũng để tiên đoán tiên lượng của các khối u và đáp ứng của chúng đối với điều trị. Một xét nghiệm máu nhằm phát hiện ung thư phế quản bằng các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux), được hiệu chính bởi hãng Biosystems International của Pháp, đang tiến hành những trắc nghiệm lâm sàng.

(LE FIGARO 22/9/2009)

4/ ÍT UNG THƯ VÚ HƠN ĐỐI VỚI CÁC PHỤ NỮ MÃN KINH RẤT HOẠT ĐỘNG VỀ THỂ LỰC ?

Hoạt động vật lý với cường độ từ trung bình đến mạnh trong suốt 10 năm qua được liên kết với một sự giảm nguy cơ bị ung thư vú sau tuổi mãn kinh, nhưng những hoạt động vật lý vào những thời kỳ khác của đời sống không tương ứng với nguy cơ này. Đó là điều được giải thích bởi một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, đã khảo sát các dữ kiện của 18.898 phụ nữ mãn kinh, được đưa vào trong một công trình nghiên cứu, NIH-AARP Diet and Health Study. Tricia Petres và các cộng sự viên đã hỏi những phụ nữ tham gia này về mức độ hoạt động vật lý vào hai thời kỳ khác nhau : “ lịch sử ” (ở lứa tuổi từ 15-18, 19-29 và 35-39) và “ mới đây ” (trong 10 năm qua). Trong 6,6 năm theo dõi, 4.287 trường hợp ung thư vú đã được phát hiện.
Những kết quả cho thấy rằng những phụ nữ thực hiện mỗi tuần hơn 5 giờ thể dục với cùng độ vừa phải đến mạch, trong suốt 10 năm sau cùng, đã có 16% nguy cơ ít hơn bị một ung thư vú so với những phụ nữ ít hoạt động. Tuy nhiên không có một mối liên kết nào đã được quan sát giữa nguy cơ bị ung thư vú và hoạt động vật lý nơi những phụ nữ hoạt động trong thời kỳ tuổi trẻ. Những mối liên kết này cũng không thay đổi theo những đặc điểm của khối u. Có thể các phụ nữ nhớ lại chính xác hơn hoạt động mới xảy ra gần đây hơn là quá khứ, các tác giả đã nghĩ như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 16/10/2009)

5/ NGUY CƠ UNG THƯ VÚ : THỊT, TRỨNG GÀ VÀ SỮA ĐƯỢC MINH OAN ?

Người ta nghĩ rằng chế độ ăn uống tây phương được liên kết với nguy cơ bị ung thư vú. Trong khung cảnh của công trình nghiên cứu EPIC (European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition), Valeria Pala và các đồng nghiệp đã quan tâm về mối liên hệ giữa sự tiêu thụ thịt, trứng và các sản phẩm sữa và nguy cơ bị ung thư vú.

Giữa năm 1992 và 2003, các thông tin về chế độ ăn uống của 319.826 phụ nữ đã được thu thập. Trong khoảng thời gian theo dõi trung bình 8,8 năm, 7.190 ung thư vú đã được chẩn đoán. Không có một sự liên hệ vững chắc nào đã được tìm thấy giữa nguy cơ ung thu vú và sự tiêu thụ của các thức ăn được khảo sát. Thịt được chế biến công nghiệp được liên kết với một gia tăng khiêm tốn của nguy cơ này.

“ Chúng tôi đã không nhận diện việc tiêu thụ thịt, trứng hay các phẩm sữa như là những yếu tố nguy cơ vững chắc của ung thư vú. Những nghiên cứu khác sẽ nghiên cứu vai trò khả dĩ của việc nấu thịt đỏ ở nhiệt độ cao trong bệnh này ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)

6/ ASPIRINE LÀM GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG DO UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG.

Nơi những bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng, uống mỗi ngày một viên aspirine làm giảm nguy cơ tử vong (dưới 29% những nguy cơ chết vì ung thư này và dưới 21% vì những nguyên nhân khác). Đó là điều được rút ra từ công trình nghiên cứu được thực hiện bắt đầu từ năm 1981 bởi Andrew Chan và các đồng nghiệp của Massachusetts General Hospital de Boston, nơi 1.300 bệnh nhân bị ung thư đại-trực tràng, mà một nửa những bệnh nhân này đã thêm aspirine vào toa đơn thuốc hàng ngày của họ. Những lợi ích của aspirine trong bệnh lý này được giải thích bởi tác dụng ức chế của nó lên enzyme COX-2, chịu trách nhiệm phản ứng viêm và sự tăng sinh của các tê bào. Mặc dầu tác dụng được xác nhận này, aspirine chẳng được khuyến nghị bao nhiêu trong mục đích phòng ngừa bởi vì các tác dụng phụ của nó : kích thích dạ dày ruột và chảy máu tiêu hóa. Mặt khác, tất cả các bệnh nhân không sản xuất COX-2 với lượng đủ lớn để nhạy cảm với tác dụng của aspirine.
(SCIENCE ET VIE 10/2009)

7/ CÁC THUỐC MỚI : NHỮNG NGUY CƠ CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC CỦA NHỮNG TÁC DỤNG CÓ HẠI.

Christian Lajoux, chủ tịch các Xí nghiệm dược phẩm, giải thích về sự tính toán của tương quan các lợi ích/các nguy cơ.

Hỏi : Mới đây, việc rút Di-Antalvic, thuốc chống đau được sử dụng từ 40 năm nay, đã gây nên nhiều nghi vấn. Lý do tại sao ?
Christian Lajoux : Dự án rút đã được quyết định bởi Cơ quan dược phẩm châu Âu. Cơ quan này đã thống kê được một số trường hợp tự tử nào đó do thuốc được dùng với liều lượng rất mạnh (nhất là ở Anh và Thụy điển). Sau khi đã đánh giá lại tương quan lợi ích/nguy cơ của Di-Antalvic, Cơ quan dược phẩm châu Âu đã cho rằng trong trường hợp cần thiết, ta có thể thay thế nó bởi paracétamol hay tramadol. Cơ quan an toàn y tế của các sản phẩm y tế Pháp, vì đã không chứng thực những tác dụng phụ đang kể, nên đã vẫn dè dặt về lập trường này, nhưng rồi cũng sẽ bắt buộc phải tuân theo.

Hỏi : Làm sao ông có thể giải thích rằng người ta có thể rút một thứ thuốc nhiều năm sau khi đã được thương mãi hóa ?
Christian Lajoux : Thuốc không phải là một sản phẩm như những sản phẩm khác. Đó là một chất thực hiện một tác dụng một cách tự động lên cơ thể. Không có những thứ thuốc hoàn toàn vô hại. Mỗi dược phẩm nhận được giấy phép đưa ra thị trường (AMM : autorisation de mise sur le marché) sau khi đã được đánh giá, trong đó những lợi ích (bénéfices) phải vượt xa nhiều các nguy cơ (risques). Sau đó, mặc dầu đã được thương mại hóa, thuốc tiếp tục là đối tượng của những kiểm tra đều đặn bởi giới hữu trách y tế. Vậy có thể rằng, suốt trong thời kỳ đánh giá lại trên một số lượng dân chúng rộng lớn hơn, xuất hiện những tác dụng phụ, vốn đã không xảy ra trong những nghiên cứu lâm sàng hay những năm sử dụng đầu tiên. Mỗi người bệnh có những phản ứng cá thể đối với điều trị của mình. Người ta rút ra khỏi thị trường 3 thứ thuốc mỗi năm trên 8000 loại thuốc, đó là rất ít !

Hỏi : Đối với các phòng bào chế, những hậu quả của một sự rút ra khỏi thị trường như vậy là gì ?
Christian Lajoux : Chúng thuộc nhiều loại. 1. Việc rút thuốc ra khỏi thị trường thể hiện sự thất bại của một phòng bào chế đối với mục tiêu điều trị một căn bệnh. 2. Việc thu hồi này mang lại sự mất trắng doanh thu. Các phòng bào chế đầu tư rất nhiều trong các nghiên cứu để chế tạo một loại thuốc. Do đó họ chờ đợi một sự đáp lại trên đầu tư của họ do sự thương mại hóa của dược phẩm, để có thể tái đầu tư vào những dự án khác. Trung bình cần khoảng 12 năm công trình và khoảng 800 triệu euro để hiệu chính một thứ thuốc !

Hỏi : Một protocole hiệu chính cổ điển diễn biến như thế nào ?
Christian Lajoux : Nó gồm có nhiều giai đoạn.
  • Dược học thí nghiệm (pharmacologie expérimentale) cho phép đánh giá tính hiệu quả của các thuốc trong phòng thí nghiệm.

  • Độc chất học (toxicologie) được thực hiện nơi động vật nhằm nghiên cứu những nguy cơ bị tác dụng phụ.

  • Vẫn ở động vật, dược động học (pharmacocinétique) phân tích hiệu quả thật sự của thuốc.

  • Giai đoạn nghiên cứu lâm sàng ở người có thể bắt đầu ngay khi sự hiểu biết về mối tương quan các lợi ích/các nguy cơ được đầy đủ.

Hỏi : Làm sao tuyển mộ những người tình nguyện cho giai đoạn cuối này ?
Christian Lajoux : Đó thường là những bệnh nhân được điều trị trong một khoa của bệnh viện đồng ý tham gia vào giai đoạn nghiên cứu lâm sàng. Người ta luôn luôn bắt đầu những nghiên cứu này trên một nhóm nhỏ các bệnh nhân và với những liều lượng tối thiểu.

Hỏi : Thời gian lùi lại cần thiết để đảm bảo về tính hiệu quả và tính vô hại của một điều trị.
Christian Lajoux : Trong vòng ít nhất 5 năm, phải đã thực hiện những nghiên cứu quốc tế trên nhiều ngàn bệnh nhân. Những công trình nghiên cứu này cần những đánh giá thống kê nghiêm chỉnh, đều đặn, được kiểm soát bởi giới hữu trách y tế. Mỗi công trình cần ý kiến thuận lợi của nhiều ủy ban đạo đức (comité d’éthique).

Hỏi : Trong trường hợp nào, ta chấp nhận những tác dụng phụ quan trọng ?
Christian Lajoux : Đối với vài bệnh nghiêm trọng có liên quan về tiên lượng và không có những thuốc khác để điều trị bệnh này. Chính luôn luôn mối tương quan giữa các lợi ích/ nguy cơ xác định quyết định..

Hỏi : Phải nhiều năm để hiệu chính một loại thuốc...Đối với vaccin chống cúm A người ta đã dùng ít thời gian hơn nhiều !
Christian Lajoux : Một vaccin phòng ngừa không phải là một thứ thuốc như những thứ thuốc khác : mục đích của nó chỉ là tăng cường các phòng vệ miễn dịch. Và sự hiệu chính nó nhanh chóng hơn sự hiệu chính của một thứ thuốc cổ điển. Một khi chủng virus đã được nhận diện bởi OMS và được chuyển giao cho các nhà chế tạo, phải cần vài tháng để phát triển vaccin. Nhưng trước khi thương mãi hóa nó, phải thực hiện những thử nghiệm về tính hiệu quả và độ dung nạp nơi các bệnh nhân. Ưu điểm mà chúng ta có đối với H1N1 là virus này rất tương cận với các virus cúm khác.

Hỏi : Tại sao, đôi khi một loại thuốc được cho phép bán ở Hoa Kỳ mà không được cho phép bán ở Châu Âu ?
Christian Lajoux : Những tình huống này rất hiếm hoi bởi vì những tiêu chuẩn đánh giá rất giống nhau. Cái điều khiến FDA (Food and Drug Administration) hay giới hữu trách y tế châu Âu từ chối một loại thuốc, đó là sự nhận thức riêng của họ về mối tương quan giữa các lợi ích và các nguy cơ. Các người Mỹ rất nhạy cảm với các tác dụng phụ tim mạch, còn những người châu Âu thì rất nhạy cảm với các tác dụng phụ của hệ thần kinh trung ương. Điều này giải thích sự khác nhau trong việc cấp vài giấy phép. Nhưng sau vài tháng các cơ quan này lại đồng ý với nhau.
[color](PARIS MATCH 17/9-23/9/2009) [/color]

[color="blue"]8/ CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ CÁC KEM CHỐNG BẤT LỰC ?[/color]

Các kem chống lại bệnh bất lực sẽ có hiệu quả nhanh chóng lúc áp tại chỗ mà không gây ra những tác dụng phụ của các loại thuốc.

SEXUALITE. Hàng triệu người sử dụng Viagra và các chất tương tự (Sialis, Levitra) có lẽ sẽ bằng lòng khi hay tin rằng một phương pháp galénique mới đã được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu của Albert Einstein College of Medicine của đại học Yeshiva (Hoa Kỳ) để cải thiện các hiệu năng của các loại thuốc được ưa thích của họ nhằm chống lại bệnh bất lực, đồng thời tránh những tác dụng phụ không được mong muốn.

Các nhà nghiên cứu mô tả những cải tiến dược lý trong ấn bản vừa qua của Journal of Sexual Medicine (18/9/2009) : đó là những nanoparticule, nghĩa là những bọt nhỏ xíu (minuscules bulles), lớn bằng các hạt phấn hoa và có khả năng mang những lượng nhỏ các hoạt chất chống lại bệnh bất lực nam giới, dầu đó là monoxyde d’azote, Viagra hay Cialis.

Đặc biệt, đó là điều trị tại chỗ không xâm nhập đầu tiên chống lại chứng bất lực : nghĩa là một kem hay pommade được áp lên dương vật, và các nanoparticule đi qua hàng rào da. Sau đó các nanoparticule này sẽ đi trực tiếp vào các thể hang (corps caverneux) và các mạch máu. Ở đó, các hoạt chất được phóng thích bởi các nanoparticule và chúng sẽ, bằng cách ngăn cản vài enzyme, làm dễ sự giãn các mạch máu trong lúc kích thích tình dục.

Trước hết được trắc nghiệm thành công trên khoảng 20 động vật gặm nhấm vốn có một loạn năng cương (dysfonction érectile) (bất lực : impuissance) thực nghiệm, hệ thống mới có thể tránh nơi người đàn ông những tác dụng phụ thông thường của những dược phẩm này, mà việc sử dụng càng ngày càng thông thường. Những người sử dụng kêu van đỏ mặt (flushing), đau đầu xảy ra thường xuyên, hiếm hơn là choáng váng, rối loạn cảm giác thị giác về màu sắc hay nhạy cảm ánh sáng (photosensibilité) gia tăng. Những trường hợp rối loạn thị giác nhiều giờ đã được ghi nhận, và những cương cứng quá mức và đau đớn (priapisme) trong trường hợp quá liều.

Ngoài ra, những viên thuốc của lớp thuốc này bị chống chỉ định nơi những người bệnh tim hay những người suy động mạch vành dùng các dẫn xuất nitré hay những chất phóng thích monoxyde d’azote (đặc biệt là những thuốc mà chất cơ bản là nitroglycérine). Uống những viên thuốc Viagra đồng thời với các thứ thuốc này có thể làm tăng cường một cách nguy hiểm tác dụng của chúng, gây nên giảm huyết áp hay truy tuần hoàn.

[color="red"]KHÔNG CÓ ĐỘC TÍNH.[/color]

Nhưng không phải chỉ có thế : “ Giữa 30 và 50% các bệnh nhân bị loạn năng cương không đáp ứng khi uống các thuốc này ”, một trong các tác giả của công trình nghiên cứu, BS Kelvin Davies, thầy thuốc chuyên khoa niệu ở bệnh viện Albert Einstein, đã đánh giá như vậy. Mãi đến nay, các kem hay pommade cổ điển có chất cơ bản Viagra đã không tỏ ra có hiệu quả lắm.

Nhưng không phải như vậy đối với kem thực nghiệm có nanoparticules này, đã được trắc nghiệm trên 3 nhóm động vật gặm nhấm. Một nhóm đã nhận những nanoparticules chỉ chứa monoxyde d’azote (NO), nhóm thứ hai nhận một hỗn hợp NO và một thứ thuốc chống bất lực (sialorphine), và nhóm thứ ba nhận Cialis (thuốc cạnh tranh của Viagra). Tất cả các con chuột của nhóm thứ hai và thứ ba đã cải thiện chức năng cương trong vài phút sau khi áp thuốc tại chỗ. Trong khi đó các viên thuốc Viagra hay Cialis có thể cần 30 phút đến 1 giờ để cho hiệu quả. Những khám xét các mô bia (tissus cibles) của các động vật bị hy sinh đã không cho thấy những dấu hiệu viêm hay độc hại đáng nghi ngờ.

Trong những tháng đến, nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ sẽ theo đuổi những công trình nghiên cứu trên động vật để xác định profil an toàn và những liều lượng có hiệu quả của những kem chống bất lực này. Nếu những nghiên cứu này cho những kết quả dương tính, các thử nghiệm lâm sàng trên người sẽ được lên chương trình, nhưng phải còn nhiều năm nữa. Các nhà nghiên cứu nhắc lại rằng giữa bằng cớ khái niệm trên động vật và việc cho phép một thứ thuốc trên người thường phải cần khoảng một chục năm. Vậy những người tình nguyện tương lai sẽ còn phải kiên nhẫn trông chờ.
[color="red"] (LE FIGARO 22/9/2009) [/color]

[color="blue"]9/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO NHƯỜNG BƯỚC TRƯỚC MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI.[/color]

Tin rất tốt lành : một điều trị mới của tai biến mạch máu não cho phép mang lại 93% tỷ lệ chữa lành so với 39% với điều trị cổ điển. Đó là kết luận của nhóm nghiên cứu của khoa thần kinh của bệnh viện Bichat (Paris), được điều khiển bởi giáo sư Pierre Amarenco.Tai biến mạch máu não là do một động mạch não bị gây tắc nghẽn bởi một cục máu đông, dẫn đến bại liệt, mất ngôn ngữ (aphasia), mất thị giác, thậm chí tử vong trong 20% các trường hợp. “ Phương pháp của chúng tôi liên kết điều trị cổ điển (tiêm truyền tĩnh mạch alteplase, một thuốc làm tan cục máu đông động mạch) với tiêm alteplase đến tiếp xúc trực tiếp với cục máu đông, Pierre Amarenco đã giải thích như vậy. Chúng tôi thao tác nhờ một catheter bé xíu, được chúng tôi đưa qua động mạch chủ lên đến não bộ. ” Và nếu điều đó không đủ : “ Chúng tôi bắt lấy cục máu đông với một dây thòng lọng bé xíu (microlasso) được đưa vào trong catheter. ”

Công trình nghiên cứu, được mệnh danh là Recanalise, đã so sánh một nhóm 53 bệnh nhân được điều trị bằng thủ thuật này với một nhóm 107 bệnh nhận được điều trị bằng phương pháp cổ điển. 60% các bệnh nhân thuộc nhóm thứ nhất được chữa lành tức thời (93% nếu can thiệp đã xảy ra dưới 3 giờ rưởi sau tai biến mạch máu não) so với 39% trong nhóm thứ hai. Một công trình nghiên cứu lớn, được tài trợ bởi NIH (Instituts nationaux de la santé) Hoa Kỳ, sẽ đánh giá đến 900 bệnh nhân được điều trị với phương pháp cổ điển hay phương pháp mới. “ Thách thức lớn, Pierre Amarengo nhấn mạnh, là có một đội ngũ được đào tạo và được huy động tốt, và một lực lượng hậu cần thường trực 24 giờ/24, điều này không phải luôn luôn là hiển nhiện. ”
[color="red"](SCIENCES ET AVENIR 10/2009) [/color]

[color="blue"]10/ LOẠN NĂNG CƯƠNG CỦA ĐÀN ÔNG CÓ ĐÚNG LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH ? [/color]

Loạn năng cương (dysfonction érectile) là sự không có thể thường trực (hay ít nhất rất thường xảy ra) có được một sự cương cứng dương vật có hiệu quả và dài lâu (sexe mou). Đó là một thuật ngữ còn tương đối bị cấm kỵ, bởi vì đó là một tình huống mà một người đàn ông khó lòng chấp nhận được. Tuy nhiên chứng loạn năng cương này ảnh hưởng lên hơn 150 triệu người đàn ông trên thế giới, và ngay ở lứa tuổi 40. Tần số mắc bệnh tiếp tục gia tăng do sự lão hóa của dân số, nhưng không phải chỉ có vậy.

Cần minh định rõ: chức năng cương (fonction érectile) của giới tính nam nhằm làm cứng dương vật, được đảm bảo bởi sự làm đầy máu các thể hang và xốp (corps caverneux và spongieux) của dương vật (đúng là những mạch máu xốp ứ máu, éponges vasculaires gorgées de sang), nhờ sự giãn của những động mạch của dương vật. Sự co thắt đồng thời của các cơ ở đáy dương vật đè ép các tĩnh mạch, làm ngăn cản sự tháo xuất máu, và cứ như thế cho đến khi các cơ này được giãn ra. Hiện tượng này nằm dưới sự kiểm soát của thần kinh ngoại biên (các dây thần kinh phát xuất từ tủy sống) và trung tâm (não bộ).

Do đó ta có thể hiểu rằng loạn năng cương (dysfonction érectile) có thể có nhiều nguyên nhân : thần kinh và tâm lý, tiết niệu, do dùng thuốc, nhưng cũng có thể là nguyên nhân huyết quản, hoặc do bất thường của hệ tĩnh mạch, nhưng nhất là động mạch. Điều này giải thích tại sao loan năng cương có thể thường hiện diện trong chứng xơ mỡ động mạch (artériosclérose) nặng và/hoặc kéo dài và tại sao chứng loạn năng này được làm dễ bởi bệnh đái đường, cao huyết áp, dyslipidémie (quá nhiều cholestérol và những chất mỡ xấu khác...), chứng béo phì và thuốc lá. Một công trình nghiên cứu mới đây đã tiết lộ rằng gần 50% những người đàn ông bị loạn năng cương không biết mối liên hệ này.

Do đó nếu các người đàn ông, kêu bị loạn năng cương, có một tần số mắc bệnh tim mạch lớn hơn và ngay cả một tý lệ tử vong cao hơn, và tỷ lệ này càng cao khi bất thường xuất hiện ở một lứa tuổi càng trẻ (trước 50 tuổi), điều này không phải là do loạn năng cương, mà thường do sự hiện diện những bất thường động mạch nghiêm trọng ẩn tàng, thường không được hay biết đến bởi người bệnh và không được nhận thấy bởi thầy thuốc của anh ta bởi vì còn ít triệu chứng.

Do đó để điều trị loạn cương, không phải chỉ giới hạn vào việc nhờ đến viên thuốc màu xanh bé nhỏ (Viagra) và/hoặc tiêm testostérone, đôi khi được kết hợp với sự thăm khám tâm lý và/hoặc một ý kiến của thầy thuốc niệu khoa. Tất cả điều này vả lại có thể hữu ích, nhưng ta cũng phải yêu cầu thầy thuốc gia đình của mình xác lập một bilan tim mạch hoàn chỉnh. Bilan này không chỉ giới hạn vào việc tìm kiếm một cách hệ thống tất cả các yếu tố nguy cơ sẽ phải được điều chỉnh thật sự và dài lâu, mà còn phải bao gồm một bilan kỹ càng về tình trạng của hệ mạch máu và tim.
[color="red"](COEUR ET ARTERES 9/2009, SO 4)[/color]

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/10/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#22 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 01 November 2009 - 06:57 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : OBAMA TUYÊN BỐ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP Y TẾ Ở HOA KỲ.

Virus H1N1 đã giết chết một ngàn người Mỹ và 20.000 người khác đã được nhập viện.

EPIDEMIE. Vào lúc mà mọi người bắt đầu quên những nỗi ám ảnh do sự xuất hiện của cúm A (H1N1) đã gây ra vào mùa xuân vừa qua, lời phát biểu được đưa ra bởi Barack Obama trong một bản tuyên bố được công bố vào hôm thứ bảy 24/10 đã có tác dụng như một gáo nước lạnh. Mặc dầu có khả năng làm hoảng sợ dư luận, tổng thống Hoa Kỳ đã ra sắc lệnh “ khẩn cấp quốc gia ”, tình hình liên quan với sự tiến triển của cúm A và đã ký một nghị quyết nhằm tăng cường các phương tiện cho Bộ trưởng Y tế Kathleen Sibelius, để ngăn chặn dịch bệnh.
Trong khi “ hàng triệu người Mỹ đã bị cúm ”, theo một đánh giá của Trung tâm phòng ngừa bệnh tật, trong khi 20.000 trong số những người này đã phải được nhập viện sau khi đã tiếp xúc với virus và trong khi ngàn người chết vì nó, bản tuyên bố này sẽ cho phép gia tăng khả năng hoạt động của các trung tâm y tế đứng trước sự đổ xô đến của các bệnh nhân.

Từ nay các trung tâm y tế này sẽ có toàn quyền để thiết đặt những cơ cấu cấp cứu mà không phải tuân theo vài yêu cầu của pháp chế liên bang. Thí dụ các bệnh viên sẽ có thể mở các trung tâm tạm thời hay những lều y tế (tentes médicales) gắn liền với các bệnh viện để tiếp nhận các bệnh nhân và cách ly họ với những bệnh nhân khác.

TRONG 46 TIỂU BANG BỊ ẢNH HƯỞNG TRÊN 50, CÁC VACCIN NHỎ GIỌT.

“ Nhờ nhận diện nhanh chóng virus, bằng cách thực thi những biện pháp y tế cộng đồng, bằng cách thông tin những người hành nghề y tế và công chúng và nhờ sự hiệu chính một tiêm chủng có hiệu quả, chúng ta đã áp dụng những biện pháp tích cực để bảo vệ sức khỏe của các công dân của chúng ta ”, tổng thống Hoa Kỳ đã giải thích như thế. Nhưng, “ xét vì sự tiến triển liên tục của đại dịch, chúng ta thực hiện các biện pháp bổ sung ”, ông đã nói thêm như vậy để biện minh cho các quyết định mới của ông.

Trong một công hàm gởi cho Quốc Hội, Obama xác nhận rằng những biên pháp khẩn cấp này đã được thực hiện “ để sẵn sàng cho tình huống có thể xảy ra của một sự gia tăng nhanh chóng các trường hợp trong đất nước, làm tràn ngập các cơ quan y tế ”. Chính phủ mặt khác nhấn mạnh rằng các quyết định này không phải do những diễn biến mới không được dự đoán trước.

Virus H1N1 tiếp tục lan tràn như “ dự kiến ”, theo một viên chức cao cấp , 46 tiểu bang trên 50 đã ghi nhận nhiều bệnh nhân bị mắc phải bệnh cúm. Tại địa phương, dân chúng được thông tin một cách đều đặn về sự hiện diện của những trường hợp mới, tại nơi làm việc hay ở trường học. Theo giám đốc của Các trung tâm liên bang kiểm tra và phòng ngừa các bệnh tật (CDC), BS Thomas Frieden, việc giao quá chậm các vaccin, vũ khí duy nhất có hiệu quả để ngăn chặn đại dịch, ưu tiên nhằm vào các thanh niên và trẻ em, là nguyên nhân của sự tiến triển không có triệu chứng này. “ Chúng ta từ nay ở trong một thời kỳ mà sự gia tăng số lượng các vaccin H1N1 sẵn sàng để sử dụng quả là quá chậm ”, ông đã phàn nàn như thế. Chính phủ liên bang khởi đầu đã dự kiến rằng khoảng 120 triệu liều vaccin sẽ sẵn sàng vào cuối tháng 10, nhưng các trung tâm ngăn ngừa các bệnh tật đã tuyên bố rằng số các vaccin sẽ chỉ đạt được khoảng 30 triệu liều vào thời hạn này, và chỉ 65 triệu vào cuối tháng 11 thay vì 200 triệu được dự kiến.
(LE FIGARO 26/10/2009)

2/ MỘT VACCIN H1N1 XỊT MŨI Ở HOA KỲ.

Được sản xuất từ virus được làm giảm độc lực, FluMist đã được chấp nhận ở Hoa Kỳ nhưng đã không được cho phép ở Châu Âu.

PANDEMIE. FluMist hiện nay là vaccin chống cúm A mà người ta nói đến nhiều nhất ở Hoa Kỳ. Sự tiêm chủng đã bắt đầu ở Hoa Kỳ vào đầu tháng 10 và vaccin này đã làm lu mở các vaccin cạnh tranh nó. Tại sao ? Bởi vì đó là vaccin duy nhất được cho dưới dạng xịt vào mũi (spray nasal). Những vaccin khác được tiêm bằng đường mông. Kết quả, người ta thấy vaccin dạng xịt mũi này khắp nơi, ở đài truyền hình và trong báo chí. “ Tất cả những gì cho phép việc tiêm chủng được chấp nhận tốt hơn bởi dân chúng là một điều tốt. Vaccin xịt mũi không phải là một bách dược nhưng là một hướng đáng lưu ý trong các thuốc chống cúm ”, Bruno Lina, giám đốc Trung tâm cúm quốc gia ở Lyon đã công nhận như vậy.

40 TRIỆU LIỀU

Được sản xuất ở Phildelphie bởi hãng sinh kỹ thuật Medimmune (được mua lại năm 2007 bởi phòng bào chế AstraZeneca), Flumist là thuốc đầu tiên sẵn sàng để được phân phát ở Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã dự kiến, theo những tiên đoán mới nhất, chủng cho một nửa dân số. Tính đến nay, chính phủ Mỹ đã đặt hàng 25 triệu liều vaccin chống H1N1 nơi năm hãng bào chế : AstraZeneca (MedImmune), CSL, GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi-Aventis. Riêng hãng MedImmune sẽ cung cấp 40 triệu liều. Đơn đặt hàng đã được thực hiện trong khi các vaccin theo dự kiến phải được cho hai liều cách nhau 3 tuần. Hôm nay, CDC khuyến nghị một liều duy nhất, ngoại trừ đối với các trẻ em dưới 9 tuổi.

Vaccin xịt mũi (vaccin par spray nasal) không phải là mới ở Hoa Kỳ. Nó đã được cho phép bởi FDA vào năm 2003 để chống lại cúm mùa. Vào ngày 15/9 vừa qua, nó đã được chấp nhận để chống lại virus H1N1 đối với những người mạnh khỏe, tuổi từ 2 đến 49 tuổi. Nó đảm bảo một khả năng bảo vệ 93% cao hơn một placebo nơi các trẻ em từ 15 tháng đến 7 tuổi.

Tính chất độc đáo của FluMist không chỉ giới hạn ở cách cho thuốc bằng đường mũi. Trái với các vaccin cạnh tranh nó tất cả đều được sản xuất từ virus được làm bất hoạt (bị giết chết), FluMist được phát triển từ các vaccin sống được làm giảm độc lực, do đó có một tên khác LAIV (Live Attenuated Influenza Vaccine). Mặt khác, chính vì lý do này mà nó có thể gây nên viêm mũi, đau đầu hay nôn mửa nơi các trẻ em và những hội chứng cúm “ nhỏ ” nơi người.

Giới hữu trách y tế châu Âu đã không muốn cho phép lưu hành FluMist mặc dầu dạng vaccin này dễ được chấp nhận bởi dân chúng. Nó đặt ra “ những vấn đề về an toàn virus, đặc biệt là đối với tính ổn định của các giống gốc ”, ta có thể đọc thấy như thế trong La Grippe en face, một tác phẩm tập thể, được công bố bởi nhà xuất bản Xavier Montauban. “ Virus đã được làm giảm độc lực bằng một loạt các biến dị nhưng nhà chế tạo ra nó đã không cho chúng ta những bảo đảm đầy đủ về tính ổn định của những biến dị này ”, Bruno Lina đã xác nhận như vậy.

CDC (Trung tâm kiểm soát bệnh tật) đã đưa ra những hạn chế đối sự sử dụng FluMist. Thí dụ những người tiếp xúc với những người bị suy giảm miễn dịch nặng không được tiêm chủng bằng FluMist, cũng như nhân viên bệnh viện. Thật vậy những người này có thể truyền bệnh cúm cho các bệnh nhân. Cũng cùng hạn chế đối với các phụ nữ có thai, những trẻ em dưới 2 tuổi, những người bị hen phế quản, những người có những bệnh tim hay những vấn đề hô hấp cũng như những người bị dị ứng với trứng.

FluMist dễ được chấp nhận ở Hoa Kỳ cũng do sự kiện là, trái với những vaccin H1N1 khác, vaccin xịt mũi này không chứa thiomersal, một hợp chất thủy ngân làm dễ sự bảo quản thuốc. “ Không bao giờ có vấn đề độc tính đối với vaccin này ”, Bruno Lina đã phát biểu như vậy.

Chẳng bao lâu nữa ở Châu Âu sẽ có những vaccin xịt mũi được sản xuất từ các virus bị làm bất hoạt ? Có lẽ không. Những trắc nghiệm mới đây ở Thụy Sĩ đã cho thấy những tác dụng phụ đáng lo ngại : nhiều người đã bị bại liệt mặt gây nên bởi một trong các chất bổ trợ (adjuvants).
(LE FIGARO 21/10/2009)

3/ VACCIN : HAI MŨI TIÊM Ở CHÂU ÂU, 1 MŨI TIÊM Ở HOA KỲ.

Cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố hôm thứ sáu rằng cơ quan luôn luôn khuyến nghị rằng 3 vaccin chống cúm A(H1N1), được cho phép trong Liên Hiệp châu Âu, phải được tiêm hai liều mặc dầu các dữ kiện đã cho thấy rằng một liều đơn độc có thể đủ đối với 2 trong 3 vaccin được nói đến. Ủy ban các chuyên gia của Cơ quan dược phẩm châu Âu “ đã quyết định duy trì khuyến nghị được thông qua vào tháng 9, nói rằng, tốt hơn, 3 vaccin này sẽ được cho thành hai mũi, cách nhau ít nhất 3 tháng. ”, cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố như vậy. 3 vaccin được cho phép bởi Liên Hiệp Châu Âu là Focetria của hãng bào chế Thụy Sĩ Novartis, Pandemix của hãng bào chế Gsk (GlaxoSmithKline), cả hai chứa một chất bổ trợ (adjuvant), và Celvapan của hãng Baxter Hoa Kỳ, không chứa chất bổ trợ. Cơ quan Liên Hiệp châu Âu nói thêm rằng “ các dữ kiện có được về Pandemix và Forcetria cho thấy rằng một liều duy nhất có thể đủ nơi những người trưởng thành, nhưng các dữ kiện này còn quá giới hạn nên ủy ban không thể khuyến nghị việc sử dụng đại trà một chương trình tiêm chủng với một mũi tiêm duy nhất ”. Các kết quả của các thử nghiệm điều trị cho thấy rằng dầu vaccin là gì đi nữa, một mũi tiêm cũng đủ đối với những người trên 9 tuổi. Trên cơ sở những dữ kiện này, Trung tâm kiểm tra các bệnh tật (CDC d’Atlanta) ở Hoa Kỳ khuyến nghị rằng một liều duy nhất được thực hiện đối với những người trên 9 tuổi. Theo giáo sư Philippe Lechat (Afssaps), chủ yếu chính sự thiếu các dữ kiện về sự bảo vệ lâu dài chống virus H1N1 đã giải thích việc duy trì một tiêm chủng bằng hai mũi tiêm của cơ quan dược phẩm châu Âu.
(LE FIGARO 26/10/2009)

4/ NGỪA THAI CẤP CỨU : VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) VÀ SAU ĐÓ...

Thuốc ngừa thai cấp cứu phụ nữ, dùng trong 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ, “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain), như Kristina Gemzell (Thụy Điển) đã đặt tên như thế nhân Hội nghị lần thứ 8 của Hiệp hội Phụ Khoa Châu Âu, được dùng để thay thế lévonorgestrel (LNG), điều trị chuẩn cho đến ngày hôm nay, có hiệu quả nhưng với một hoạt tính giảm dần trong 72 giờ. Thật vậy, acétate d’ulipristal (UPA) có nhiều ưu điểm : an toàn hơn lévonorgestrel, thuốc ngừa thai mới này ngăn cản một cách hoàn toàn hơn sự rụng trứng và chỉ có ít các tác dụng phụ.

Acétate d’ulipristal (UPA), chất điều biến chọn lọc (modulateur sélectif) của các thụ thể của progestérone, hoạt tính bằng đường miệng, tác dụng bằng cách liên kết với một ái lực rất mạnh với các thụ thể của progestérone người. Cơ chế tác dụng nguyên phát có thể là một sự ức chế hay một sự làm chậm lại sự rụng trứng. Sau khi cho bằng đường miệng một liều duy nhất 30 mg, UPA nhanh chóng được hấp thụ và đỉnh cao nồng độ huyết thanh đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống, đồng thời có một thời gia bán hủy dài (32,4 giờ), góp phần duy trì một hoạt tính không thay đổi trong 120 giờ.

Sự ngừa thai cấp cứu bằng hormone, được sử dụng cho đến nay (1,5 mg lévonorgestrel), thường được gọi là “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau ” (pilule du lendemain), có hiệu quả giảm một cách đáng kể ngay ngày thứ ba (giữa 48 và 72 giờ chỉ còn 58% hiệu quả).

Những công trình nghiên cứu lâm sàng được tiến hành với UPA, ở Bắc Mỹ và châu Âu, nơi hơn 4.000 phụ nữ, đã cho thấy một hiệu quả tăng cao khoảng 95%. Hiệu quả này không thay đổi suốt trong 5 ngày, đúng đắn với thời gian sống còn của một tinh trùng trong tử cung, trái với điều đã được quan sát lúc sử dụng LNG (lévonorgestrel) (hoạt động 72 giờ, giảm với thời gian từ 95% đến 58% giữa 0-24 giờ và 48-72 giờ). UPA có một độ dung nạp tốt, có thể so sánh với lévonogestrel.

THỰC TIỄN.
  • Uống một viên thuốc trong 120 giờ (5 ngày) theo sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ.

  • UPA vẫn rất hiệu quả cho đến ngày thứ 5 sau một giao hợp không được bảo vệ.

  • Thuốc có thể được uống vào bất cứ lúc nào của chu kỳ kinh nguyệt.

  • Một thai nghén phải được loại trừ trước khi dùng thuốc.

  • Không nên cho bú trong suốt 36 giờ sau khi uống UPA, do tính chất thích mỡ của thuốc.

  • Trong trường hợp mửa trong 3 giờ sau khi uống, phải uống một viên thứ hai.

  • Hầu hết các phụ nữ (80,8%) có kinh vào lúc được dự kiến hay trong thời hạn 7 ngày quanh thời kỳ này (6,1% có kinh 7 ngày sớm hơn và 13,1% 7 ngày chậm hơn). Tuy nhiên, nếu lévonorgestrel (LNG) làm ngắn chu kỳ 2,1 ngày, UPA trung bình kéo dài nó 2,6 ngày.

  • Không có một thay đổi đáng kể nào đã được nhận thấy về thời gian và lưu lượng của kinh kỳ.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/10/2009)

Đọc thêm :

5/ VÕNG CHỐNG BỆNH SỐT RÉT.

Các chiếc võng, tẩm thuốc diệt côn trùng có tác dụng kéo dài, có thể giúp góp phần kiểm soát bệnh sốt rét trong những vùng mà thuốc men thường dùng chỉ có một tác dụng yếu kém. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu, được thực hiện ở Việt nam bởi Ngô Đức Thắng, vừa bảo vệ luận án doctorat ở Viện Y Khoa Nhiệt Đới Anvers.

Trong vài vùng của Việt Nam, nhất là ở biên giới với Lào và Cambodge và vùng trung nguyên miền núi, bệnh sốt rét vẫn là một bệnh quan trọng. Những vùng xa xôi này được định cư bởi các dân tộc thiểu số, theo truyền thống sống trong rừng. “ Vecteur chủ yếu của ký sinh trùng sốt rét trong những vùng này, muỗi Anopheles dirus ss, rất ưa thích các khu rừng...và người, Ngô Đức Thắng đã giải thích như vậy. Muỗi Anopheles sống và chích ở ngoài các ngôi nhà ở, và nhất là trong ngày, khi người dân không ở trên giường. Điều này muốn nói rằng những chiếc mùng, tẩm hay không các chất diệt côn trùng, không được hữu ích lắm trong các vùng này.”

Tìm kiếm các công cụ kiểm soát mới, đáp ứng tốt hơn theo tình thế, Thắng và nhóm nghiên cứu đã trắc nghiệm tính hiệu quả của các chiếc võng tẩm các thuốc diệt côn trùng có tác dụng kéo dài. Họ đã tiến hành công cuộc nghiên cứu trong một trong những vùng bị ảnh hưởng nhất bởi bệnh sốt rét. “ Làm việc trong rừng, sự sử dụng mùng màn, sự thuộc vào một sắc tộc, tuổi tác và trình độ học vấn là những yếu tố đã được tính đến, nhưng nguy cơ quan trọng nhất dường như là sự nghèo nàn ”, nhà nghiên cứu đã nêu lên như vậy.

LÀM GIẢM GẤP ĐÔI.

Dân chúng được chia thành 20 nhóm, mỗi nhóm có 1.000 người. Các nhà nghiên cứu đã phân phát cho những người này các chiếc võng có tẩm hay không thuốc diệt trùng. Sau hai năm theo dõi, họ đã có thể xác định, nhờ các trung tâm y tế và những người công tác y tế trong làng, số những trường hợp bệnh sốt rét mới : số các trường hợp mới giảm từ 26 xuống 12 trên 1000 người trong nhóm “ võng có tẩm thuốc diệt côn trùng ”. Tổng số các trường hợp sốt rét trong dân chúng đã hạ từ 13,6% xuống 4%. “ Điều nổi bật, đó là những trường hợp mới đã hạ hai lần nhiều hơn trong nhóm sử dụng các chiếc võng được tẩm thước diệt côn trùng. Tác dụng đã cho phép phòng ngừa khoảng 10 trường hợp sốt rét trên 1000 dân. Trong những vùng bị nhiễm nặng nhất, trung bình lợi được ba lần nhiều hơn.”
(LE JOURNAL DU MEDEIN 13/10/2009)

6/ RỐI LOẠN NHỊP TIM : MỘT ĐIỀU TRỊ RẤT HỨA HẸN.

GS Michel Desnos, trưởng khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, giải thích tiến bộ đạt được với dabigatran để điều trị các rung nhĩ.

Hỏi : Các triệu chứng của rung nhĩ (fibrillation auriculaire) là gi ?
G.S Michel Desnos : Đó là loạn nhịp tim thông thường nhất (1-2% dân số sau 50 tuổi) và gia tăng với tuổi tác. Những triệu chứng đầu tiên được thể hiện bởi hồi hộp, khó ở, những bệnh này cũng có thể tiến triển không có triệu chứng và được khám phá bởi một mạch và tim không đều.

Hỏi : Không được điều trị, sẽ có những nguy cơ nào ?
G.S Michel Desnos : Có hai nguy cơ chính. 1. Rung nhĩ làm dễ sự tạo thành của các cục máu đông trong tim. Các cục máu đông này có thể di chuyển lên não bộ và gây nên tai biến mạch máu não. Chúng cũng có thể di chuyển đến một chi, làm bít tac động mạch và gây nên một thiếu máu cục bộ (ischémie), với đau đớn dữ dội. Không điều trị, mối nguy hiểm là hoại thư (gangrène). 2. Rung thất ảnh hưởng chức năng vận động của tim, có thể gây nên suy tim với khó thở. Nếu không điều trị, người ta sợ tai biến tim chết người.

Hỏi : Đến nay, người ta điều trị như thế nào những người bị rung nhĩ ?
G.S Michel Desnos : Về nguy cơ do các cục máu đông, ta dùng các thuốc kháng đông bằng đường miệng (các anti-vitamine K, như coumadine), rất có hiệu quả. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu quan trọng và không có thể dùng những thứ thuốc này, ta cho aspirine với liều lượng thấp mỗi ngày. Mục đích của hai điều trị này là làm loãng máu, do đó làm giảm các nguy cơ gây nên những biến chứng của rung nhĩ, đặc biệt là các tai biến mạch máu não. Bên cạnh các điều trị kháng đông, các thứ thuốc chống loạn nhịp, khử rung (cardioversion) hay thủ thuật cắt bỏ (ablation) có thể tỏ ra cần thiết.

Hỏi : Những kết quả có được với điều trị hiện nay là gì ?
G.S Michel Desnos : Các anti-vitamine K cho phép làm giảm các tai biến mạch máu não hơn 60%, nhưng với cái giá của một sự gia tăng các tai biến xuất huyết (trong đó có xuất huyết não). Bất tiện khác : điều trị này không dễ sử dụng trong đời sống hàng ngày bởi vì nó đòi hỏi phân tích máu đều đặn.

Hỏi : Tác dụng của điều trị mới đối với các bệnh rung nhĩ này là gì ?
G.S Michel Desnos : Dabigatran đã xuất hiện trên thị trường châu Âu vào tháng 10 năm 2008. Nhưng mãi đến nay, nó chỉ được thương mãi hóa duy nhất để tránh các cục máu đông trong các tĩnh mạch nơi những người được mổ để đặt khớp gối hay khớp háng giả. Những can thiệp này cần nằm bất động trên giường, điều này làm dễ sự xuất hiện các viêm tĩnh mạch (phlébites). Dabigatran, một chất ức chế trực tiếp thrombine (một yếu tố đông máu), phong tỏa sự tạo thành của các cục máu đông. Thuốc được cho bằng đường miệng và không cần theo dõi bằng xét nghiệm máu.

Hỏi : Những kết quả của các công trình nghiên cứu đã được thực hiện là gì ?
G.S Michel Desnos : Vào lúc công trình nghiên cứu quốc tế (RELY) trên 18.000 bệnh nhân, người ta đã so sánh các kết quả thu được với điều trị cổ điển bằng coumadine với các kết quả được ghi nhận với dabigatran. Thử nghiệm đã được thực hiện với hai liều lượng khác nhau của thuốc mới : một nhóm bệnh nhân đã nhận dabidatran 150 mg hai lần mỗi ngày ; một nhóm khác, 110 mg, cũng hai lần mỗi ngày. Dabigatran được cho với liều lượng cao làm giảm tai biến mạch máu não nhiều hơn là điều trị cổ điển bằng coumadine, với một nguy cơ xuất huyết tương tự. Với liều lượng thấp hơn, dabigatran tỏ ra cũng hiệu quả như coumadine trong việc ngăn ngừa tai biến mạch máu não với ít xuất huyết hơn.

Hỏi : Khi nào ta có thể sử dụng điều trị này đối với rung nhĩ. ?
G.S Michel Desnos : Chúng ta hy vọng sẽ nhận giấy phép cho lưu hành trên thị trường trong những tháng sắp đến.

Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của dabigatran là gì ?
G.S Michel Desnos : 1. Không phải theo dõi, dầu liều lượng cho là bao nhiêu. 2. Với liều lượng thấp, ít nguy cơ xuất huyết hơn. 3. Với liều cao, một hiệu quả lớn hơn để ngăn ngừa các tai biến mạch máu não.
(PARIS MATCH 8/10-1/10/2009)

Đọc thêm :


7/ TÌNH TRẠNG TRI THỨC CỦA VỢ ẢNH HƯỚNG LÊN TUỔI THỌ CỦA CHỒNG.

Những người sống lứa đôi sẽ sống lâu hơn, các công trình trước đây đã tiết lộ như vậy. Công trình nghiên cứu hiện nay, được tiến hành bởi Robert Erikson và Jenny Torssander, lại gợi ý rằng việc chọn lựa người bạn đường cũng có một ảnh hưởng lên tuổi thọ.

Các nhà nghiên cứu Thụy Điển đã căn cứ trên những dữ kiện phát xuất từ 1,5 triệu phụ nữ và đàn ông hoạt động, tuổi từ 30 đến 59 tuổi, sống lứa đôi. Su theo dõi đã kéo dài 10 năm.

Đối với các đàn ông cũng như đối với các phụ nữ, nguy cơ tử vong sau 10 năm cao hơn trong nhóm ít có học vấn nhất và nhóm có lợi tức thấp nhất. Một tình trạng xã hội (statut social) thấp hơn và một nghề nghiệp ít được đánh giá hơn cũng được liên kết với một tý lệ tử vong tăng cao hơn.

Noi những người đàn ông, trình độ tri thức của người vợ mình đóng một vai trò lớn hơn là chính trình độ học vấn của riêng mình : những người đàn ông không học hết trung học có một nguy cơ tử vong trong 10 năm 1,1 lần cao hơn những người đàn ông đã học xong trung học. Trái lại, những người đàn ông sống với một người vợ không đến trường bao nhiêu, có 1,25 nguy cơ cao hơn chết trong quá trình theo dõi, so với những người đàn ông sống với một người vợ có trình độ đại học. Đối với các phụ nữ, mức độ học vấn của riêng họ có ít ảnh hưởng hơn lên nguy cơ tử vong so với tình trạng xã hội của người chồng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/10/2009)

8/ GIẢI PHẪU TẠO HÌNH CƠ QUAN KÍN (CHIRURGIE PLASTIQUE INTIME), CÁI NHÌN MỚI LÊN CÁC PHỤ NỮ.

Phẫu thuật kéo dài và làm lớn dương vật (l’ allongement et l’élargissement péniens), cũng như phẫu thuật làm tăng thể tích vú (augmentaion mammaire), làm giảm bớt nhiều mặc cảm, trong khi việc tạo màng trinh (réfection hyménéale) đáp ứng với những mối lo âu văn hóa và tôn giáo. Nhưng một lãnh vực khác đang gia tăng quy mô một cách kín đáo, chỉ được truyền miệng với nhau : sự cải thiện thẩm mỹ âm đạo và âm hộ.

Bộ phận sinh dục ngoài của tôi có đẹp không ? Câu hỏi này có thể trở thành nỗi ám ảnh đối với các ông lẫn các bà, nhất là nếu điểm so sánh là filmographie pornographique ! Trái với những ưu tư nam giới, thường chỉ thuần về tâm lý, những câu hỏi nữ giới đôi khi lại có căn cứ. Thật vậy, có thể có một sự phì đại rất quan trọng của các mép nhỏ (petites lèvres), làm xáo trộn không những cuộc sống hàng ngày (cọ xát lúc đi bộ hay đi xe đạp, vấy bẩn lúc tiểu tiện) mà cả cuộc sống tình dục (dương vật khó đưa vào) ; trong những tình huống khác, một sự căng quá mức của âm đạo sẽ làm nhiễu loạn sự hài hòa của lứa đôi.

NYMPHOPLASTIE (PHẪU THUẬT TẠO HÌNH CÁC MỐI NHỎ ÂM HỘ), THUẬT NGỮ ĐẸP...

Phải cứu xét một cách nghiêm túc mọi yêu cầu biến đổi thẩm mỹ các cơ quan sinh dục. Các chỉ định là hiếm hoi và sự chấp nhận động tác phẫu thuật phải được suy nghĩ chín chắn. Trên bình diện cơ thể học, nếu các môi nhỏ (petites lèvres), còn được gọi là nymphe (nữ thần sông núi), vượt quá 2cm biên độ, chúng có thể được xem là quá lớn.

Một vài môi nhỏ có thể banh ra 6cm, thực hiện một màng ngăn trong (diaphragme interne), hình cánh bướm. Chống chỉ định phẫu thuật trong trường hợp nhiễm trùng herpes tại chỗ, và dĩ nhiên mọi bất thường tâm lý lúc thăm khám.

HAI PHUƠNG PHÁP.

Phẫu thuật được thực hiện dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát và tiến hành theo hai phương pháp, hoặc là cắt tất cả vùng thặng dư rồi may surjet, hoặc cắt một tam giác có đáy ở sau mà không đụng đến bờ và giữ một dạng vẻ tự nhiên. Cầm máu phải rất tỉ mỉ bởi vì các mạch máu nhỏ có khuynh hướng co rút lại trong các mô và nhanh chóng gây nên những khối máu tụ quan trọng. Một phẫu thuật tạo hình môi âm hộ (labioplastie) bằng laser cũng được thực hiện từ nhiều năm nay. Những môi lớn (grandes lèvres) không phì đại nhưng có thể dày lên. Hút mỡ (liposuccion) tại chỗ khi đó có thể khiến các môi lớn lấy lại dạng vẻ trước đây.

KHÔNG LUYẾN TIẾC ?

Những bilan thỏa mãn có sức thuyết phục mặc dầu hậu phẫu thường đau đớn. Một nghiên cứu Pháp trên 163 bệnh nhân, được phẫu thuật trong một thời kỳ 9 năm, tính được 83% các phụ nữ không hối tiếc mặc dầu chỉ 89% là thỏa mãn kết quả thẩm mỹ. Nếu vẻ đẹp góp phần trong quyết định đối với 87% các trường hợp, sự khó chịu lúc mặc quần áo hay tập thể dục ảnh hưởng lên quyết định của một phụ nữ trên hai, và sự đau lúc giao hợp góp phần vào quyết định trong 43% các trường hợp.Tuổi bệnh nhân nằm trong khoảng 12 và 70 tuổi. Một nhóm nghiên cứu của Atlanta năm 2008 xác nhận rằng những yêu cầu phẫu thuật vì thẩm mỹ chỉ là thiểu số. Thường nhất, các rối loạn chức năng đứng hàng đầu, ngay cả khi chúng thường liên kết với động cơ tạo hình. Những môi nhỏ là những cơ quan sinh dục phồng lên dưới tác dụng của ham muốn, và chứa những cơ quan cảm nhận khoái lạc.Vậy cắt bỏ chúng, nhất là vì những lý do thẩm mỹ là một ý nghĩ bất bình thường. Lý do chính đáng duy nhất phẫu thuật chúng để giảm kích thước, đó là sự vướng víu khó chịu về mặt cơ học và vệ sình. Tuy nhiên phải e sợ rằng các yêu cầu không có động cơ gia tăng khi kỹ thuật sẽ trở nên ít kín mật hơn. Đó là trường hợp xảy ra ở Hoa Kỳ.

PHẪU THUẬT TẠO HÌNH ÂM ĐẠO : KHI ÂM ĐẠO HÉ MIỆNG.

Tùy theo lứa tuổi, người ta ước tính rằng có đến 40% các phụ nữ đã có những phàn nàn về tình dục, bao gồm sự mất dục tính, khô âm đạo, đau lúc giao hợp, giảm nhạy cảm kích dục hay không cảm thấy khoái lạc (anorgasmie). Về vấn đề này, một phàn nàn kín đáo bắt đầu ám ảnh vài phụ nữ, nhất là sau một cuộc sinh đẻ : Phải chăng tôi có âm đạo quá lớn hay quá giãn ? ” Câu hỏi đôi khi được đặt ra bởi người chồng, không còn cảm thấy một cách đầy đủ nữa sức ép của các thành âm đạo. Khoái lạc tình dục của lứa đôi bị ảnh hưởng. Một phẫu thuật điều chỉnh có thể là một phẫu thuật chỉnh hình âm đạo (vaginoplastie) đơn giản : colporraphie latérale làm giảm niêm mạc âm đạo vài mm, hay một colporraphie kết hợp với một périnéoplastie : sửa lại với sự sử dụng các mô chung quanh, các đai cơ, da, dây chằng.
(LE GENERALISTE 10/9/2009)

9/ THUỐC MỚI KỀM HÃM SỰ TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH PARKINSON.

Rasagiline không chỉ chống lại các dấu hiệu mà còn làm chậm lại sự tiến triển của tật nguyền.

NEUROLOGIE.Một thuốc mới mà những thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành nơi người sẽ có một tác dụng trực tiếp lên bệnh Parkinson và không chỉ lên các triệu chứng của nó. Bệnh lý này, gây bệnh cho gần 150.000 người ở Pháp, là do sự thoái hóa , trong bề sâu của các nhân trung ương của não bộ, các nhân “ dopaminergique ”. Sự thoái biến của những neurone này, rất có liên hệ trong những hoạt động vận động, giải thích số các triệu chứng mà các bệnh nhân mắc phải, run rẩy (tremblements), cứng đờ (raideurs), đặc điểm của căn bệnh Parkinson.

Từ năm 1950, một thuốc được tổng hợp từ hai acide aminé rất thường được tìm thấy trong các thảo mộc, L-Dopa và các dẫn xuất của nó, đã biến đổi cuộc sống hàng ngày của nhiều bệnh nhân Parkinson. Khám phá này đã được chào đón bởi giải Nobel y học năm 2000 và hóa học năm 2001. Ngày nay có nhiều dược chất được gọi là “ dopaminergique ” có khả năng phục hồi sự sản xuất dopamine, chất dẫn truyền thần kinh bị cạn đi trong não bộ của các người bệnh.Nhưng không có thứ thuốc nào trong số này có tác dụng lên chính căn bệnh, vì vậy bệnh thường vẫn tiếp tục tiến triển.

Sự khám phá, được công bố bởi một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ-Pháp trong New England Journal of Medicine, đã được thực hiện bởi Olivier Rascol (CHU de Toulouse) và Warren Olanow (Mount Sinai Hospital, New York). Bổ sung một công trình nghiên cứu tương tự được thực hiện về loại thuốc này (rasagiline), thử nghiệm mới này đã được thực hiện trên gần 1.200 bệnh nhân với một quá trình theo dõi 18 tháng, trong 100 trung tâm ở Âu Châu và Hoa Kỳ.

Các nhà nghiên cứu đã chia các bệnh nhân thành nhiều nhóm, vài bệnh nhân được điều trị ngay vào lúc đầu của công trình nghiên cứu, trong suốt 18 tháng, những bệnh nhân khác chỉ được điều trị trong 9 tháng sau cùng. Các bệnh nhân được bốc thăm, một nửa nhận một liều 1 mg/ngày, nửa kia nhận 2mg của thuốc rasagiline, đã được cho phép lưu hành ở Pháp, dưới tên Azilect.

CÁC CƠ CHẾ BÙ TRỪ.

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi tiến triển của các bệnh nhân nhằm đo lường, bằng những trắc nghiệm, sự trầm trọng hóa của bệnh theo thời gian (thật vậy có những échelle de score của bệnh Parkinson, được sử dụng bởi các thầy thuốc thần kinh trên toàn thế giới). Kết quả : các bệnh nhân, dùng liều thấp nhất và sớm nhất, sau 18 tháng, có một score hơi tốt hơn so với những bệnh nhân đã nhận liều này chỉ sau 9 tháng. “ Hiệu quả này đi theo chiều hướng của một biến đổi của tiến triển của bệnh bởi rasagiline, Pierre Pollak (CHU Grenoble) đã đánh giá như vậy. Đó là một công trình nghiên cứu được tiến hành rất tốt, chắc chắn, nhưng như các tác giả đã công nhận, người ta không tìm thấy tác dụng này với liều lượng quan trọng nhất.” Từ nhiều năm nay, trong thần kinh học, một ý tưởng cho rằng các điều trị sớm (và không chỉ với rasagiline) có thể tận dụng những cơ chế bù của bệnh, sẽ không cạn kiệt với thời gian. Nhưng chính các tác giả công nhận rằng với liều lượng rasagiline mạnh nhất (2mg), họ không nhận thấy ưu điểm của điều trị sớm này.
(LE FIGARO 24/9/2009)

10/ SẮT ĐÓNG MỘT VAI TRÒ CHỦ CHỐT TRONG BỆNH PARKINSON.

Mặc dầu còn ít được hiểu rõ, căn bệnh thoái hóa Parkinson ảnh hưởng lên các neurone dopaminergique. Các tế bào thần kinh này tích trữ sắt nhờ một chất được gọi là neuromélanine. Nhưng nhóm nghiên cứu của Kazrn Marcus, thuộc đại học Ruhr, Bochum (Đức), vừa chứng tỏ rằng một yếu tố khác đóng vai trò. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện, ngay bên trong các hạt neuromélanine, sự hiện diện của ferritine, protéine chính có liên quan trong sự tích trữ sắt trong các tế bào khác của thân thể con người. Khám phá này là chủ yếu để hiểu chuyển hóa của sắt trong các neurone, nhất là các nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng dung lượng của sắt trong các neurone dopaminergique gia tăng trong bệnh Parkinson, điều này sản xuất những lượng lớn các gốc tự do (radicaux libres) rất độc hại. Vai trò của ferritine trong sự tích lũy này là gi ? Tại sao sự tích tụ sắt xảy ra ? Hiểu được hiện tượng này có thể gợi ra những cách điều trị mới căn bệnh Parkinson.
(SCIENCE ET VIE 10/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/11/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#23 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 07 November 2009 - 08:09 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147

BS NGUYỄN VĂN THỊNH



1/NHỮNG TIN ĐỒN LÀM KÍCH ĐỘNG MỐI LO SỢ VỀ VACCIN.

Các văn bằng sáng chế khả nghi, các chất bổ trợ nguy hiểm…các vaccin chống cúm A (H1N1) là đối tượng của những cuộc tấn công dối trá hay phóng đại quá mức.

Có lẽ các bạn đã nhận được trong những tuần vừa qua một couriel gây lo ngại về vaccin chống cúm A (H1N1) với một nhan đề gây báo động như “ Chủng ngừa chết người ? ”. Có lẽ các bạn cũng đã nghe nói đến nữ phóng viên người Áo, Jane Burgermeister, đã đưa đơn kiện OMS và Liên Hiệp Quốc về mưu toan giết người hàng loạt ? Theo bà ta, các chính phủ đang cố gắng làm giảm dân số thế giới bằng chiến dịch tiêm chủng được gọi là chết người này..

Những tin đồn này có thể đủ để gieo mối nghi ngờ về chất lượng của các dược phẩm được đề nghị và động cơ thật sự của các quốc gia khi muốn tiêm chủng dân chúng của nước họ.

Hỏi : “ Cúm A (H1N1) là một căn bệnh lai tạp (maladie hybride), được tạo nên bởi các yếu tố của cúm heo, của cúm người và của cúm gia cầm. Được cấu tạo như thế, đó là cái gì hẳn phải xuất phát từ các phòng thí nghiệm. ”
Đáp : Không. Tất cả các bệnh cúm đang lưu hành đều là kết quả của những tái phối hợp giữa nhiều giống gốc có nguồn gốc khác nhau. A (H1N1) không thoát khỏi quy luật đó. Nói chung chúng nảy sinh trong lòng các dân cư đông đúc sống tiếp xúc mật thiết với các động vật, tình huống tạo nên một cái lò (creuset) lý tưởng để nhiều giống gốc gặp nhau, trộn lẫn với nhau và biến dị. Chúng thường phát sinh trong lòng các trại nuôi gia cầm hay heo, như đã là trường hợp đối với A (H1N1).

Hỏi : “ Tiêm chủng ưu tiên các phụ nữ có thai và các trẻ em đúng là bằng cớ rằng người ta muốn tấn công vào những kẻ dễ bị thương tổn nhất.”
Đáp : Chẳng phải chút nào. Lựa chọn ưu tiên này là do việc các trẻ em dưới 2 tuổi và các phụ nữ có thai là yếu ớt hơn đứng trước các virus cúm. Các trẻ em, bởi vì một hệ miễn dịch đang còn chưa được chín mùi. Các phụ nữ có thai bởi vì các phòng vệ miễn dịch về mặt tự nhiên được “ làm ngủ ” để tránh cho cơ thể khỏi phản ứng thải bỏ thai nhi... Tuy nhiên, với A (H1N1) và người ta không hiểu tại sao, tính dễ thương tổn của các phụ nữ có thai dường như lại còn được tỏ rõ hơn thường lệ, theo các con số tỷ lệ tử vong và các dạng nghiêm trọng được ghi nhận trong nam bán cầu. Người ta cho rằng các phụ nữ có thai có nguy cơ bị các biến chứng 4 lần nhiều hơn so với mức trung bình của dân chúng. Cũng thuộc vào diện nguy cơ, những người được ghép cơ quan, những bệnh nhân bị suy giảm hô hấp hay những người mang virus HIV. Cần ghi nhận rằng nếu được tiêm chủng sau 3 tháng thai nghén, một phụ nữ cũng gây miễn dịch cho con mình chống lại virus. Một yếu tố quan trọng vì lẽ nhũ nhi không thể được tiêm chủng.

Hỏi : “ Nếu các thầy thuốc từ chối chủng ngừa, đó là bởi vì vaccin nguy hiểm. ”
Đáp : Trên thực tế, và theo thăm dò mới nhất của MG France (22/9), 55% các thầy thuốc nói sẵn sàng để được chủng ngừa. Đứng trước cúm A (H1N1), vài chuyên gia dịch tễ học thấy 2 lý do giải thích các sự e dè hiện nay : trước nhất, loại cúm này không làm sợ hãi lắm. Thứ hai, ngoài những người già, phần lớn người ta không có thói quen được chủng ngừa chống cúm : mặc dầu tiêm chủng miễn phí, nhưng họ không thấy lý do để thay đổi thái độ. Thật ra, lợi ích của sự tiêm chủng đại trà này đặc biệt là để làm giảm hậu quả kinh tế của căn bệnh có thể làm nằm liệt giường 1/3 dân cư.

Hỏi : “ Aluminium, latex, lipide trích từ gan cá mập…tất cả những chất bổ trợ này được thêm vào thuốc chủng, đó là món canh của quỷ ! ”
Đáp : Trước hết chúng ta hãy nhắc lại vai trò của chất bổ trợ (adjuvant) : làm hoạt hóa hệ miễn dịch khi hệ này gặp vaccin (vaccin chỉ là một dạng vô hại và bất hoạt của virus (kháng nguyên). Điều này cho phép hệ miễn dịch nhận biết một cách hiệu quả hơn virus thật sự và loại bỏ nó nhanh chóng hơn.

Có nhiều cách tác dụng tùy theo các chất bổ trợ. Việc thêm vào chất bổ trợ với những liều lượng cực nhỏ cho phép “ nhữ mồi ” (leurrer) hệ miễn dịch, làm cho nó tin rằng chất bổ trợ là nơi xảy ra một quá trình viêm dữ dội. Khi đó cơ thể phản ứng lại một cách kịch phát và phát động một sự sản xuất ồ ạt các kháng thể càng có hiệu quả hơn để nhận diện kháng nguyên. Thêm các chất bổ trợ cũng cho phép sử dụng ít hơn các kháng nguyên, do đó giảm phí tổn chế tạo và gia tốc sự sản xuất các vaccin. Ở Pháp, cũng sẽ có một công thức vaccin không có chất bổ trợ. Vaccin này được dành ưu tiên cho các phụ nữ có thai vì cần nên tránh kích động hệ miễn dịch nơi đối tượng này.

Hỏi : “ Nguy cơ bị những biến chứng nghiêm trọng phát xuất từ các vaccin chống cúm là lớn hơn nhiều so với nguy cơ do chính bản thân bệnh cúm.”
Đáp : Sai. Trong cán cân các lợi ích/các nguy cơ, không có một thí dụ nào trong đó sự tiêm chủng đã nghiêng về phía xấu. Chiến dịch tiêm chủng năm 1976 chống lại bệnh cúm heo ở Hoa Kỳ thường được nêu lên làm ví dụ bởi những người theo lý thuyết của sự âm mưu (théorie du complot). Được phát động vội vàng bởi tổng thống Gerald Ford nơi 40 triệu người nhằm ngăn chặn một trận dịch đã không bao giờ xảy đến, chiến dịch tiêm chủng đã gây nên gần 400 nạn nhân bị hội chứng Guillain-Barré, một dạng bại liệt. Hoặc một tỷ lệ một trên 100.000 người được tiêm chủng. Thí dụ này là độc nhất. Ngoài ra, con số này phải được so sánh với tỷ lệ tử vong của cúm A (H1N1), được ước tính từ 1/1.000 và 1/10.000…

Hiệu quả của vaccin chống cúm không bao giờ là hoàn toàn cả, đặc biệt trên sự giảm tỷ lệ tử vong (nó chỉ đạt được 20%). Nhưng đứng trước một toàn đại dịch, những nguy cơ phát triển một căn bệnh sau khi được tiêm chủng vẫn luôn luôn vô cùng bé hơn những nguy cơ bị virus khi không được chủng ngừa.

Hỏi : “ Vaccin chống cúm mùa cũng hiệu quả chống virus A (H1N1).”
Đáp : Tin đồn này dựa trên một công trình nghiên cứu Mễ Tây Cơ được công bố trên site Internet của British Medical Journal. Được thực hiện vào đầu trận dịch, công trình nghiên cứu này cho thấy rằng vaccin chống cúm mùa 2008-2009 bảo vệ chống lại những thể bệnh nặng của cúm A (H1N1). Trên thực tế, chính các tác giả vẫn rất thận trọng trong những kết luận của họ. Bởi vì họ căn cứ trên số lượng những người tham dự rất thấp, do đó các kết quả này có thể tạo nên những thiên lệch thống kê.

Hỏi : “ Bằng cớ của sự âm mưu ? Bằng sáng chế của vaccin chống cúm A (H1N1) đã được đệ trình năm 2007, hai năm trước khi dịch bệnh.”
Đáp : Giống gốc H1N1 lưu hành từ lâu rồi. Chính một virus thuộc loại này đã là nguyên nhân của “ cúm Tây Ban Nha ” năm 1918 cũng như của trận dịch năm 1978 và một phần quan trọng của các cúm mùa. Chúng ta hãy nhắc lại rằng Hx và Nx chỉ sự phối hợp của hai phân tử kháng nguyên ở trên bề mặt của virus, không có gì hơn. Có 16 loại phụ (sous-type) H và 9 loại phụ N. Như vậy bệnh cúm hiện nay chỉ là một cá thể trong một dân số to lớn các virus cúm của họ H1N1 và như vậy không phải ngạc nhiên khi các bằng sáng chế đã được đệ trình trước thời điểm của bắt đầu dịch bệnh. Tên A (H1N1) do đó rất mơ hồ, nhưng đó là một tên gọi đã được chọn vào hồi tháng sáu vừa qua để phòng “ sự vạch mặt chỉ tên ” được công bố của tên gọi cúm Mễ Tây Cơ lúc đó được sử dụng. Và tất cả các H1N1 nhận nhiều mối quan tâm như thế chính là bởi vì chúng đều có chung một khả năng gây bệnh cao.

  • Vào giữa tháng mười, 3 vaccin được khuyến nghị bởi Cơ quan châu Âu đánh giá các dược phẩm (EMEA). Đó là Celvapan (Baxter), Focetria (Novartis)Pandemix (GlaxoSmithKline). Chỉ có Celvapan là không có chất bổ trợ (adjuvant).
  • Những vaccin khác sẽ đến như Panenza, cũng không có chất bổ trợ, sẽ được chuẩn y vào cuối tháng 11.

(SCIENCES ET AVENIR 11/2009)

2/ H1N1 : CÁC BIẾN CHỨNG XẢY RA Ở MỌI LỨA TUỔI.

Các bệnh nhân trẻ có một tỷ lệ nhập viện quan trọng hơn, các người trên 50 tuổi có một nguy cơ tử vong cao hơn.

Một điều tra Hoa Kỳ được công bố hôm qua trong tạp chí Mỹ Jama (Journal of American Medical Association) tiết lộ rằng những người trên 50 tuổi cũng có thể là những nạn nhân của những biến chứng nghiêm trọng của cúm H1N1, trong khi mãi đến nay chỉ nhấn mạnh đến những nguy cơ xảy đến nơi những người trẻ tuổi nhất. Rõ ràng là bệnh cúm do virus mới này chưa tiết lộ hết những điều bí mật của nó, mặc dầu những kiến thức tiến triển với sự tiến bước của toàn đại dịch. Người ta chưa biết một cách rõ ràng tỷ lệ tử vong, mặc dầu con số 1 trường hợp trên 10.000 bệnh nhân thường được đưa ra nhất. Người ta cũng chưa nhận diện một cách rõ ràng tất cả những yếu tố liên kết làm gia tăng nguy cơ mắc phải các biến chứng.

Công cuộc điều tra, được công bố trong JAMA đã chú ý đến 1.088 bệnh nhân đầu tiên được nhập viện ở Californie, vào lúc làn sóng dịch từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2.009. Công trình này mang lại một số thông tin chưa từng có và xác nhận rằng, trái với cúm mùa, mặc dầu những người trẻ tuổi nhất bị ảnh hưởng nặng nề bởi virus mới này, nhưng những người trên 50 tuổi cũng không được trừ miễn, vì lẽ tỷ lệ tử vong đối với họ cao hơn so với những lứa tuổi khác. Một cách rõ ràng, những người trên 50 thường ít bị bệnh và nhập viện hơn những người trẻ vì lẽ một vài trong số họ có được một miễn dịch trước đây, nhưng khi họ bị mắc bệnh, thì nguy cơ chết vì bệnh cúm quan trọng hơn.

Cuộc điều tra mới nhất này đã cho phép làm xuất hiện một số những sự kiện khác. Một mặt, trên 1.088 bệnh nhân được nhập viện này (mà 1/3 phải được đưa vào phòng hồi sức), 344, hoặc 32%, là những người dưới 18 tuổi. Tuổi trung bình của những bệnh nhân được nhập viện là 27 tuổi, nhưng với những trường hợp xảy ra từ 1 tuổi đến 92 tuổi. Tỷ lệ nhập viện trung bình là 2,8 trên 100.000 dân, nhưng từ 11,9 trường hợp trên 100.000 đối với những bệnh nhân dưới 1 tuổi đến 1,5 trường hợp trên 100.000 đối với những người trên 70 tuổi.

Tổng cộng, có 18 trường hợp tử vong, hoặc 1% trong 1 .088 người được nhập viện. Nhưng tỷ lệ này đạt 20% đối với những người trên 50 tuổi. Thời hạn trung bình giữa lúc bắt đầu các triệu chứng và tử vong là 12 ngày, nguyên nhân của tử vong là viêm phổi siêu vi trùng (các lá phổi hoàn toàn bị xâm nhập bởi virus) liên kết với một hội chứng suy giảm hô hấp cấp tính (syndrome de détresse respiratoire aigu).

Các biến chứng trước hết giáng vào những người vốn đã suy yếu bởi một bệnh lý có trước. Điều này cũng được tìm thấy ở Californie, vì lẽ 68% những người được nhập viện trong điều tra này (60% những người dưới 18 tuổi, 72% những người trên 50 tuổi) có bệnh cao huyết áp, đái đường, bệnh thận hay tiêu hóa. Chứng béo phì cũng là một yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên chúng ta hãy ghi nhận rằng không gì khiến tiên đoán được một kết cục nghiêm trọng đối với hơn 30% những bệnh nhân không có một bệnh lý nào. Mặt khác, bệnh cao huyết áp hay bệnh đái đường là những bệnh thông thường và rất phổ biến, nhưng ở đây được xem như là làm gia tăng nguy cơ. Chính sau hai ngày kể từ lúc bắt đầu bệnh cúm mà các biến chứng xuất hiện, với các triệu chứng như ho, sốt và khó thở.

BẢO VỆ NHỮNG NGƯỜI THÂN CỦA CÁC TRẺ NHỎ.

Theo các tác giả, nhiều kết luận là cần thiết : “ Những trẻ em dưới hai tuổi có tỷ lệ nhập viện cao nhất, nhưng chúng còn quá nhỏ để có thể nhận các vaccin hiện được cho phép. Vậy điều quan trọng là bảo vệ ưu tiên những người thân của các em nhỏ, các tác giả của California Pandemic Working Group đã nhấn mạnh như vậy.

Mặt khác, 20% các phụ nữ có thai được nhập viện đã cần đến những điều trị tăng cường (soins intensifs). Các tác giả khẩn khoản để các phụ nữ có thai được hưởng tiêm chủng ưu tiên. Hôm qua, trong khi OMS nhấn mạnh sự cần thiết chủng ngừa đối với các phụ nữ có thai, các kết quả của một công trình nghiên cứu đang được tiến hành chỉ rõ rằng một mũi tiêm đối với các phụ nữ có thai là đủ. Nhưng đối với những trẻ từ 3 đến 9 tuổi, một miễn dịch đầy đủ đạt được bằng hai mũi tiêm cách nhau 10 ngày.
(LE FIGARO 4/11/2009)

3/ GIẢI NOBEL LẦN THỨ 100 CHẠY THEO TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ.

Giải Nobel y học và sinh lý học đã được trao cho Elizabeth Blackburn, Carol Greider và Jack Szostak do những công trình nghiên cứu của họ về các nhiễm sắc thể (chromosomes). Các người được giải chia nhau 1 số tiền gần 1 triệu Euro.

3 người Mỹ này được thưởng vì đã khám phá “ các nhiễm sắc thể được bảo vệ bởi các télomère và men télomérase như thế nào ”, Viện Karolinska (Stockholm) đã xác nhận như thế khi trao giải thưởng. Những công trình của họ, được thực hiện trong nửa đầu của những năm 80, đã cho phép hiểu các nhiễm sắc thể có thể được sao chép như thế nào trong lúc phân chia tế bào và chúng được bảo vệ ra làm sao chống lại sự thoái hóa. Những công trình nghiên cứu này có những áp dụng trong nghiên cứu về ung thư và sự lão hóa.

Elizabeth Blackburn và Jack Szostak đã khám phá rằng một chuỗi duy nhất của ADN nơi các télomère bảo vệ các nhiễm sắc thể chống lại sự hủy hoại, và Carol Greider và Elizabeth Blackburn đã nhận diện enzyme télomérase, vào khi sao bản ADN, cho phép bảo tồn chiều dài của nhiễm sắc thể bằng cách thêm một télomère vào mỗi đầu của nhiễm sắc thể. Men télomérase này có thể là chìa khóa của tuổi thanh xuân bất diệt và do đó men này được gọi là “ enzyme de l’immortalité ”. Nó cũng đóng một vai trò quyết định trong sự ung thư hóa của các tế bào bởi vì khi hoạt tính của nó mạnh mẽ, chiều dài của các télomère được duy trì và sự lão hóa tế bào được hoãn lại.

Sự hiểu biết những nhân tố quyết định tế bào của sự lão hóa là thiết yếu để hiểu rõ tuổi thọ của con người. Télomère là những đường hướng cho phép nghiên cứu vấn đề này. Télomère, được cấu tạo bởi ADN, nằm ở đầu mút của các nhiễm sắc thể, có đặc điểm thu ngắn lại khi phân chia tế bào. Cái ngày mà kich thước của nó trở nên không đủ, tế bào không còn có khả năng tăng sinh được nữa và chết. Télomérase, một enzyme được khám phá bởi các nhà nghiên cứu được giải Nobel, có khả năng ức chế sự thu ngắn lại của các télomère can dự trong sự lão hóa của các tế bào. Từ đó, người ta tin rằng đã khám phá ra bí mật của sự bất tử của con người. Nằm ở đầu mút của các nhiễm sắc thể, các télomère bảo vệ chúng chống lại những tác dụng của thời gian và môi trường và sự ngắn lại của các télomère là một hiện tượng tự nhiên chứng tỏ sự lão hóa của chúng ta. Nhiều người nghĩ rằng sự ngắn lại của các télomère là một nguyên nhân của sự lão hóa, không những ở mức tế bào mà còn ở mức toàn cơ thể.

3 người Mỹ đã được tặng thưởng vì đã giải quyết trong những năm 1980 một bí ẩn làm bực mình các nhà sinh học từ lúc sự trùng đôi của các nhiễm sắc thế (duplication des chromosome) đã được khám phá 3 thập niên trước đó : làm sao các đầu của các phân tử mang các gène của chúng ta có thể được sao chép lại ? Thật vậy, các men sao chép các nhiễm sắc thể của chúng ta được bố trí ở đầu mút của các nhiễm sắc thể để bắt đầu công việc. Tất cả được làm sáng tỏ khi 3 nhà nghiên cứu tìm ra télomérase, một enzyme mà chức năng là bảo vệ (ít nhất một phần) các télomère khỏi bị hủy diệt trong lúc phân chia tế bào. Với khám phá này, sau đó các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các khiếm khuyết trong sự sản xuất télomérase có thể là nguồn gốc của nhiều loạn năng tế bào. Vài căn bệnh dường như được liên kết với những thiếu hụt télomérase như trong dyskératose aplastique congénitale, fibrose pulmonaire idiopathique và progeria. Progéria, một sự lão hóa sớm của cơ thể được đặc trưng chủ yếu bởi một sự ngắn lại sớm của các télomère. Ngược lại, các tế bào ung thư có một “ super-télomérase ”. Có khả năng phân chia hết sức mãnh liệt, các télomère của các nhiễm sắc thể của chúng từ thế hệ này qua thế hệ khác không bao giờ ngắn lại.

Télomérase chỉ được biểu hiện trong những tế bào gốc (phôi thai hay không). Nhưng chúng cũng được tái hoạt hóa trong vài khối u ung thư và đóng một vai trò trong sự tăng sinh của khối u. Có lẽ ít nhất nó đóng góp một phần trong sự giải thích sự bất tử của vài dòng tế bào ung thư. Hai thách thức chính của nhân loại, là tâm điểm của giải Nobel này, đó là cuộc đấu tranh chống lại ung thư và sự lão hóa, một cách nghịch lý do hai cơ chế đối lập nhau, trong một trường hợp là sự ức chế của télomérase, trong trường hợp kia là sự kích thích nó.

Từ những công trình sáng lập này, nhiều nhóm nghiên cứu khác nhau đã bắt đầu nghiên cứu các télomère và enzyme của chúng trong khung cảnh ung thư học (những thử nghiệm vaccin antitélomérase), trong nghiên cứu các tế bào gốc và về sự lão hóa con người. Thí dụ năm vừa qua, các nhà nghiên cứu người Anh đã chứng minh rằng mức độ hoạt động vật lý trong lúc rổi rãnh được liên kết với chiều dài của các télomère và rằng các télomère của những người hoạt động tích cực nhất có 200 nucléotide dài hơn so với những người hoạt động ít tích cực hơn (lần lượt 7,1 và 6,9 kilobases), điều này tương ứng khoảng một chục năm.

“ Một trong những áp dụng khả dĩ của công trình nghiên cứu về các télomère là cuộc đấu tranh chống lại ung thư, Jérome Dejardin (Inserm) đã giải thích như vậy. Télomérase trong vài ung thư, nhưng không phải trong tất cả, góp phần vào sự tăng sinh ác tính. ” Những công trình nghiên cứu in vitro cho thấy rằng khi ta ức chế télomérase, sự tăng sinh của các tế bào ung thư giảm dần đi. Nhiều hãng dược phẩm quan tâm đến những công trình này. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành nơi những bệnh nhân bị ung thư, với các thứ thuốc nhằm ức chế enzyme này. Kể cả các vaccin antitélomérase đã được hiệu chính và đang được đánh giá. Tất cả khó khăn của một liệu pháp như thế là ở chỗ việc cản télomérase để chống lại các tế bào ung thư có thể gây nên một sự lão hóa gia tốc của những tế bào khác. Trừ phi hiệu chính một điều trị hoàn toàn tại chỗ.

Một áp dụng khác mà người ta hy vọng từ công trình nghiên cứu này là cuộc đấu tranh chống lại sự lão hóa. Bằng cách cho các tế bào trưởng thành của cơ thể enzyme télomérase này, người ta có thể ngăn cản sự lão hóa và sự chết của tế bào hay không ? “ Sự nghiên cứu về télomérase là một trong những trục chính yếu hiện nay của các công trình về sự lão hóa, Jerome Dejardin nói tiếp như vậy. In vitro, khi ta sử dụng télomérase trong các canh cấy tế bào người, những tế bào này không còn bị lão hóa nữa.. ”

Lại còn nữa, nhiều hãng dược phẩm Hoa Kỳ đang hiệu chính những thuốc không nhằm hoàn toàn vào sự bất tử tế bào mà gần như thế. “ Người ta đã chế tạo cả những chú chuột trở nên già chậm hơn, bằng cách làm chúng siêu biểu hiện télomérase, GS Eric Gilson (chuyên gia sinh học phân tử, đại học y khoa Nice ) đã giải thích như vậy. Và lại nữa, tất cả khó khăn là ở chỗ lúc làm gia tăng hoạt tính của enzyme trẻ mãi không già này để chống lại sự lão hóa, người ta cũng tăng cao nguy cơ tăng sinh ung thư..

Một trường nghiên cứu to lớn đã được mở ra với sự khám phá các télomère. “ Nó có liên hệ đến tất cả các bệnh, mà những bệnh được liên kết với sự tăng sinh tế bào, có rất là nhiều. Không chỉ ung thư mà thôi. Mà còn những bệnh khác liên kết với những hiện tượng lão hóa sớm và những rối loạn đổi mới tế bào ”, G Eric Gilson đã nói thêm như vậy.

Tuy vậy, cần lưu ý rằng : các télomère và télomérase không phải là các nguyên nhân của ung thư hay sự lão hóa. Nhiều lắm, chúng tạo nên những hướng nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn sự phát khởi của hai biến cố này.

NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC GIẢI NOBEL LÀ AI ?

Elizabeth Blackburn giữ hai quốc tịch Hoa Kỳ và Úc. Sinh năm 1948 ở Tasmanie (Úc), từ năm 1990, bà giảng dạy ở Đại Học Californie (San Fancisco). Bà đã được các giải thưởng Gruber và Lasker cũng như giải thưởng L’Oréal-Unesco.

Carol Greider, sinh năm 1961 ở San Diego (Californie), chuyên về sinh học phân tử (biologiste moléculaire), từ năm 1997 làm việc ở Département de Biologie moléculaire et de Génétique, Johns Hopkins University School of Medicine (Baltimore). Bà đã khám phá ra télomérase trong khi chỉ mới 23 tuổi. Bà cũng được giải thưởng Lasker.

Jack Szostak, sinh năm 1952, người Mỹ, giáo sư di truyền học Đaị Học Harvard (Massachusetts). Giải thưởng Lasker năm 2006, ông có phòng thí nghiệm riêng ở Harvard Medical School và nghiên cứu nguồn gốc của sự sống.

Những người được giải Nobel 2009 quả rất là xứng đáng. Mặc dầu con đường nghiên cứu của họ dĩ nhiên đã được vạch ra bởi nhiều nhà bác học khác về di truyền học, đặc biệt là bởi Hermann Muller và Barbara McClintock. Tất cả hai người này đều đã nhận giải Nobel Y Học và mỗi người theo cách riêng của mình, đã có trực giác về sự hiện hữu của các télomère, nhưng đã không hoàn toàn giải mã được chức năng cũng như những áp dụng khả dĩ của chúng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2009)
(SCIENCES ET AVENIR 11/2009)
(LE FIGARO 6/10/2009)

Đọc thêm :

4/ CƠ THỂ CỦA CHÚNG TA BẢO VỆ CÁC TẾ BÀO UNG THƯ.

Khi xuất hiện những tế bào đầu tiên của một ung thư, hệ miễn dịch dường như không phân biệt được chúng. Điều này cũng dễ hiểu : những tế bào ung thư biểu hiện trên bề mặt của chúng các protéine bình thường, như thế được nhận diện như là những tế bào lành mạnh, bởi các tế bào lympho T điều hoà (lymphocytes T régulateurs), đặc biệt có nhiệm vụ bảo vệ những tế bào của cơ thể và nhận biết những kẻ thù tiềm tàng của nó. Những tế bào lympho điều hòa nay như vậy phong bế các tế bào lympho thực hiện (lymphocytes effecteurs), bình thường có nhiệm vụ loại bỏ những tế bào bất thường. Sau khi đã thu được kết quả này, nhóm nghiên cứu của CNRS, được chỉ đạo bởi David Klatzman, đã đi xa hơn. Sau khi đã lấy đi khỏi các con chuột các tế bào lympho điều hòa, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng các tế bào ung thư bị tấn công trực tiếp bởi những tế bào lympho thực hiện ngay khi chúng xuất hiện. Nói một cách khác, hệ miễn dịch bình thường, bị lừa bởi các tế bào ung thư, duy trì bảo vệ những tế bào này trong khi chúng có khả năng gây thiệt hại. Vai trò của tính miễn dịch này trong ung thư củng cố ý tưởng của một tiêm chủng phòng ngừa có thể thực hiện.
(SCIENCES ET VIE 10/2009)

5/ ĐIỀU TRỊ ĐẦU TIÊN CHỐNG LẠI CÁC TẾ BÀO GỐC UNG THƯ.

Oncologie. Nổi tiếng khó điều trị, những tế bào gốc ung thư (cellules souches cancéreuses) là nguồn gốc của những tái phát và những di căn. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã nhận diện lần đầu tiên các thứ thuốc cho phép hủy diệt chúng.

Và tế bào ung thư đề kháng với hóa học liệu pháp và phóng xạ liệu pháp. Theo một giả thuyết gây tranh cãi, những tế bào này tương ứng với một loại đặc biệt của những tế bào ung thư, duy nhất có khả năng sinh ra những khối u mới trong mô ban đầu hay bằng cách di chuyển đến những cơ quan khác. Được mệnh danh là “ những tế bào gốc ung thư ” (cellules souches cancéreuses), chúng có những đặc điểm chung với những tế bào gốc lành mạnh : chúng đổi mới vô hạn định và có thể biệt hóa thành những tế bào thuộc các loại khác nhau. Mặc dầu chúng chỉ chiếm dưới 1% các tế bào của khối u ung thư, nhưng chúng đóng một vai trò thiết yếu trong tiến triển của bệnh vì lẽ chúng là nguồn gốc của các di căn và tái phát. Để giả thuyết này được công nhận, phải tìm kiếm những thứ thuốc cho phép chống lại một cách đặc hiệu những tế bào gốc ung thư này, và chứng tỏ rằng tác dụng của các thứ thuốc này làm giới hạn sự tiến triển của ung thư. Đó là điều mà một nhóm nghiên cứu của đại học Harvard vừa thực hiện.

Được lèo lái bởi Eric Lander và Robert Weinberg, nhóm nghiên cứu đã tiến hành một “ sự sàng lọc có lưu lượng cao ” (un criblage à haut débit), một kỹ thuật tự động hóa nhằm trắc nghiệm hàng ngàn những phân tử khác nhau trên các tế bào in vitro. Việc sử dụng kỹ thuật này không phải là hiển nhiên : nó đòi hỏi một số lượng lớn các tế bào, trong khi những tế bào gốc ung thư hiện diện với số lượng rất nhỏ trong các khối u.

Sự sàng lọc. Để vượt trở ngại này, các nhà sinh học đã tạo nên trong phòng thí nghiệm những dòng tế bào giàu các tế bào gốc ung thư từ những tế bào của vú được biến đổi về mặt di truyền. Sau đó họ đã trắc nghiệm trên chúng 16.000 các chất và đã phân lập 32 chất có một tác dụng độc. Một trong những chất này, salinomycine, tấn công các tế bào gốc ung thư một cách rất đặc biệt chọn lọc và hiệu quả : được cho nơi các tập hợp những tế bào ung thư, salinomycine chia trăm tỷ lệ những tế bào gốc ung thư, so sánh với paclitaxel, một trong những chất chống ung thư mạnh nhất hiện nay. Các nhà sinh học sau đó đã ghép những tế bào ung thư trên các con chuột và đã điều trị các động vật với salinomycine. Kết quả : sự tăng trưởng của các khối u và sự tạo thành của các di căn đã được giảm rõ rệt.

Đối với Daniel Louvard, giám đốc của trung tâm nghiên cứu của Viện Curie, công trình này mở ra một con đường mới. “ Nó xác nhận giả thuyết nói rằng các tế bào ung thư có những đặc tính của tế bào gốc, có thể được giết chết một cách chọn lọc, và rằng điều này ngăn cản sự tiến triển của bệnh. Như thế điều này gợi ý rằng ta có thể tiêu hủy căn bệnh ở gốc ngọn, đồng thời tránh không đụng đến phần lớn những tế bào gốc lành mạnh, cần thiết cho sự đổi mới của các cơ quan của chúng ta.”

Trong tương lai, những loại thuốc nhắm đích các tế bào gốc ung thư có thể được dùng phối hợp với những liệu pháp hiện nay : không những điều trị sẽ hiệu quả hơn, mà sự thoải mái của các bệnh nhân cũng được cải thiện, bởi vì ta có thể giảm cường độ của các hóa học liệu pháp. Tuy nhiên cần cẩn trọng khi suy diễn những kết quả này vào sự điều trị của ung thư nơi người. “ Phương pháp quả là đổi mới, nhưng các thứ thuốc đã được trắc nghiệm trên những tế bào nhân tạo được tạo ra trong phòng thí nghiệm và được ghép lên các động vật, Christophe Ginestier, thuộc trung tâm nghiên cứu ung thư, Marseille, đã nhắc lại như vậy. Điều đó không nhất thiết tương ứng với điều xảy ra trong một khối u trực tiếp từ một bệnh nhân.”
(LA RECHERCHE 10/2009)

6/ CÁC PHẪU THUẬT VIÊN ĐIỀU TRỊ CÁC ĐAU ĐỚN THẦN KINH NHỜ SIÊU ÂM.

Mổ não với một chùm tia siêu âm, đó là kỳ công được thực hiện bởi nhóm phẫu thuật viên của Ernst Martin, của CHU de Zurich. Để có được điều đó, các nhà giải phẫu thần kinh đã kết hợp siêu âm với IRM. Trong khi các siêu âm gây nên một sự tăng cao nhiệt độ của các mô cần nhắm đến, đủ để gây nên sự chết của các tế bào, IRM cho phép kiểm soát hướng đi của các tia siêu âm và nhiệt độ do chúng gây nên. Các thầy thuốc ngoại thần kinh của Zurich đã trắc nghiệm phương thức này lên 9 bệnh nhân bị đau dây thần kinh (douleurs neuropathiques) do bị cắt cụt chi hay do những thương tổn thần kinh. Việc cắt bỏ bằng siêu âm một phần của đồi thị (thalamus) đã cho phép làm giảm, thậm chí làm biến mất các đau đớn của họ. Mãi đến ngày nay, các thầy thuốc ngoại khoa thực hiện sự cắt bỏ này bằng phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) hay bằng ngoại khoa cổ điển. “ Nghiên cứu đầu tiên này đã chứng tỏ tính khả thi và tính vô hại của phương thức này. Trong tương lai, chúng tôi hy vọng sử dụng chúng để điều trị những bệnh lý khác như bệnh Parkinson hay những khối u não bộ ” . Ernst Martin đã giải thích như vậy.
(SCIENCE ET VIE 10/2009)

7/ DÙNG SIÊU ÂM ĐỂ MỔ NÃO.

Những kỹ thuật mới cho phép phá hủy các thương tổn mà không cần gây mê cũng như dao mổ.

CHIRURGIE. Mổ não như thể ta ở trong đó, nhưng không đụng đến nó. Ngoại thần kinh (neurochirurgie) đang đi vào trong một kỷ nguyên mới, không dao mổ không gây mê. Nhờ các siêu âm cực mạnh, một phẫu thuật viên có thể phá hủy các thương tổn có kích thước của một hạt gạo, nằm ở sâu nhất trong não bộ, dưới sự kiểm soát của một IRM (imagerie par résonance magnétique), được thực hiện en temps réel. Đến nay, chỉ vài bệnh nhân đã được hưởng liệu pháp đầy hứa hẹn này. Ở Thụy Sĩ, các GS Daniel Jeanmonod và Ernst Martin (Zurich) đã điều trị khoảng 12 người bị đau đớn mãn tính, đề kháng với thuốc, với một máy gọi là ExAblate, được phát triển bởi hãng Insightec của Israel. Trong vài tuần nữa, cũng nhóm nghiên cứu này sẽ tiến hành một chỉ định khác : bệnh Parkinson. Ở Pháp, một máy sử dụng một kỹ thuật học tương tự, được thiết kế bởi hãng Supersonic Imagine của Pháp, đang tiến hành những trắc nghiệm tiền lâm sàng. Một công trình nghiên cứu, theo dự kiến từ nay đến hai năm, sẽ được tiến hành nơi những bệnh nhân bị đau đớn mãn tính, bị bệnh Parkinson hay vài khối u não bộ khác. Nhiên hậu, phương pháp này sẽ được thực hiện trong những bệnh lý khác, trong đó có động kinh.

MỘT MỨC ĐỘ CHÍNH XÁC TỪNG MILIMET.

Nguyên tắc của liệu pháp bằng siêu âm (thérapie par ultrasons) là khá đơn giản. Được hướng vào một mục tiêu được xác định trước, các siêu âm được hội tụ có cường độ cao (ultrasons focalisés de haute intensité, HIFU) cho phép làm gia tăng nhiệt độ lên khoảng 60 độ C. Như thế ta có thể làm đông, do đó phá hủy các mô với một độ chính xác từng milimet. Được sử dụng đầu tiên năm 1993 đối với những ung thư khu trú của tuyến tiền liệt, phương pháp này càng ngày càng phát triển, kết hợp với IRM, để điều trị các khối u trong những cơ quan khác. ExAblate được đề nghị trong nhiều nước, trong đó có Pháp, để điều trị các u xơ tử cung. Những thử nghiệm đang được tiến hành trong các ung thư vú, gan…nhưng mãi cho đến gần đây, việc áp dụng nó lên não bộ dường như là điều không có thể thực hiện được.

“ Vấn đề chính, đó là hộp sọ. Xương hấp thụ một phần và làm biến dạng các tia siêu âm được phát ra ” ; GS Ernst Martin, thuộc bệnh viện đại học nhi đồng Zurich, đã giải thích như vậy. Để tránh điều trở ngại này, nhóm giải phẫu Thụy Sĩ đã nhờ đến một loại mũ casque được trang bị 1024 bộ chuyển đổi (transducteur), những máy nhỏ sản xuất những tia siêu âm và tập trung chúng vào vùng được nhắm đến. Trong một năm, 12 bệnh nhân với những cơn đau đớn mãn tính có cường độ mạnh, với những nguồn gốc khác nhau (cắt cụt, chấn thương, thương tổn đĩa đốt sống...) đã được thí nghiệm. Các siêu âm được phát ra vào phần trong cua đồi thị (thalamus médian), một cấu trúc có quan hệ trong việc kiểm soát sự đau đớn. Nhiệt độ và các va chạm được kiểm soát en temps réel bởi IRM. “ Can thiệp giải phẫu đã được dung nạp rất tốt, và chúng tôi đã có những kết quả dương tính nơi 56% các bệnh nhân, đây là một điểm số tốt đối với những cơn đau mãn tính, GS Martin đã xác nhận như vậy. Như thế, một người có thể cai morphine mà anh ta đã sử dụng từ 12 năm nay ”.

Nhiên hậu, liệu pháp này có thể trở thành một phương pháp thay thế cho những điều trị hiện nay bằng ngoại phóng xạ (radiochirurgie), như Gamma-Knife hay Linac (nhằm rọi tia X vào những thương tổn não bộ, cũng không cần mở hộp sọ. “ Hai loại liệu pháp có độ chính xác như nhau, nhưng các siêu âm tiềm năng có nhiều ưu điểm, BS Anne-Laure Boch, thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã đánh giá như vậy. Trước hết các siêu âm không phát ra tia X. Sau đó chúng tác dụng tức thời trong khi thời hạn là nhiều tuần đối với ngoại phóng xạ.”

Tuy nhiên, BS Boch, trắc nghiệm máy Supersonic Imagine của Pháp trên các động vật và các tử thi người, nhấn mạnh rằng máy này chỉ mới còn ở một giai đoạn nghiên cứu. Chúng tôi sẽ chỉ chuyển qua các thử nghiệm lâm sàng khi chúng tôi chắc chắn rằng đã có sự chính xác được tuyên bố, bà ta đã nhấn mạnh như vậy. Tương tự với máy ExAblate, được sử dụng bởi các người Thụy Sĩ, máy đang được nghiên cứu ở Pháp khác ở kỹ thuật được sử dụng để vượt qua chướng ngại của hộp sọ. Kỹ thuật của chúng tôi chính xác hơn nhờ sự sử dụng các siêu âm có tần số cao hơn, nhà vật lý Jean-François Aubry, nguồn gốc của bằng sáng chế, với các đồng nghiệp của ông thuộc Viện Langevin, đã đảm bảo như vậy.

Những can thiệp như thế vào ngay trong trung tâm của não bộ không phải không có nguy cơ. Ở Boston, nơi đây các thầy thuốc tiến hành một công trình nghiên cứu lâm sàng trên 10 người tình nguyện trong khung cảnh của những khối u não rất tiến triển, người bệnh nhân thứ 4 bị chết vì xuất huyết não trong những ngày tiếp theo sau buổi liệu pháp bằng siêu âm, trong lúc anh ta ở giai đoạn cuối của ung thư não. Vì có mối nghi ngờ, thử nghiệm đã được đình chỉ.
(LE FIGARO 2/10/2009)

Đọc thêm :

8/ VITAMINE D VÀ NGUY CƠ CAO HUYẾT ÁP.

Nơi các phụ nữ trẻ, sự thiếu hụt vitamine được liên kết với một sự gia tăng nguy bị cao huyết áp về sau này. Đó là điều được giải thích bởi các nhà nghiên cứu trong hội nghị lần thứ 63 về nghiên cứu cao huyết áp, được tổ chức bởi Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (AHA).

Các nhà nghiên cứu đã xem xét các phụ nữ được tuyển mộ trong công trình nghiên cứu Michigan Bone Health and Metabolism Study và đã phân tích các dữ kiện của 559 phụ nữ người Caucase sống ở Tecumseh, (Michigan). Công trình, hiện luôn được tiến hành, đã khởi đầu vào năm 1992 khi những người này tuổi từ 24 đến 44 (trung bình 38 tuổi). Huyết áp của họ đã được đo mỗi năm và nồng độ vitamine D, được xác định một lần vào năm 1993, đã được so sánh với huyết áp được đo vào năm 2007.

Những kết quả cho thấy rằng, so với những người tham dự có những nồng độ viatmine D bình thường, các phụ nữ bị thiếu hụt (dưới 80 nmol/l) vào năm 1993, có 3 lần nguy cơ cao hơn bị một cao huyết áp tâm thu (hypertension systolique) 15 năm sau đó.

Vào lúc đầu của công trình nghiên cứu, 2% các phụ nữ tham gia đã có cao huyết áp hay được điều trị bởi các thuốc chống cao áp và thêm 4% đã được chẩn đoán cao huyết áp. Nhưng 15 năm sau, những con số này lần lượt là 19% và 6%.

“ Những kết quả của chúng tôi cho thấy rằng một sự thiếu hụt sớm vitamine D có thể làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp sau này nơi các phụ nữ trung niên ”, Flojaune Griffin, một trong những nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy.

Theo các chuyên gia thuộc các chuyên môn khác nhau, sự thiếu hụt vitamine D rất phổ biến nơi phụ nữ. Mặt khác, không có sự nhất trí về việc cung cấp tối ưu vitamine D. Theo vài nhà nghiên cứu, cung cấp vitamine được khuyến nghị hiện nay từ 400 đến 600 đơn vị mỗi ngày là không thích đáng và họ chủ trương một nồng độ thay đổi từ 1.000 đến 5.000 đơn vị. Ta cần nhắc lại rằng ngoài vai trò được xác lập của vitamine D trên chuyển hóa xương, sự thiếu hụt của vitamine này cũng đóng một vai trò trong vài ung thư và độc hại đối với tính miễn dịch và các bệnh viêm.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/10/2009)

9/ BỆNH BẠCH CẦU TỦY CẤP TÍNH (LEUCEMIE MYELOIDE AIGUE) : NHỮNG VI GHÉP (MINIGREFFES) ĐẦU TIÊN.

G.S Noel Milpied, thầy thuốc chuyên khoa huyết học, CHU de Bordeaux, chủ tịch Hiệp hội ghép tủy xương của Pháp, nêu lên những ưu điểm của một phương pháp ít xâm nhập hơn đối với vài loại ung thư máu.

Hỏi : Những đặc điểm của bệnh bạch cầu (leucémie) này là gì ?
GS Noel Milpied : Đó là một ung thư máu, gây bệnh 3 người trên 100.000 người, thường là sau 50 tuổi. Một tế bào non của tủy xương (chế tạo các tế bào máu : hồng cầu và bạch cầu và các tiểu cầu), trở nên bất bình thường, tăng sinh vô giới hạn nhưng không bao giờ đạt được trình độ chín mùi của nó.

Hậu quả : không còn có đủ hồng cầu và bạch cầu nữa, điều này gây nên thiếu máu và sự xuất hiện của các nhiễm trùng. Mặt khác, sự khan hiếm của các tiểu cầu máu (plaquettes sanguines) làm dễ sự xuất huyết.

Hỏi : Đến nay, điều trị bệnh này như thế nào ?
GS Noel Milpied : Điều trị nhằm cho một hóa học liệu pháp (chimiothérapie) nặng nề với nhập viện từ 4 đến 6 tuần. Điều trị nhằm phá hủy một cách tạm thời tủy xương, rồi ta chờ cho các tế bào bình thường tái sinh lại. Sau đó để loại trừ các tế bào ung thư còn lại, ta có thể bắt đầu lại một hóa học liệu pháp hay thực hiện ghép tủy xương. Với nhiều buổi hóa học liệu pháp, ta thu được tỷ lệ sống còn từ 60 đến 70% , và nơi những người được ghép, tỷ lệ này là 50 đến 60%.

Hỏi : Khi nào ta cho một hóa học liệu pháp mới thay vì một ghép tủy xương ?
GS Noel Milpied : Nếu kết quả thu được với hóa học liệu pháp đầu tiên là rất thỏa mãn và nếu không có bất thường di truyền bất thuận lợi trong các tế bào bị bệnh bạch cầu (cellules leucémiques), ta đề nghị những buổi hóa học liệu pháp củng cố. Nhưng nếu những kết quả đầu tiên sau hóa học liệu pháp gây thất vọng hay nếu có những bất thường di truyền, ta sẽ đề nghị ghép tủy xương.

Hỏi : Những bất tiên của kỹ thuật ghép tủy xương cổ điển ?
GS Noel Milpied : Ta rất sợ các nguy cơ độc tính liên kết với điều trị mạnh chuẩn bị trước khi ghép. Phương cách nhằm tiêm những tế bào của một người cho (donneur) vào bệnh nhân. Nhưng, để cho cơ quan của người nhận (receveur) có thể chấp nhận chúng, thì các tế bào ung thư phải được tiêu hủy tối đa, điều này cần đến một liệu pháp rất nặng nề với những liều lượng mạnh các loại thuốc có tác dụng phụ có hại. Hóa học liệu pháp tăng cường này mạnh đến độ ta chỉ thực hiện nơi những bệnh nhân dưới 45 tuổi. Sự chuẩn bị để ghép được thực hiện trong phòng vô trùng. Sau đó, bệnh nhân nhận những tế bào của người cho (ghép) bằng truyền tĩnh mạch.

Hỏi : Làm sao nảy ra ý tưởng tạo một kỹ thuật ghép ít độc hơn ?
GS Noel Milpied : Trong những công trình đầu tiên về bệnh bạch cầu cấp tính này, người ta đã tin tưởng rằng tác động duy nhất của các tế bào được ghép (greffon) là tái tạo những tế bào máu. Nhưng mới đây, người ta đã khám phá rằng các tế bào miễn dịch của greffon, một khi được đưa vào trong bệnh nhân, có khả năng nhận biết và phá hủy các tế bào ung thư. Người ta suy diễn rằng tiến hành một điều trị chuẩn bị mạnh mẽ như thế để thu được một kết quả tốt, có thể hữu ích hơn. Sự chuẩn bị mới trước khi ghép gồm có một hoá học liệu pháp ít độc tính hơn nhiều, được cho với những liều lượng nhỏ, rất có thể chịu được, điều này cho phép ghép những bệnh nhân ít trẻ hơn, tình trạng sức khỏe kém hơn.

Hỏi : Sau sự chuẩn bị mới trước khi ghép này, những kết quả là gì ?
GS Noel Milpied : Trước đây, với phương cách cổ điển, các bệnh nhân bị bất sản tủy xương (aplasie médullaire) hoàn toàn, bị mệt mỏi ghê gớm, bị đau đớn do sự phá hủy của các niêm mạc, và họ được nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch. Tình trạng của những bệnh nhân này khiến họ dễ bị các biến chứng gan và phổi. Với kỹ thuật mới, ta không còn quan sát thấy nữa sự hủy hoại của các niêm mạc, các bệnh nhân cảm thấy ít đau đớn hơn nhiều và có thể tự ăn uống bình thường. Có khi ta không phát hiện thấy bất sản tủy xương, bởi vì các tế bào máu tái sinh nhanh chóng. Trên hàng trăm những bệnh nhân trên 50 tuổi và có sức khỏe kém, ta đã quan sát thấy, với 4 hay 5 năm nhìn lại, cùng các kết quả thu được nơi những bệnh nhân trẻ tuổi hơn được ghép với kỹ thuật cổ điển.
(PARIS-MATCH 24/9- 30/9/2009)

10/ VIÊN THUỐC NGỪA THAI CHO ĐÀN ÔNG, KHI NÀO CÓ ?

Trong những năm qua, viên thuốc ngừa thai dành cho đàn ông (pilule pour homme) đã được loan báo nhiều lần. Và tuy vậy, mặc dầu những tiến bộ khoa học, việc ngừa thai nam giới (contraception masculine) vẫn luôn luôn còn phải chờ đợi. Điểm qua những lý do của sự chậm trễ này...không phải luôn luôn là những lý lẽ mà ta tưởng.

“ Sự phát triển của ngừa thai nam giới đã chịu và đang còn chịu đựng kết quả thành công của ngừa thai nữ giới ”, Bernard Jégou, trưởng nhóm nghiên cứu về sự sinh sản của con người ở Inserm (Rennes) đã giải thích như vậy. Và đó là một sự kiện, khả năng sinh đẻ của các phụ nữ dễ kiểm soát hơn là khả năng sinh sản của các đàn ông. Nơi phụ nữ, ta chỉ cần phong bế một đỉnh cao kinh kỳ (pic menstruel).

MỤC TIÊU : PHONG BỂ SỰ SẢN XUẤT CÁC TINH TRÙNG.

Ở người đàn ông, cần phải làm dừng lại sự tạo thành thường xuyên của vài trăm tinh trùng ...Và điều này phải được thực hiện suốt cả đời người, vì lẽ người đàn ông không có thời kỳ mãn kinh (ménopause). Tuy nhiên, trên cùng nguyên tắc với viên thuốc ngừa thai nữ giới, có thể phong bế khả năng sinh sản nam giới (fertilité masculine) bằng cách tiêm các kích thch tố nam (hormones androgènes) như testostérone. Vào năm 2007, các nhà nghiên cứu Úc-Hoa Kỳ đã công bố phân tích các trắc nghiệm lâm sàng được tiến hành giữa năm 1990 và 2005 và bao gồm 1.500 đàn ông được ngừa thai bằng hormone. Kết quả : một tỷ lệ hiệu quả 97 và 100%. Một con số y hệt với con số thu được với ngừa thai nữ giới, hơn nữa không làm giảm các hiệu năng tình dục hay dục tính (libido). Một tham số thiết yếu trong chừng mực các kích thích tố nam có liên quan đồng thời trong sự sản xuất của các tinh trùng và trong dục tính...

Trở ngại cuối cùng cho sự hiệu chính của một phương pháp ngừa thai như thế : testostérone phải được tiêm mông mỗi tuần. Bởi vì, uống vào dưới dạng thuốc viên, testostérone bị phá hủy bởi gan. Thế mà vào tháng năm vừa qua, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thành công làm giảm số lần tiêm xuống còn một mũi tiêm mỗi tháng. “ Đó là điều góp phần làm cho phương pháp này thành một phương tiện ngừa thai được dung nạp tốt hơn ”, nhà chuyên khoa về bộ phận sinh dục nam (andrologue) Sylvain Mimoun đã hân hoan phát biểu như thế. Đó là không tính đến “ sự phá hủy testostérone bởi gan có khả năng được giải quyết ”, Bernard Jégou đã xác nhận như vậy.

Những phương pháp khác đang được thí nghiệm. Một trong những phương pháp này nhằm tác động lên các hormone được sản xuất bởi não bộ, chứ không còn lên các hormone được sản xuất bởi các tinh hoàn. Thật vậy các hormone được sản xuất bởi não bộ kiểm soát thượng nguồn sự sản xuất của các hormone được sản xuất bởi các tinh hoàn. Sau hết, một đường hướng cuối cùng dựa trên sự tạo thành các kháng thể chống tinh trùng (anticorps anti-spermatozoide), như là trường hợp xảy ra tự nhiên nơi vài người đàn ông vô sinh.

Các giải pháp không thiếu gì. Tuy vậy “ Sự nghiên cứu trong lãnh vực này còn thủ công, Bernard Jérou lấy làm tiếc. Các phòng thí nghiệm còn thiếu quan tâm đối với sự ngừa thai, dầu đó là nam giới hãy nữ giới.”

MỘT KỀM HÃM XÃ HỘI HƠN LÀ NHỮNG LÝ DO KHOA HỌC.

Đó là chưa tính đến rằng, mặc dầu cho các đàn ông và các phụ nữ nói họ sẵn sàng chia sẽ trách nhiệm ngừa thai, nhưng không chắc chắn rằng trên thực tế đúng là như vậy. “ Trước hết bởi vì điều đó hàm ý một sự tin tưởng rất lớn lao của người phụ nữ đối với người bạn đường của mình, sau hết bởi vì việc ngừa thai nữ giới tạo nên một sự chinh phục xã hội (une conquête sociétale) mà các phụ nữ, có ý thức hay không, đều không sẵn sàng từ bỏ nó ” , Bernard jégou đã kết luận như vậy.
(TOP SANTE 10/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/11/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#24 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 15 November 2009 - 03:01 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI. .

1/ Ta bị mắc phải cúm A (H1N1) như thế nào ?

Như tất cả các bệnh cúm, bệnh cúm do virus (H1N1) được truyền từ cá nhân này qua cá nhân khác, qua trung gian các dịch tiết của đường hô hấp, các giọt nhỏ được phóng ra lúc hách xì hay do một cơn ho. Virus khi đó được hít vào và sẽ phát triển trong các đường hô hấp. Sự truyền bệnh chủ yếu diễn ra trong khung cảnh những nơi tù hãm, nhất là nếu những nơi này rất thường được lui tới (métro, các biến cố thể thao hay văn hóa,v...v). Virus cũng có thể được truyền qua tiếp xúc trực tiếp giữa người với nhau : hôn hít, bắt tay nhau,...

Virus cúm có thể tồn tại trên các bề mặt : các nắm cửa, các núm thang máy.

2/ Nếu tôi bị mắc phải bệnh cúm, thế có nặng không ?

Tất cả các bệnh cúm đều có thể gây nên tử vong, đặc biệt là nếu người bị nhiễm trùng có những yếu tố nguy cơ. Ở Pháp, mỗi năm cúm mùa (grippe saisonnière) gây bệnh cho 2,5 triệu người và làm từ 4000 đến 6000 người chết.

Trong trường hợp cúm A (H1N1), trong đại đa số các trường hợp, căn bệnh là hiền tính và gây nên những triệu chứng khó chịu (sốt, đau mình mẩy, mệt mỏi) trong vài ngày. Tuy vậy, virus được lan truyền rất dễ dàng, và do đó có thể bị mắc phải bởi những người có những yếu tố nguy cơ, và gây nên một bệnh nghiêm trọng hơn. Điểm cần ghi nhận : trong số những người bị chết sau khi bị nhiễm bởi virus A (H1N1), 40% là những người trưởng thành trẻ tuổi có sức khoẻ tốt, thường là những nạn nhân của một viêm phổi siêu vi trùng (pneumonie virale).

3/ Những nhóm dân nào là có nguy cơ nhất ?

So với virus cúm mùa, có thể gây nên những thể biến chứng thậm chí chết người, nhất là nơi những người già (90% các tử vong xảy ra nơi những người trên 65 tuổi), virus A (H1N1) dường như đặc biệt tấn công vào những người trưởng thành trẻ tuổi và các trẻ em, nhìn toàn bộ là những người từ 5 đến 50 tuổi. Một trong những giải thích được đưa ra là những người trẻ đã không có cơ hội được tiếp xúc với các virus thuộc họ H1N1, đã lưu hành nhiều cho mãi đến những năm 1950, trước khi bị che khuất bởi những virus thuộc nhưng họ khác. Những người dưới 50 tuổi do đó đã không phát triển một miễn dịch đối với chúng.

Các phụ nữ có thai tạo nên một nhóm đặc biệt có nguy cơ, nhất là trong tam cá nguyệt thứ ba của thời kỳ thai nghén. Những người khác dễ bị những thể nặng hơn là những người vốn bị những bệnh mãn tính : các bệnh lý hô hấp, tim mạch, gan hoặc thận, một sự thiếu hụt miễn dịch (do một bệnh hay một điều trị) hay một bệnh đái đường.

Chứng béo phì, với một chỉ dấu khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) trên 30, cũng dường như là một yếu tố nguy cơ.

4/ Những triệu chứng đầu tiên là gì ?

Cúm A (H1N1) có thể được biểu hiện bởi một số những triệu chứng nào đó xuất hiệt đột ngột : run lạnh, sốt trên 38 độ C, đau đầu, những dấu hiệu hô hấp (ho, mũi chảy, khó chịu ở phổi), nhức mỏi, đau khớp, mệt mỏi. Thêm vào đó, thuờng hơn là so với các bệnh cúm cổ điển, là những dấu hiệu tiêu hóa (nôn, ỉa chảy).

5/ Những xét nghiệm cho phép chẩn đoán cúm A (H1N1) ?

Những xét nghiệm nhanh (trong hai hoặc ba giờ) và những xét nghiệm huỳnh quang miễn dịch (test immunofluorescence), thường được sử dụng đối với những virus cúm khác, không được khuyến nghị để phát hiện virus biến dị mới A (H1N1) vì chúng có mức độ nhạy cảm kém (30%).

Vậy để phát hiện sự hiện diện của cúm đại dịch, phải nhờ đến những test par amplification génique (PCR), cho kết quả trong 8 đến 12 giờ. Những xét nghiệm này, được thực hiện từ những bệnh phẩm lấy ở mũi và họng, chỉ có thể được thực hiện trong hai trung tâm chuẩn quốc gia : Trung tâm của Viện Pasteur và trung tâm của Lyon.

6/ Những xét ngiệm này có được thực hiện một cách có hệ thống không ?

Không. Theo những khuyến nghị chính thức, những xét nghiệm này chỉ dành cho những bệnh nhân có những dấu hiệu nghiêm trọng, các nhũ nhi, các phụ nữ có thai và các nhân viên điều dưỡng.

7/ Ta có thể truyền virus trong khi không có những triệu chứng cúm hay không ?

Thời kỳ lây nhiễm (période de contagiosité) bắt đầu khoảng 24 giờ trước khi xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng, nói một cách khác một cá nhân đã mắc phải virus có thể truyền nó ngay cả khi anh ta chưa có các triệu chứng. Vậy phải nghĩ đến việc ngăn ngừa những người mà ta đã gặp hôm trước.

8/ Phải thăm khám khi nào, ai và ở đâu?

Cần có một xử trí theo mức độ, dầu đó là người lớn hay trẻ em :
  • Tôi không bị sốt (dưới 38 độ C) nhưng tôi có những triệu chứng như sau : đau họng, nghẹt mũi, chảy mũi, ho. Có lẽ mới chỉ có cảm cúm đơn thuần (simple rhume), tôi cần nghĩ ngơi.
  • Tôi sốt hơn 38 độ C. Con sốt này đã bắt đầu đột ngột và tôi có những triệu chứng như sau : ho, đau họng, đau đầu, mệt mỏi quan trọng, đau cơ. Có lẽ tôi bị cúm (grippe) ; tôi tự điều trị tại nhà, nếu cần tôi gọi thầy thuốc gia đình.
  • Tôi sốt hơn 38 độ C và tôi thuộc vào các nhóm nguy cơ (trẻ em dưới 2 tuổi, phụ nữ có thai, những người bị một bệnh mãn tính) ; hay tôi bị sốt và có những triệu chứng khó thở, nôn mửa. Hay tôi quan sát thấy sốt nơi trẻ em trở nên ít năng động hơn thường lệ. Trong những trường hợp khác nhau này, phải thăm khám bác sĩ gia đình trong cùng ngày.
  • Tôi sốt hơn 38 độ C và tôi ở vào một trong những tình huống sau đây : khó thở kéo dài, cứng cổ quan trọng, ngủ gà, mất định hướng, co giật, sốt nơi một em bé dưới 3 tháng. Trong trường hợp này, phải đến cấp cứu bệnh viện ngay hoặc gọi SAMU.

9/ Những thuốc được sử dụng là gì ?

Trong trường hợp cúm, phải dùng những thuốc chống sốt và đau, như paracétamol. Các thuốc kháng siêu vi trùng (antiviraux) Tamiflu và Relenza có hoạt tính đối với virus A (H1N1) khi chúng được cho trong vòng 48 giờ sau khi xuất hiện những triệu chứng. Việc cho toa Tamiflu tùy thuộc quyết định của thầy thuốc gia đình. Trong phần lớn các trường hợp, những người bị bệnh lành bệnh mà không cần các thuốc kháng virus.

10/ Vai trò của Tamiflu là gì ?

Cũng như Relenza, Tamiflu, được cho sớm nơi một người có những yếu tố nguy cơ, giới hạn mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm. Vai trò của nó với tính cách phòng ngừa được bàn cãi, nhưng “ Tamiflu có thể hữu ích cho các nhân viên y tế tiếp xúc thường xuyên với những người bị nhiễm trùng ”, G.S Claude Hannoun, nhà virus học chuyện về bệnh cúm đã chỉ rõ như vậy.

11/ Tamiflu giá bao nhiêu ? Có được bồi hoàn không ?

Hộp 10 viên giá khoảng 20 Euro. Thuốc kháng virus được bồi hoàn 35%, cũng như tất cả những thuốc được gọi là “ tiện nghi ”. Thuốc chỉ được bồi hoàn hoàn toàn đối với những người có nguy cơ, những người bị một nhiễm trùng lâu dài hay bị suy giảm miễn dịch. Nếu nước Pháp chuyển qua mức độ báo động y tế 6, Tamiflu sẽ được cấp bởi chính phủ và miễn phí cho tất cả.

(xem tiếp số đến)
(LE MONDE 5/11/2009)

2/ ĐỘC LỰC CỦA VIRUS H1N1.

“ Virus H1N1 này, lúc len lõi vào đến tận các phế nang, có thể rất là độc lực ”

Giáo sư Jacques Reynes, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới của CHU de Montpellier trả lời các câu hỏi của phóng viên Paris Match.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những lý do, ngoài khả năng gây nhiễm cực kỳ của nó, điều gì làm sợ virus mới H1N1 ?
GS Jacqus Reynes : Hầu hết các virus cúm xâm nhập khí quản và các phế quản. Những virus khác, như H1N1 có thể vào tận các phế nang và gây nên viêm phổi. Quá trình đáp ứng của cơ thể đối với sự tấn công của virus tạo nên một phản ứng viêm, trong vài trường hợp, may mắn thay là ít xảy ra, có thể gây nên suy giảm hô hấp (détresse respiratoire). Thường thường, các phòng vệ của cơ thể cho phép bệnh nhân chữa lành trong vài ngày.

Hỏi : Những người nào có nguy cơ phát triển một thể nặng ?
GS Jacque Reynes : Những người có một vấn đề hô hấp mãn tính do chức năng phổi của họ bị làm suy yếu. Những người dễ bị tấn công khác : những người bị chứng béo phì quan trọng khiến khả năng hô hấp bị suy yếu, và những người rất bị suy giảm miễn dịch, cũng như những người đã nhận một ghép cơ quan hay tủy xương. Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, những phụ nữ vào cuối thời kỳ thai nghén cũng có một nguy cơ gia tăng phát triển một thể nặng, có lẽ do thiếu hụt một vài kháng thể.

Hỏi : Người ta tin rằng virus này đặc biệt nguy hiểm đối với những người có sức khỏe yếu, thế mà ở Pháp có một thanh niên mạnh khỏe chết vì bệnh cúm này !

GS Jacque Reynes : Người ta đã ghi nhận loại tai biến này nơi những người bề ngoài rất khỏe mạnh và bị một thể nặng cúm mùa. Những người này có thể bị một thiếu hụt miễn dịch không ngờ đến. Phải nhắc lại rằng virus H1N1 có thể rất độc lực ! Hiện nay, dường như rằng, trong số các thể nặng, 1/3 những người bị nhiễm trùng không bị một bệnh mãn tính.

Hỏi : Tại sao một bộ phận nhân viên y tế từ chối không chịu tiêm chủng ?
GS Jacque Reynes : Những phương thức chế tạo các vaccin chống cúm H1N1 hơi khác với những cách điều chế những vaccin khác. Đặc điểm duy nhất : các chất bổ trợ (substances adjuvantes) sẽ được sử dụng một cách quan trọng để gia tăng những đáp ứng miễn dịch. Những người không chịu tiêm chủng có lẽ nhớ lại rằng, vào năm 1976, trong một chiến dịch tiêm chủng đại trà ở Hoa Kỳ chống lại virus cúm A (H1N1) phát xuất từ heo, với một vaccin cũng có những chất bổ trợ, người ta đã ghi nhận một tỷ lệ bất thường xảy ra những vấn đề thần kinh. Ngày nay, mối e sợ này có thể được làm dịu bớt bởi vì vài vaccin được hiệu chính chống lại virus mới này, đã được sử dụng mà không gây nên những biến chứng. Những kinh nghiệm của những vaccin mới này vẫn rất là giới hạn, đặc biệt là nơi những trẻ nhỏ, các phụ nữ có thai và những người bị suy giảm miễn dịch. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá rất chính xác những liều lượng cần phải tiêm.

Người ta cũng nghiên cứu hiệu quả và độ dung nạp của những vaccin mới có hay không có chất bổ trợ.

Hỏi : Ý kiến của ông thế nào đứng trước quy mô của chiến dịch này ?
GS Jacque Reynes : Việc thông tin hóa đã làm ý thức được tầm quan trọng của những biện pháp phòng ngừa. Một vài người nghĩ rằng người ta đã làm quá đáng mối hiểm nguy. Chống lại virus mà đại đa số là hiền tính này, các biện pháp có thể dường như không tương xứng, nhưng đến nay, tương lai của loại bệnh cúm này một phần không có thể tiên đoán được.
(PARIS MATCH 24/9-30/9/2009)

3/ CON NGÁO ỘP CỦA CÚM TÂY BAN NHA.

Trận dịch bệnh cúm Tây Ban Nha, đã giết chết nhiều người hơn chiến tranh 14-18, được dùng làm con ngáo ộp cho những người tiên đoán một cuộc tận thế mới. Nhắc lại lịch sử.

Cái điều mà ta gọi là cúm Tây Ban Nha (grippe espagnole), cái tên cũng không thích hợp như tên gọi cúm Mễ Tây Cơ (grippe mexicaine), nhưng đã đi vào trong Lịch Sử, đã là trận đại dịch cúm thế giới (pandémie grippale) đầu tiên của thế kỷ 20, trước đại dịch cúm á châu (grippe asiatique) năm 1957 (4 triệu người chết), trước trận dịch của cúm Hồng Kông vào năm 1968 (2 triệu người chết) và trận dịch mà ta đang trải qua hôm nay. Bệnh cúm Tây Ban Nha đã do một virus loại A/H1N1.

Những trường hợp đầu tiên quả thật đã được ghi nhận ở Tây Ban Nha, nơi đây đã có hàng triệu người chết. Trái với phần lớn các nước khác của châu Âu, lâm chiến trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Tây Ban Nha thông tin không bị kiểm duyệt và các tin tức về trận đại dịch cúm này có thể được lưu hành từ đó, trong khi phía Đồng Minh, người ta sợ tạo cho kẻ thù một cảm tưởng rằng quân đội và dân chúng bị suy yếu nếu truyền bá những tin tức về căn bệnh cúm này.

Trận dịch đã bắt đầu vào tháng ba năm 1918, nghĩa là 8 tháng trước khi kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất 14-18, nhưng xảy ra vào lúc mà sự chấm dứt cuộc chém giết to lớn đã bắt đầu ló dạng. Trận dịch được theo đuổi một cách mạch mẽ vào năm 1919 và đã kết thúc vào khoảng giữa năm 1920. Số tử vong mà trận đại dịch cúm gây nên càng ngày càng được bàn cãi, vì lẽ nhiều người đã tăng gấp đôi hay gấp ba con số chính thức các người chết, mà các nhà viết sử đã ấn định ở mức 30 triệu, hay đúng hơn giữa 20 và 40 triệu. Đó là trận dịch hủy hoại nhất của lịch sử nhân loại. Mặc dầu các sự so sánh là táo bạo vì lẽ hành tinh vào thời Trung Cổ ít dân cư hơn nhiều so với đầu thế kỷ 20, nhưng các nhà sử học nhấn mạnh rằng trận đại dịch cúm Tây Ban Nha đã giết chết nhiều người trong một năm hơn là trận đại dịch hạch xoài (peste bubonique), còn được gọi là Dịch Hạch đen (Peste Noire), trong 4 năm (giữa năm 1347 và 1351). Như các nhà sử học của Đại Học Stanford nhấn mạnh, người ta ước tính rằng cứ năm người trên hành tinh thì có một người đã bị nhiễm bởi virus chịu trách nhiệm đại dịch cúm này và rằng 24% những người Mỹ và có lẽ hơn thế nữa đối với những người Châu Âu, đã bị nhiễm trùng. Họ còn xác nhận rằng 675.000 người Mỹ đã bị chết hoặc 10 lần nhiều hơn số lính Mỹ đã ngã xuống trên các chiến trường của cuộc chiến 14-18 (thật ra đối với Hoa Kỳ là cuộc chiến 1917-1918). Thật vậy, một nửa số những người Mỹ chết ở châu Âu trong hai năm cuối của cuộc chiến tranh 14-18 thật ra là chết vì những hậu quả của cúm Tây Ban nha. Một nhà sử học Mỹ đã ước tính số lính Mỹ chết ở Âu Châu do hậu quả của bệnh cúm này là 43.000 người. Ngay cả tổng thống Woodrow Wilson, phải thương thuyết những điều kiện của sự đầu hàng của Đức, trong khi chính ông vừa mới hồi phục những hậu quả của bệnh cúm này.

HAI CUỘC TÀN SÁT VÀO NĂM 1918.

Vào cuối năm 1918, Journal of the American Medical Association, tờ báo tiền thân của JAMA, đã viết : “ Năm 1918 đã chấm dứt : một năm được ghi nhớ như là năm chấm dứt của cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong các biên niên sử của loài người ; một cuộc chiến tranh đã đánh dấu, ít nhất là vào lúc này, sự tiêu diệt giữa con người với nhau ; bất hạnh thay, là một năm trong đó đã phát triển một căn bệnh nhiễm trùng gây nên tử vong cho hàng trăm ngàn người. Y khoa trong vòng 4,5 năm đã chuyên tâm vào việc làm cho các con người lính có khả năng chiến đấu trên các mặt trận và ở lại đó. Bây giờ đây, y khoa phải hết sức chuyên tâm vào cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù tệ hại nhất của tất cả, đó là bệnh nhiễm trùng.”

Ngoài ra, các tác giả trong số cuối này của tạp chí vào năm 1918, còn bàn cãi về chính bản chất của bệnh nhiễm trùng, bởi vì một bài báo của Journal of the American Medical Association, mang tựa đề như sau : “ Bệnh cúm (influenza) phải chăng là do một siêu vi trùng qua lọc (virus filtrable) ? Bệnh cúm Tây Ban nha tức thời tỏ ra đáng sợ hơn những bệnh cúm trước đây, với một tỷ lệ tử vong 2,5% so với 0,1% đối với những dịch cúm mùa đã được ghi nhận vào lúc đó. Các nhà nghiên cứu nói trên của của Stanford mặt khác nhấn mạnh rằng tai họa đã dữ dội đến độ hy vọng sống trung bình (espérance de vie moyenne) ở Hoa Kỳ đã chịu một sự sụt giảm 10 năm. Một giai thoại, được phổ biến rộng rãi vào thời đó, đã tường thuật một cuộc đấu bài bridge, chứng kiến trong cùng một đêm 3 trong bốn tay chơi, hội họp quanh bàn, đã ngã gục chết vì bệnh cúm. Tất cả các cơ quan y tế bị tràn ngập hết cách cứu chữa, nhất là các bệnh viện, vốn đã bị quá tải do sự trở về của những người lính bị thương trên mặt trận, một tình hình lại càng trầm trọng thêm do sự tử vong của nhiều thầy thuốc, lại chính là những nạn nhân của bệnh cúm này. Các thầy thuốc phải thú nhận sự bất lực của họ là không tránh được cuộc thảm sát này.

Những thảm họa lại còn dấn các nước bị ảnh hưởng vào trong tình trạng khủng khiếp. Nhất là ở Hoa Kỳ, theo gương các các cơ quan tổ chức mai táng, những kẻ phải đảm nhận sự chôn cất của những nạn nhân ngã gục vì cúm, không còn có thể theo kịp nhịp mà đại dịch áp đặt lên họ. Trong những nước khác, tai họa lại còn tệ hại hơn. Thí dụ, ở Ấn Độ, người ta thống kê 50 tử vong vì cúm đối với 1.000 người. Nhưng song song với tai họa y tế là đại dịch này, chính y khoa trong những năm tháng này đã trải qua một thời kỳ phát triển quan trọng. Vì buộc phải công nhận rằng mặc dầu các cuộc chiến tranh gợi cho chúng ta những điều khủng khiếp, thế nhưng những cuộc chiến này lại có một khía cạnh có lợi, làm những ngành như ngoại khoa hay vô trùng thực hiện được những tiến bộ, nhất là vào thời kỳ mà chúng chưa được phát triển một cách hoàn hảo. Tất cả điều đó cũng góp phần vào sự chiến thắng của những tư tưởng khoa học đối với những toan tính ngu dân nhằm giải thích thế giới và nhất là chính dịch bệnh. Và những tiến bộ của y khoa quân sự có thể có lợi cho những bệnh nhân là nạn nhân của cúm Tây Ban Nha.

LÝ THUYẾT ÂM MƯU ĐÃ CÓ VÀO THỜI KỲ ĐÓ RỒI.

Vào lúc mà hiện nay người ta đã không có một ý niệm chính xác về virus là nguyên nhân của đại dịch này, ngay vào thời kỳ đó, điều này đã nhanh chóng làm xuất hiện nhiều giải thích khác nhau liên quan đến lý thuyết của các âm mưu (théorie des complots). Vào thời kỳ đó vấn đề này lại càng dễ hiểu hơn, nhất là khi dịch tễ học y khoa đang còn trong những bước chập chững ban đầu. Ký ức về việc sử dụng khí độc bởi quân đội Đức dĩ nhiên vào lúc đó làm dễ sự xuất hiện của một lý thuyết về một vũ khí mới được sử dụng bởi quân đội Đức, một lý thuyết tuy nhiên nhanh chóng bị bác bỏ bởi sự kiện là căn bệnh đã giết chết phe Đức cũng như Đồng Minh. Sau cùng người ta chấp nhận nguồn gốc tự nhiên của dịch bệnh, mà về sau này người ta đã nhận thức rằng căn bệnh này là do một virus, có khả năng gây nhiễm trùng và tăng sinh nơi heo nhưng không giết chết nó, đồng thời có khả năng giết chết một loạt các động vật có vú khác trong đó có khỉ, chuột và người.
(LA SEMAINE MEDICALE 8/10/2009)

4/ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TUỔI THỌ CON NGƯỜI.

Sự gia tăng thời gian hy vọng sống (espérance de vie) sẽ dừng lại vào một ngày nào đó ? Trong những nước phát triển, tuổi thọ trung bình gia tăng 3 tháng mỗi năm từ 160 năm nay. Nhưng nếu tin theo một phân tích được công bố trong số vừa qua của Journal of Population Agening, tương lai sẽ còn dành những mối bất ngờ. “ Cuộc bàn cãi về động lực của tuổi thọ chưa bao giờ công khai như thế, Sarah Harper và Kenneth Howse, thuộc đại học Oxford đã nhấn mạnh như vậy trong một bài báo, liệt kê nhiều yếu tố ảnh hưởng lên tuổi thọ của con người. Thí dụ, nhiều chuyên gia tự hỏi, nếu, trong những quốc gia như Hoa Kỳ, là nơi chứng béo phì là một bệnh dịch thật sự, thì thời gian hy vọng sống (espérance de vie) có thể bị giảm trong những năm đến hay không.

Vào năm 1840, những người Thụy Điển dẫn đầu với một tuổi thọ trung bình 45 năm. Ngày nay, Nhật Bản giữ vị trí này với một tuổi thọ gần 85 tuổi. Trong hai thế kỷ, theo nhà nhân khẩu học James Riley, tuổi thọ toàn bộ của con người đã tăng nhiều hơn gấp đôi đối với những người đàn ông (tuổi thọ trung bình đã chuyển từ 25 tuổi lên 65 tuổi) và gần như gấp ba đối với các phụ nữ (từ 25 lên 70 tuổi).

Không gì có thể nói trước rằng khuynh hướng này sẽ kéo dài vô tận. Tuy vậy câu hỏi có tầm quan trọng. Thật vậy, sự lão hóa dân số chi phối tất cả các chính sách nhà nước, trong việc tính tuổi về hưu cũng như việc tổ chức hệ thống y tế thậm chí sự quy hoạch các hệ thống vận tải nhằm kéo dài tính tự trị của những người già.

Các chuyên gia đã biết giữ thái độ thận trọng. Trong những năm 1920, Louis Dublin, một trong những nhà thống kê giỏi nhất của thời kỳ đó, đánh giá rằng tuổi thọ tối đa của những người Mỹ không bao giờ có thể vượt quá 64 tuổi. Nhưng giới hạn sinh lý tối đa này đã bị phá vỡ. Vào tháng năm 2009, Gerontology Research Group đã thống kê trên thế giới có không dưới 200.000 siêu bách niên (supercentenaires), những người đã vượt quá 110 tuổi.

Trước những năm 1950, sự gia tăng tuổi thọ thường được gán cho sự giảm tỷ lệ tử vong nhi đồng. Sau đó sự gia tăng này được giải thích bởi sự gia tăng mức sống (niveau de vie) cũng như cả một loạt những tiến bộ về vệ sinh, dinh dưỡng, giáo dục và y khoa. Nguy cơ chính liên kết với lối sống trong thế kỷ XX là thuốc lá. “ Những nguy cơ khác trong những nước giàu là một chế độ ăn uống xấu, thiếu thể dục và uống quá nhiều rượu ”, Sarah Harper và Kenneth Howse đã nêu lên như vậy.

Các nhà nghiên cứu Anh nhắc lại rằng tuổi thọ thay đổi tùy theo trình độ xã hội-kinh tế. Nhưng về điểm này, cũng phải dè chừng những định kiến. Thật vậy, một công trình nghiên cứu, được công bố hôm qua trong các bảng tường trình của Viện Hàn Lâm Y học Hoa Kỳ đã cho thấy rằng, suốt trong thời kỳ Đại Suy Thoái (Grande Dépression), giáng vào Hoa Kỳ vào năm 1929, tuổi thọ của những người Mỹ đã nhảy vọt bất ngờ. Tuổi thọ trung bình đã chuyển từ 57 tuổi vào năm 1929 lên hơi hơn 63 tuổi một chút vào năm 1932. Trái lại tuổi thọ đã giảm trong suốt thời kỳ bành trướng kinh tế mạnh mẽ trước thời kỳ Đại Suy Thoái và vào năm 1936-1937. Theo hai tác giả của công trình nghiên cứu, José Tapia Granados và Ana Diez Roux, thuộc Đại Học Michigan, sự gia tăng tuổi thọ này có thể chủ yếu được giải thích bởi việc giảm tiêu thụ rượu và thuốc lá do thất nghiệp cũng như do giảm ô nhiễm kỹ nghệ.

Các phụ nữ có một tuổi thọ lớn hơn tuổi thọ của các người đàn ông. Nhưng nếu ta nhìn kỹ, tình trạng hôn nhân của hai giới tính cũng tạo nên những khác nhau. “ Những người có gia đình có khuynh hướng sống lâu hơn những người độc thân và những người độc thân thì lại có tuổi thọ tốt hơn những người ly dị hay những người bị góa ”, các tác giả đã viết như vậy. Nói về tuổi thọ, hôn nhân có lợi cho đàn ông hơn so với đàn bà.
(LE FIGARO 30/9/2009)

5/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : HƯỚNG VỀ NHỮNG LIỆU PHÁP “ KHU TRÚ ” (THERAPIES FOCALES) .

Nhiều chiến lược mới đang được thử nghiệm, có thể tránh nhưng di chứng của những điều trị cổ điển.

UROLOGIE. Đó là một đường hướng thứ ba đang được mở ra đối với những người đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt (cancer de la prostate). Những điều trị mới, tại chỗ và ít hung hãn, thu được những kết quả đáng phấn khởi, theo những công trình nghiên cứu được trình bày tuần qua nhân một hội nghị quốc tế ở Paris. Hiện nay, các bệnh nhân có hai lựa chọn, tùy theo giai đoạn tiến triển của khối u, tuổi tác và sự ưa thích của họ. Họ có thể là đối tượng của một sự theo dõi tích cực, không phải luôn luôn dễ chịu về mặt tâm lý ; hoặc một phép điều trị tích cực nhằm chữa lành họ (phẫu thuật, phóng xạ liệu pháp). Con đường thứ ba, còn đang được thí nghiệm, là con đường của một điều trị một phần (traitement partiel) của tuyến tiền liệt, giới hạn vào bộ phận khối u (liệu pháp khu trú, thérapie focale).

Trong số những ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện (từ nay hơn 70.000 mỗi năm ở Pháp), một nửa đuợc phẫu thuật. Với sự gia tăng hằng định của thăm khám phát hiện bằng PSA (luôn luôn gây bàn cãi), các thầy thuốc niệu khoa càng ngày càng thường đối đầu với những khối u có kích thước nhỏ, khu trú và ít tiến triển. Chính những bệnh nhân này mà những liệu pháp khu trú (thérapies focales) có thể được đề nghị. Các liệu pháp này nhằm phá hủy các ổ ung thư bằng siêu âm, chính xác là những siêu âm hội tụ có năng lượng cao (ultrasons focalisés de haute énergie), bằng đông lạnh (cryothérapie) hay bằng một tác nhân tăng nhạy sáng (photosensibilisateur) (liệu pháp quang động, photothérapie dynamique).

Được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu của viện Weizmann (Israel), liệu pháp quang động (photothérapie dynamique), được phát triển bởi công ty Stebabiotech, có đặc điểm là phá hủy các huyết quản cung cấp máu cho khối u. Một thuốc tăng nhạy sáng (molécule photosensibilisante) (một dẫn xuất của chlorophylle được mệnh danh là Tookad), được tiêm bằng đường tĩnh mạch vào trong cơ thể, rồi người ta chiếu sáng nó bằng một sợi laser được đặt duy nhất trong vùng ung thư. Được hoạt hóa bởi ánh sáng như thế (với một độ dài sóng rất chính xác), thuốc tăng nhạy sáng sinh ra những phân tử không ổn định dẫn xuất từ oxy, sẽ làm thuyên tắc các huyết quản và làm ngạt khối u trong vài giờ.

Trên thực tiễn, 5 đến 6 sợi quang học (fibres optiques) được đưa vào qua đường tầng sinh môn, dưới sự kiểm soát của siêu âm. Cuộc phẫu thuật, dưới gây mê tổng quát nhẹ, kéo dài khoảng 1 giờ và bệnh nhân có thể từ giả bệnh viện trong ngày. Được trắc nghiệm trên khoảng 40 bệnh nhân với một ung thư khu trú của tuyến tiền liệt, liệu pháp huyết quản nhắm đích (thérapie vasculaire ciblée) này đã được dung nạp tốt. Theo những kết quả được trình bày bởi GS Mark Emberton (University College, Luân Đôn), nhân colloque được tổ chức bởi hãng Stebabiotech, 1 bệnh nhân trên 18 có một sinh thiết âm tính (không tìm thấy những tế bào ung thư) với 6 tháng nhìn lại. Một hiệu quả thoạt đầu khiêm tốn, nhưng được xem là đáng quan tâm bởi các thầy thuốc niệu khoa. Còn đặc biệt cần phải biết đâu là những kết quả lâu dài hơn. Hãng Stebabiotech đã dự kiến một thử nghiệm khác vào năm 2.010 trên nhiều trăm người ở Châu Âu.

NHỮNG BUỔI LẬP LẠI.

“ Đó là một phép điều trị đơn giản, không gây nên những di chứng đường tiểu và sinh dục, và có lợi điểm có thể lập lại được ”, GS Arnauld Villers, thầy thuốc niệu khoa ở CHU de Lille, một trong những nhà nghiên cứu của thử nghiệm lâm sàng đã giải thích như vậy. Những buổi liệu pháp khu trú có thể được lập lại trong lúc theo dõi, trong trường hợp tái phát tại chỗ hay khi xuất hiện một ổ khác trong tuyến tiền liệt. Tuy nhiên GS Villers xác nhận rằng nếu chiến lược này là khá “ nhẹ nhàng ” đối với bệnh nhân, nó phải kèm theo một theo dõi tương đối xâm nhập : IRM, định lượng PSA trong máu và nhất là sinh thiết tuyến tiền liệt đều đặn.

“ Ngày nay, ta nhận diện được những bệnh nhân với một ung thư tuyến tiền liệt có nguy cơ thấp, và người ta nghĩ là có thể điều trị chúng một cách có hiệu quả bằng những phương pháp khu trú. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và những bất lợi của nó ”, BS Eric Barret thuộc Institut mutualiste Montsouris (PARIS), người cùng tham gia vào các công trình nghiên cứu, đã tổng kết như vậy. “ Nếu những điều hứa hẹn của các liệu pháp khu trú được xác nhận, khoảng 20% các ung thư tuyến tiền liệt có thể được hưởng phương pháp này ”, GS Pascal Rischmann, chủ tịch Hiệp hội niệu học, đã tiên đoán như vậy. Kỹ thuật độc đáo này, dựa trên một chất dẫn xuất của chlorophylle, cũng được trắc nghiệm trong những ung thư phổi và những ung thư của túi mật.
(LE FIGARO 27/10/2009)

6/ MỘT VIRUS ĐƯỢC KHÁM PHÁ TRONG VÀI UNG THƯ CỦA TUYẾN TIỀN LIỆT.

ONCOLOGIE. Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một rétrovirus trong lòng nhiều ung thư của tuyến tiền liệt, nhưng không có thể nói virus có phải là nguyên nhân hay hậu quả của khối u.

Ung thư tuyến tiền liệt phải chăng có thể được liên kết với một siêu vi trùng ? Đó là điều được gợi ý bởi các nhà khoa học Hoa Kỳ, Ila Singh và một nhóm những nhà nghiên cứu của trung tâm y tế của đại học Columbia (Nữu Ước). Các nhà nghiên cứu công bố những kết quả chứng tỏ rằng những ung thư của tuyến tiền liệt, được gọi là cấp cao (de haut grade) (đặc biệt hung hãn), chứa ADN vàc các protéine siêu vi trùng của một rétrovirus được biết là làm nhiễm trùng các con chuột.

Không phải lần đầu tiên mà người ta quy một tác nhân virus cho một ung thư người : các papillomavirus là nguồn gốc của ung thư cổ tử cung, virus của viêm gan B có thể dẫn đến một ung thư gan nguyên phát, và virus Epstein-Barr gây nên lymphome de Burkitt (một khối u của hàm). Nơi người, nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ từ năm 2000 đã chỉ cho thấy rằng nhiễm trùng và viêm nhiễm kinh niên có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt.

BA CƠ CHẾ KHÁC NHAU

Virus này thuộc họ các gamma rétrovirus chuột, được biết đến và được sử dụng bởi những nhà nghiên cứu trên thế giới từ hơn 40 năm nay, do những tính chất sinh ung thư thí nghiệm của chúng nơi động vật. Nhưng cho đến nay, không có một gamma rétrovirus nào đã từng cho thấy các khả năng gây nên một ung thư nơi người.

Ila Singh và các cộng sự viên đã phân tích những mẫu nghiệm sinh thiết của 233 trường hợp ung thư tiền liệt tuyến cũng như những mẫu nghiệm lấy nơi 101 bệnh nhân bị một adénome tuyến tiền liệt hiền tính. Để thực hiện điều này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật làm tăng sinh số các sao bản của một mẫu ADN, như vậy cho phép phát hiện nó dễ dàng hơn.

Kết quả : các nhà nghiên cứu đã phát hiện sự hiện diện của ADN của virus trong 14 trong số 233 ung thư tuyến tiền liệt hoặc hơn 6% các trường hợp). Và đặc biệt là trong những thể hung dữ. Họ cũng khảo sát sự hiện diện của những protéine được biểu hiện bởi các gène virus này trong những tế bào tuyến tiền liệt : 23% các mẫu nghiệm chứa những protéine này. Và nhất là, các protéine XMRV được siêu biểu hiện (surexprimé) trong những tế bào biểu bì ác tính của tuyến tiền liệt, điều này cho phép gợi ý rằng nhiễm trùng bởi rétrovirus này có thể có một vai trò trong quá trình ung thư hóa trong vài trường hợp.

Các rétrovirus có thể gây nên một ung thư bằng ba cơ chế khác nhau: cơ chế đầu tiên do sự hiện diện trong bộ gène (génome) của virus một gène sinh ung thư (oncogène) tăng sinh trong tế bào chủ và gây nên một sự biến hóa khối u nhanh chóng. Cơ chế thứ hai là sự “ châm lửa ” (allumage) của các gène tăng trưởng tế bào của người bởi một gène của virus, và cơ chế thứ ba là sự đưa vào trực tiếp trong các gène người một mẫu ADN virus, sẽ phát khởi sự biểu hiện của một gène ung thư. Công trình nghiên cứu này trong tương lai sẽ có thể dẫn đến những phát hiện mới những chất chỉ dấu ung thư (marqueurs cancéreux)
(LE FIGARO 9/9/2009)

Đọc thêm : Siêu vi trùng XMVR liên hệ Ung Thư Nhiếp Hộ Tuyến - Bác Sĩ Trần Mạnh Ngô

7/ UNG THƯ VÚ : TIÊN LƯỢNG TỐT HƠN VỚI ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH.
BS Véronique Diéras, thầy thuốc chuyên khoa ung thư thuộc Viện Curie, giải thích những tiến bộ quan trọng, được thực hiện trong các ung thư vú, được trình bày tại Hội Nghị Asco, Hoa Kỳ.

Hỏi : Bà có thể nhắc lại tần số của các ung thư vú ở Pháp ?
Véronique Diéras : Người ta đã thống kê được 51.000 trường hợp vào năm 2008. Trung bình cứ 8 phụ nữ đang có hoặc sẽ có một ung thư vú. Nhưng hiện nay người ta quan sát thấy hơn 70% được chữa lành.

Hỏi : Các loại khác nhau của ung thư vú là gi ?
Véronique Diéras : Người ta xếp chúng thành 3 loại.
  • Những ung thư phụ thuộc kích thích tố (hormono-dépendants), trong đó những tế bào ung thư có những thụ thể (récepteur) đối với œstrogène và progestérone, những hormone làm dễ sự tăng sinh những tế bào ác tính (khoảng 70% các ung thư).

  • Các ung thư “ HER dương tính ” (20% các khối u), hung hãn hơn nhiều, có trên bề mặt của những tế bào một thụ thể HER2. Chỉ một mình nó, HER2 gây nên sự tăng sinh của những tế bào ung thư và làm dễ sự phân tán của chúng để tạo nên các di căn.

  • Các ung thư “ cả ba âm tính ” (triple négatif), không có một thụ thể nào và còn hung hãn hơn các loại trước.

Hỏi : Ngoài ngoại khoa, bức xạ liệu pháp, hóa học liệu pháp, những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) ngày nay được sử dụng là gì ?
Véronique Diéras : Đối với những ung thư phụ thuộc kích thích tố (cancers hormono-dépendants), các thuốc kháng kích thích tố (antihormonaux) là chìa khóa của điều trị. Mục đích là chống lại một cách đặc hiệu các tác dụng của các hormone trong tế bào ung thư.
  • Đầu đàng của những thứ thuốc này nơi những phụ nữ trẻ hay mãn kinh là tamoxifène (Nolvadex). Dược chất này cạnh tranh với các oestrogène nơi thụ thể và phong bế tác dụng của nó.

  • Các chất ức chế men aromatase chỉ duy nhất được sử dụng nơi các phụ nữ mãn kinh. Aromatase là một enzyme chịu trách nhiệm sự sản xuất oestrogène nơi các mô mỡ và vú.

  • Một thuốc khác mới hơn, luôn luôn dành cho các phụ nữ mãn kinh : fulvestrant (chích mông) gây nên sự thoái hóa của các thụ thể đối với œstrogène.

Hỏi : Những kết quả của những điều trị nhắm đích này ?
Véronique Diéras : Trong đại đa số các trường hợp, những điều trị này là có hiệu quả. Tamoxifène có lẽ là thuốc đã cứu nhiêu mạng người nhất trong 30 năm vừa qua ! Nhưng nơi những bệnh nhân này người ta quan sát thấy một sự đề kháng với kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie). Lúc đó ta có hai giải pháp : hoặc là ta biến đổi điều trị, hoặc là ta dự kiến một hóa học liệu pháp. Các kết quả thay đổi tùy theo những đặc điểm sinh học của khối u và những đặc điểm chung của mỗi bệnh nhân.

Hỏi : Bà có thể giải thích các đặc điểm di truyền nghĩa là thế nào ?
Véronique Diéras : Một thứ thuốc nhắm đích (médicament ciblé), một khi được đưa vào trong cơ thể, sẽ chịu những biến hóa, thay đổi tùy theo các chuyển hóa, trước khi đạt đến mục đích của nó. Vì tất cả chúng ta khác nhau về mặt di truyền, cùng một thứ thuốc sẽ không có cùng hiệu quả nơi tất cả các bệnh nhân. Trong tương lai, lý tưởng sẽ là kê toa một điều trị chống ung thư không chỉ tùy theo khối u mà còn tùy theo các gène nữa.

Hỏi : Đối với những ung thư phụ thuộc hormone, những tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Những nghiên cứu quốc tế hiện nay đang đươc tiến hành trên những phụ nữ bị những tái phát dưới hormone liệu pháp, để phát triển những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới, với những thứ thuốc sẽ tăng cường tính hiệu quả của các thuốc chống hormone hiện nay hay để ngăn ngừa các đề kháng. Ở Viện Curie, chúng tôi đã có những kết quả đáng phấn khởi, sẽ được xác nhận trong một tương lai gần.

Hỏi : Đối với các loại ung thư “ HER2 dương tính ”, những tiến bộ đi đến đâu rồi ?
Véronique Diéras : Người ta đã chứng kiến một cuộc cách mạng thật sự với sự xuất hiện của herceptine, một kháng thể được tiêm bằng đường tĩnh mạch, làm phong tỏa hoạt tính của thụ thể HER2. Được liên kết với hóa học liệu pháp, phép điều trị này đã cho phép làm giảm 35% nguy cơ tái phát và, trong tình huống ung thư, biến đổi ung thư thành bệnh mãn tính. Nhưng lại còn những đề kháng. Một loại thuốc mới đây tác dụng lên một chỗ khác của thụ thể, lapatinib, cho phép, trong trường hợp tái phát, kềm hãm sự tăng sinh của những tế bào ung thư. Một phương pháp mới dường như rất hứa hẹn : phương pháp này nhằm chế tạo trong phòng thí nghiệm cùng thứ thuốc liên kết herceptine với một thuốc của hóa học liệu pháp. Với kỹ thuật này, thuốc có độc tính chỉ được phóng thích trong lòng tế bào khối u và không còn trong những tế bào lành mạnh nữa : không còn rụng tóc nữa và ít những tác dụng phụ hơn nhiều.

Hỏi : Về những ung thư “ ba âm tính ” (cancers triple négatif), tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Chống lại những khối u này, hiện nay chỉ có hóa học liệu pháp. Người ta liên kết hóa học liệu pháp với một điều trị chống sinh mạch máu (traitement angiogénique), được tiêm tĩnh mạch, nhằm vào các huyết quản nuôi dưỡng khối u. Với phương thức này, tiếc thay người ta đã ghi nhận một số lớn các tái phát, do đó hiệu chính một điều trị mới. Trong mỗi tế bào có enzyme Parp mà vai trò là sửa chữa các thương tổn của ADN. Thế mà, chính enzyme này có thể chống lại tác dụng của một hóa học liệu pháp và làm thất bại nó. Thuốc mới là một chất ức chế Parp, do đó nhằm trung hòa enzyme này. Các kết quả đã tỏ ra rất dương tính với các thuốc mới (cho bằng đường tĩnh mạch) liên kết với một hóa học liệu pháp. Chúng đã tăng gấp ba các tỷ lệ đáp ứng và thời gia đáp ứng so với hóa học liệu pháp được dùng đơn độc. Để có thể thực hiện những điều trị này, mức độ chính xác của sinh thiết là cốt yếu.
(PARIS MATCH 22/10-28/10/2009)

8/ METFORMINE KẾT HỢP VỚI HÓA HỌC LIỆU PHÁP TRONG ĐIỀU TRỊ VÀI UNG THƯ ?

Metformine (Glucophage) là một trong các thuốc chống đái đường được kê toa nhiều nhất trên thế giới, do vai trò quan trọng của nó trong kiểm soát đường huyết. Nhưng như chúng ta đã thấy với những thứ thuốc khác, đó không phải là tác dụng đáng lưu ý duy nhất. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều dữ kiện gợi ý rằng metformine có thể kích thích hệ miễn dịch và làm tăng cường hiệu quả của các điều trị chống ung thư. Đó là một dữ kiện quan trọng khi ta biết rằng trên một tập hợp gần 1 triệu người, tỷ lệ tử vong do ung thư là 29% cao hơn nơi những người có những nồng độ đường trong máu tăng cao, độc lập với sự nghiện thuốc lá hay nghiện rượu.

Một nghiên cứu cho thấy rằng metformine, nếu được dùng riêng rẻ để điều trị, được liên kết với một nguy cơ ung thư thấp hơn so với những điều trị khác. Còn hơn thế, kết hợp nó với insuline cũng làm giảm nguy cơ này đối với ung thư tụy tạng hay đại tràng, nhưng không đối với ung thư vú hay ung thư tiền liệt tuyến. “ Sự việc lại còn đi xa hơn nữa khi hai công trình nghiên cứu mới đây mà một cho thấy một đáp ứng tốt hơn với hóa học liệu pháp nơi những người bị bệnh đái đường với ung thư vú, được điều trị bởi metformine ”, GS Ulf Smith, chủ tịch của Hiệp hội châu Âu nghiên cứu bệnh đái đường đã nói như vậy.

Dầu ở người như thế nào, các dữ kiện lại còn hùng hồn nơi động vật với sự chứng minh rằng metformine ức chế các tế bào gốc ung thư khi metformine được liên kết với doxorubicine. Với sự dè dặt cần được xác nhận, có lẽ chúng ta đang trong buổi bình minh của một cuộc cách mạng trị liệu trong điều trị vài bệnh ung thư.

Hội Nghị lần thứ 45 của European Association for the Study of Diabetes, 29/9- 2/10 2009, Vienne.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2009)

9/ CÁC TẾ BÀO GỐC : TỪ Y KHOA ĐẾN MỸ PHẨM HỌC.

Những nghiên cứu về tế bào gốc không ngừng làm ngạc nhiên bởi vì chúng mở ra một con đường sinh học điều trị mới, ngay cả trong lãnh vực sắc đẹp.

DECOUVERTE : Không một ngày nào trôi qua mà không có một công bố khoa học nói về những triễn vọng y khoa mới hay các chiến lược điều trị tiên tiến về các tế bào gốc.

Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì các tế bào gốc ngày nay là niềm hy vọng lớn nhất của y học để điều trị vài căn bệnh. Để hiểu rõ, phải biết rằng những tế bào gốc phôi thai (cellulues souches embryonnaires) có khả năng tái tạo bất cứ mô hay cơ quan nào. Cuối thời kỳ phát triển, mỗi mô là chỗ tạm trú của những tế bào gốc được gọi là trưởng thành. Những tế bào này nói chung “ nằm im” (dormant) và sẵn sàng trở nên hoạt động dưới thông tin của vài messager sinh học. Thật vậy, chúng có khả năng thay thế các tế bào bị thương tổn. Do đó ta hiểu tại sao các nhà nghiên cứu hâm mộ di sản quý báu này. Được phân lập và cấy trong phòng thí nghiệm, các tế bào gốc sau đó có thể sản xuất những tế bào có khả năng điều trị những dạng đái đường khác nhau, các đột qụy, và ngay cả vài bệnh lý có tính chất di truyền. Thí dụ khác với những người bị bỏng nặng : một mẫu mô trích từ da lành cho phép tái tạo các mô để ghép và như thế giải quyết những vấn đề thải bỏ (rejet).

Cũng vậy đối với những vùng của tim bị làm hỏng bởi một nhồi máu cơ tim mà chúng ta sẽ tái định cư bằng những tế bào gốc có khả năng tái lập ở đó một sự hoạt động. Khi chúng ta chứng kiến sự gia tăng không thể tin được của số những người bị bệnh tim mạch trong những xã hội hiện đại của chúng ta, các liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) đúng là sẽ mang lại niềm hy vọng.

Một trong những khám phá mới nhất (và còn mở ra những triển vọng mới) đã được thực hiện bởi một nhóm những nhà nghiên cứu của đại học Canada và được công bố trong tạp chí “ Stem Cells”. Sự liên kết của một hormone được sản xuất bởi cơ thể (interféron gamma) với một nhóm tế bào gốc đa năng nào đó có thể làm dễ sự tăng trưởng của các xương. Áp dụng y khoa để điều trị bệnh loãng xương là cần thiết. Hãy nhắc lại rằng, theo OMS, căn bệnh này có liên quan một phụ nữ trên 4 sau 50 tuổi.

CÁC TẾ BÀO GỐC VÀ THẨM MỸ HỌC.

Thẩm mỹ học (cosmétique) cũng quan tâm đến những tế bào gốc, do khả năng làm tái sinh da của chúng. Những tế bào gốc biểu bì nằm trên màng căn bản (membrane basale), ở chỗ nối bì-biểu bì (jonction dermo-épidermique). Sau khi đã nhận thức nhanh chóng tiềm năng của chúng, các Laboratoires de Recherche Avancée mà Lancôme được hưởng, đã thực hiện từ hơn 20 năm qua những nghiên cứu sâu về chủ đề này.

Các nhà khoa học như thế đã thực hiện một cuộc khám phá quyết định và gây ngạc nhiên : số các tế bào gốc biểu bì và hậu duệ của chúng không giảm đi với tuổi tác nhưng chức năng của chúng bị xáo trộn rất nhiều. Trong lúc nghiên cứu ảnh hưởng của những biến đổi của chỗ nối bì-biểu bì, họ cũng phát hiện được tầm quan trọng của môi trường của những tế bào gốc đối với khả năng hoạt động của chúng.

Bằng cách tái tạo một môi trường tối ưu, biểu bì của một lớp da được tái tạo có khả năng tái sinh thấp, lấy lại tiềm năng tái tạo tương tự với tiềm năng của một lớp da trẻ.

Ngày nay, sau hai thập niên nghiên cứu, Lancôme hưởng được những kết quả của những công trình nghiên cứu này và thực hiện một cuộc cách mạng thẩm mỹ học : Absoluev Precious Cells, một loạt những điều trị tái sinh và tái tạo đối với những phụ nữ trên 50 tuổi. Triển khai trở lại tiềm năng tái tạo, da thêm được mật độ và những làn nhăn được giảm đi một cách đáng kể. Từ y khoa đến sắc đẹp, chỉ cần bước một bước...đã vượt qua.
(LE FIGARO 24-25/10/2009)

10/ MỔ CÁC KHỐI U CỦA NÃO BỘ : MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KỸ THUẬT (PHẦN I)

Những tiến bộ, được thực hiện trong những năm qua, từ nay cho phép điều trị các thương tổn của não bộ trước đây không thể mổ được. Ngày nay, người thầy thuốc có thể sửa soạn cuộc phẫu thuật trên ordinareur như một kế hoạch bay (plan de vol), có thể kiểm tra trong lúc mổ vị trí những vùng não bộ và, trong vài trường hợp, điều trị không cần phải mở hộp sọ. Chính để cho các bạn biết tất cả những thành tích này mà chúng tôi đã phỏng vấn 6 chuyên gia lớn. B.S Sorin Aldea, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Foch, G.S Alexandre Carpentier, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Laurent Capelle, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Stephan Gaillard, trưởng khoa ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Foch, G.S Jean-Jacques Mazeron, trưởng khoa quang tuyến liệu pháp ung thư thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Charles-Ambroise Valéry, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière

NGOẠI KHOA MỞ HỘP SỌ KẾ HOẠCH HÓA NHỜ MÁY VI TINH.

Lúc hay tin rằng họ bị một khối u não, các bệnh nhân như có cảm giác bị một cú chùy ! BS Laurent Capelle đã công nhận như vậy. Chữ khối u đã làm họ sợ ...nhưng trong não bộ, ở đó, họ hoảng sợ. Phải trấn an, giải thích rằng, mặc dầu hình ảnh gây ấn tượng, nhưng não bộ có thể “ cùng chung sống với ”, có thể bù trừ. Điều này cho phép có nhiều khả năng điều trị.”

Các khối u của não bộ có thể hiền tính : các u màng não (ménigiome), u tuyến não thùy (adénome hypophysaire), các u thần kinh đệm (gliome) mức độ thấp...) hay ác tính : các di căn, các u thần kinh đệm mức độ cao, các u nguyên bào thần kinh (glioblastomes). “ Các di căn, BS Stephan Gaillard đã chứng thực như vậy, xảy ra thường hơn các u thần kinh đệm (gliomes) : vì lẽ các ung thư càng ngày càng được điều trị tốt hơn và bệnh nhân sống càng ngày càng lâu hơn, điều này, trong vài trường hợp, cho phép có thể có thời gian phát triển một di căn. Nhưng dầu cho thương tổn là hiền tính hay ác tính, nó luôn có cùng vấn đề : đó là thể tích của khối u. Vì sọ là một hộp không thể căng giãn được, do đó nếu khối u trở nên quá lớn, nó sẽ gây nên tăng áp lực trong sọ và ảnh hưởng lên tiên lượng sinh tồn.”

“ NEURONAVIGATION ” (HÀNH THẦN KINH) ĐỐI VỚI THẦY THUỐC NGOẠI THẦN KINH CŨNG NHƯ GPS ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI XE HƠI.

“ Để giải quyết vấn đề thể tích, người ta thực hiện ngay cắt bỏ khối u, mỗi khi có thể được, các BS Stephan Gaillard và Sorin Aldea đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, vài định vị ngăn cản sự cắt bỏ hoàn toàn và ngay cả một phần : phẫu thuật không được để lại những di chứng gây tàn phế. Nếu người ta phẫu thuật trong một vùng chức năng, người ta có thể gây nên một tật nguyền quan trọng. Những vùng não bộ có nguy cơ nhất là những vùng vận động, ngôn ngữ, những cấu trúc nằm sâu (những nhân trung ương), ngày nay dễ xác định nhờ những kỹ thuật IRM mới. Khi một khối u ở một vị trí quá bất lợi, người ta thích sử dụng một kỹ thuật khác hơn, thí dụ quang tuyến trị liệu.”

Để mổ một thương tổn não bộ với một sự chính xác tối đa, một tiến bộ đáng kể đã được thực hiện với sự hiệu chính của một protocole giải phẫu có máy vi tính hỗ trợ : hành thần kinh (neuronavigation). Đó là một kỹ thuật mũi nhọn cho phép phẫu thuật viên định hướng tốt trong lúc phẫu thuật ; hành thần kinh đối với thầy thuốc ngoại thần kinh cũng tương tự như GPS đối với người lái xe hơi.Một cách cụ thể, vài giờ hoặc vài ngày trước khi giải phẫu, bệnh nhân được chụp IRM. Hình ảnh não sau đó được tích trữ trong một ordinateur (đơn vị informatique trung ương được trang bị một màn ảnh, một pointeur, hay bút chì quang học, và hai caméra). Ordinateur này tái tạo lại hình ảnh theo 3 chiều không gian. Ở phòng mổ, ordinateur này sẽ giúp phẫu thuật viên trong tất các các động tác. Ngày J, nhờ pointeur phát ra một bức xạ hồng ngoại (xuất hiện trên màn ảnh), thầy thuốc ngoại thần kinh bắt đầu thực hiện một recalage giữa sọ của bệnh nhân nằm dài trên bàn và hình ảnh trên màn ảnh. Nhờ kỹ thuật này, công cụ phi thường đã cho phép nhà phẫu thuật, hôm trước, hoạch định rất chính xác protocole mổ, người thầy thuốc biết rất chính xác ông ta đang ở đâu so với mục tiêu và những cấu trúc cần phải được tôn trọng. Đối với BS Stephan Gaillard, “ với kỹ thuật này, người ta hưởng được một độ chính xác cao hơn độ chính xác do mắt người đem lại ! Một tiến bộ quan trọng khác là sự hiệu chính các dao mổ ít xâm nhập hơn, cho phép ngày nay chúng ta mổ những nơi hôm qua không thể tiến đến được ; các dao mổ siêu âm (bistours à ultrasons) đối với những khối u mềm, và những dao mổ khác bằng laser (bistouris au laser) đối với những khối u rắn hơn. ”

NHỮNG KỸ THUẬT HÌNH ẢNH MỚI NHẤT TỐI ƯU CHẤT LƯỢNG CÁC ĐỘNG TÁC PHẪU THUẬT.

Với tinh thần sáng tạo, các nhà kỹ sư, các thầy thuốc quang tuyến thần kinh và ngoại thần kinh không ngừng cải thiện các hiệu năng. “ Một phương thức mới, GS Alexandre Carpentier đã giải thích như vậy, nhằm thực hiện, trong lúc mổ, siêu âm của một khối u não bộ để kết hợp hình ảnh này với hình ảnh của IRM được thực hiện hôm trước, tạo nên một hỗ trợ rất quý báu ! Thật vậy, IRM vẫn là một hình ảnh cố định trong khi siêu âm cho phép thấy được tiến triển của động tác phẫu thuật. Điều đó cho phép chúng ta có được một mức độ an toàn lớn hơn của các động tác và một sự cắt bỏ lại còn hoàn chỉnh hơn. ”

Đối với vài trường hợp mà sự cắt bỏ của một khối u có vẻ rất tế nhị lúc thực hiện, các thầy thuốc quang tuyến thần kinh đã hiệu chính kỹ thuật “ IRM fonctionnelle ”, cho phép thấy những chức năng của vài vùng não bộ. Tiến bộ khác : các máy IRM đã được thiết kế đặc biệt để được thiết đặt ở phòng mổ nhằm đưa bệnh nhân vào đó trong lúc can thiệp sọ mở. Ở Pháp, bệnh viện Quân Đội, ở Toulon đã có thể được trang bị một máy như thế.

ĐỂ TÔI ƯU HÓA PHẪU THUẬT CỦA MỘT KHỐI U UNG THƯ : CÁC HY VỌNG CỦA MỘT HÓA HỌC LIỆU PHÁP.

“ Một vài loại thuốc chống ung thư, GS Alexandre Carpentier đã giải thích như vậy, đến não một cách khó khăn do hàng rào bảo vệ máu-não (barrière hémato-encéphalique) bao quanh các huyết quản của nó.Từ đó nảy ra ý tưởng, vào lúc phẫu thuật mổ sọ, tiêm vài loại thuốc chống ung thư vào nơi phẫu thuật.” Đến nay, người ta vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu.

Những kết quả thu được với tất cả những tiến bộ kỹ thuật này là gì ? Nhìn toàn bộ, các kết quả đều tốt, BS Stephan Gaillard đã đảm bảo như vậy. Sau can thiệp ngoại khoa, mặc dầu tất các các thận trọng, vẫn còn thấy các thiếu sót, như sự bại liệt một phần, nhưng thường là tạm thời bởi vì não bộ có khá năng bù trừ kỳ lạ ! Đối với vài khối u mà sự cắt bỏ đã không thể hoàn toàn bởi vì định vị của nó, ngày nay ta có thể bổ sung điều trị bằng một kỹ thuật ngoại quang tuyến (radiochirurgie) hay phóng xạ liệu pháp (radiothérapie).” “ Hiện nay, BS Laurent Capelle nói tiếp, người ta ước tính rằng tỷ lệ tử vong do giải phẫu gần zéro và tỷ lệ các di chứng vĩnh viễn là dưới 5%. Khi người ta giải thích cho các bệnh nhân rằng các kỹ thuật mới nhất cho phép làm tốt hơn với ít những nguy cơ hơn, người ta nói với họ sự thật ! ”
(xem tiếp số đến)
(PARIS MATCH 28/5- 3/6/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (14/11/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#25 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 22 November 2009 - 09:00 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT TRƯỜNG HỢP RỐI LOẠN THẦN KINH CÓ THỂ LIÊN QUAN VỚI VACCIN.

Một phụ nữ trẻ, ngành y tế, bị một hội chứng Guillain-Barré, một bệnh thần kinh tác dụng lên các dây thần kinh trung ương, xuất hiện 6 ngày sau khi đã nhận một mũi tiêm Pandemrix, vaccin chống virus cúm H1N1 của hãng GSK (GlaxoSmithKline). Người phụ nữ này chỉ có những triệu chứng hiền tính (cảm giác kiến bò, mất cảm giác), mà không có bại liệt cũng như những rối loạn vận động. Thông tin này, được tiết lộ bởi Cơ quan báo y học, đã được xác nhận hôm qua bởi Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé) và bởi phòng bào chế GSK. Đến nay, chính quyền y tế chỉ có thể xác nhận rằng chắc chắn đó là một biến chứng có liên quan đến vaccin, vì lẽ thường thường, những hội chứng này xuất hiện giữa 2 và 6 tuần sau một nhiễm trùng hay một tiêm chủng. Các xét nghiệm phụ đang được tiến hành để xác nhận giả thuyết này.

Vào lúc này, vaccin Pandemrix đã được tiêm cho khoảng 6 triệu người trên thế giới, theo GSK, nhưng không có những trường hợp rối loạn thần kinh khác đã được ghi nhận. Loan báo trường hợp đáng nghi này xảy ra hết sức không đúng lúc, vì lẽ nó trùng hợp với khởi đầu của chiến dịch tiêm chủng cho toàn bộ dân chúng . Tuy vậy, theo các chuyên gia, nguy cơ bị một hội chứng Guillain-Barré trong trường hợp nhiễm trùng cúm là cao hơn sau khi tiêm chủng. Những người chống đối tiêm chủng đã nhanh chóng đưa ra nguy cơ Guillain-Barré để biện minh lập trường của họ. Hội chứng này là một “ viêm đa rễ thần kinh hủy myéline cấp tính ” (polyradiculonévrite démyélinisante aigue), nghĩa là một thương tổn nguồn gốc miễn dịch của các dây thần kinh ngoại biên, nói chung được thể hiện bởi một bại liệt nhanh chóng của các chi dưới rồi tiến lên về phía cao của thân thể, có thể làm thương tổn các cơ hô hấp và các dây thần kinh sọ. Đôi khi, hội chứng vẫn tối thiểu, như trong trường hợp này, với những dấu hiệu rối loạn cảm giác đơn thuần. Đó là một căn bệnh có tiềm năng nghiêm trọng : 10% các bệnh nhân giữ các di chứng vận động và 5% chết vì bệnh này. Đại đa số sẽ phục hồi hoàn toàn các chức năng. Đó là một căn bệnh tương đối hiếm, ở Pháp mỗi năm có từ 1700 đến 1800 trường hợp.

Sự xuất hiện của hội chứng Guillain Barré trong 60 đến 70% các trường hợp được đi trước bởi một nhiễm trùng cấp tính do virus hay vi khuẩn của đường hô hấp hay dạ dày-ruột. Bệnh cúm được xem như một yếu tố nguy cơ khả dĩ. Nhiều công trình nghiên cứu đã phát hiện một sự liên kết giữa một tiền sử cúm trong các tuần lễ đi trước các rối loạn thần kinh. Vào năm 2006, một công cuộc điều tra của Anh đã cho thấy rằng, trong thời kỳ từ năm 1993 đến 2002, số những trường hợp nhập viện vì Guillain-Barré gia tăng với số những trường hợp cúm được xác nhận. Ở Pháp, một công trình nghiên cứu được thực hiện ở bệnh viện Raymond-Poincaré de Garches (Hauts-de-Senne) đã xác nhận vai trò của cúm trong sự phát sinh của hội chứng Guillain-Barré.

THEO DÕI TÍCH CỰC.

Nguy cơ bị một hội chứng như thế sau khi tiêm chủng là gì ? Biến chứng này đã được nêu lên lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1976 : hơn 500 trường hợp Guillain-Barré đã được quan sát sau chiến dịch tiêm chủng 45 triệu người chống virus cúm mới. Từ đó khoảng hơn 12 công trình nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá nguy cơ sau tiêm chủng. Hầu hết những nghiên cứu này đã không tìm thấy nguy cơ quá mức liên kết với các vaccin, ngoại trừ 3 trong số các công trình này phát hiện một nguy cơ nhân lên từ 1,3 đến 3 sau khi tiêm chủng.

Cúm tự bản thân nó làm gia tăng nguy cơ Guillain-Barré hơn là vaccin, mặc dầu các công trình nghiên cứu được thực hiện trên quy mô nhỏ. Đến nay không có một trường hợp nào khác về hội chứng Guillain-Barré liên kết với tiêm chủng chống lại H1N1 đã được liệt kê trên thế giới. Một sự theo dõi tích cực các tác dụng phụ đã được phát động ở Pháp đồng thời với vaccin.
(LE FIGARO 13/1/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI.

(tiếp theo số trước)

12/ Có cần phải mang một mặt nạ hay không ?

Nếu chúng ta bị bệnh, tốt hơn, để bảo vệ những người chung quanh, mang một mặt nạ chống phóng thải (masque antiprojections) dùng một lần duy nhất (loại ngoại khoa), che phủ mũi và miệng. Cũng y hệt khi ta chăm sóc một người bị bệnh. Một cách tổng quát, cần dùng những mặt nạ này một cách đúng đắn, vứt bỏ chúng sau mỗi lần sử dụng và rửa tay ngay sau khi đã lấy chúng đi, bằng không nguy cơ lan truyền sẽ gia tăng hơn là được thu giảm. Nếu ta sử dụng những loại tấm chắn khác (mặt nạ bằng vải, khăn quàng…), chỉ nên sử dụng một lần, hoặc rửa chúng cẩn thận sau mỗi lần sử dụng.

13/ Phải rửa tay bao nhiêu lần ? Trong thời gian bao lâu và với xà phòng nào ?

Càng thường xuyên và cẩn thận chừng nào càng tốt chừng ấy, đặc biệt là trước các bữa ăn, trước khi ăn, trước khi đặt hay lấy đi các thấu kính tiếp xúc (lentille de contact). Phương pháp rửa là quan trọng : đó là sự phối hợp xoa xà phòng, cọ xát, giũ xả và làm khô (với một khăn lau dùng chỉ một lần), cho phép khử bỏ thật sự các mầm bệnh. Tốt hơn sử dụng xà phòng nước, vì những bánh xà phòng có thể bảo tồn virus.

Khi ra khỏi nhà, mang theo một dung dịch nước-cồn (solution hydro-alcoolique), được bán ở hiệu thuốc và các siêu thị và cọ xát các bàn tay với dung dịch này từ 20 đến 30 giây.

14/ Cần sử dụng loại khăn tay nào ?

Khăn tay giấy, ném ngay vào thùng rác sau khi sử dụng. Trái lại, lợi ích của khăn tay giấy “ chống virus ” dường như rất tương đối : lớp trung tâm được phết bởi một chất diệt virus có tác dụng trong 15 phút, nhưng chỉ một bộ phận của các virus là thật sự bị hủy diệt trong trường hợp các dịch tiết quan trọng.

15/ Những loại dung dịch nước-cồn (solution hydro-alcool) nào cần phải mua ?

Những dung dịch sát trùng ngoài da này, được sử dụng để vệ sinh các bàn tay khi chăm sóc bệnh nhân, tác động bằng tiếp xúc trực tiếp và cơ học. Trên nguyên tắc, tất cả chúng đều có hiệu quả trên các vi khuẩn và nấm, nhưng hoạt tính của chúng trên virus là bất nhất. Để đảm bảo một hoạt tính như thế chống lại virus cúm, Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé) khuyến nghị mua những dụng dịch hay gel nước-cồn được trắc nghiệm theo đúng tiêu chuẩn, mà nồng độ tối ưu cồn nằm giữa 60% và 70% hay 520 và 630 mg/g. Nồng độ cồn phải được ghi rõ trên nhãn.

16/ Khi nào ta ta có khả năng làm lây nhiễm ?

Thời gian tiềm phục (durée d’incubation) của bệnh cúm (thời kỳ ngăn cách sự làm lây nhiễm bởi virus và sự xuất hiện của các triệu chứng) thường khoảng giữa 24 và 48 giờ trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên và khoảng 1 tuần sau.

17/ Bệnh kéo dài bao lâu ?

Nơi những người không ốm yếu, sự bình phục hoàn toàn sau một đến ba tuần. Những khó khăn hô hấp cấp tính kéo dài từ 5 đến 7 ngày ; những cơn ho nghiêm trọng và sự mệt mỏi cực kỳ có thể kéo dài lâu hơn. Nếu được cho thuốc kháng virus ngay khi có những triệu chứng đầu tiên, các điều trị chống virus có thể làm giảm một nửa mức độ nghiêm trọng và thời gian của bệnh.

18/ Có nên giặt rửa quần áo thường xuyên hơn không ?

Không. Hơn nữa, nếu ai đó là những người thân cận của bạn bị đau, không cần phải giặt rửa riêng quần áo lót. Có thể giặt rửa bằng máy hay bằng tay, cùng chung với quần áo lót của những người khác trong gia đình, với bột giặt thông thường. Để tránh sự lây nhiễm, mỗi thành viên của gia đình phải có quần áo lót riêng của mình, có khăn lau mặt riêng và bàn chảy đánh răng riêng.

19/ Những động tác có nguy cơ là gì ?

Không hôn hít, không bắt tay ; cùng lắm chỉ vỗ vào lưng, tóm lại phải chào hỏi từ xa. Nhưng không cấm cười ! Vậy ta tránh đụng chạm nhau, nhưng cũng tránh cho nhau mượn một chiếc bút, một cái ly hay một khăn lau ; tránh đặt tay nơi những kẻ khác đã đặt (nắm cửa, tay vịn cầu thang..) và tránh đặt những bàn tay này gần miệng.

20/ Những động tác hàng ngày nào để hạn chế những nguy cơ ?

Trường hợp bạn chưa biết, phải rửa tay đều đặn bằng nước và xà phòng trong 30 giây, không quên cọ xát giữa các ngón tay, hoặc với một gel nước-cồn. Phản xạ này phải trở nên tự động lúc ra khỏi nhà cầu, trước khi vào bàn và khi trở về nhà. Hãy nghĩ đến tránh xa nếu người nào hách xì hay ho gần bạn, đồng thời đừng quên che miệng và mũi. Và rồi thì, dầu trời mưa hay gió, hãy nghĩ đến thông khí căn hộ mỗi ngày và khử trùng đều đặn vài đồ vật (các nắm cửa, vòi nước, điện thoại, bàn phím máy vi tính..)

(xem tiếp số đến)
(LE MONDE 5/11/2009)

3/ “ ĐỐI VỚI CÁC PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ NHỮNG TRẺ EM NHỎ TUỔI, PHẢI THẬN TRỌNG ĐỐI VỚI MỘT VACCIN CHỨA NHỮNG CHẤT BỐ TRỢ ”

GS Marc Gentilini, chủ tịch danh dự của Viện Hàn Lâm Y Học, cựu trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới của bệnh viện Pitié-Salpêtrière.

Hỏi : Trong mục đích nào ông đã thể hiện sự bài xích của ông đối với quy mô của chiến dịch chống virus H1N1 ?
G.S Marc Gentilini : Tôi đã muốn đặt lại vấn đề y tế công cộng này trong bối cảnh y tế toàn cầu : mỗi năm, một triệu người chết vì sốt rét, 25 triệu người chết vì sida trong 25 năm... Ở Pháp, hàng năm có 3000 đến 7000 chết vì cúm mùa,… Tôi không xem nhẹ cúm đại dịch này, và chắc chắn sẽ có những tử vong khác, nhưng tôi nghĩ rằng công luận cuối cùng sẽ chán sự nhồi nhét quảng cáo này. Những đe dọa tai họa sắp đến, không ngừng được loan báo, có thể làm rả ngũ công luận.

Hỏi : Những người nào đặc biệt phải được tiêm chủng ?
G.S Marc Gentilini : Tôi chống lại một chiến dịch tiêm chủng đại trà nhưng ủng hộ một tiêm chủng nhắm đối tượng (vaccination ciblée), nhằm vào những người có một bệnh liên kết và những trẻ hơn 2 tuổi, tức là những đối tượng quan trọng làm lan tràn virus. Nhưng phải thận trọng đối với một vaccin được chế tạo khẩn cấp và chứa những chất bổ trợ (substances adjuvantes), mặc dầu được biết rõ. Đó là lý do tại sao vaccin này không thể được khuyến nghị nơi các trẻ em dưới 23 tháng và nơi các phụ nữ có thai. Do đó, ta đã yêu cầu các phòng bào chế chuyên môn sản xuất các vaccin, chế tạo những vaccin mới không có chất bổ trợ. Việc mua ồ ạt các vaccin cho đất nước chúng ta là một biện pháp được căn cứ trên “ nguyên tắc thận trọng ”, nhưng phải nhận xét rằng 1 tỷ euro cho 94 triệu liều, đó là 3 lần số tiền tương đương hàng năm của cứu trợ nhà nước của Pháp đối với những chi phí y tế của các nước đang phát triển !

Hỏi : Những tiên đoán hiện nay về tiến triển biến dị khả dĩ của H1N1 ?
G.S Marc Gentilini : Các chuyên gia nghĩ rằng, trước mắt, sẽ không có sự biến đổi của virus. Nếu nó biến dị, nó có thể làm điều đó một cách tử tế, bằng một quá trình “ glissement ”, và tình thế vẫn có thể chế ngự được. Nhưng nếu sự biến dị được thực hiện dữ dằn hơn, bằng “ cassure ”, thì sự tiêm chủng và các thuốc chống virus hiện nay sẽ không có hiệu quả.

Hỏi : Với sự đến của cúm mùa, làm sao không lầm lẩn các triệu chứng của nó với một nhiễm trùng bởi H1N1 ?
G.S Marc Gentilini : Các triệu chứng của hai bệnh cúm gần giống nhau. Để nhận diện một cách chắc chắn virus H1N1, thầy thuốc điều trị phải thực hiện lấy bệnh phẩm nơi đường mũi họng để phân tích trong một phòng xét nghiệm sinh học chuyên môn. Trắc nghiệm tốn kém này cần 48 giờ.

Hỏi : Là chuyên gia lỗi lạc về các bệnh nhiễm trùng, những lời khuyên của ông là gi ?
G.S Marc Gentilini : Những người hơn 65 tuổi phải tiếp tục được bảo vệ chống lại cúm mùa bằng tiêm chủng đặc hiệu, và tiêm chủng chống phế cầu khuẩn (làm phát sinh các biến chứng hô hấp) cũng đuợc khuyến nghị. Về các nhóm trẻ tuổi có nguy cơ phát triển một thế nặng, tiêm chủng chống cúm A (H1N1) được chỉ định. Nhưng đối với các phụ nữ có thai và các trẻ nhỏ, tốt hơn là hãy chờ đợi một vaccin không có chất bổ trợ.
(PARIS MATCH 24/9-30/9/2009)

4/ MỘT XÉT NGHIỆM NHANH H1N1 CHO PHÉP CHẨN ĐOÁN TRONG 3 GIỜ.

Hãng bioMérieux loan báo tuần vừa qua là đã phát triển một xét nghiệm mới, có khả năng phát hiện trong chưa đầy 3 giờ virus A (H1N1), chịu trách nhiệm trận đại dịch đang diễn ra. Tin tức này hiện nay không liên hệ trực tiếp đến những công dân muốn biết là họ bị nhiễm bởi cúm A hay cúm mùa bởi vì hiện nay các xét nghiệm cúm A bị hạn chế về số lượng. Phương pháp được chọn bởi bioMérieux sử dụng hai “ mồi câu ” (amorces) nhỏ, những mẫu bé xíu ADN, như các “ lưỡi câu phân tử ” (hameçon moléculaire), tấn công một cách đặc hiệu vào các gène của virus đặc hiệu của giống gốc H1N1. Một khi bị “ câu ” bởi các “ mồi câu ” (amorces) này, các mẫu gène được khuếch đại nhờ một enzyme, polymérase. Thật vậy để có thể phát hiện sự hiện diện của ADN siêu vi trùng, cần phải có một lượng đầy đủ trong mẫu nghiệm. Tất cả điều này được thực hiện trong một ống nghiệm khép kín, và ở nhiệt độ hằng định.

Ưu điểm khác của phương pháp : các “ mồi câu ” chứa một chất huỳnh quang : được chiếu sáng bởi một ánh sáng thích hợp, ống nghiệm phát ra một luồng huỳnh quang tỷ lệ với lượng virus hiện diện. Tất cả cần dưới 3 giờ, tổn phí dưới 20 euro một xét nghiệm. Và phương pháp cũng hiệu quả đối với cúm gia cầm nơi các gà giò (poulets), hay phát hiện sự truyền của virus H1N1 người qua động vật.

Thật vậy, trong thời kỳ dịch bệnh, ta không thể xét nghiệm hàng trăm ngàn bệnh nhân bị cúm. Các xét nghiệm nhanh hiện hữu, nhưng nếu những trắc nghiệm này biết phân biệt rất tốt một virus A với virus B nơi người, chúng không biết phân biệt giữa một virus của cúm mùa và virus của cúm A (H1N1).
(LE FIGARO 16/11/2009)

5/ ĐIỀU KHÓ DỰ KIẾN VỀ THỜI GIAN LÝ THUYẾT TỐI ĐA CỦA SỰ SỐNG.

Nếu thời gian hy vọng sống (espérance de vie) vào lúc sinh đúng là gia tăng trong hầu hết các nước, một phần là do sự giảm mạnh của tỷ lệ tử vong nhi đồng, vậy há không có một giới hạn đối với “ papy boom ” hay sao ? Có phải chúng ta đang tiến về một sự làm chủ quá trình lão hóa, như cựu giám đốc của Viện quốc gia nghiên cứu dân số Jean Bourgeois- Pichat đã tiên đoán như vậy vào năm 1988 ?

Eric Le Bourg, một chuyên gia của CNRS (đại học Paul –Sabatier), trong La Presse Médicale (9/2009), một lần nữa chống lại “ cái nhân khẩu học vô giới hạn ” kỳ quặc này, được dự kiến bởi Gaziella Caselli và Jacques Vallin, tiên đoán một tuổi thọ trung bình 150 năm vào năm 2190. Theo giả thuyết này, những người già nhất sẽ chết giữa 270 và 275 tuổi, điều này hàm ý rằng những người 80 tuổi vào năm 2.000 sẽ còn khả năng sống thêm 190 năm nữa !

NHỮNG LỨA TUỔI TẬN CÙNG.

Từ hai thế kỷ nay, tỷ lệ tử vong nhi đồng cao và các tử vong của những người ở lứa tuổi 30 (vì những bệnh nhiễm trùng) đã biến mất. Ngày nay, sự gia tăng thời gian sống đã được đi kèm theo bởi cái điều mà các chuyên gia mệnh danh là một “ compression de la mortalité ” : thay vì trải dài theo các lứa tuổi, các tử vong từ nay tập trung vào những lứa tuổi cuối cùng. Ở Nhật Bản, tỷ lệ tử vong thường được quan sát nhất vào năm 1950 nơi những người già 75 tuổi, từ nay tỷ lệ này thường xảy ra hơn nơi những người Nhật trên 90 tuổi. Nói một cách khác, đỉnh cao của tỷ lệ tử vong không ngừng chuyển dịch về phía những lứa tuổi già nhất. Từ đó tưởng tượng rằng tất cả những người chết này có thể đẩy lùi lại giới hạn của cuộc sống, chỉ cần một bước... không phải vượt qua !

Jean Calment đã sống 122 năm, người đàn bà duy nhất đạt đến tuổi này trên 6 tỷ người sống, nhưng tuy vậy các người Pháp đương thời của lão niên này chết trước hơn bà nhiều. Site Internet của Imed xác nhận rằng “ các nhà khoa học không loại trừ rằng con người có thể sống đến 150 tuổi, thậm chí hơn nữa ”. Nhưng 39% những người đàn ông 100 tuổi chết trong cùng năm, và 62% những người 110 tuổi cũng vậy. Với một tỷ lệ tử vong như thế, chỉ có 1% các bách niên còn sống đến 110 tuổi và 1 trên 100 .000 sống đến 120 tuổi, xác suất đạt đến lứa tuổi này như vậy không phải là số O mà gần như số không. Được tiếp xúc bởi Figaro, Jacques Vallin thú nhận rằng ngày nay “ Mặc dầu tuổi thọ gia tăng, nhưng người ta biết càng ngày càng ít đâu là giới hạn lý thuyết của đời sống con người.”
(LE FIGARO 30/9/2009)

6/ CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI LÀM NGHIẾN RĂNG.

Các hậu quả của suy thoái kinh tế, ảnh hưởng lên hàng triệu người Mỹ, có thể ít ra hẳn phải bất ngờ. Như là, tờ New York Times ( 8/10/2009) giải thích rằng, các nha sĩ nhận xét thấy một sự gia tăng số những người bị chứng nghiến răng bệnh lý. “ Tôi thấy thật nhiều người hơn, lo lắng, căng thẳng và rất lo âu về tương lai tài chánh của mình và những người này đã tống khứ tất cả các điều phiền muộn này lên những chiếc răng của họ, một chuyên gia về răng giả chỉnh hình (prothèse orthodontique) đã giải thích như vậy. Một nha sĩ khác ở Manhattan đã thấy thêm 20 đến 25% các bệnh nhân có những triệu chứng nghiến răng (bruxisme) trong năm vừa qua. Một nha sĩ khác báo cáo rằng trong suốt 18 tháng vừa qua, số trường hợp nghiến răng đã tăng hơn gấp đôi. Các thầy thuốc, được hỏi bởi nhật báo Nữu Ước nhằm điều tra, liên kết hiện tượng này với tình hình kinh tế.

Theo một chuyên gia của American Dental Association, có hay không có khó khăn kinh tế, 10 đến 15% những dân Mỹ nghiến răng với mức độ từ vừa phải đến nặng. Vì đó là một hoạt động cơ gần như vô thức, nên phần lớn những bệnh nhân bị liên hệ không nhận thức được điều đó, cho đến khi một triệu chứng như một chiếc răng bị gãy hay những cơn đau ở mặt xuất hiện. Bình thường, ta tạo một áp lực từ 1,4 đến 2,1 kg/cm2 khi ta nhai, trong khi đó áp lực này tăng lên 14 kg /cm2 khi ta nghiến răng. Trong những trường hợp nặng, vài bệnh nhân có thể phát triển một hội chứng loạn năng-đau của bộ máy nhai (Sadam : syndrome algo-dysfonctionnel de l’appareil masticateur), thậm chí mất thính giác.

Theo các chuyên gia, mặc dầu di truyền có thể đóng một vai trò trong sự xuất hiện của bệnh lý, nhưng stress được biết là có thể gây nên loại siết và nghiến răng này.Trong não bộ, trung tâm của stress nằm kế cận vùng kiểm soát sự nghiến răng, nhưng ta không biết điều này có đuợc xét đến hay không.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 30/10/2009)

7/ TIÊU THỤ MỠ QUÁ MỨC : NGUY CƠ GIA TĂNG XƠ GAN VÀ UNG THƯ GAN.

GS Thierry Poynard, trưởng khoa gan bệnh viện Pitié-Salpêtrière, bình luận công trình nghiên cứu mới đây chứng tỏ những mối hiểm nguy đối với gan do tiêu thụ mỡ quá mức.

Hỏi : Tần số mắc bệnh của xơ gan và ung thư gan ở Pháp ?
GS Thierry Poynard : Mỗi năm, người ta liệt kê khoảng 300.000 trường hợp xơ gan (trong đó 15.000 tử vong) và 5.000 ung thư gan (nguyên nhân thứ sáu của tử vong do ung thư). Hiện nay, những khối u ác tính này là những ung thư gia tăng nhiều nhất.

Hỏi : Làm sao một xơ gan thoái hóa thành ung thư ?
GS Thierry Poynard : Xơ gan trước hết được cấu tạo do một sự tích tụ các vết sẹo trong gan, kết quả của một quá trình viêm, mà các nguyên nhân chính là nghiện rượu, các virus B và C hay một sự thặng dư mỡ (các yếu tố chuyển hóa). Rồi thì, xơ gan thoái biến thành ung thư, hậu quả của một sự tăng sinh vô tổ chức của các tế bào, gây nên bởi tình trạng viêm mãn tính và các vết sẹo làm ngăn cản mọi sự tu sửa tế bào.

Hỏi : Đến nay, người ta biết được vài yếu tố chịu trách nhiệm các xơ gan, rượu hay viêm gan, nhưng người ta không nghi ngờ một sự thặng dư mỡ. Những công trình nghiên cứu nào đã có thể chứng minh điều đó ?
GS Thierry Poynard : Cùng với nhóm nghiên cứu của tôi và với Quỹ bảo hiểm-bệnh tật của vùng Paris, chúng tôi đã tiến hành, trong suốt 2 năm, một công trình nghiên cứu được thực hiện trên 7000 người, nhằm đánh giá, trên toàn dân, tần số của các thương tổn đầu tiên của gan và những yếu tố nguy cơ của chúng. Nơi 90% những người mang các vết sẹo bất thường, những yếu tố nguy cơ đầu tiên được liên kết với một sự tích tụ mỡ, do hoặc là một sự gia tăng thể trọng (surpoids), hoặc do bệnh đái đường, hoặc do một sự thặng dư cholestérol trong máu. Thật lạ lùng, rượu và các virus gan là những yếu tố nguy cơ ít gặp.

Hỏi : Bằng cơ chế nào mỡ thặng dư tạo nên một nguy cơ ?
GS Thierry Poynard : Quá nhiều mỡ nơi vài người làm phát khởi một viêm nhiễm kinh niên của gan, nhiễm mỡ-viêm gan (stéato-hépatite): sự kích thích quá mức của hệ miễn dich gây nên một sự phá hủy các tế bào gan. Trước điều tra của chúng tôi, một công trình nghiên cứu khác của Hoa Kỳ, được thực hiện trên 9000 người, đã chứng minh ảnh hưởng có hại này của các mỡ động vật lên sự phát khởi của một ung thư gan.

Hỏi : Làm sao chúng ta gìn giữ để tránh những nguy cơ này lên gan ?
GS Thierry Poynard : Điều gì tốt cho tim cũng tốt cho gan. Vậy trong chế độ ăn uống phải hạn chế tối đa các mỡ động vật (thịt đỏ, lòng đỏ trứng gà, đồ thịt lợn, bơ, kem...) và tiêu thụ hàng ngày trái cây và rau xanh với cá hay thịt trắng (viande blanche). Tiêu thụ quá nhiều đường hấp thụ nhanh tạo một mối hiểm nguy cho gan. Gan tích trữ đường cho nhu cầu năng lượng cần thiết cho hoạt động của cơ thể. Những gì không được tiêu xài biến thành các kho dự trữ mỡ, thường là nguồn gốc của bệnh đái đường. Tốt hơn là tiêu thụ đường hấp thụ chậm được chứa trong ngũ cốc, các trái cây.

Hỏi : Ông có thể cho chúng tôi vài lời khuyên cho cuộc sống hàng ngày ?
GS Thierry Poynard : Những cố gắng cần thực hiện rất đơn giản : để tránh sự gia tăng thể trọng, phải hạn chế lượng calorie được hấp thụ. Tôi khuyến nghị bắt đầu các bữa ăn bằng một salade hay rau xanh (dung lượng calorie thấp) để làm dịu sự thèm ăn. Một lời khuyên khác : phết bơ các tartine và cho đường một cách hệ thống cà phê và trà.

Hỏi : Bắt đầu từ lượng nào, rượu van trở nên có hại ?
GS Thierry Poynard : Một sự tiêu thụ hàng ngày hơn hai ly đối với các bà và hơn 4 ly đối với các ông tạo nên một mối nguy cơ. Điều ngạc nhiên : một sự tiêu thụ hợp lý và đều đặn rượu tự bản thân nó không gây các thương tổn gan. Những thương tổn này đã được khám phá nơi những người uống có mức độ nhưng đồng thời ăn quá nhiều mỡ động vật và có một thể trọng quá mức.
(PARIS MATCH 1/10-7/10/2009)

8/ CHÂU Á DƯỚI SỨC ÉP CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

Nếu ngày xưa ta có thể cho rằng bệnh đái đường loại 2 là một bệnh của Phương Tây, thì bây giờ nó đã biến hóa thành vấn đề có quy mô toàn thế giới. Liên đoàn quốc tế bệnh đái đường đánh giá rằng tổng số các bệnh nhân sẽ chuyển từ 240 triệu năm 2007 lên 380 triệu năm 2025 : 80% sẽ có nguồn gốc từ các nước có lợi tức thấp hay trung bình.

Vẫn vào năm 2025, hơn 60% các bệnh nhân đái đường là dân châu á, tạo nên bộ phận lớn nhất của dân số thế giới. Hiện nay những con số của những vùng này đã là ngoạn mục. Ở Trung Quốc, tỷ lệ lưu hành của bệnh đái đường loại 2 đã chuyển từ 1% vào năm 1980 lên 5,5% vào năm 2001. Và lại còn tệ hại hơn trong các vùng đô thị : gần 10% những người trưởng thành bị đái đường ở Hồng Kông và Đài Loan. Về Ẩn Độ, bệnh này đạt đến những cao điểm. Thí dụ trong miền nam Ẩn Độ đô thị hóa, tỷ lệ đã chuyển từ 13,9% năm 2000 lên 18,6% năm 2006.

MỠ VÀ XE HƠI.

Như mọi người đều biết, châu Á đã trải qua một sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng suốt trong thập niên qua, một sự thay đổi kèm theo sự theo khuôn những thói quen sống rất tây phương. Chỉ trong mới 10 năm (giữa năm 1992 và 2002), tỷ lệ các lipide đã chuyển từ 22% lên 29,8% trong chế độ ăn uống Trung Quốc. Mỗi năm, thập niên trôi qua đã chứng kiến tỷ lệ số người có xe hơi tăng 11% với hậu quả lôgíc, sự biến mất dần dần của xe đạp trong quang cảnh châu Á. Ngược lại với điều ta quan sát ở Châu Âu, ở đó bệnh đái đường vẫn là một bệnh gây bệnh chủ yếu nơi những người già (bắt đầu từ 60 tuổi), ở Châu Á, bệnh này chủ yếu gây bệnh cho những người ở tuổi trung niên, giữ 40 và 60 tuổi.

MỘT TÍNH NHẠY CẢM NGUỒN GỐC DI TRUYỀN.

Những yếu tố nguy cơ được nhận diện trong dân chúng châu Âu cũng liên hệ với châu Á. Kết quả một phân tích méta mới đây cho thấy rằng những người hút thuốc người Á châu có một nguy cơ mắc bệnh đái đường 44% cao hơn những người không hút. Sự gia tăng nhanh chóng của chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : index de masse corporelle) cũng được xét đến. Ở Trung Quốc, tỷ lệ lưu hành của sự gia tăng thể trọng (IMC > hoặc = 25) được chuyển từ 14,6% lên 21,8% giữa năm 1992 và 2002.

Tuy nhiên, những yếu tố nguồn gốc di truyền cũng tham gia vào sự tiến triển của bệnh đái đường nơi dân á châu. Thật vậy, với một chỉ số khối lượng cơ thể bằng nhau, những người Á châu có một nguy cơ mắc phải bệnh đái đường lớn hơn những người châu Âu. Hình ảnh y học cho thấy rằng những người châu Á phát triển mỡ nổi tạng của họ nhanh hơn trong trường hợp lên cân : các chuyên gia đái đường nói rằng những người này có một “ kiểu gène tiết kiệm ” (thrifty genotype, génotype d’épargne), có lẽ là hậu quả tiến hóa của các trận đói tiếp diễn trong các vùng liên hệ. Ngoài ra, các tế bào bêta “ châu Á ” yếu ớt hơn khi phải đối diện với sự đề kháng insuline (insulinorésistance). Một công trình nghiên cứu, được thực hiện nơi những người Nhật, cho thấy rằng một sự gia tăng nhỏ của chỉ số khối lượng có thể gây nên một sự biến đổi rõ rét của các tế bào bêta, không tương xứng đối với sự đề kháng insuline.

BIỂU SINH (EPIGENETIQUE).

Trong vài nước, chứng tích mỡ (adiposité) và nạn đói đi đôi với nhau một cách gián tiếp. Trong số những người á châu hiện nay ăn quá nhiều, có nhiều người có mẹ vốn đã bị đói trong lúc mang thai. Một chi tiết : những công trình nghiên cứu, trong đó có công trình được thực hiện trên dân chúng ở Hòa Lan đã sống qua một nạn đói lớn trong suốt Đệ Nhị Thế Chiến, chỉ rõ rằng một tình trạng kém dinh dưỡng (sous-alimentation) trong thời kỳ thai nghén làm gia tăng nguy cơ bị những rối loạn tim và chuyển hóa nơi hậu duệ, và đặc biệt hơn là nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2. Đó là một hiện tượng biểu sinh (phénomène épigénétique) : tình trạng kém dinh dưỡng của người mẹ không những làm xáo trộn chuyển hóa của cá nhân mình, mà còn ảnh hưởng trên sự biểu hiện của vài gène nơi trẻ em,.

Mặt khác, ăn uống quá mức cũng có hại cho thai nhi. Ở Châu Á, người ta quan sát hiện nay một tỷ lệ lưu hành bệnh đái đường thai nghén (diabète de grossesse), hai đến ba lần cao hơn so với Châu Âu. Hãy nhắc lại rằng các trẻ em có mẹ đã bị đái đường thai nghén có một nguy cơ cao hơn mắc phải bệnh đái đường loại 2.

BỆNH XẢY RA ĐỒNG THỜI (COMORBIDITE)

Một cách giai thoại hơn, người ta ghi nhận rằng nhiều loại bệnh khác nhau làm dễ sự tiến triển của bệnh đái đường trong dân chúng châu Á. Thí dụ, 8 đến 10% dân á châu mang mãn tính virus của viêm gan B. Thế mà những nhiễm trùng gan mãn tính lại làm dễ sự xuất hiện của bệnh đái đường, do sự đề kháng insuline ở gan. So với những người không mang virus của viêm gan B, những phụ nữ mang virus này có một tỷ lệ mắc bệnh đái đường thai nghén 30% cao hơn. Ngoài ra, dầu ở Châu Âu hay châu Á, sự quá tải sắt là một yếu tố nguy cơ khác của bệnh đái đường. Thế mà yếu tố nguy cơ này ở châu Âu ít quan trọng hơn là ở Trung Quốc, ở đây 8-10% dân chúng bị dạng này hay dạng khác của bệnh huyết cầu tố (hémoglobopathie) như alpha hay bêta-thalassémie.

CÁC BIẾN CHỨNG

Sự tiến triển của bệnh đái đường ở châu Á có nguy cơ trở thành một vấn đề thật sự nghiêm trọng. Các người châu Á không những sẽ trở thành một tập hợp dân bị bệnh đái đường quan trọng nhất trên thế giới, mà còn dễ bị những biến chứng của bệnh này hơn. Những công trình nghiên cứu quan sát lẫn lâm sàng cho thấy rằng những người bị bệnh đái đường châu á, một ngày nào đó, có một nguy cơ lớn hơn bị một bệnh suy thận giai đoạn cuối, so với những bệnh nhân da trắng. Ở đây có hai lý do để lo ngại: trước hết phần lớn những bệnh nhân này sẽ không có phương tiện tài chánh để trả một điều trị bằng thẩm tích (dialyse). Sau đó phải nhớ rằng thương tổn thận thường gây nên những biến chứng tim mạch, dầu những bệnh nhân có bị đái đường hay không. World economics Forum Report, được công bố năm nay, quả đã thể hiện sự lo âu gây ra bởi hai hậu quả kinh tế khả dĩ của sự gia tăng, trên quy mô thế giới, của những bệnh nhân bị những bệnh mãn tính và đặc biệt là đái đường : những chi phí bổ sung về săn sóc y tế và sự mất năng suất sản xuất.
(LE GENERALISTE 10/9/2009)

9/ VITAMINE D, SỰ QUAN TÂM TRỞ LẠI.

Mặc dầu vitamine D được biết đến từ gần một thế kỷ nay, nhưng kiến thức về vitamine này vẫn đang tiếp tục tiến triển. G.S Pierre Bergmann (Hôpital Universitaire de Brugmann, Bruxelles) nói với chúng ta về điều đó.

Trước hết, ở xương, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng vitamine D, liên kết với calcium, tự nó là một yếu tố ngăn ngừa gãy xương. Mặt khác, mặc dầu chỉ cho những bổ sung calcium và vitamine D không thôi không thể được xem là một điều trị đầy đủ của một chứng loãng xương được xác nhận (ostéoporose avérée), tuy vậy trong tất cả những điều trị dược học của chứng loãng xương, cần phải liên kết những bổ sung calcium và vitamine D, theo liều lượng 1g calcium và ít nhất 800 đơn vị vitamine D mỗi ngày.

Vitamine D cũng có những tác dụng ngoài xương (actions extra-osseuses) : thật vậy tất cả các tế bào đều biểu hiện thụ thể của vitamine D, và sự hoạt động của chúng có thể bị biến đổi bởi chất chuyển hóa hoạt động của vitamine D là 1,25-(OH) 2D, được tổng hợp bởi thận. Vì chất chuyển hóa hoạt động này cũng có thể được tổng hợp tại chỗ bởi nhiều loại mô, nên tình trạng sẵn dùng của chất nền (25-hydroxyvitamine D) cũng quan trọng, dầu nồng độ trong máu của 1,25(OH)2D là bao nhiêu. Những tác dụng ngoài xương này cũng được nhận thấy ở nhiều hệ thống : người ta đã mô tả những tác dụng của vitamine D lên những phòng vệ miễn dịch (défenses immunitaires), những bệnh tự miễn dịch (maladies auto-immunes), ung thư...Vài công trình nghiên cứu dịch tễ đã đặc biệt cho thấy một sự giảm nguy cơ của vài ung thư, trong đó có ung thư đại tràng, nơi những người có những nồng độ 25(OH)D vượt quá 30ng/ml.

Ngoài tác dụng lên xương, người ta quan sát thấy một tác dụng có lợi của của vitamine D lên nguy cơ té ngã, lên sự cấn bằng và lên hoạt động cơ, điều này, không kể đến tác dụng thuận lợi lên khối lượng và chất lượng xương, có thể góp phần làm giảm nguy cơ gãy xương.

DỊCH TỄ HỌC CỦA NHỮNG THIẾU HỤT VITAMINE D.

Phải nhất trí về cái điều mà ta gọi là một sự thiếu hụt vitamine D (déficience en vitamine D). Mãi cho đến cách nay vài năm, người ta nói là thiếu hụt (déficience) khi nồng độ của 25(OH)2D ở dưới mức 10 hay 12 ng/mL : vào giai đoạn này, đó là một sự thiếu hụt nặng (déficience profonde), sẽ dẫn đến còi xương (rachitisme) hay nhuyễn xương (ostéomalacie). Hiện nay, đặc biệt là do những công trình nghiên cứu dịch tễ học mới nhất này, người ta đã định nghĩa nhiều vùng nồng độ huyết thanh của vitamine D : không những các thiếu hụt (carences), dưới 10 hay 12 ng/mL, nhưng cũng các bất túc (insuffisances), trong một cửa sổ giữa 10 và 20 hay 25 ng/mL. Bây giờ người ta xem một nồng độ tối ưu của 25(OH)D phải trên 30 ng/mL, không vượt quá 60 đến 80 ng/mL.

Trên toàn bộ các định lượng của 25 (OH)D, được thực hiện thường quy nơi những người trưởng thành trên 20 tuổi, ở bệnh viện Brugmann trong năm 2008-2009, 50% các kết quả là dưới 12ng/mL và 75%, dưới 20ng/mL. Vậy sự thiếu hụt vitamine D rất thường gặp.

Về mặt dinh dưỡng, vitamine D hiện diện với dung lượng giới hạn trong mỡ : bơ, kem tươi, cá mỡ. Người ta cũng nhận thấy nó trong trứng. Vitamine D cũng được tổng hợp trong da, dưới tác dụng của những tia tử ngoại.

CÓ PHẢI ĐỊNH LƯỢNG VITAMINE D, HAY CHO BỔ SUNG KHÔNG CẦN ĐỊNH LƯỢNG.

Vì lẽ tỷ lệ bất túc cao, nên dường như hợp lý hơn là đề nghị cho những bổ sung vitamine D mà không phải định lượng trước. Dẫu sao, trong mọi trường hợp cần cho bổ sung một cách hệ thống những người có nguy cơ bị thiếu hụt nhất : những người có ít hoạt động ở ngoài trời, những ngoại kiều có lối sống làm lấy mất đi sự tổng hợp vitamine D. Với liều lượng 25.000 đơn vị mỗi tháng, không có một nguy cơ ngộ độc nào.

Chỉ định quan trọng nhất của định lượng vitamine D là kiểm tra sự cho bổ sung vitamine này, để đảm bảo rằng sự bổ sung là đầy đủ : sự hấp thụ ở ruột khác nhau tùy theo mỗi người, và sự thoái biến (catabolisme) bị ảnh hưởng bởi vài thứ thuốc. Ví dụ các thuốc chống động kinh làm gia tăng sự thoái biến của vitamine D.

NGUY CƠ NGỘ ĐỘC ?

Liều độc của vitamine D được thể hiện bởi một tăng canxi-niệu (hypercalciurie), đi trước tăng canxi-huyết (hypercalcémie) và những triệu chứng của nó. Vậy có thể có ích theo dõi canxi-niệu (calciurie) nơi những bệnh nhân được cho bổ sung. Mặt khác nhiều công trình nghiên cứu dược liệu đã cho thấy rằng với 1.000 đến 4.000 đơn vị vitamine D mỗi ngày, người ta không quan sát thấy nguy cơ gia tăng canxi-niệu lẫn canxi-huyết. Một duyệt xét các công trình nghiên cứu được kiểm tra cho thấy rằng có khả năng không có độc tính đối với những cung cấp mỗi ngày lên đến 10 .000 đơn vị /ngày (250 mcg). Những liều lượng được khuyến nghị, từ 800 1.000 đơn vị/ngày, nói chung (nhưng không phải luôn luôn) đầy đủ để đạt được mục tiêu điều trị, do đó trên nguyên tắc là an toàn. Vài nhóm bệnh nhân có một sự nhạy cảm gia tăng với vitamine D (sarcoidose, nhiễm trùng mycobactéries, lymphome) phải được kiểm tra đều đặn hơn để loại trừ một tác dụng ngộ độc. Sự sử dụng thiazide trên lý thuyết có thể là dễ sự xuất hiện một tăng canxi-huyết, vì thuốc lợi tiểu này làm giảm sự bài tiết calcium qua thận, nhưng những dữ kiện lâm sàng không đủ để kết luận về nguy cơ độc tính khi sử dụng bình thường các bổ sung vitamine D nơi những bệnh nhân nhận thiazide.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 6/1/2009)

10/ NGUY CƠ UNG THƯ VÚ GIA TĂNG TRONG TRƯỜNG HỢP ĐIỀU TRỊ SỚM BỆNH MÃN KINH.

Năm 2002, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy rằng những phép điều trị chứng mãn kinh bằng hormone làm gia tăng nguy cơ ung thư vú nhưng cũng làm gia tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch. Hậu quả : giới hữu trách y tế Pháp đã đưa ra những khuyến nghị và chủ trương bắt đầu điều trị trong 3 năm sau mãn kinh, vào khi các triệu chứng mạnh nhất, trong một thời gian ngắn. Nhưng bắt đầu điều trị sớm như thế cũng không hạn chế được nguy cơ, theo một nhóm nghiên cứu của Viện Gustave-Roussy, ở Villejuif. Giữa năm 1992 và 2005, nhóm nghiên cứu này đã theo dõi 53310 phụ nữ mãn kinh, mà trong đó hơn 1700 đã phát triển một ung thư vú. Các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng, trái lại, chính khi điều trị được bắt đầu trong hai năm đầu sau mãn kinh mà nguy cơ bị ung thư vú là quan trọng nhất (nhân lên 1,5 lần).
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/1/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#26 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 01 December 2009 - 07:48 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : NHỮNG TRƯỜNG HỢP NẶNG GIA TĂNG TRONG KHOA HỒI SỨC.

Các thầy thuốc hồi sức (réanimateur) kêu gọi tiêm chủng, sau khi đã quan sát những thể nghiêm trọng nơi những người trẻ tuổi.

GRIPPE. Những trường hợp nặng gia tăng ở Pháp, và các thầy thuốc khoa hồi sức nói càng ngày càng lo ngại khi những trường hợp này liên hệ đến những người trẻ, trung bình từ 35 đến 40 tuổi. “ Người ta thường nói phần lớn những bệnh nhân bị thể nặng vốn đều có bệnh kèm theo (comorbidité). Quả đúng là như vậy. Nhưng cần nhấn mạnh rằng thường đó là những bệnh nhân có bệnh lý mãn tính mức độ trung bình với thời gian sống lâu dài, và rằng có những bệnh nhân trẻ không có tiền sử bệnh lý và tỷ lệ cao mắc thể nặng nơi những phụ nữ có thai ”, Hiệp hội hồi sức nói tiếng Pháp (SRLF) đã nhấn mạnh như vậy.Tổng cộng, ở Pháp, 145 trường hợp nặng đã được liệt kê từ đầu dịch bệnh, trong đó 1/3 còn được nhập viện ở khoa hồi sức hay đang còn được hồi sức, theo báo cáo tổng kết cuối cùng của Viện quốc gia theo dõi y tế (INVS), được công bố hôm qua trên site internet. Từ 15 ngày nay, trên toàn bộ lãnh thổ Pháp, hơn 60 người được nhập viện mỗi tuần vì một bệnh cúm thể nặng, hoặc 10 lần nhiều hơn so với đầu tháng 10. Trong các bệnh viện của Assistance publique, “ mỗi ngày có từ 25 đến 30 bệnh nhân chịu hô hấp nhân tạo (ventilation mécanique) trong đó 5 đến 10 thể rất nặng cần phải nhờ đến một sự cấp oxy ngoài cơ thể (oxygénation extracorporelle), mà một nửa nơi các trẻ em ”, SRLF lại còn nhấn mạnh thêm như thế. Thật vậy, những người trẻ tuổi nhất dường như đặc biệt dễ bị thương tổn đối với virus A (H1N1). Những người dưới 15 tuổi chiếm 20% những trường hợp nghiêm trọng được nhập viện, INVS đã xác nhận như vậy, những người trên 65 tuổi chiếm 7%.

VẤN ĐỀ HÔ HẤP MÃN TÍNH

“ Đó chẳng phải là những trường hợp cúm mà ta thường thấy ở bệnh viện, GS Charles Mayaud, trưởng khoa bệnh phổi và hồi sức của bệnh viện Tenon (Paris) đã xác nhận như thế. Trong cúm mùa, những thể nặng thường xảy ra nơi những người già. Virus làm thương tổn các phế quản ở bề mặt, điều này có thể làm mất bù một bệnh vốn đã có trước, ví dụ suy tim hay suy hô hấp. Ở đây, nơi những người trẻ, virus đại dịch gây nên những thương tổn ở phần sâu của phổi và các phế nang, dẫn đến ngạt thở rất khó điều trị. ”

Theo INVS, các bệnh lý liên kết thông thường nhất là (trong gần 1/3 trường hợp) một vấn đề hô hấp mãn tính và đặc biệt là một hen phế quản.

Một bệnh đái đường được tìm thấy trong khoảng 1% các trường hợp, một chứng béo phì “ bệnh lý ” hay một thiếu hụt miễn dịch trong cùng những tỷ lệ. 18 phụ nữ có thai đã bị những thể nặng, hoặc 7%. Tổng cộng, chỉ 1% các bệnh nhân này đã không có một thể trạng đặc biệt nào. 76 bệnh nhân đã chết.
(LE FIGARO 20/11/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : TẠI SAO PHẢI TIÊM CHỦNG CÁC TRẺ EM.

Đối với các thầy thuốc Nhi Khoa, sự tiêm chủng được biện minh trước hết để tránh các thể nặng và tử vong.

SANTE. Trong khi chiến dịch chủng ngừa sẽ bắt đầu một cách chính thức trong các trường học vào tuần này, nhiều bậc cha mẹ vẫn tiếp tục bị tấn công bởi những mối nghi ngờ. Đứng trước các dữ kiện mâu thuẫn về virus và các vaccin, liệu họ có phải gánh lấy trách nhiệm buộc gia đình mình đi tiêm chủng hay không ?

Hỏi : Tại sao phải bắt các con em mình đi tiêm chủng ?
Cũng như đối với các virus của cúm mùa, các trẻ em là một mục tiêu ưu tiên của virus H1N1. “ Bệnh cúm này theo dự kiến gây nhiễm cho 10 đến 25% dân chúng. Nhưng phải biết rằng những người trẻ tuổi bị tiếp xúc nhiều nhất với virus. Các trẻ em cùng nhau hàng giờ ngồi trong các lớp học, điều này tạo nên một cách lây nhiễm rất có hiệu quả, GS Patrick Berche, chuyên gia vi trùng học của bệnh viện Necker (Paris) đã giải thích như vậy. Theo ông, hiện nay không rõ là bệnh cúm này có nghiêm trọng hơn những bệnh cúm mùa trước đây hay không. Nhưng bởi vì dân chúng còn “ trinh nguyên ” hay gần như không có một bảo vệ miễn dịch nào, nên số các trường hợp nhập viện, kể cả nơi những người trẻ, sẽ là tăng cao hơn.

“ Các trẻ em rất dễ bị nhiễm bởi virus H1N1, GS Catherine Weil-Olivier, thầy thuốc nhi khoa và chuyên gia về cúm đã xác nhận như vậy. Phần lớn các trẻ em đều mắc phải một bệnh cúm hiền tính, nhưng có những thể nặng, với suy hô hấp cấp tính, trong đó 30% xảy ra mặc dầu không có yếu tố nguy cơ nào.” Hiện nay,GS Catherine Weil-Olivier đã xác nhận như thế, các bệnh nhân nhập viện vì cúm A (H1N1) thường xảy ra nơi các trẻ dưới 4 tuổi hơn là trong những lớp tuổi khác. Và tỷ lệ cần phải đưa các nhũ nhi dưới 1 tuổi vào hồi sức là cao nhất so với những lứa tuổi khác. Đối với các thầy thuốc nhi khoa, trước hết chính sự xuất hiện những trường hợp nặng, có tiềm năng gây tử vong, ngay cả không có những yếu tố nguy cơ, biện minh cho việc chủng ngừa các trẻ em rất nhỏ tuổi.

“ Lý luận cũng giống như đối với các vaccin chống các viêm màng não do phế cầu và do haemophilus, GS Alain Chantepie, chủ tịch của Hiệp Hội Nhi Khoa, đã nhấn mạnh như vậy. Ngày nay, phần lớn các nhũ nhi đều nhận hai vaccin này, điều này cho phép tránh vài trăm trường hợp tử vong mỗi năm. Tôi không hiểu tại sao vaccin chống cúm đại dịch lại không được chấp nhận như vậy.” Theo bảng tổng kết mới nhất của Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire), 16 nhũ nhi dưới 1 tuổi đã được nhập viện ở Pháp vì một thể nặng của cúm A (H1N1) từ khi bắt đầu dịch bệnh, và 32 trẻ em từ 1 đến 15 tuổi. Hai lứa tuổi này lần lượt chiếm 7% và 13% các trường hợp nặng.

Hỏi : Những nguy cơ của vaccin đại dịch là gì ?
Theo các chuyên gia, các nguy cơ xảy ra ở trẻ em cũng như người lớn. Trên thực tế, “ nguy cơ bị những tác dụng phụ của các vaccin đại dịch thấp hơn nhiều so với nguy cơ mắc phải bệnh cúm, GS Chantepie đảm bảo như vậy.

“ Tất cả các dữ kiện thu được cho đến nay chỉ rõ rằng các vaccin chống cúm đại dịch có một profile không độc rất tốt, tương tự với nguy cơ của các vaccin chống cúm mùa, một bảng tổng kết của OMS đã kết luận như vậy. Trong số 65 triệu người đã được tiêm chủng trên thế giới, dưới 10 trường hợp nghi ngờ bị hội chứng Guillain-Barré đã được ghi nhận. Những tác dụng phụ thường xảy ra nhất là tại chỗ : đau nơi chỗ chích, đỏ da... Sốt, đau đầu và mệt cũng thường phát ra và biến mất trong 48 giờ.

Hỏi: Những đứa trẻ nào cần được ưu tiên tiêm chủng ?
Cũng như ở người lớn, những trẻ yếu ớt nhất nằm ở đầu bảng. Đó chủ yếu là các nhũ nhi,và các trẻ em bị một bệnh hô hấp mãn tính(hen phế quản cần điều trị hàng ngày, mucoviscidose, những di chứng của sinh non…) ; một thiếu hụt miễn dịch hay một bệnh lý nghiêm trọng khác (thí dụ tim dị tật). Những em nhỏ dưới 6 tháng được xem là ưu tiên, nhưng không thể chủng ngừa chúng. Do đó để bảo vệ chúng cần tiêm chủng bố mẹ và những người thân cận.

Hỏi : Trên thực tiễn ?
Các trung tâm tiêm chủng đang mở cửa cho các nhũ nhi từ 6 đến 23 tháng. Những nhũ nhi này cũng như các phụ nữ có thai từ tam cá nguyệt thứ hai sẽ được tiêm chủng bằng một vaccin không có chất bổ trợ.5 triệu học sinh trung học trong những ngày đến sẽ có thể được tiêm chủng trong các cơ sở học đường với điều kiện được bố mẹ chấp thuận. Đối với các trẻ em mẫu giáo và tiểu học, chiến dịch sẽ bắt đầu đầu tháng 12.

Hỏi : Đóng cửa trường có ích lợi không ?
Hôm qua, 264 trường học được đóng cửa ở Pháp vì cúm. Giới hữu trách có thể đóng cửa một lớp học, thậm chí một trường học, trong 6 ngày nếu từ 3 trường hợp xuất hiện trong cùng một tuần trong cùng một lớp học. Cũng như các kỳ nghỉ hè, việc đóng cửa trường là một phương tiện có hiệu quả làm chậm lại sự tiến triển của virus trong dân chúng. Biện pháp này có lẽ ít dứt điểm hơn việc tiêm chủng.

“ Phương tiện tốt nhất để làm ngưng đại dịch, đó là tiêm chủng những đối tượng trẻ tuổi nhất, GS Berche đã đánh giá như vậy. Ngoài ra, ở Hoa Kỳ, những người ưu tiên không phải là những người có nguy cơ, mà là những trẻ em ở tuổi học đường.
(LE FIGARO 24/11/2009)

3/CÚM LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM.

Theo một công trình nghiên cứu của Anh, nhiễm trùng cúm có thể gây nên các nhồi máu cơ tim. Vậy sự tiêm chủng cũng cho phép bảo vệ tim nơi những người có nguy cơ.

Những biến chứng tim của nhiễm trùng influenza, như viêm cơ tim (myocardite), đã được biết rõ, nhưng còn vai trò của cúm trong sự xuất hiện của một nhồi máu cơ tim ? Các nhà nghiên cứu người Anh đã thực hiện một duyệt xét hệ thống các tài liệu y học để nghiên cứu mối liên hệ giữa cúm (trong đó có những hội chứng cúm và những nhiễm trùng hô hấp cấp tính) và nhồi máu cơ tim.

Charlotte Warren-Gash, Liam Smeeth và Andrew Hayward cũng đã phân tích hiệu quả của các vaccin chống cúm trong việc ngăn ngừa các tai biến tim mạch. Để thực hiện điều này, họ đã thực hiện một phân tích méta các dữ kiện thử nghiệm được kiểm tra. Họ đã giữ lại 42 tài liệu xuất bản (từ năm 1932 đến 2008), mô tả 39 công trình nghiên cứu.

Nhiều công trình nghiên cứu quan sát báo cáo những sự liên kết mạnh mẽ giữa bệnh cúm và nhồi máu cơ tim. Ngược lại, có ít bằng cớ hơn về sự hiện hữu của một mối liên hệ giữa bệnh cúm với tỷ lệ tử vong tim mạch. Các nhà dịch tễ học Luân Đôn giải thích hiện tượng thiếu máu cục bộ (ischémie) này bởi hoạt tính viêm và làm dễ đông máu (activité inflammatoire et pro-coagulante) của virus, như thế làm biến đổi chức năng nội mô.

Hai thử nghiệm quy mô nhỏ đã xác định hiệu quả bảo vệ tim mạch của vaccin chống cúm nơi những người bị bệnh tim mạch. Trong khi thử nghiệm này cho thấy một sự bảo vệ có ý nghĩa chống lại loại tử vong này, thì thử nghiệm kia lại ít thuyết phục.

Vậy đối với các tác giả, sẽ có một nguy cơ gia tăng bị nhồi máu cơ tim khi bị cúm mùa và chủng ngừa chống cúm hẳn phải được khuyến khích trong những nhóm người mà sự tiêm chủng được khuyến nghị, nhất là nơi những người bị một bệnh tim mạch, mà người ta thường thấy tỷ lệ tiêm chủng thấp. Ngoài ra các tác giả đánh giá rằng những công trình nghiên cứu khác sẽ xác lập tính hiệu quả của vaccin chống cúm trong việc làm giảm nguy cơ bị các tai biến tim nơi những người lành mạnh.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 29/9/2009)

4/HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH : MỘT ÍT RƯỢU CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ.

Các lối sống của 40.000 phụ nữ, mà trong số đó 2000 người được nhập viện vì huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), đã được phân tích bởi một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ. Các tác giả tìm mối tương quan giữa chế độ ăn uống và sự xuất hiện của bệnh huyết khối tĩnh mạch. Ngược lại với mọi chờ đợi, nguy cơ đã được thu giảm 26% nơi các phụ nữ tuyên bố là đã uống rượu mức độ nhẹ mỗi ngày, so với các phụ nữ kiêng cữ.
(PARIS-MATCH 15/10-21/10/2009)

5/ XỬ TRÍ CẤP CỨU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Với hai triệu tế bào thần kinh bị chết đi với mỗi phút thiếu máu cục bộ não, thời gian quả là một tham số có tính chất quyết định trong tai biến mạch máu não cấp tính. Hai thái độ điều trị đang chiếm ưu thế hiện nay : thực hiện liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) trong vòng không quá 4,5 giờ sau một tai biến mạch máu não và sử dụng IRM để quyết định điều trị tan huyết khối chừng nào có thể được. Điểm lại tình hình với BS Patricia Redondo, trưởng Stroke Unit của CHU Tivoli (Bỉ).

Các tai biến mạch máu não ngày nay là nguyên nhân thứ hai gây tử vong trên thế giới và là nguyên nhân thứ ba trong các nước phát triển, sau nhồi máu cơ tim và ung thư. Trên bình diện của các hậu quả thần kinh, đó là nguyên nhân đầu tiên gây tật nguyền và nguyên nhân thứ hai gây chứng sa sút trí tuệ (démence). Ở Bỉ, mỗi năm có 19.000 người bị tai biến mạch máu não, 9.000 người chết trong năm theo sau những những biến chứng liên kết với tai biến mạch máu não hay những bệnh tim và 6.000 người vẫn bị phế tật suốt đời. Phí tổn xã hội-kinh tế của chứng bệnh này là đáng kể và từng ít một đặt ra một vấn đề y tế cộng đồng thật sự. Trong những năm qua nhiều tiến bộ đạt được trong điều trị tai biến mạch máu não với những chiến lược phòng ngừa thứ cấp và sự phục hồi chức năng thần kinh. Nhưng chắc chắn chính liệu pháp tan sợi huyết(fibrinolyse, hay thrombolyse, tan huyết khối) và sự phát triển của các điều trị nội huyết quản (traitement endovasculaire) trong quang tuyến-thần kinh học can thiệp (neuroradiologie interventionnelle) đã góp phần nhiều nhất trong sự thay đổi thái độ của các thầy thuốc thần kinh mạch máu (neurologue vasculaire). Điều trị đã trở nên tích cực dấn thân hơn trong giai đoan cấp tính, với những sơ đồ đôi khi xâm nhập (invasif) như liệu pháp tan sợi huyết trong động mạch (fibrinolyse intraartérielle) hay việc thiết đặt các stent nội sọ.

TIME IS BRAIN (THỜI GIAN LÀ NÃO BỘ).

Một kiến thức tốt hơn về các cơ chế sinh học của thiếu máu cục bộ não cấp tính đã góp phần làm thay đổi nếp nghĩ trong điều trị. Ngày nay các chiến lược căn cứ vào việc cứu sống phần não bộ bị nhồi máu, được gọi là “ vùng tranh tối tránh sáng thiếu máu cục bộ ” (zone de pénombre ischémique). Vùng này tương ứng với phần của nhu mô não loạn năng do sự giảm luồng máu đến não nhưng còn có khả năng sống còn trong vài giờ và trở lại hoạt động nếu một luồng máu thích hợp được tái lập nhanh chóng.

Thời gian là chủ yếu : ngày nay người ta ước tính rằng mỗi phút thiếu máu cục bộ làm mất 2 triệu tế bào thần kinh, hoặc 120 triệu mỗi giờ và 1,2 tỷ mỗi tai biến mạch máu não. Chính vì vậy mà “ vùng tranh tối tránh sáng ” (zone de pénombre) này sẽ là mục tiêu điều trị trong xử trí một tai biến thiếu máu cục bộ não cấp tính (AVC ischémique aigu). Tất cả những hành động được thực hiện sẽ nhằm làm hồi phục phần nhu mô não bị thiếu máu cục bộ này, đồng thời làm giảm chuyển hóa của các tế bào thần kinh, bằng cách duy trì một áp lực tưới máu (pression de perfusion) đúng đắn đối với các động mạch bàng hệ và bằng cách làm thông thương trở lại huyết quản bị tắc trong những thời hạn ngắn nhất.

4 GIỜ 30.

Từ năm 1996, chúng ta có những tác nhân làm tan sợi huyết có tác dụng tại chỗ (liệu pháp tan sợi huyết trong động mạch, fibrinolyse intra-artérielle) hay toàn thân (liệu pháp tan sợi huyết trong tĩnh mạch, fibrinolyse intraveineuse). Một trong những thuốc được sử dụng là altéplase (Actilyse) hay r-tPA, một polypeptide có được bằng sự tái phối hợp di truyền của t-PA (activateur du plasminogène tissulaire). Việc sử dụng r-tPA chịu điều kiện bởi vì ngoài tác dụng tan sợi huyết, thuốc có thể có những tác dụng có hại lên nhu mô não, làm dễ, nơi vài bệnh nhân, sự thoái hóa của hàng rào máu-não (barrière hémato-encéphalique) mà hậu quả là sự gia tăng phù nề và nguy cơ xuất huyết não đôi khi gây tử vong. Mặc dầu vậy, theo một phân tích méta của các công trình nghiên cứu, phương pháp tan sợi huyết (fibrinolyse) là một liệu pháp hiệu quảvề mặt phục hồi chức năng và tỷ lệ tử vong sau 3 tháng, Đó cũng là một liệu pháp an toàn như đã được chứng tỏ bởi registre SITS-MOST.

Một bài báo mới đây của Lancet Neurology xác nhận rằng liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse hay fibrinolyse) sau một tai biến mạch máu não có thể được thực hiện cho đến 4,5 giờ sau biến cố. Nhưng, các tác giả nhấn mạnh, mặc dầu sự kéo dài của cửa sổ can thiệp đến 4,5 giờ cho phép điều trị nhiều hơn các bệnh nhân, tuy nhiên nó không cho phép kéo dài thời gian “ từ cửa đến kim ” (LE temps de la porte à l’aiguille), phải càng gần 1 giờ chừng nào tốt chừng ấy.

Một phân tích méta năm 2004 đã cho thấy rằng khi liệu pháp tan sợi huyết được thực hiện trong 90 phút, 50% các bệnh nhân không có tật nguyền vào tháng thứ 3 và 25% khi thời hạn can thiệp là 4 giờ 30. Công trình nghiên cứu ECASS III (European Cooperative Acute Stroke Study III) cho thấy rằng tỷ lệ tử vong y hệt nhau tùy theo altéplase được cho 3 giờ hay 4,5 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng. Người ta cũng không quan sát thấy xuất huyết nội sọ giữa hai thời biểu này.

Cần ghi nhận rằng altéplase có hiệu quả đối với mọi lứa tuổi và dầu độ nghiêm trọng của tai biến mạch máu não theo thang NIHSS (National Institute of Health Stroke Scale) là bao nhiêu.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 30/10/2009)

6/ STRESS, ĐÚNG LÀ CÓ HẠI CHO TIM.

Một cách cổ điển, người ta chấp nhận rằng chứng trầm cảm (dépression) ảnh hưởng một cách âm tính lên tiên lượng tim mạch. Đó cũng là điều được rút ra từ tư liệu y học, nhưng cũng có thể rằng mối liên hệ này cũng đúng đối với mọi dạng stress tâm lý-xã hội.Chứng trầm cảm thường được thấy nơi những bệnh nhân bị các bệnh tim mạch : gần 20% những bệnh nhân này bị trầm cảm. Thường không được chẩn đoán, bởi vì không phải luôn luôn dễ dàng xác lập : ví dụ những hậu quả vật lý và tâm thần của nhồi máu cơ tim có thể gây nên những triệu chứng tương tự với những triệu chứng của chứng trầm cảm. Về mặt thuốc men, điều quan trọng cần nhấn mạnh là các bêta-bloquant, trái với điều mà chúng ta tưởng từ lâu, không gây nên trầm cảm. Nhiều lắm, chúng gây nên vài dấu hiệu riêng rẻ, nhưng không phải là một bệnh cảnh trầm cảm hoàn toàn.

MỘT MỐI LIÊN HỆ RÕ RÀNG.

Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng các bệnh nhân, trở nên trầm cảm trong hai tuần đầu sau một nhồi máu cơ tim, có một nguy cơ tử vong tim mạch hai đến ba lần cao hơn những bệnh nhân không trầm cảm. Vài công trình nghiên cứu không tìm thấy một tương quan nào giữa chứng trầm cảm và tỷ lệ tử vong tim mạch, nhưng mối tương quan này nói chung được xác nhận trong tư liệu y khoa. Khoảng hai mươi công trình nghiên cứu gợi ý rằng, ngoài việc bị nhồi máu cơ tim, những bệnh nhân trở nên trầm cảm chịu một sự biến đổi tiên lượng về tim mạch. Ngoài ra, nguy cơ tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm cảm : chính những bệnh nhân với một điểm số trầm cảm cao có nguy cơ bị gia tăng. Điều quan sát này làm tăng thêm niềm tin rằng đó không phải là một sự tình cờ. Sau cùng, những bệnh nhân trầm cảm và lúc đầu không bị một bệnh tim mạch nào, có một nguy cơ cao hơn trên bình diện này. Mặc dầu nhiều công trình nghiên cứu đều liên hệ đến nhồi máu cơ tim, nhưng người ta cũng đã chứng minh rằng chứng trầm cảm cũng làm gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não.

Vậy chứng trầm cảm có thể được thêm vào danh sách cổ điển của các yếu tố nguy cơ tim mạch. Dường như nó không nguy hiểm như chứng nghiện thuốc lá, nhưng các thầy thuốc chuyên khoa tim càng ngày càng có nhiều người cho rằng nguy cơ mà chứng trầm cảm gây ra cũng bằng với nguy cơ liên kết với sự gia tăng thể trọng (excès pondéral).

Vấn đề được đặt ra là tìm biết xem chứng trầm cảm có phải là một yếu tố nguy cơ độc lập hay không. Người ta có thể cho rằng một bệnh nhân trầm cảm có khuynh hướng hút thuốc nhiều hơn, ít hoạt động hơn hay ăn uống thường không đúng quy cách, điều này có thể làm gia tăng nguy cơ. Hay có thể rằng những người bị nhồi máu cơ tim trở nên trầm cảm và do đó có một nguy cơ từ vong cao hơn. Hay những bệnh nhân trầm cảm ít chú ý hơn việc theo dõi tốt các điều trị nhằm vào tim mạch. Nhưng các thống kê đều rõ ràng : ngay cả sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với những yếu tố nguy cơ khác, chứng trầm cảm vẫn làm phương hại tiên lượng tim mạch. Ta cũng có thể tự hỏi những dạng khác của căng thẳng tâm lý-xã hội, như lo âu hay giận dữ, có thể tạo nên một nguy cơ tim mạch hay không. Các dữ kiện của tư liệu y học khác nhau về điểm này nhưng nhìn toàn bộ, dường như là như vậy.

CƠ CHẾ.

Mối liên hệ giữa stress và các biến cố tim mạch có thể được giải thích bởi sự kiện là stress làm rối loạn toàn cơ thể. Nó kích thích trục thượng thận (axe surrénalien), điều này làm gia tăng cortisol trong máu. Hậu quả là sự gia tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch và phản ứng viêm, cũng như khả năng đông máu (do sự hoạt hóa của các tiểu cầu). Sự rối loạn hệ thần kinh tự trị dẫn đến sự gia tăng huyết áp và nhịp tim. Một mức độ đề kháng nào đó đối với insuline (insulinorésistance) cũng xảy ra trong trường hợp trầm cảm.
(LE GENERALISTE 12/11/2009)

7/ MỘT LIỆU PHÁP GENE CHỐNG LẠI BỆNH PARKINSON.

Lần đầu tiên ở Pháp, một liệu pháp gène (thérapie génique) được trắc nghiệm trên 6 bệnh nhân bị bệnh Parkinson. Thử nghiệm lâm sàng, đã bắt đầu ở bệnh viện Henri-Mondor (Créteil), nhằm đưa vào trong ADN của các neurone còn nguyên vẹn 3 gène có khả năng làm phát khởi trở lại sự sản xuất dopamine, chất dẫn truyền thần kinh bị thiếu hụt nơi những bệnh nhân này. Những gène này đi vào trong các tế bào nhờ một virus mà không gây nguy hiểm cho người. Virus được tiêm trực tiếp vào trong vùng não bộ bị thương tổn (Locus niger) do thiếu dopamine. Đã được thí nghiệm trên các động vật linh trưởng, phương pháp này đã cho phép cải thiện vài khả năng vận động và điều chỉnh nồng độ dopamine trong não bộ, đến 12 tháng sau khi tiêm. Theo Béchir Jarraya, tác giả chính của công trình nghiên cứu, liệu pháp này cũng có thể bổ sung các phép điều trị bằng L-Dopa, thuốc chuẩn chống bệnh Parkinson :

“ Vài năm sau phép điều trị với L-Dopa, các biến chứng vận động xuất hiện và chúng tôi đã chứng tỏ trên các mô hình rằng liệu pháp gène cũng có thể ngăn ngừa những triệu chứng này ”. Ở Pháp, bệnh Parkinson gây bệnh cho hơn 100.000 người.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

8/ NGUY CƠ UNG THƯ CÓ THỂ THAY ĐỔI TÙY THEO NHÓM MÁU.

Nếu những người thuộc nhóm máu A,B hay AB có nhiều nguy cơ hơn phát triển ung thư tụy tạng, đó là do profil di truyền của họ. Các nhà nghiên cứu của National Cancer Institute, Bethesda (Hoa Kỳ), vừa khám phá các gène là nguồn gốc của mối liên kết này, vốn đã được nhận diện ngay trong những năm 1950. Để làm được như thế, họ đã khảo sát các gène của 4000 người, trong đó 2000 người bị ung thư tuyến tụy tạng. Các kết quả đã cho thấy một mối liên hệ giữa sự xuất hiện của bệnh ung thư tuyến tụy tạng và vùng của nhiễm sắc thể số 9, vốn xác định nhóm máu. Như thế, những người mang gène mã hóa đối với nhóm A, B hay AB có một nguy cơ gia tăng phát triển ung thư của tụy tạng. Các nhà di truyền dự kiến khám phá những yếu tố mẫn cảm (facteurs de susceptibilité) khác đối với ung thư này trong mục đích cải thiện việc phát hiện nó.
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

9/ CHỨNG TRẦM CẢM NẶNG : PHÉP ĐIỀU TRỊ MỚI.

GS Pierre-Michel Llorca, trưởng khoa tâm thần của CHU de Clermont-Ferrand, bình luận những hiệu năng của thuốc chống trầm cảm escitalopram (Sipralexa), được công bố trên “ Lancet ”

Hỏi : Tần số mắc phải những trạng thái trầm cảm (état dépressif) ?
GS Pierre-Michel Llorca : Chứng trầm cảm (LA dépression) là một bệnh có tỷ lệ mắc bệnh gia tăng dần. Hiện nay ở Pháp, người ta liệt kê 2 triệu trường hợp mới mỗi năm (nơi hai phụ nữ đối với một đàn ông). Những công trình nghiên cứu mới nhất tiết lộ rằng 60 % các trường hợp tự tử xảy ra sau một trầm cảm (8000 trường hợp mỗi năm).

Hỏi : Ông có thể nhắc lại những giai đoạn khác nhau của chứng trầm cảm ?
GS Pierre-Michel Llorca : Giai đoạn của chứng trầm cảm thay đổi tùy theo cường độ của nó. Có những đợt nhẹ, trung bình và quan trọng. Trong hai giai đoạn đầu, ta sắp xếp các bệnh nhân có những triệu chứng ít mạnh và những hoạt động hàng ngày chưa bị giảm quá nhiều. Giai đoạn cuối (giai đoạn của những chứng trầm cảm nặng) được đặc trưng bởi một cường độ mạnh của các triệu chứng và một sự rối loạn sâu của đời sống hàng ngày trên bình diện nghề nghiệp, xã hội, gia đình. Các bệnh nhân được điều trị một cách đặc hiệu tùy theo giai đoạn của bệnh.

Hỏi : Thường ta điều trị một chứng trầm cảm thể nặng như thế nào ?
GS Pierre-Michel Llorca : Bằng những thuốc chống trầm cảm (atidépresseurs), được cho trong một thời gian 10 đến 12 tháng. Nhưng khi ta tìm thấy những tiền sử gia đình, phải thực hiện ngay một điều trị lâu dài hơn để tránh tái phát. Một điều trị tâm lý thường được liên kết với điều trị bằng thuốc. Vào những đợt trầm cảm nặng, não bộ hoạt động “ chậm lại ” (“ au ralenti ”) và vài chất dẫn truyền thần kinh, như sérotonine (chi phối các cảm xúc) bị giảm đi Điều này gây nên những triệu chứng trầm cảm. Các tác nhân chống trầm cảm là những thuốc làm gia tăng nồng độ sérotonine.

Hỏi : Những tác dụng phụ của những điều trị này là gì ?
GS Pierre-Michel Llorca : Các thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những vấn đề tiêu hóa, như nôn, biến mất dần dần. Một vài thứ thuốc cũng làm lên cân và, ít xảy ra hơn, những tác dụng có hại khác như migraine, giảm dục tính, chóng mặt...

Hỏi : Những kết quả thu được với điều trị này ?
GS Pierre-Michel Llorca : 70% các bệnh nhân được chữa lành (người ta điều trị 30% những trường hợp đề kháng với những thứ thuốc khác), nhưng vấn đề đối với những chứng trầm cảm nghiêm trọng là nguy cơ cao bị tái phát. Vào đợt trầm cảm đầu tiên, tỷ lệ tái phát là 50%. Lúc xảy ra đợt thứ hai, tỷ lệ này chuyển qua từ 70 đến 80% , và sau một đợt thứ ba, tỷ lệ này là 90% !

Hỏi : Làm gì trong trường hợp tái phát ?
GS Pierre-Michel Llorca : Bệnh nhân tiếp tục lại thứ thuốc đã tỏ ra có hiệu quả. Lần này điều trị sẽ được theo dõi rất dài lâu, đôi khi trong nhiều năm, và dừng lại một cách rất thận trọng. Những người hay bị tái phát khó chịu đựng được một cơn trở lại và những tác dụng phụ của điều trị.

Hỏi : Do đó lợi ích của một điều trị với một thứ thuốc mới, escitalopram (Sipralexa), được cho là có hiệu quả hơn và chịu đựng được tốt hơn về lâu về dài. Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ điều đó?
GS Pierre-Michel Llorca : Đó là một phân tích méta (một sưu tập của 117 công trình nghiên cứu khoa học), được công bố trong “ Lancet ”, so sánh những kết quả của 1 điều trị chống trầm cảm nơi hơn 25.000 bệnh nhân bị chứng bệnh này. Các kết luận chứng tỏ rằng thuốc hiệu quả nhất (bởi vì có một tác dụng lớn hơn lên sérotonine) và được dung nạp tốt nhất là escitalopram. Điều trị với thuốc này cải thiện nhanh chóng hơn khí chất trầm cảm (humeur dépressive) và cũng cho phép tìm lại một cách nhanh chóng các khả năng cảm thấy lạc thú của mình. Ưu điểm khác : thuốc gây nên rất ít các tác dụng phụ. Suốt trong quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu này, các người tham gia có toàn quyềnngừng và không tham gia nữa.Đó là điều mà họ thường làm. Nhưng với escitalopram, người ta ghi nhận rất ít sự gián đoạn.

Hỏi : Ưu điểm lớn nhất của phép điều trị này ?
GS Pierre-Michel Llorca : Điều trị này tỏ ra hữu ích nơi các người trầm cảm có những nguy cơ lớn bị tái phát và nơi họ cần thực hiện một điều trị dài lâu.
(PARIS MATCH 15/10-21/10/2009)[/color]

10/ HY VỌNG SỐNG (ESPERANCE DE VIE) CÓ THỂ THÊM ĐƯỢC 5 NĂM.

Theo một báo cáo của OMS, hy vọng sống (espérance de vie) của dân chúng thế giới có thể được gia tăng thêm gần 5 năm nếu ta tấn công vào 5 yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe : sự không đủ trọng lượng trong thời kỳ thơ ấu, những quan hệ tình dục có nguy cơ, nghiện rượu, thiếu nước uống, sự lành mạnh hóa và vệ sinh, và cao huyết áp. Thật vậy, những yếu tổ nguy cơ này chịu trách nhiệm ¼ của 60 triệu tử vong xảy ra mỗi năm.

8 yếu tố một mình chịu trách nhiệm hơn 75% những trường hợp bệnh tim do động mạch vành, nguyên nhân chính của tử vọng trên thế giới : rượu, tăng đường huyết, nghiện thuốc lá, cao huyết áp, một chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) tăng cao, tăng cholestérol-huyết, ít ăn trái cây và rau xanh và sự nhàn rổi không hoạt động.

7 nguy cơ môi trường và hành vi cũng như 7 nguyên nhân nhiễm trùng chịu trách nhiệm 45% tử vong do ung thư trên thế giới, 71% các tử vong do ung thư phổi là do thuốc lá, 10 nguy cơ chính có thể tránh được làm giảm tuổi thọ khoảng 7 năm trên bình diện thế giới và hơn 10 năm trong vùng châu Phi.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 3/11/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (30/11/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#27 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 08 December 2009 - 12:12 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : PHÁP DỰ KIẾN CHUYỂN QUA MỨC BÁO ĐỘNG TỐI ĐA (CẤP 6)

PANDEMIE. Hôm qua, bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot, đã nêu lên khả năng rằng nước Pháp chẳng bao lâu nữa sẽ chuyển qua mức báo động cấp 6 của kế hoạch đại dịch cúm. 10 trường hợp tử vong mới đã được ghi nhận từ hôm thứ sáu, “ xảy ra nơi những người phần lớn đã không có yếu tố nguy cơ hay vấn đề gì đặc biệt ”. Tuy nhiên bà Bachelot đã vội nhắc lại rằng kế hoạch này vốn đã được nghĩ ra vào lúc dịch cúm gia cầm và rằng nó trước hết tạo nên một “ hộp dụng cụ ” (boite à outils). “ Có những dụng cụ trong mức báo động cấp 6 đã có thể được sử dụng, ví dụ cấm tụ tập. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta nhất thiết sẽ dùng tất cả ”. Bà đã giải thích như vậy. “ Quyết định chuyển qua cấp 6 được dự kiến nhưng không phải một sớm một chiều ”, Didier Houssin, tổng giám đốc y tế đã giải thích như vậy. Ở Pháp chính quốc, có 2.762.000 người bị nhiễm bởi cúm A. Người ta đếm được 86 trường hợp tử vong, 305 trường hợp nghiêm trọng, với 101 còn đang được hồi sức, mà trong số đó 20% là các trẻ em dưới 15 tuổi.

Những tụ tập, hội họp công cộng và các di chuyển bị giới hạn.
Kế hoạch dự kiến cả một loạt các biện pháp rào chắn nhằm kềm chế và giới hạn sự lan rộng của đại dịch. Được nêu lên ưu tiên là sự đóng cửa các nhà trẻ, các cơ sở giảng dạy và đào tạo, các nhà nội trú và những trung tâm tiếp đón các trẻ vị thành niên. Đây là những biện pháp cần thiết mà tính hiệu quả nhằm hạn chế sự lây lan vào lúc các dịch bệnh cúm đã được chứng minh, theo những người soạn thảo kế hoạch. Sự đình chỉ hay thu giảm vài phương tiện vận tải địa phương, những nơi có tiềm năng truyền virus, cũng được chỉ rõ. Các nơi biểu diễn, các cuộc đấu thể thao, các hội chợ và các phòng triển lãm cũng như những tụ tập hội hè cũng có thể bị đình chỉ.

Những thăm viếng và tiếp cận với những nơi công cộng.
Kế hoạch gợi ý khả năng hạn chế những thăm viếng và những tiếp cận với các cơ sở bệnh viện, với các nhà dưỡng lão, các nhà tu và những cơ sở xã hội và y tế-xã hội.

Những biện pháp cách ly.
Các hoạt động tiêm chủng trong những tuần vừa qua đã che khuất nhiều biện pháp vệ sinh đã được nói đến nhiều vào đầu dịch bệnh. Việc chuyển qua cấp 6 có thể lại đưa vào chương trình nghị sự việc mang các phương tiện bảo vệ hô hấp bởi nhân viên y tế hay việc mang mặt nạ ngoại khoa bởi những người lành mạnh trong những nơi công cộng.
(LE FIGARO 1/12/2009)

H1N1 : Ở CHÂU ÂU, VIỆC TIÊM CHỦNG DIỄN BIẾN KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ.

Một công cuộc điều tra, được tiến hành bởi các phóng viên báo Figaro, tiết lộ rằng ở Châu Âu và Hoa Kỳ, các chiến dịch tiêm chủng diễn biến không có vấn để lớn. Trong nhiều nước, các thầy thuốc đa khoa là tâm điểm của chính sách phòng ngừa.

Ở Anh : Chiến dịch chống H1N1 đã bắt đầu một cách êm ả, quá yên tĩnh theo giới cầm quyền. Đối với diện ưu tiên, 2 triệu nhân viên y tế, chỉ có 175.000 người đã được tiêm chủng cho đến nay. Đối với dân chúng, chính các thầy thuốc gia đình chịu trách nhiệm về những đối tượng có nguy cơ. Trong toàn cả nước, 1,6 triệu người đã được tiêm chủng, với 1,2 triệu liều đã được giao. Nhưng một thăm dò mới đây cho thấy rằng đa số các thầy thuốc gia đình nghĩ là không đạt được các mục tiêu tiêm chủng được đề ra, bởi vì phần lớn người ta không muốn tiêm chủng, do sợ những tác dụng thứ phát của vaccin, hoặc bởi vì họ nhận thấy rằng cúm A (H1N1) không phải là một bệnh nặng. Mặc dầu hơn 800.000 trường hợp được liệt kê chính thức ở Anh nói riêng và 270 trường hợp tử vong trong toàn Vương Quốc Anh, nhưng giới truyền thông không còn nói nữa về H1N1…

Ở Ý : chiến dịch tiêm chủng diễn ra sôi nổi : sau các giáo viên và nhân viên y tế, đến lượt các người thuộc diện ưu tiên, trẻ em của các trường học, phụ nữ có thai. Một chiến dịch mới sẽ bắt đầu vào tuần đến. Những người được mời tiêm chủng sẽ được báo qua thư bưu điện và sẽ phải trình diện trong các trung tâm điều trị có thẩm quyền trong công tác chủng ngừa. Các thầy thuốc gia đình chẳng bao lâu sẽ có thể tham gia vào chương trình này. Từ 19 tháng mười, 3.438.000 người đã được tiêm chủng. Tính đến nay, dịch bệnh đã gây tử vong cho 111 người. Những đối tượng bị bệnh nhất là những trẻ từ 0 đến 14 tuổi (17,5 trên 1000 thuộc lứa tuổi này). Sự lây nhiễm có lẽ lùi lại. Bộ y tế dự định cấp phát 10 triệu liều vaccin vào cuối tháng 12.

Ở Hoa Kỳ : Những ngày đặc biệt cho tiêm chủng được tổ chức trong các bệnh viện, các trung tâm y tế, các trường học, các trại lính và ngay cả trong các siêu thị Wal-Mart. Các thầy thuốc đa khoa được quyền tiêm chủng. Không có con số chính thức, nhưng số người đã được tiêm chủng là vài chục triệu. Vào đầu tháng 12, gần 70 triệu liều vaccin đã được đặt hàng bởi các tiểu bang, nhưng chỉ 60 triệu đã được phân phát. Cuộc tiêm chủng diễn biến tốt hơn so với hồi tháng 10 và 11, nhưng nhu cầu vẫn nhiều hơn số liều vaccin hiện có. Làn sóng thứ hai của cúm A (H1N1) ở Hoa Kỳ cho thấy những dấu hiệu giảm đi. 32 tiểu bang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cúm, nói chung trong vùng Đông-Bắc và miền Tây, so với 48 tiểu bang vào lúc cao điểm dịch hồi cuối tháng 10. Một làn sóng mới, ít nghiêm trọng hơn, được chờ đón vào tháng giêng sắp đến.

Ở Đức : Dân chúng không chen lấn để được chủng ngừa cúm A (H1N1), vẫn luôn luôn được gọi là “cúm heo”. Không có những hàng người chờ đợi tại phòng mạch các thầy thuốc đa khoa, được giao quyền thực hiện việc tiêm chủng. 5 tuần sau khi bắt đầu chiến dịch tiêm chủng, từ 4 đến 5,8 triệu vaccin loại Pandemrix đã được phân phát, theo Viện Robert Koch, cơ quan liên bang chịu trách nhiệm kiểm soát và chống lại những bệnh nhiễm trùng.

Chính phủ kêu gọi tất cả các người Đức đi tiêm chủng. Tuy nhiên tuần này, càng ngày càng ít người mong muốn thực hiện việc này. Viện Robert Koch đã loan báo hôm thứ ba rằng mức độ nhiễm trùng đã đạt một đỉnh cao ở Đức. Vào đầu tháng 12, có 172.000 trường hợp cúm A (H1N1) đã được thống kê ở Đức, trong đó có 66 tử vong. Số các trường hợp được khai báo tuần này khoảng 35.000, như thế đang giảm xuống.

Ở Bỉ : Không có vấn đề gì đặc biệt ngoại trừ không thể đánh giá được chiến dịch tiêm chủng bởi vì các thầy thuốc gia đình có thái độ ngập ngừng không muốn đăng ký các trường hợp chủng ngừa. Nước Bỉ đã chỉ đặt hàng một vaccin duy nhất, Pandremrix, được sản xuất bởi GSK, 12,5 triệu liều. Có lẽ quá nhiều. Bruxelles đã quyết định gởi một phần dự trữ này cho các nước thế giới thứ ba, qua trung gian OMS. Dịch cúm đã khởi phát vào đầu tháng mười, bây giờ đang giảm một cách đều đặn. Công tác tiêm chủng được đảm bảo 90% bởi các thầy thuốc gia đình, 10% còn lại được đảm nhận bởi các trung tâm y tế. Phí tổn tiêm chủng được bồi hoàn khi được thực hiện bởi thầy thuốc gia đình và miễn phí trong các bệnh viện và trong những trung tâm y tế. Tuyệt đối không phải sắp hàng. Chính thức đã có 513.921 người đã được tiêm chủng vào cuối tháng 11, hoặc 4,8% dân số của vương quốc Bỉ. Hơn 2 triệu liều vaccin đã được cấp phát qua các hiệu thuốc.
(LE FIGARO 6/12/2009)

2/ CÚM A : Ở CANADA, MỘT SỐ BẤT THƯỜNG NHỮNG TRƯỜNG HỢP DỊ ỨNG NẶNG ĐƯỢC XÁC NHẬN SAU KHI TIÊM CHỦNG.

SANTE PUBLIQUE. Ở Canada, một trong những nước tiến xa nhất trong công tác chủng ngừa này, một số bất thường các trường hợp phản ứng dị ứng nặng do một lô vaccin, đã được quan sát. Tuy nhiên những trường hợp này(công cuộc điều tra đang được tiến hành) sẽ không đặt lại vấn đề chiến lược tiêm chủng đại trà, OMS và các chuyên gia về cúm đã đánh giá như vậy.

Vào ngày 17/ 11, trong bảng tổng kết hàng tháng của cảnh giác dược (pharmacovigilance), Bộ y tế Canada đã báo cáo 36 phản ứng nghiêm trọng đối với các vaccin chống virus H1N1 trong số 6,6 triệu người được tiêm chủng (hoặc 1/5 dân số). Những tác dụng không được mong muốn này, nhất là các đợt sốt cao và những phản ứng dị ứng nghiêm trọng (trong đó có một trường hợp tử vong) đã không được cho là đáng lo ngại bởi nhà cầm quyền. “ Tính đến nay, tần số của những trường hợp phản vệ (anaphylaxie) dưới 1 trường hợp trên 100.000 liều được tiêm và như thế không vượt quá những tỷ lệ liên kết với những vaccin khác, người ta đã viết như thế trong bảng thông cáo.

Hôm qua mọi chuyện đều tăng tốc độ, khi OMS, (mà không xác nhận rõ ràng), đã tiết lộ rằng “ một số bất thường các phản ứng dị ứng nặng ” xảy ra nơi các người canada được tiêm chủng bởi một lô vaccin được sản xuất bởi hãng bào chế GSK (GlaxoSmithKline). “ Các cơ quan đặt quy chế canada, cũng như trong những quốc gia khác, có nhiệm vụ theo dõi sự xuất hiện của các tác dụng không được mong muốn, đã nhận thấy một mức độ các phản ứng phản vệ (réaction anaphylactique) 5 lần cao hơn, hoặc 1 đối với 20.000 trường hợp tiêm chủng, nơi những người đã nhận một lô đặc biệt của thuốc chủng Arepanrix, BS Solzic Courcier, phát ngôn viên của GSK, đã xác nhận như vậy. Lô vaccin đáng nghi ngờ này, gồm 170.000 liều, đã bị đình chỉ để phân tích.”

Phát ngôn viên của GSK nhấn mạnh rằng Arepanrix, được sử dụng ở Canada, khác với Pandemrix được thương mãi hóa ở Pháp, ở chỗ các kháng nguyên được sử dụng và quá trình chế tạo. Tuy nhiên hãng bào chế lẫn OMS không thông báo về số người bị liên hệ bởi những phản ứng nghiêm trọng này, và những dấu hiệu lâm sàng của họ.Theo site Radio-Canada, chính trong tỉnh Manitoba mà những trường hợp này đã được ghi nhận. 7 người đã bị choáng phản vệ (choc anaphylactique) trong nhiều giờ sau khi được tiêm chủng. “ Tất cả đều được điều trị nhanh chóng và khỏi bệnh không có một di chứng nào ”, site Radio-Canada đã xác nhận như vậy.

Ở PHÁP, BILAN LÀM YÊN LÒNG.

“ Dầu đó là một vaccin hay là một loại thuốc, việc thu hồi một lô không phải là một hiện tượng ngoại lệ, điều này là một phần của chuỗi chất lượng ”, phát ngôn viên của GSK đã ghi nhận như vậy. Còn phải biết xem đâu là vấn đề đối với lot vaccin Canada. “ Những phản ứng đối với các protéine của trứng gà, được sử dụng để sản xuất vaccin cúm, là những trường hợp ngoại lệ. Và những phản ứng đối với thiomersal, được thêm vào với lượng rất nhỏ để làm ổn định các vaccin đại dịch, lại còn ngoại lệ hơn nữa ”, GS Paul Leophonte (Toulouse) đã đánh giá như vậy. Không phát biểu ý kiến về những trường hợp Canada mà ông không có nhiều chi tiết, ông chỉ nhắc lại rằng ngoài những dị ứng thật sự, có những phản ứng được gọi là “ đặc ứng ” (idiosyncrastique) với vaccin cúm, được thể hiện bởi những cúm giả (pseudogrippe) với sốt, đau.. trong những ngày sau khi tiêm chủng. “ Những phản ứng này có thể được làm dễ bởi những nồng độ protéine, quan trọng hơn, ông nói thêm như vậy. Nhưng một vấn đề xảy ra trên một lot vaccin không phải vì thế mà thôi không tiêm chủng nữa.”

Đối với OMS, các tiêm chủng quy mô lớn vẫn là phương tiện hiệu quả nhất để chống lại một virus được cho là hiểm độc, đã giết chết 6.750 người trên thế giới. Trong bảng tổng kết mới nhất, ngày 19/11, OMS ghi nhận rằng 65 triệu người đã được tiêm chủng chống cúm đại dịch, với một “ profil vô hại tuyệt vời ”. Bảng tổng kết dường như cũng làm yên tâm ở Pháp, nơi đây hơn 300.000 liều vaccin đã được tiêm.
(LE FIGARO 25/11/2009)

3/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI. .

(tiếp theo TSYH số 149)

21/ Có nên thay đổi cách làm nội trợ không ?

Việc lau chùi các đồ vật và các bề mặt cho phép chống lại sự lây nhiễm bởi vì chúng có thể bị làm bẩn bởi ho hay những hạt nước bọt bắn ra từ những người bị cúm. Đồ đạc, các nắm cửa, máy điện thoại, télécommande máy truyền hình, chậu rửa ráy phải được rửa với nước nóng, với xà phòng hay các sản phẩm nội trợ thông thường. Phải lau chùi chúng một cách tỉ mỉ và đều đặn, ít nhất một lần mỗi ngày.

Cũng phải lưu ý thận trọng lúc thao tác với các chất phế thải của bệnh nhân, nhất là các khăn lau bằng giấy. Và dĩ nhiên cần thông khí chỗ ở, khoảng 15 phút, nhiều lần mỗi ngày, và điều này có giá trị suốt cả năm.

22/ Có nên tránh những nơi công cộng hay không ?

Hiện nay không có một điều lệ đặc biệt nào. Trong trường hợp đại dịch, những biện pháp được gọi là “ khoảng cách bảo vệ y tế ” (distance de protection sanitaire) như giới hạn những cuộc tập họp, phát triển sự làm việc từ xa (travail – distance) hay téléconférence đều được dự kiến.

Để hạn chế những tiếp xúc ở những nơi dễ lây lan và có mật độ người cao, giới hữu trách y tế có thể thực hiện những biện pháp hạn chế hay đình chỉ tạm thời các phương tiện vận tải tập thể, đóng cửa các cơ sở giảng dạy và đào tạo, hoãn lại những cuộc thi đấu thể thao, đóng cửa các phòng chiếu bóng.

23/ Có phải nhờ người giao hàng mua được tại nhà không ?

Như thế càng tốt nếu đại dịch bành trướng mạnh mẽ. Nhưng vấn đề , đó là nguy cơ không có đủ người giao hàng.

24/ Có nên mang gant để đẩy xe Caddie ở siêu thị không ?

Tốt hơn là rửa tay trước và sau khi đã sờ mó những đồ vật có tiềm năng bi lây nhiễm như các panier và xe Caddie của siêu thị.

25/ Có nên thay đổi những hoạt động thể thao không ?

Không. Ta có thể đi tắm ở piscine không ? Vâng, bởi vì virus không chịu được chlore, Viện Pasteur đã chỉ rõ như vậy. Nguy hiểm duy nhất có thể do ai đó đùa giỡn khạc nhổ vào những người khác. Còn nước biển thì sao ? Ta không biết được virus chịu được với nồng độ muối nào.

Ta có thể đi nhà tắm hơi (sauna) không ? Vâng, virus không chịu được hơi nước nóng 100 độ C. Còn các câu lạc bộ thể dục, trong đó người ta tập luyện trên các xe đạp tập thể thì sao ? Sau khi đã đặt tay trên tay lái, tốt hơn là rửa chúng với gel nước-cồn hay nếu không tránh dụi tay lên miệng, mũi hay mắt.

26/ Ưu tiên những loại vận chuyển nào ?

Các vận chuyển cá nhân : xe hơi hay xe đạp. Công ty đường sắt Pháp SNCF hứa gia tăng tần số lau chùi nhà gare (bằng cách nhấn mạnh vào các tay cầm của các cầu thang) và của các tàu hỏa. Như vậy, nguy cơ lây nhiễm bởi virus sẽ thấp hơn trong métro so với nơi văn phòng làm việc hay ở gia đình, nhà dịch tế học Antoine Flahaut đã đánh giá như vậy.

27/ Người ta có thể bị cúm A nhiều lần không ?

Không. Xác suất mắc phải cúm bởi virus mới A (H1N1) hai lần trong cùng một năm là số không bởi vì cơ thể đã được miễn dịch bởi lần nhiễm trùng đầu tiên.

28/ Cúm A (H1N1) có bảo vệ chống lại cúm mùa (grippe saisonnière) không ? Và ngược lại ?

Cúm A (H1N1) chẳng bảo vệ chống lại cúm mùa và ngược lại cũng vậy. Virus cúm A (H1N1), được lan truyền từ người qua người, là kết quả của những tái phối hợp giữa vật chất di truyền (matériel génétique) phát xuất từ virus heo, người và gia cầm. Virus này khác với virus A hay B của cúm mùa, là virus người thường lưu hành trong những tháng mùa đông.

Những virus này vì phát xuất từ những giống gốc (souche) khác nhau, do đó sự gây miễn dịch chống lại một trong những virus này (bằng tiêm chủng hay do nhiễm trùng nguyên phát) không bảo vệ chống lại virus kia.

29/ Các gia súc có thể mắc phải cúm A (H1N1) không ?

Chó và mèo có thể bị gây bệnh bởi các virus đặc hiệu, nhưng các chuyên gia đều khẳng định : không có nguy cơ về sự lây truyền của virus A (H1N1), vốn đã được “ nhân hóa ” (humanisé) khi tái phối hợp di truyền, cho các gia súc. Ngược lại ta không thể loại trừ rằng một sự biến dị về sau của virus cho phép nó bị mắc phải bởi vài động vật.

30/ Thế các động vật có thể truyền bệnh cúm không ?

Theo như cùng cách các động vật không thể mắc phải bệnh cúm A (H1N1), thì chúng dầu thuộc loại động vật nào, đối với người, đều không phải là những vecteur của virus A (H1N1).

Do đó, tránh xa chuột hang (hamster), rùa hay chó teckel có lông cứng vì sợ bị lây nhiễm bởi chúng là vô ích.
(LE MONDE 5/11/2009)

4/ BỆNH SỐT RÉT : TỶ LỆ TỬ VONG SỤT GIẢM NGOẠN MỤC Ở SENEGAL.

MALADIES TROPICALES. Ở Sénégal, việc sử dụng những phối hợp thuốc mới có chất căn bản là artémisinine (ACT), chất dẫn xuất từ một dược thảo Trung Hoa, đã cho phép làm sụt giảm một cách đáng kể tỷ lệ tử vong do sốt rét.

Tỷ lệ tử vong này đã được thu giảm 2/3, chuyển từ “ 8000 tử vong mỗi năm, cho đến năm 2006, xuống còn 1.200 mỗi năm ngày nay ”, đối với một dân số toàn thể là 12 triệu dân, BS Cheikh Sokhna, thầy thuốc chuyên khoa sốt rét thuộc Viện nghiên cứu phát triển (IRD) ở Dakar đã giải thích như vậy. Cùng chứng nhận bởi Bộ Y Tế Sénégal, thống kê “ gần 600.000 trường hợp cách nay gần 3 năm ” và đảm bảo rằng con số này “ được chia bởi 3,5 ”. Theo Viện nghiên cứu phát triển, sự trụt lùi này là đáng kể nhất đối với các trẻ em.

NHỮNG XÉT NGHIỆM CHẤN ĐOÁN MỚI.

“ Trong vùng Niakhar (120 km đông nam Dakar), chúng tôi đã thấy một sự sụt giảm 6 lần tỷ lệ tử vong nhi đồng do bệnh sốt rét ”, GS Jean-François Trape, nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển đã nhấn mạnh như vậy.

Mãi cho đến cuối những năm 1990, điều trị chính dựa trên nivaquine và chloroquine. Nhưng đã phát triển một sự đề kháng của ký sinh trùng Plasmodium falciparum (được truyền do muỗi cái anophèle chích) với hai loại thuốc này, thúc đẩy Sénégal phải nhờ đến artémisinine (ACT) kể từ năm 2006. “ Với những thuốc mới này, các trẻ em trung bình chỉ còn mắc phải 1,2 cơn sốt rét (“crise de palu ”) mỗi năm, so với 6 cơn mỗi năm trong những năm 1990 ”.

Tuy nhiên, vài chuyên gia hiện nay đang lo sợ sự phát triển của một đề kháng mới của ký sinh trùng đối với ACT. “ Đã có những trường hợp đầu tiên ở Thái Lan vào năm 2008-2009. Vậy ta có thể chờ đợi thấy cùng hiện tượng sẽ xuất hiện ở Sénégal từ nay đến 10 đến 15 năm nữa ”, Bruno Pradines dược sĩ trưởng của Viện y khoa nhiệt đới đã cảnh cáo như vậy.

Nhưng có những yếu tố khác giải thích sự thoái lui này của bệnh sốt rét. “ Từ khi đưa ra những xét nghiệm chẩn đoán nhanh, chúng tôi đã khám phá ra rằng mỗi cơn sốt không luôn luôn đồng nghĩa với sốt rét ”, BS Samba Kor Sarr, trưởng phòng khảo sát và nghiên cứu thuộc Bộ Y Tế đã nêu lên như vậy. Thêm vào đó là những cố gắng phòng ngừa. Vào tháng sáu, chính quyền đã phân phát 2,2 triệu chiếc mùng tẩm thuốc diệt côn trùng trong toàn nước Sénégal. Hiện nay, “ 63% các hộ ở Sénégal có để sử dụng ít nhất một chiếc mùng, BS Mame Birame Diouf của chương trình quốc gia chống bệnh sốt rét đã đánh giá như vậy. Mục tiêu là ngăn ngừa muỗi chích vào ban đêm, mà xác suất bị muỗi anophèle chích cao nhất giữa 18 giờ và 7 giờ ”, M.Sokhna đã nhắc lại như vậy. Mỗi năm sốt rét giết chết từ 1 đến 2 triệu người trên thế giới, chủ yếu ở châu Phi. Đại đa số đó là những trẻ em dưới 5 tuổi.
(LE FIGARO 3/12/2009)

5/ CHỮA LÀNH NHỜ LIỆU PHÁP GENE.

Lần đầu tiên, một bệnh chết người, gây thương tổn cho não bộ, đã được chữa lành nhờ liệu pháp gène (thérapie génique), một nhóm những nhà nghiên cứu quốc tế, được lãnh đạo bởi GS Patrick Aubourg , thuộc bệnh viện Saint-Vincent-de-Paul, Paris, đã tuyên bố như vậy trong tạp chí Science. Hai bệnh nhân trẻ bị bệnh adrénoleucodystrophie (ALD), một bệnh di truyền hiếm, trong đó những tế bào thần kinh bị mất bao myéline do não bộ đồng hóa kém các axít béo.

Mãi đến nay, điều trị chứng bệnh này là ghép xương. Thật vậy, xương ghép này chứa những tế bào gốc (cellules souches), trong đó vài tế bào gốc, do biệt hóa thành những tế bào nâng đỡ mới trong não bộ, có thể tái lập ở đó một chuyển hóa lipide bình thường. Nhưng hai cháu trai này đã không tìm ra được những người cho tương hợp (donneurs compatibles) và tình trạng của chúng trở nên trầm trọng dần.

Do đó các nhà nghiên cứu đã nhờ đến một liệu pháp trên gène ABCD1, bị biến dị trong bệnh adrénoleucodystrophie, và được biết từ năm 1994 nhờ các công trình của Patrick Aubourg. Họ trích lấy nơi các bệnh nhân những tế bào tủy xương để truyền vào trong bộ gène (génome) của chúng một bản sao bình thường của gène bị suy yếu, nhờ một vecteur dẫn xuất từ virus HIV (sida). Rồi các nhà nghiên cứu tiêm chúng vào lại nơi các trẻ em mà tủy xương đã được loại bỏ. Vài tháng sau, căn bệnh biến mất. Một đứa trẻ thứ ba đang trên đường lành bệnh.

Phương pháp được chọn lựa có tính chất cách mạng vì nhiều lẽ. Trước hết, nó đánh dấu một sự tiến bộ đối với ghép xương : hiệu quả hơn và nhanh chóng, ngoài ra nó được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân bị bệnh ALD. Sau đến, nó mở đầu một loại vecteur mới, được gọi là lentiviral, đã được sử dụng để điều trị một bệnh di truyền khác hiếm hơn, hội chứng Wiskott-Aldrich. Sau hết, nó mở đường cho liệu pháp gène của những mô khác với máu, như hệ thần kinh. Với một chục thử nghiệm đang được tiến hành hay sắp được tiến hành ở Pháp, liệu pháp gène sau cùng dường như đang trên đường làm tròn những hẹn ước của mình.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2009)

6/ DÙNG KHÁNG SINH SẼ TRÁNH UNG THƯ DẠ DÀY.

Thanh toán một vi khuẩn nơi những người trưởng thành trẻ tuổi sẽ bảo vệ họ khỏi bị ung thư dạ dày. Thật vậy, Helicobacter pylori, nguồn gốc của các loét dạ dày, cũng có thể đóng một vai trò trong sự xuất hiện của các ung thư dạ dày ; loại ung thư này gây bệnh cho 9000 người Pháp mỗi năm. Vậy có phải loại bỏ một cách hệ thống vi khuẩn này để ngăn ngừa ung thư dạ dày hay không ?

Thật ra, một điều trị phòng ngừa bởi kháng sinh chỉ có thể hữu ích nơi những người dưới 50 tuổi, theo Katsuhiro Mabe, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa của trung tâm y tế KKR Sapporo (Nhật Bản). Ông ta đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên hơn 4.000 bệnh nhân đã bị một loét dạ dày do helicobacter pylori. Những người này, tuổi trung bình 50, đã nhận hoặc là một điều trị chống lại axit của dạ dày, hoặc một kháng sinh liệu pháp. Trong suốt công trình nghiên cứu, 56 trường hợp ung thư dạ dày đã được phát hiện, nhưng không có sự khác nhau đáng kể nào đã được xác nhận giữa hai nhóm. Ngược lại, những bệnh nhân trẻ hơn, đã sử dụng các kháng sinh chống lại một loét dạ dày, dường như hưởng được một hiệu quả bảo vệ. Những kết quả này gợi ý rằng việc thanh toán Helicobacter pylori nơi một bệnh nhân trẻ tuổi đúng là làm giảm nguy cơ bị ung thư dạ dày.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

7/ RUỘT THỪA KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CỤC BƯỚU VÔ DỤNG.

Từ hàng triệu năm nay, ruột thừa chứa một quần thể vi khuẩn (flore bactérienne) trong trường hợp bệnh ruột.

Ruột thừa chẳng dùng vào việc gì cả. Nó chỉ mang lại những bất tiện mà thôi. Nó có thể bị viêm và bị nhiễm trùng, đó là điều mà người ta gọi là“ ruột thừa viêm ”. Khi đó người phẫu thuật phải lấy nó đi để tránh ruột thừa viêm, khi thủng, gây nên viêm phúc mạc, một biến chứng có ảnh hưởng xấu lên tiên lượng sinh tồn. Vậy ruột thừa chỉ là một vết tích bí hiểm của quá trình tiến hóa. Richard Darwin xem nó như là vết tích của một thời kỳ xa xăm, lúc đó tổ tiên của chúng ta sống trong các rừng cây và nuôi sống nhờ các lá cây. Darwin đặt nền móng giả thuyết này trên sự kiện là nhiều động vật ăn cỏ cũng có một ruột thừa, nhưng hình dạng rất khác.

Từ nhiều năm nay, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của Đại học Duke (Bắc Carolina) công kích kịch liệt điệp khúc về sự vô dụng của ruột thừa. Theo họ cái cục bướu khoảng 10 cm nằm ở đầu ruột già này có một vài trò thật sự. Ruột thừa dùng làm nơi trú ẩn đối với các “ vi khuẩn tốt ” (bonnes bactéries), nằm phủ kín các thành ruột của chúng ta. Khi ỉa chảy nặng, các vi khuẩn này được che chở trong chỗ trú ẩn tự nhiên này, rồi từ đó chúng có thể tăng sinh trở lại trong ruột. Nơi người và các động vật linh trưởng, sự thông thương giữa ruột và ruột thừa không diễn ra trực tiếp. Sự thông thương này được thực hiện qua một chỗ phình có vai trò như là một hàng rào chặn.

100.000 TỶ VI KHUẨN

Lời giải thích của các nhà nghiên cứu thật hấp dẫn và nhất là lời giải thích này đi theo chiều hướng của nhiều khám phá mới đây cho thấy vai trò thiết yếu của các vi khuẩn ruột trong sự tiêu hóa các thức ăn và sức khỏe của mỗi cá thể. Nơi một người trưởng thành, người ta ước tính rằng quần thể ruột được cấu tạo bởi 100.000 tỷ vi khuẩn, hoặc một trọng lượng toàn thể 1,5kg. Những vi khuẩn này nằm chất đống thành các lớp chồng lên nhau dọc theo ống tiêu hóa, tạo thành những biofilm bảo vệ ruột chống lại các vi khuẩn độc hại hay những tấn công bên ngoài. Một dự án châu Âu (MetaHIT) mới đây đã được phát động để séquencer toàn bộ các bộ gen (génome) vi khuẩn của ruột người. Những kết quả có thể làm biến đổi nhận thức của chúng ta về sức khoẻ con người.

Nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi William Parker tiếp tục công trình nghiên cứu của mình. Các nhà sinh học này vừa công bố một công trình nghiên cứu trong đó họ cho thấy rằng ruột thừa đã hiện hữu từ hơn 80 triệu năm, dưới các hình dạng khác nhau, nơi nhiều loài động vật có vú, trong đó có các linh trưởng và vài động vật gặm nhấm (Journal of Evolutionary Biology, 10/2009). Nếu ruột thừa đã tồn tại lâu như thế trong thế giới sinh vật, đó đúng là bởi vì nó có một ưu điểm tiến hóa, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy trong phần kết luận của họ. “ Trong những nước phát triển, chúng ta được bảo vệ. Chúng ta không uống nước bị ô nhiễm, Vậy chúng ta không cần ruột thừa, William Parker đã nhận xét như vậy. Trong những nước ở phía Nam với tình trạng y tế ít tốt hơn, những trường hợp ruột thừa viêm nhiều hơn.” nói một cách khác, chỉ chính nơi đó mà ruột thừa mới còn có lý do tồn tại.

“ Để kiểm tra tính chất có căn cứ của giả thuyết này, Dusko Ehrlich, nhà nghiên cứu ở Inra và điều phối viên của dự án MetaHIT đã xác nhận như vậy, cần phải so sánh sự tái định cư vi khuẩn sau một điều trị kháng sinh nơi những người có ruột thừa và nơi những người không còn có nó nữa.”
(LE FIGARO 6/12/2009)

8/ SỎI ĐƯỜNG TIỂU : NHỮNG QUY TẮC ĐỂ NGĂN NGỪA NHỮNG TÁI PHÁT.

Sau hội nghị niệu khoa vừa qua, GS Olivier Traxer, thầy thuốc khoa niệu Bệnh Viện Tenon chỉ rõ những cách ăn uống làm giới hạn các tái phát.

Hỏi : Ở Pháp, có bao nhiêu người bị sỏi thận ?
G.S Olivier Traxer : 10% dân số bị chứng bệnh này. Tỷ lệ mắc phải sỏi thận ở đàn ông cao hơn. Một hòn sỏi, đó là một đám các tinh thể phát triển trong thận. Sau khi đạt đến một kích thước nào đó, hòn sỏi sẽ gây nên các cơn đau nếu nó đi vào trong niệu quản (uretère) đến bàng quang.

Hỏi : Người ta có biết nguyên nhân của những hòn sỏi này không ?
G.S Olivier Traxer : Quá trình kết tinh này của nước tiểu rất là phức tạp. Trong đại đa số các trường hợp, sỏi thận được tạo thành do sự kết hợp của calcium với một yếu tố khác hiện diện trong nước tiểu : oxalate.

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những điều trị thường được sử dụng nhất ?
G.S Olivier Traxer : 70% các sỏi thận được tống xuất một cách tự nhiên qua đường tiểu. Trong 30% còn lại, tùy theo các trường hợp, chúng ta có 3 kỹ thuật.
  • Nghiền sỏi (lithotritie) : các siêu âm đi xuyên qua da và nghiền vụn các hòn sỏi nhỏ dưới 2 cm.

  • Soi niệu quản (urétéroscopie) : đối với những hòn sỏi nhỏ đã đi vào trong niệu quản, người ta sẽ thực hiện kỹ thuật lấy sỏi bằng phương pháp nội soi.

  • Phẫu thuật : đối với những hòn sỏi lớn của thận, ta thực hiện can thiệp ngoại khoa (hiếm hơn) bằng một đường xẻ 1cm trong lưng.

Đáng tiếc thay những tái phát thường xảy ra : 50% các bệnh nhân tái phát trong 5 đến 7 năm, và 70% sau 10 năm.

Hỏi : Có những phương tiện đề phòng ngừa những tái phát hay không ?
G.S Olivier Traxer : Có, những phương tiện này chủ yếu tập trung vào chế độ ăn uống, và thứ đến vào việc uống thuốc nhằm làm giảm sự kết tinh của nước tiểu.

Hỏi : Những quy tắc mới nhất về chế độ ăn uống được nhắc lại trong hội nghị niệu khoa vừa qua là gì ?
G.S Olivier Traxer : Những quy tắc này liên kết với 4 điều khuyến nghị.
  • Hòa loãng nước tiểu để làm chúng dễ hoàn tan hơn ;

  • Thu giảm đến mức tối thiểu sự hiện diện của calcium trong nước tiểu ;

  • Hạn chế lượng oxalate trong nước tiểu ;

  • ngăn cản chừng nào có thể được sự liên kết tai hại của calcium và oxalate.

Hỏi : Để hòa loãng nước tiểu, quy tắc là gì ?
G.S Olivier Traxer : Uống thật nhiều : khoảng 2 lít mỗi ngày, thậm chí 3 lit đối với các văn động viên thể thao. Tất cả các loại nước có thể được sử dụng.

Hỏi : Để giới hạn lượng calcium trong nước tiểu, những lời khuyên nào ?
G.S Olivier Traxer : Từ lâu người ta đã tin rằng những thức ăn nhiều chất calcium phải bị cấm chỉ trong chế độ ăn uống của các bệnh nhân : đó là sai ! Những thức ăn này chỉ phải được tiêu thụ một cách quân bình. Calcium với lượng hợp lý là cần thiết bởi vì, trong trường hợp thiếu hụt, chính calcium của bộ xương sẽ bị huy động, và sẽ có một nguy cơ mất chất khoáng (déminéralisation) của cơ thể. Quy tắc khác : thêm muối vào thức ăn ít chừng nào tốt chừng ấy. Bởi vì, khi ta ăn quá mặn, cơ thể để loại bỏ muối thặng dư buộc phải bài xuất cùng lúc calcium trong nước tiểu. Lời khuyến nghị khác : hạn chế sự tiêu thụ các thức ăn giàu protéine (thịt, cá...) một lần mỗi ngày, bởi vì để loại bỏ sự thặng dư protéine, cơ thể cũng phải bài xuất calcium trong nước tiểu.

Hỏi : Để làm giảm oxalate trong nước tiểu, những quy tắc được khuyến nghị là gì ?
G.S Olivier Traxer : Phải hạn chế những thức ăn giàu oxalate: chocolat, các quả hồ đào và các quả phỉ (noisette), chè, vài loại rau như épinard..

Hỏi : Làm sao ngăn ngừa sự phối hợp tai hại của calcium và oxalate ?
G.S Olivier Traxer : Lời khuyến nghị chính là uống một hay hai ly nước cam vắt mỗi ngày, bởi vì nó mang lại cho cơ thể citrate, yếu tổ sẽ ngăn cản sự liên kết của calcium và oxalate. Quy tắc khác : tránh các thịt vụn, đồ thịt lợn và đồ ngọt.

(PARIS-MATCH 3/12-9/12/2009)

9/ MẸ BÉO PHÌ, CON GÁI DẬY THÌ SỚM ?

Chứng béo phì của người mẹ có một ảnh hưởng lâu dài lên tuổi bắt đầu kinh nguyệt nơi các thiếu nữ. Thật vậy, Sara Keim và các cộng sự viên (National Institutes of Health, Bethesda, Mariland) đã chứng nhận rằng các cô gái có mẹ béo phì, có 3 lần nhiều hơn nguy cơ có kinh nguyệt bắt đầu ở một lứa tuổi sớm (trước 12 tuổi), so với các cô gái mà mẹ có một trọng lượng bình thường hay hơi cao.

Những công trình nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng các cô gái béo phì có kinh sớm hơn và rằng các cô gái có mẹ béo phì cũng có khuynh hướng trở nên béo phì. Trong công trình nghiên cứu hiện nay, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã xác nhận rằng các cô gái có mẹ béo phì, đạt tuổi dậy thì ở một lứa tuổi sớm hơn, dầu có bị béo phì hay không.

Các tác giả đã căn cứ trên các dữ kiện thu được qua 597 cuộc phỏng vấn nơi các phụ nữ tuổi từ 22 đến 32 tuổi.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 6/10/2009)

10/ KÍCH THƯỚC QUẦN ÁO VÀ NGUY CƠ UNG THƯ.

Một ngày nào đó phải chăng ta sẽ có thể tính toán nguy cơ bị ung thư căn cứ trên kích thước của quần áo hay không ? Sự phân bố mô mỡ và tỷ số thắt lưng/háng (rapport taille/hanche) ở đàn ông và đàn bà không giống nhau. Hai tham số này có thể làm nghi ngờ một rối loạn chuyển hóa, một biến chứng liên quan với chứng béo phì hay với chứng xơ mỡ động mạch, và ngay cả sự hiện diện của vài loại ung thư. Các nhà nghiên cứu Hòa lan đã có ý nghĩ căn cứ trên kích thước của quần áo và đã tiến hành một điều tra trên 2500 người trong 13 năm. Họ đã xác nhận rằng những kích thước váy (jupe) lớn nhất dường như tương quan với nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (cancer de l’endomètre), các kích thước lớn nhất của quần dài tương ứng với nguy cơ bị ung thư thận.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/12/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#28 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 14 December 2009 - 11:06 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BANTING THẮNG CUỘC CHIẾN CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

Đối với một người con trai của nông gia vào cái thế kỷ thứ 20 mới nảy sinh này, tốt nghiệp y khoa ở Ontario và lập nghiệp trong cái thành phố bé nhỏ Londres trong vùng sâu của đất nước Canada thật chẳng phải là chuyện dễ dàng bao nhiêu. Cái thị trấn nhỏ bé Londres không giống chút nào với cái đô thị to lớn đã phát triển bên bờ sông Tamise. Theo lời của các giáo sư thuật lại, thì chàng trai trẻ Frederic là một thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình xuất sắc, nhưng bước đầu của anh rất là gian khổ. Lương tháng chỉ có 4 dollars.

Và ngay cả bài giảng mà anh tiếp tục lên lớp ở đại học vẫn không cho phép anh chu cấp những nhu cầu cần thiết cho chính mình. Sau đó, khi Banting hay biết rằng có một nhiệm sở trợ lý cho những sinh viên năm thứ hai còn trống, anh thầy thuốc trẻ tuổi vội chụp lấy cái của trời ơi và lương bổng bổ sung nhờ chức vụ mới này. Tuy vậy, Banting đã không bao giờ hành nghề môn sinh lý học mà người ta yêu cầu anh phải truyền đạt lại cho cái sinh viên và anh cũng chẳng đặc biệt bị lôi cuốn bởi môn học này. Banting thổ lộ như thế với vị giáo sư phụ trách và ông giáo sư, trước tấm lòng thành thực của Banting, vẫn cứ ban cho anh nhiệm sở trợ lý này. Phải thú nhận rằng ít có ứng viên muốn chen lấn để xin cho được cái chức vụ này.

TỤY TẠNG TRONG TẤT CẢ CÁC TRẠNG THÁI.

Như vậy là Banting, hầu như hoàn toàn không biết gì về môn sinh lý học, mà anh được giao phó để truyền đạt cho các sinh viên, trở về nhà mỗi buổi chiều và trong khi thăm khám bệnh tại phòng mạch riêng (không phải luôn luôn có nhiều bệnh nhân), anh học để biết về sinh lý học qua nhiều chuyên luận và các tác phẩm mà anh mượn ở thư viện đại học. Từ những sách báo này, nảy sinh nơi anh một sự say mê về chức năng vận động bí ẩn của cơ thể của con người, đến độ anh gần như đi đến chỗ nguyền rủa môn ngoại khoa vốn đã chiếm đoạt tâm trí anh cho mãi đến giờ phút đó.

Chúng ta đang ở vào một buổi chiều tháng 10 năm 1920, ánh chiều tà của hoàng hôn trộn lẫn trong những chiếc lá óng vàng rải tác khắp vùng quê. Đã nhiều giờ, nhiều ngày, Banting chuẩn bị không mệt mỏi cho những buổi hội nghị. Đề tài của những buổi thuyết trình này là gì ? Vai trò của tụy tạng trong chuyển hóa của các hydrate de carbone. Anh biết rằng tinh bột (amidon) và đường được biến hóa trong cơ thể thành hydrate de carbone và chất này sinh ra năng lượng cần thiết cho sự hoạt động của cơ thể. Chắc chắn rằng tụy tạng là một cơ quan đáng được chú ý hơn mặc dầu dạ dày hơi che khuất nó. Nhà nghiên cứu trẻ tuổi nhanh chóng hay biết được rằng tụy tạng có những ngoại tế bào và nội tế bào (cellules externes et internes). Những ngoại tế bào sản xuất các diastase, mà các ống tụy sẽ dẫn vào trong ống tiêu hóa. Khi các men diastase này gặp các hydrate de carbone trong ruột, các dịch tiêu hóa biến đổi chúng thành glucose và chất đường này đi qua máu để đến gan. Sau đó ở tại đây, glucose trở thành một dự trữ glycogène cho cơ thể và sẽ được đưa vào các cơ, ở đó glycogène lại trở thành glucose lần nữa, và chất đường này sẽ được đốt cháy bởi oxy của các lá phổi và như thế sẽ cung cấp năng lượng. Còn về những nội tế bào (cellules internes) của tụy tạng, chúng tiết ra một hormone và kích thích tố này sẽ tạo glycogène, đồng thời sản xuất tia lửa đốt cháy nó nhờ oxy khi nó trở thành glucose. Không có sự tiết hormone này, nếu tụy tạng không còn đóng vai trò chức năng của mình nữa, đường sẽ tích tụ cùng lúc trong cơ và trong máu. Và không có năng lượng, bệnh nhân sẽ chết vì bệnh đái đường.

Banting vốn đặc biệt nhạy cảm với căn bệnh này, vì nó đã sớm cướp mất người bạn của anh trong thời thơ ấu. Vào năm 1920, bệnh đái đường còn là một trong những bệnh gây chết người và người ta đã chưa tìm ra một giải pháp điều trị thỏa mãn, ngoại trừ một chế độ kiêng khem nghiệt ngã và rồi chế độ ăn uống này cũng dẫn đến một cái chết chắc chắn.

Vậy phải làm gì để chữa tạm các bất túc của tụy tạng ? Dĩ nhiên người ta nghĩ đến việc trích lấy dịch tụy tạng trên các động vật để tiêm vào bệnh nhân. Tuy nhiên phương pháp này có nhiều nguy cơ : thật vậy có 3 dịch tiêu hóa, trong đó một vài, chỉ cần tiếp xúc, có khả năng phá hủy sự tiết của các tế bào nội tại. Con người chẳng cần đến bao nhiêu các dịch tiêu hóa này, cũng như vài trích chất tụy tạng sẵn sàng gây nên những cơn furonculose dữ dội. Với bản chất khiêm tốn thường lệ, Banting kết luận rằng nếu các nhà bác học nổi tiếng hơn anh đã không tìm ra giải pháp, thì không phải chính cái anh chàng trợ lý bé nhỏ mà anh thể hiện ở đại học, lại sẽ thành công tìm ra giải pháp đó. Do đó anh chỉ bằng lòng với việc lên lớp của mình, đồng thời lập lại những nghiên cứu của những người đi trước anh. Anh dự tính chỉ dừng lại ở mức đó cho đến cái ngày người quản lý thư viện cho anh mượn một tạp chí khoa học với một bài báo dành cho các vai trò của các đảo Langerhans trong bệnh đái đường và đặc biệt hơn trong bệnh sỏi tụy tạng . Langerhans đã khám phá ra tằng các chất tiết của các tuyến nội tại (glande interne) đi qua máu. Thật là nghịch lý, bài báo, được ký tên bởi một thầy thuốc ngoại khoa bụng, chứng minh rằng các hòn sỏi, nằm trong các ống mang các tế bào ngoại tại vào ruột, đồng thời gây sự phá hủy, các dịch tụy tạng khi đó tấn công vào các tế bào đã tiết ra chúng. Bài viết này khiến Banting hơi phân vân. Ngày hôm sau, anh đọc lại những chỗ mà anh đã ghi chú : “ Thắt các ống tụy tạng của một con chó. Chờ đợi 6 đến 8 tuần. Lấy đi tụy tạng và trích các dịch tụy tạng ”. Các ống tụy bị thắt tan rã đi và nếu các tế bào ngoại tại teo lại, chúng không còn sản xuất nữa dịch tiêu hóa. Vậy ta chỉ còn bảo tồn sự tiết của các tuyến nội tại mà thôi.

TIẾN VỀ INSULINE.

Banting thổ lộ những nghiên cứu của mình với ông trưởng phòng. Ông này chấn động bởi điều đó và khuyên anh chàng trợ lý trẻ tuổi đến đại học Toronto để tiếp xúc với Giáo sư John Richard Macleod, chuyên gia đặc biệt về chuyển hóa của các hydrate de carbone. Banting được tiếp đón một cách hết sức lạnh nhạt bởi nhà bác học lỗi lạc này. Đứng trước thái độ hợm hỉnh như thế, Banting chỉ yêu cầu người ta dành cho anh, trong hai tháng, một góc của phòng thí nghiệm, các động vật và một trợ lý. Giáo sư Macleod lần chần tránh né trong nhiều tuần, nhưng sau cùng chịu nhường phòng thí nghiệm của mình trong lúc ông phải đi công tác ở Tô Cách Lan. Chính lúc đó mà Banting đã gặp một cộng sự viên mà sau này nhanh chóng trở nên người tiếp tay của tất cả những khám phá của anh : Charles Best. Banting đã dứt khoát từ bỏ phòng mạch của mình và trường đại học Ontario. Tức thời anh bắt đầu những thí nghiệm bằng cách thắt dưới gây mê các ống tụy tạng của nhiều con chó. Chỉ còn cần chờ đợi nhiều tuần để có các kết quả. Vào lúc làm bảng tổng kết, Banting và Best đã chứng thực rằng, mặc dầu các dây buộc vẫn được thắt chắc chắn và rằng chúng đã cho phép tạo nên một bọc nhưng các dịch vẫn tiếp tục chảy ra qua một ống mới được tạo thành ngay chính trong các ống bị tắt ! Người ta chứng kiến điều giống như là một hoại thư. Phải mổ lại để thắt lại các dây chằng đúng vào cái nơi mà các nhà nghiên cứu tin chắc là chúng không để cái gì hết lọt qua.

Đó là một sự thành công. Các dây chằng được xử lý đã tác động và các tế bào ngoại tại không còn sản xuất một dịch tiết nào nữa, như tụy tạng được lấy đi từ một trong các con chó đã chứng tỏ điều đó. Con chó rơi vào trong hôn mê đái đường, được phát hiện bởi một phân tích máu với một nồng độ đường cao một cách bất thường. Sau đó họ lấy đi tụy tạng của một con chó thứ hai, họ nghiền tụy tạng này để rút ra những chất dịch của những tế bào nội tại rồi trộn lẩn chúng với một dung dịch chlorure và như thế có thể xác định vị trí các đảo Langerhans. Họ hút đầy một ống tiêm và tiêm sản phẩm vào con chó bị hôn mê. Hai giờ sau, con chó này bắt đầu cựa quậy và 3 giờ sau, chúng đã hoàn toàn tỉnh dậy trở lại và nồng độ đường của nó gần như đã trở lại bình thường. Dĩ nhiên để cứu con chó họ đã phải giết nhiều con khác và vì không có đủ động vật để trích lấy tụy tạng, con đầu tiên đến lượt bị chết 8 ngày sau khi đã được hồi sức. Làm sao đây ? Đi đến lò sát sinh gần nhất và tìm lấy những tụy tạng của các con bò vừa bị giết chết và nhất là học cách đo nồng độ những mũi tiêm của cái chất mà lúc đó anh gọi là isletine. Vấn đề còn lại là phải thuyết phục Macleod, lúc đó vừa mới đi công du về. Ông này, sau khi phân tích các kết quả, đã tuyên bố rằng các tính chất của isletine đúng là một khám phá nhưng rằng thật ra nó phải được gọi là insuline, một cái tên mà Mayer ở Bruxelles, vào năm 1905, đã đặt cho chất được tiết ra bởi những đảo tụy tạng. Mặt khác, chất insuline này đã được làm tinh khiết vào năm 1922 bởi nhà sinh hoá học James Collip, nhờ thế cho phép nó được tiêm vào một bệnh nhân người.

Người đầu tiên được hưởng phép điều trị này sẽ là một cậu con trai 14 tuổi, chẳng còn sống được bao lâu và sau mỗi mũi tiêm đã tìm lại được một nồng độ gần như bình thường của đường trong máu. Nhưng chủ yếu chính một người bạn của Banting, anh ta cũng là thầy thuốc và bị chứng bệnh khủng khiếp này, đã tình nguyện để làm tiến triển những nghiên cứu được thực hiện bởi Banting cùng với vài trợ lý. Báo chí không còn ngồi yên được nữa. Họ đã hay biết rằng một khám phá lớn sắp xảy ra. Nhưng còn quá sớm và anh chàng Banting trẻ tuổi, khi nào cũng nhút nhát e dè, đã rất khó khăn để đẩy lùi các cuộc tấn công của các phóng viên. Những nhà báo này, sau các bài báo về khám phá insuline, đã mang lại niềm hy vọng cho hàng ngàn bệnh nhân bị bệnh đái đường, khẩn khoản để người ta cung cấp cho họ insuline. Sau cùng, một năm sau, người ta đã có khá nhiều insuline cho tất cả các bệnh nhân.

Công trình của Banting đã được tặng thưởng bởi giải Nobel y học vào năm 1923, mà anh đã phải chia xẻ, do một sai lầm của ban giám khảo, với Macleod trong khi chính Best mới được vinh dự này, điều mà Banting chắc chắn đã lớn tiếng tuyên bố. Và chính cùng với người bạn nghiên cứu trung thành này mà anh đã lãnh đạo một đơn vị nghiên cứu về ung thư và silicose ở bệnh viện Toronto. Banting mất sớm, vào năm 50 tuổi trong một tai nạn máy bay vào năm 1940.
(SEMAINE MEDICALE 10/9/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI.

31/ Phải làm gì khi có ai đó bị mắc cúm ở nhà ?

Bệnh nhân phải nghỉ ngơi và uống đều đặn (nước, nước vắt trái cây, soupe...). Nên theo dõi các triệu chứng và gọi thầy thuốc điều trị trong trường hợp tái phát hay gia tăng sốt, đau đầu, khó thở hay mệt mỏi dữ dội và bất thường.

Để ngăn cản sự lây nhiễm với những người khác trong hộ, tốt nhất là cách ly bệnh nhân ngay lúc đầu của các triệu chứng, và trong khoảng 7 ngày, nếu có thể, trong một căn phòng khác và ít nhất cách xa một mét. Tốt hơn là người này nên mang một mặt nạ chống phóng thải (masque antiprojections) khi có sự hiện diện của những người khác, để bảo vệ họ.

Không nên trộn lẫn những đồ dùng cá nhân của người bị bệnh này (khăn tắm, khăn bàn) với những vật dụng của những người khác, cũng như không nên dùng chung các chén dĩa, ly uống nước và bộ đồ ăn của anh ta. Phải lau chùi kỹ, bằng xà phòng và bằng nước nóng hay với các sản phẩm nội trợ, những vật mà anh ta chia xẻ với những người khác, như các nắm cửa, hệ thống giội nước, télécommande hay máy điện thoại.

Người bệnh phải rửa tay nhiều lần mỗi ngày bằng nước máy và với xà phòng dành riêng cho anh ta, và một cách hệ thống, sau khi hách xì, ho, hỉ mũi hay đã thay đổi mặt nạ.

32/ Làm gì nếu thầy thuốc điều trị của tôi bị bệnh ? Tôi có được bồi hoàn nếu như tôi thăm khám một thầy thuốc khác không ?

Mọi thầy thuốc vắng mặt, vì bị bệnh hay nghỉ việc, có bổn phận hướng các bệnh nhân mình đến một phòng mạch khác. Vậy, trong trường hợp bị bệnh, bệnh nhân phải đến thầy thuốc thay thế này, bằng không thì số tiền bồi hoàn sẽ bị giảm 40%.

Trong trường hợp đổi chỗ ở hay cấp cứu, có thể thăm khám một thầy thuốc khác với thầy thuốc điều trị. Người ta xem là cấp cứu một tình huống không được dự kiến hơn 8 giờ trước đó, và liên qua đến một bệnh hay một nghi ngờ đe dọa bệnh nhân hay đến sự ven toàn của cơ thể và dẫn đến sự huy động nhanh chóng của người thầy thuốc

33/ Có những khuyến nghị về ăn uống cho phép hạn chế các nguy cơ không ?

Không có một mối liên hệ nào được chứng tỏ giữa chế độ ăn uống và các nguy cơ nhiễm khuẩn cả. Nhưng sự việc ăn uống quân bình và không quá độ cho phép tăng cường các phòng vệ miễn dịch của mình. Đặc biệt phải ưu tiên các trái cây và rau xanh và các chất dinh dưỡng thiết yếu, trong đó có các vitamine và các chất khoáng (sắt, kẽm, calcium, magnésium...).

Dường như cũng được chứng tỏ rằng các probiotiques (các vi sinh vật trong quần thể ruột, flore intestinale) và các prébiotiques (các sợi thức ăn hiện diện trong nhiều thực vật) tăng cường các phòng vệ miễn dịch. Một sự cẩn trọng bắt buộc : rửa tay kỹ trước khi sửa soạn một bữa ăn.

34/ Uống vitamine, homéopathie có ích lợi không ?

Trong nhiều quầy của những hiệu thuốc, các phòng bào chế ca ngợi các giá trị của những viên thuốc chống lại các siêu vi trùng, đặc biệt là virus của bệnh cúm A (H1N1). Đối với nhiều thầy thuốc, các chất bổ sung thực phẩm (compléments alimentaires) không có lợi ích, thậm chí có thể gây nên những nguy cơ, nếu chúng được tiêu thụ quá mức. Tuy nhiên, vài người trong ngành y tế cho rằng các chất bổ sung này có thể hữu ích trong trường hợp ăn uống thiếu hụt và tăng cường các phòng vệ miễn dịch, đặc biệt là những lúc thay đổi mùa. Trong tất cả các trường hợp, phải tránh sự tự cho thuốc và xin lời khuyên nơi thầy thuốc của mình hay nơi dược sĩ. Nhất là đừng bao giờ mua những loại thuốc này trên Internet.

35/ Nếu tôi hủy một chuyến du lịch, hãng bảo hiểm sẽ đảm nhận nguy cơ bị bệnh cúm A hay không ?

Mọi người khai báo cúm A trong 7 ngày trước một chuyến đi du lịch, dầu đó là ở Pháp hay ở ngoại quốc, và do đó không thể đi được, đều có thể được bồi hoàn các phí tổn hủy chuyến đi với điều kiện phải trình một giấy chứng nhận y khoa. Tùy theo các hợp đồng, người bệnh sẽ được bồi hoàn hoàn toàn hay một phần. Vài công ty buộc một franchise, những công ty khác đã thiệt đặt những bảo hiểm bổ sung. Vài carte bancaire, Visa Premier, Visa Infinite, Gold Master Card hay American Express cũng bao gồm những bảo hiểm hủy (assurances annulation).

Ngược lại, việc sợ bị mắc bệnh cúm A lúc du lịch không thể biện minh cho một bồi hoàn nào đó.

36/ Có những vùng địa lý nên tránh hay không ? Có phải tốt hơn đi trong Nam bán cầu trong mùa hè nam cực, tức là mùa đông đối với chúng ta ?

Các hoạt động cao nhất của cúm xảy ra vào mùa đông, tình hình đã trở nên ít quan ngại hơn trong Nam bán cầu. Vào cuối tháng tám, OMS chỉ rõ rằng Chí lợi, Á Căn Đình, Tân Tây Lan và Úc đại lợi đã vượt qua đỉnh cao của dịch bệnh và đã trở lại những mức bình thường của hoạt động cúm.

Một cách tổng quát, OMS hiện nay không khuyến nghị hạn chế các cuộc du lịch ra nước ngoài vì cúm A (H1N1). Thật vậy, OMS nói rõ,“ những nghiên cứu căn cứ trên các mô hình toán học cho thấy rằng các hạn chế đối với du lịch sẽ có một tác dụng giới hạn, thậm chí số không, lên sự lan tràn của bệnh, điều mà các tài liệu lưu trữ về các đại dịch cúm đã xảy ra trong quá khứ đã xác nhận, cũng như đợt SRAS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng). Cũng vậy, không có một khuyến nghị nào đặc biệt đã đưa ra ở mức độ châu Âu.

Tuy nhiên nước Pháp khuyên thận trọng các du khách đi đến những nước mà sự truyền cộng đồng của virus được xác nhận, và còn hơn thế nữa nếu đó là những chuyến du lịch học đường. Danh sách của các nước này có thể được tham khảo trên site của viện theo dõi y tế ( www.invs.sante.fr) hay site cua OMS (www.who.int/fr)

37/ Một nước (châu Âu hay ngoài Liên Hiệp Châu Âu) có thể từ chối không cho tôi vào lãnh thổ của nước đó bằng cách viện dẫn cúm A hay không ?

Giới hữu trách y tế của Liên Hiệp Châu Âu (UE) hồi 13 tháng 8, đã thông qua một thông tri về những biện pháp cần thực hiện để dung hòa sự tự do đi lại và sự bảo vệ y tế cộng đồng, đối với những du khách có những triệu chứng cúm. Lời khuyên ưu thế được cho nơi những cá thể có triệu chứng là hoãn chuyến du lịch và ở lại tại nhà, những lời khuyến nghị y tế này “ không được dẫn đến một sự hạn chế các di chuyển và du lịch bên trong hay bên ngoài biên giới của Liên Hiệp châu Âu ”. Tuy nhiên, những biện pháp được áp dụng trong mỗi nước để đối phó với một nguy cơ y tế cộng đồng vẫn thuộc thẩm quyền của các nhà cầm quyền mỗi nước. Những quốc gia mong muốn thông qua những biện pháp gây trở ngại một cách quan trọng sự thông thương quốc tế của các du khách (ví dụ làm chậm lại sự khởi hành của một hành khách trên 24 giờ, hoặc bằng cách từ chối một du khách sự nhập cảnh hay xuất cảnh một nước) phải cung cấp cho OMS những lý lẽ và những dữ kiện y tế cộng đồng làm cơ sở cho một biện pháp như thế.

38. Cúm A có những mặt tốt hay không ?

Các quy tắc vệ sinh được yết thị trong các trường học, các xí nghiệp, các nơi công cộng...tạo nên một chiến dịch y tế cộng đồng tuyệt vời. Ví dụ, nếu mọi người giữ được phản xạ rửa tay đều đặn, điều đó sẽ góp phần làm giảm sự lan truyền của những bệnh khác , như bệnh viêm dạ dày-ruột (gastro-entérite).

Chúng ta cũng hy vọng rằng các thiết bị vệ sinh của các cơ sở học đường sẽ được hiện đại hóa, với các máy cung cấp xà phòng dịch và các khăn lau bằng giấy có thể vứt bỏ sau khi dùng.
(LE MONDE 5/11/2009)

3/ XÉT NGHIỆM MÁU PHÁT HIỆN BỆNH ALZHEIMER.

Sự loan báo tuần qua việc đưa ra thị trường một xét nghiệm máu để phát hiện bệnh Alzheimer (đang gây bệnh cho 850.000 người ở Pháp), đã gây nên một sự ngờ vực nơi các chuyên gia chuyên về bệnh này. Trắc nghiệm máu nhằm phát hiện bệnh Alzheimer này chỉ có để sử dụng nơi các phòng bào chế dược phẩm và các trung tâm nghiên cứu.

Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, nguyên tắc của xét nghiệm này và mức độ đáng tin cậy của nó vẫn còn bí ẩn. Hiện nay, sự chẩn đoán của bệnh Alzheimer được dựa trên sự kết hợp của 3 tham số : các triệu chứng lâm sàng, chụp hình ảnh não bộ và sau cùng đo nồng độ của hai protéine trong nước não tủy. Sự chẩn đoán của một bệnh như thế chỉ có thể được đặt ra sau hai lần thăm dò ở mức độ sâu.
(LE FIGARO 11/12/2009)

4 / PARACETAMOL : KHÔNG ĐƯỢC VƯỢT QUÁ LIỀU LƯỢNG QUY ĐỊNH.

Thuốc này, rất thường được sử dụng, chống lại một cách có hiệu quả đau và sốt. Tuy nhiên, ở liều cao, paracétamol có thể độc cho gan.

Paracétamol, được sử dụng riêng rẻ, nhưng cũng được liên kết với những thuốc khác (ví dụ codéine), cũng được sử dụng để chống đau ; nó tác dụng cộng lực với thuốc mà nó được liên kết, do đó liều lượng được sử dụng được giảm xuống. Nhưng sự tích lũy của những liều lượng này có nguy cơ làm đạt đến ngưỡng, mà vượt qua nó, thuốc sẽ trở nên độc cho gan.

Paracétamol (acétaminophène), thuốc chống đau và hạ sốt được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, chỉ được thương mãi hóa rộng rãi từ đầu những năm 1950, khi nó được tổng hợp vào năm 1878 bởi một nhà hóa học của Công Ty Bayer. Sự thành công của paracétamol là do độc tính thấp đối với dạ dày-ruột và do sự kiện là nó không gây nên những phản ứng tăng nhạy cảm. Paracétamol không phải là một chất chống viêm như aspirine : đó là sự khác nhau chính giữa hai loại thuốc này, mà bệnh nhân thông thường nhất tự sử dụng để điều trị chống đau và sốt.

Tuy vậy, mặc dầu người ta không biết nguyên nhân tại sao, paracétamol có một độc tính đối với gan ngay khi ta vượt quá các liều thông thường. Và điều lạ kỳ là người ta không biết được phương cách tác dụng của nó mặc dầu thuốc đã xưa. Những giả thuyết mới được công bố đều đặn về hai chủ đề này.

Người ta chỉ có thể nói ngộ độc cấp tình bởi paracétamol ở những liều cao, trên 200 mg/kg, hoặc hơn 14g đối với một người đàn ông 70kg ! Khi đó một hoại tử gan phát triển trong 3-5 ngày sau khi uống.

Với những liều lượng điều trị (tối đa 1g mỗi lần, có thể lập lại 4 lần mỗi ngày trong tình huống cấp tính), paracétamol được chuyển hóa bởi các men gan, làm phóng thích những sản phẩm phụ hay các chất chuyển hóa, như thế 90% liều lượng được uống vào, được loại bỏ trong 24 giờ sau khi uống. Phần còn lại được chuyển hóa bởi các enzyme khác (các enzyme oxy hóa gan, cytochrome P450). Trong số những chất chuyển hóa được phóng thích, chính N-acétyl-parabenzoquinone-imine là độc cho gan. Nhưng trong những điều kiện bình thường, chất này được làm bất hoạt và được thải ra trong nước tiểu.

Trong những trường hợp sử dụng với liều quá quan trọng, các cơ chế bất hoạt hóa trở nên không đủ để xử lý toàn bộ chất chuyển hóa tích tụ trong gan.

Mới đây, FDA đã đưa ra một ý kiến cảnh giác chống lại độc tính tiềm tàng của paracétamol lên gan. Khi thuốc được cho trong những thời gian dài, các liều lượng hiệu quả (4g mỗi ngày) gần với những liều độc. Những liều này khả dĩ gây nên những thương tổn gan thường trực có thể gây tử vong, nhất là đối với những người mà chức năng gan đã bị biến đổi, như những người già hay những bệnh nhân có những bệnh gan (như nghiện rượu). Như thế, trong điều trị lâu dài, sự khác nhau có thể tinh tế giữa các liều hiệu quả và những liều độc. Vì paracétamol cũng hiện diện trong những thuốc chống đau khác, ta phải tính đến nguy cơ quá liều. Chính vì thế FDA khuyến nghị sử dụng những liều paracétamol thấp nhất, và ước tính liều được hấp thụ trong những loại thuốc mà nó đuợc liên kết với những thứ thuốc khác.

Như vậy, trái với acide acétyl-salicylique hay aspirine, paracétamol không có những tác dụng phụ, ngoài tính độc lên gan. Những tác dụng phụ của aspirine là gì ? Hai tác dụng phụ chính là độc tính dạ dày-ruột và tác dụng kháng đông (aspirine đặc biệt gây loét dạ dày và xuất huyết). Tính chất chính của aspirine là hoạt tính chống viêm : aspirine ức chế men COX (cyclo-oxygénase) xúc tác sự tổng hợp của prostaglandines. Mà men này hiện diện dưới hai dạng, COX-1 và COX-2, có cùng tính chất hóa học, nhưng không có cùng tính chất sinh lý.

COX-1, hiện diện một cách thường trực, xúc tác các prostaglandines “ tốt ”, góp phần vào sự vận hành bình thường của cơ thể (đặc biệt là thận, hệ tim mạch và ống tiêu hóa). Trái lại, COX-2, chỉ hiện diện trong trường hợp viêm, chịu trách nhiệm sự sản xuất các prostaglandines “ xấu ”, nguồn gốc của đau đớn do viêm. Aspirine ức chế COX-2 và do đó ức chế sự sản xuất các prostaglandines “ xấu ”, nhưng cũng ức chế COX-1 cần thiết cho cơ thể. Chính vì thế mà các hãng dược phẩm cố gắng hiệu chính các chất ức chế đặc hiệu của COX-2, không ảnh hưởng lên sự vận hành tốt của COX-1.

Nhưng hiện nay, paracétamol đặc sắc hơn aspirine nhiều để chống lại sốt và đau. Ngoài ra, một thuốc mới giá rẻ dẫn xuất từ paracétamol (SCP-1, acétaminophène liên kết với saccharine) đã được hiệu chính mới đây. Thuốc mới này dường như không có độc tính đối với gan và cũng hiệu quả như paracétamol ; vậy nó có thể là một thứ thuốc của ngày mai.

Vào cái thời buổi đe dọa đại dịch cúm này, paracétamol có lẽ sẽ được sử dụng với lượng lớn để chống lại sốt và đau. Điều quan trọng phải ghi nhớ trong trí là paracétamol là một thuốc quý, nhưng cũng có thể có những tác dụng phụ độc quan trọng nơi vài người, do sự tích lũy liều lượng. [/color]
(POUR LA SCIENCE 11/2009)

5/ NHỮNG BỆNH TIM MẠCH ĐÃ CÓ TRONG AI CẬP CỔ ĐẠI.

Trên 20 xác ướp (momies) của Viện bảo tàng cổ vật (Musée des antiquités) của thủ đô Caire Ai cập, 16 trong số này có những dấu vết của xơ mỡ động mạch, được phát hiện bởi scanner.

CỔ DỊCH TỄ HỌC (PALEOEPIDEMIOLOGIE).

Các bệnh tim mạch như xơ mỡ động mạch đã có từ thời thượng cổ. Nhưng căn bệnh này không chỉ liên kết độc nhất với lối sống hiện đại như một giáo điều y học vẫn còn xác nhận. Công trình nghiên cứu bằng scanner 20 xác ướp, cách nay 3.500 năm, được bảo tồn ở Viện bảo tàng cổ vật Ai Cập, xác nhận rằng các bệnh tim mạch đã gây bệnh với một tỷ lệ cao trong các tầng lớp thượng lưu xã hội. 16 trong những người được ướp xác này có những động mạch bị xơ mỡ như các động mạch của những người đương thời của chúng ta, ăn quá nhiều mỡ, hút thuốc, uống rượu và không tập thể dục (Journal of The American Medical Association, 18/1/2009).

“ Khám phá này cho thấy rằng chúng ta phải nhìn xa hơn những yếu tố nguy cơ hiện đại để thật sự hiểu được bệnh này ”, Gregory Thomas, nhà nghiên cứu tim học thuộc Đại học Californie ở Irvine, một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu, đã xác nhận như vậy.

Thông tin này không phải là hoàn toàn mới. “ Trong quá khứ, các phẫu tích của các xác ướp và những phân tích bằng kính hiển vi đã phát hiện những dấu vết của xơ mỡ động mạch trên các di hài của các xác ướp ”, Alain Froment , giám đốc khoa học của các sưu tập của Viện bảo tàng người ở Paris đã phát biểu như vậy. “ Nhưng việc sử dụng một scanner là thanh lịch hơn nhiều. ” Nhất là chụp hình ảnh y học (imagerie médicale) cho phép thay đổi thước tỷ lệ. Không có tính chất phá hủy, kỹ thuật này cho phép xem xét nhiều thân thể một cách rất tinh tế và nhanh chóng. “ Người ta không chỉ làm cổ bệnh lý học (paléopathologie). Người ta có thể làm cổ dịch tễ học (paléoépidémiologie) ”, Eric Crubézy, nhà sinh học nhân văn (anthropobiologiste) ở đại học Paul-Sabatier de Toulouse đã giải thích như vậy. Scanner 6 thiết diện được sử dụng ở Ai Cập không đặc biệt có hiệu năng, Sylvain Ordureau, một trưởng xí nghiệp hiện đang phân tích các xác ướp của Viện bảo tàng người (Musée de l’homme) Paris, với một máy có hiệu năng rất cao, đã nhấn mạnh như vậy

GIỚI THƯỢNG LƯU XÃ HỘI.

Bảng tổng kết sức khỏe tim mạch của 20 xác ướp có cách nay hơn 3.500 năm không được tốt lắm. Nhóm nghiên cứu, được lèo lái bởi Gregory Thomas, đã khám phá ra rằng, trên 16 xác ướp vẫn còn có những động mạch có thể nhận diện được sau quá trình ướp xác, thì chín xác ướp trong số này có một sự vôi hóa động mạch vành. Những dấu vết này có thể thấy được bên trong các động mạch hay ở nơi mà các động mạch trong cơ thể của các xác ướp hiện diện. Nhiều trong số các xác ướp này có một sự vôi hóa đến 6 trong số các động mạch của chúng.

Lúc phân tích các xương của các xác ướp, các nhà nghiên cứu đã ước tính tuổi lúc qua đời của mỗi trong số 20 người được ướp xác. Như thế họ đã có thể cho thấy rằng những bệnh lý tim mạch thường xảy ra hơn tùy theo năm tuổi. 7 trên 8 người trên 45 tuổi có xơ mỡ động mạch. Nhưng hai trong số 8 người Ai cập cổ đại chết trẻ hơn, cũng có những động mạch bị xơ mỡ. Một con số không phải là không đáng kể .“ Mặc dầu chúng ta không biết được chứng xơ mỡ động mạch có đã gây chết người cho một trong các xác ướp này hay không, nhưng chúng ta có thể xác nhận rằng một số lớn đã bị căn bệnh xơ mỡ động mạch này ”, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy.

Chắc chắn là các xác ướp không phải là đại diện cho toàn thể dân chúng Ai Cập. Chỉ có các pharaon và những người thân thích của họ, các thân hào, các thầy tu và vài động vật mới được ướp xác mà thôi. Các nông dân đã không được ướp xác như vậy. Tuy nhiên chúng ta có thể khẳng định rằng các bệnh tim mạch là thông thường trong số thành phần tinh hoa của xã hội Ai Cập cách nay nhiều thiên niên kỷ.
(LE FIGARO 19/11/2009)

6/ MỘT LOẠI THUỐC KÍCH THÍCH DỤC TÍNH PHỤ NỮ.

Thuốc flibanserine đã được trắc nghiệm với các kết quả tốt nơi hàng ngàn phụ nữ bị các rối loạn về ham muốn (troubles du désir).

SEXUALITE. Các ông có Viagra từ năm 1998 để chữa chứng hỏng dục tình (pannes sexuelles). Các phụ nữ chẳng bao lâu nữa sẽ có flibanserine để kích thích dục tính của họ. Được trắc nghiệm nơi nhiều ngàn phụ nữ bị các rối loạn về ham muốn, thuốc này đã cải thiện một cách đáng kể đời sống tình dục, theo các công trình nghiên cứu được trình bày mới đây ở hội nghị lần thứ 12 của Hiệp hội y khoa tình dục (médecine sexuelle) châu Âu ở Lyon. Sau sự đăng quang của viên thuốc màu xanh (Viagra) và các thuốc cạnh tranh nó, (đã biến đổi việc điều trị các rối loạn sinh dục nam giới và đã chinh phục một thị trường có doanh thu hàng tỷ dollar), các hãng bào chế dược phẩm đã tìm kiếm loại thuốc tương đương nơi nữ giới. Nhưng mối thách thức đã tỏ ra gay go hơn dự kiến, nhất là bởi vì bản năng giới tính (sexualité) ở phụ nữ phức tạp hơn nhiều so với đàn ông. Một loại thuốc dán (patch) testostérone được đặt tên là Intrinsa, đã được thương mại hóa năm 2007, để điều trị chứng giảm ham muốn xảy ra sau mãn kinh ngoại khoa (ménopause chirurgicale).

Ngoài bối cảnh hạn hẹp này, ý niệm loạn năng tính dục phụ nữ (dysfonction sexuelle féminine) đã không tạo nên sự nhất trí. Đối với những người bi quan, đó là một điều được dựng lên bởi các hãng dược phẩm để bán những thứ thuốc mới, hiện tượng được biết dưới tên disease mongering. Trái lại các chuyên gia về dục tính đã xác nhận rằng đó là những bệnh lý thật sự, thường xảy ra nhưng không được biết rõ . “ Hơn một nửa các phụ nữ có những khó khăn lớn trong việc đạt được ham muốn hay khoái lạc ”, BS Philippe Brenot, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và giám đốc giảng dạy tình dục học (sexologie) ở đại học Paris-Descarte đã đánh giá như vậy. Theo nhà điều trị này, nhà tìm tòi nghiên cứu của một trong những thử nghiệm với flibansérine, “ người ta không biết nhiều về bản năng giới tính nữ giới bởi vì có ít các nghiên cứu trong lãnh vực không gây chết người và cấm kỵ này ”.

Cũng như trong trường hợp của Viagra, các lợi ích của flibansérine trên dục tính đã được khám phá một cách tình cờ. Thuốc này, tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, nơi các thụ thể của sérotonine, trước hết đã được sử dụng như thuốc chống trầm cảm trong những năm 1990 bởi phòng bào chế Boehringer Ingelheim. Nhưng những tác dụng của nó lên sự ham muốn của phụ nữ đã tỏ ra có sức thuyết phục hơn những hiệu quả lên tính khí, và hãng bào chế đã chuyển hướng trong sự phát triển của thứ thuốc này. Những kết quả được tiết lộ ở Lyon, phát xuất từ những công trình nghiên cứu giai đoạn III (giai đoạn trước khi đưa thuốc ra thị trường), được tiến hành ở Hoa Kỳ và châu Âu nơi các phụ nữ không bị mãn kinh và mắc phải chứng “ giảm hoạt ham muốn tình dục ” (désir sexuel hypoactif) (DSH). Ít được biết đến bởi công chúng và ngay cả bởi các thầy thuốc, thuật ngữ này là thuật ngữ được sử dụng trong các sách giáo khoa tâm thần học để định nghĩa những rối loạn tình dục, được đặc trưng bởi một sự thiếu ham muốn cùng với sự đau khổ và những khó khăn giữa người với nhau, mà không có một bệnh lý thực thể nào khác.

Trong 24 tuần, các người tình nguyện đã nhận uống 100mg flibanserine buổi chiều vào lúc đi ngủ hay một placebo. Để đánh giá tác dụng của nó trong một lãnh vực phức tạp như bản năng giới tính phụ nữ (sexualité féminine), các nhà nghiên cứu đã nhờ đến một cuốn sổ theo dõi điện tử. Như vậy, các phụ nữ tham dự đã đo lường mỗi ngày lòng ham muốn của họ, “ những biến cố tình dục thỏa mãn ” (không nhất thiết đồng nghĩa với khoái lạc cực độ) và mức độ đau khổ liên kết với những rối loạn tình dục. Sau nhiều tuần, những tham số này được cải thiện nơi các phụ nữ được điều trị bởi flibanserine. “ Các hiệu quả không thể tranh cãi được, GS François Giuliano, thầy thuốc chuyên khoa niệu và chuyên viên về những rối loạn tính dục (bệnh viện Raymond-Poincaré, Garches) đã xác nhận như vậy. Nhưng lưu ý, đó không phải cùng với khái niệm với các rối loạn cương (dysfonction érectile), mà trong trường hợp này thuốc được uống theo yêu cầu. Ở đây, đó là một điều trị hàng ngày, dài lâu.” Một vài người loan báo thuốc sẽ được thương mãi hóa vào năm 2011. Một kỳ hạn mà hãng bào chế Boehringer Ingelheim muốn tỏ ra thận trọng trong lúc chờ đợi các kết quả bổ sung. Một nhóm các thứ thuốc khác, với những cách tác dụng khác nhau, đang được nghiên cứu, trong những giai đoạn lâm sàng rất sơ khởi hay nơi động vật.
(LE FIGARO 9/12/2009)

7/ LUYỆN TẬP THỂ THAO ĐỂ LUÔN TRẺ MÃI.

Hoạt động vật lý mạnh mẽ cho phép gìn giữ các télomère, điều này sẽ làm hạn chế sự lão hóa tế bào.

Hoạt động vật lý của các vận động viên thể thao gây nên sự hoạt hóa của men télomérase. Kích thước và tính chất bền vững của các télomère (các đầu mút của các nhiễm sắc thể) như thế sẽ được duy trì, Ulrich Laufs (đại học Saarland, Đức) đã viết như vậy trên site Internet của Circulation số 30 tháng 11.

“ Các télomère là một loại đồng hồ sinh học : các tế bào có những télomère dài bảo tồn một khả năng phân chia lớn hơn và do đó “ trẻ hơn ”. Khi chiều dài của các télomère đi xuống một ngưỡng nào đó, tế bào sẽ chết. Lần đầu tiên chúng tôi đã cho thấy rằng sự luyện tập một môn thể thao đòi hỏi dai sức (sport d’endurance) đã có thể có một ảnh hưởng trực tiếp như thế nào lên khả năng phân chia tế bào của chúng ta. ”

Nhà nghiên cứu người Đức đã quan tâm đến 32 vận động viên chạy nghề nghiệp, được tuyển chọn bởi đội điền kinh quốc gia. Tuổi khoảng 20, những vận động viên này đã chạy trung bình 73 km mỗi tuần. Một nhóm thứ hai gồm những cựu lực sĩ tuổi trung bình 51, tuy nhiên còn chạy 80 km mỗi tuần. Mỗi trong những người tham gia vào công trình nghiên cứu này được so sánh với một người đồng loại, cùng lứa tuổi, có sức khoẻ tốt, không hút thuốc, nhưng không luyện tập thể thao một cách đều đặn.

Bên cạnh những tham số sinh lý được dự kiến (nhịp tim lúc nghỉ ngơi, huyết áp, chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) và nồng độ cholestérol thấp hơn), các nhà nghiên cứu đã có thể chứng thực rằng các bạch cầu của các vận động viên chứa một télomérase hoạt tính hơn và những télomères dài hơn so với những télomères của những người không luyện tập thể thao. Mặt khác, sự rút ngắn của các télomères được diễn ra một cách chậm hơn với tuổi tác. Hiện tượng này không những chỉ thấy được nơi các vận động viên trẻ, mà lại còn rõ nét hơn nơi các vận động viên thuốc nhóm thứ hai.

Những nghiên cứu lâm sàng trước đây và những khảo sát được thực hiện nơi các động vật đã cho thấy rằng, các télomère ngắn hơn được liên kết với một nguy cơ tử vong lớn hơn và với những bệnh do sự lão hóa, trong đó có các bệnh tim mạch.

Trong những năm gần đây, sự nghiên cứu dành cho các télomère rất được hâm mộ. Chi cần nhắc lại rằng Giải Nobel Y học vừa qua đã được trao cho 3 nhà nghiên cứu vì các công trình của họ về enzyme télomérase. Tất cả các nhiễm sắc thể đều có các télomères ở đầu mút. Các télomères này được cấu tạo bởi một chuỗi đặc hiệu ADN (TTAGGG), được lập lại hàng trăm lần. Chính chuỗi đặc hiệu này bảo vệ nhiễm sắc thể chống lại sự phá hủy bởi enzyme. Vào mỗi lúc phân chia tế bào, các chuỗi này bình thường phải ngắn lại một chút. Nhưng télomérase có mặt ở đó để cân bằng với tác dụng này và đồng thời để gìn giữ khả năng phân chia của tế bào. Chiều dài của télomère có thể nói là một đo lường thời gian sống của tế bào.

“ Đây là lần đầu tiên, chúng tôi đã có thể xác lập mối liên hệ giữa một đồng hồ phân tử phản ảnh sự lão hóa và một sự luyện tập thể thao ”, nhà nghiên cứu người Đức đã kết luận như vậy. Khám phá này góp phần giải thích tại sao thể thao có một tác dụng dương tính lên các huyết quản và làm giảm hậu quả của những bệnh liên kết với quá trình lão hóa.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 11/12/2009) [/color]

8/ ĐẶC TÍNH MỚI CỦA DẦU CÁ.

Cơ thể biến đổi axít béo oméga-3 thành một thuốc chống viêm.

Nhiều bệnh lý như đái đường, nhiễm trùng huyết, viêm đa khớp dạng thấp,.. được biểu hiện đặc biệt bởi những phản ứng viêm quá mức hay mãn tính : các bạch cầu lúc đó được lôi kéo với số lượng lớn vào trong các mô. Các nhà nghiên cứu của Boston, Londres và Los Angeles đã phát hiện một cơ chế nhờ do cơ thể chống lại quá trình viêm này.

Một trong những chất chủ chốt là một phân tử lipide, résolvine D2. Chất này được cơ thể tổng hợp từ một axít béo oméga-3, có nhiều trong dầu cá. Các résolvine và các phân tử tương tự, lipoxine, tạo nên một họ mới các thuốc chống viêm. Lúc nghiên cứu tác dụng của résolvine D2 nơi chuột, Matthew Spite và các cộng sự viên đã cho thấy rằng thuốc này tác dụng lên nhiều mức khi có một phản ứng viêm. Một mặt, nó hạn chế sự kết dính của các bạch cầu vào các mô bằng cách kích thích sự sản xuất monoxyde d’azote, phân tử được biết có tính chất chống kết dính (propriété anti-adhésive) : bằng cách tiêm résolvine D2 trong cơ crémaster của một con chuột (cơ bao quanh các tinh hoàn) (mà ở đây trước đó họ đã làm phát khởi một phản ứng viêm), các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một sự giảm số bạch cầu (những bạch cầu này gắn vào trên thành của các tiểu tĩnh mạch tưới máu cơ). Hiệu quả này biến mất khi người ta thêm một chất ức chế sự tổng hợp của monoxyde d’azote.
(POUR LA SCIENCE 12/2009)

9/ MIGRAINE : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẺ CÓ MỘT HIỆU QUẢ NHANH HƠN.

GS Dominique Valade, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, trưởng khoa Cấp cứu đau đầu của bệnh viện Lariboisière, giải thích những lợi ích của rizatriptan (Maxalt).

Hỏi : Ông có thể định nghĩa cái điều mà ông thường gọi là một migraine (bệnh thiên đầu thống)?
G.S Dominique Valade : Đó là một bệnh nguồn gốc di truyền, gây nên bởi các nhiễm sắc thể 19,1 và 2. Ở Pháp có 8 triệu người bị bệnh migraine. Để có thể xác định đúng chẩn đoán, phải đảm bảo rằng bệnh nhân đã bị ít nhất 5 lần một cơn kéo dài từ 4 đến 72 giờ. Một đặc điểm : đau đầu bắt đầu ở một phía rồi lan ra toàn thể đầu. Trong đại đa số các trường hợp, migraine kèm theo nôn hay mửa cũng như một sự khó chịu đối với ánh sáng và tiếng động.

Hỏi : Có nhiều loại migraine hay không ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại chính.
  • Các migraine “ không có tiền triệu (aura) ”, thường xảy ra nhất (80% các trường hợp migraine), xuất hiện nhanh và không có triệu chứng báo trước.
  • Các migraine “ với tiền triệu ”, được đi trước bởi những triệu chứng thần kinh như rối loạn thị giác (với những điểm sáng), lời nói.
Một nửa những người migraine có nhiều hơn một cơn mỗi tháng, điều này rất trở ngại cho đời sống nghề nghiệp, gia đình và xã hội của họ.

Hỏi : Những điều trị thường cho là gì ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại.
  • Các thuốc dùng trong trường hợp lên cơn.
  • Một điều trị duy trì.
Vài thuốc họ triptans có hiệu quả với điều kiện được sử dụng sớm, ngay lúc đầu cơn migraine, khi đau đầu còn có cường độ nhẹ. Các thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) cũng có thể được cho. Các điều trị duy trì là một phương cách phòng ngừa : chúng được cho nhằm làm giảm tần số, cường độ và thời gian của các cơn (tùy theo bệnh nhân : các beta-bloquant, các thuốc chống trầm cảm, các antisérotonine, các thuốc chống động kinh...)

Hỏi : Những thuốc này tác dụng như thế nào ?
G.S Dominique Valade : Trong trường hợp lên cơn, điều trị làm thuyên giảm trong vòng dưới 2 giờ, 20% đến 30% các bệnh nhân, điều này có thể có vẻ dài lâu khi ta đau đầu. Nơi những người khác, thuốc cần nhiều thời gian hơn.

Bởi vì migraine xảy ra đột ngột, nên các bệnh nhân không luôn luôn có sẵn một ly nước bên cạnh để uống viên thuốc ; họ thường dùng thuốc quá muộn để có thể được làm thuyên giảm nhanh chóng. Các thuốc chống viêm có bất tiện là gây nên một rối loạn tiêu hóa. Tính hiệu quả kém của các triptans khi chúng được sử dụng trong lúc migraine đã trở nặng, giải thích tại sao nhiều bệnh nhân không quan tâm đến điều trị của họ. Sự không tuân thủ điều trị hiện nay rất quan trọng, khoảng 70%.

Hỏi : Vì lý do gì, rizatriptan (MAXALT) đặc biệt có hiệu quả ?
G.S Dominique Valade : Thuốc này cũng thuộc vào lớp các triptans, nhưng nó được thương mãi hóa dưới một dạng thuốc hòa tan dưới lưỡi trong vòng hai hay ba giây. Thuốc phải được sử dụng càng sớm càng tốt trong khi cơn đau đầu còn nhẹ.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào được thực hiện với loại thuốc này là gì ?
G.S Dominique Valade : Một công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên 188 bệnh nhân. Những kết quả đã cho phép nhận xét rằng 24% người đã được thuyên giảm trong 30 phút và rằng, nơi một số rất lớn (66%), cơn đau đã biến mất trong vòng chưa được hai giờ. Điều chứng thực khác : nơi 63% các bệnh nhân, những triệu chứng mửa kèm theo cũng đã biến mất nhanh chóng.

Tóm lại những ưu điểm của thuốc chống migraine này là gì ?
  • Trong bất cứ trường hợp nào, không cần phải có ly nước bên cạnh, chỉ cần mang một viên thuốc theo mình để làm ngưng cơn migraine rất nhanh chóng, điều này cải thiện đáng kể chất lượng sống.
  • So sánh với các điều trị thông thường, thuốc này có một tác dụng nhanh lên một số lớn hơn những người bị migraine.
  • Rizatriptan chứng tỏ một hiệu quả tốt lên các triệu chứng liên kết.
(PARIS MATCH 26/11- 2/12/2009)

10/ LASER RĂNG : MỘT CUỘC CÁCH MẠNG ?

“ Chiếc dao mổ sáng ” (bistouri lumineux), rất được sử dụng ở Ý và Tây Ban Nha, bắt đầu được nói đến trong môi trường nha khoa ở Pháp. Vài người gợi ý rằng để điều trị răng, laser có thể làm truất ngôi cái khoan răng (fraise). Giấc mơ hay hiện thực ?

Trong một thời gian lâu dài, sự sử dụng laser đã rất là thứ yếu trong môi trường nha khoa. Thật vậy không có một mô hình nào có khả năng nhằm đồng thời các mô mềm (lợi răng, niêm mạc) và các mô cứng (men răng, ngà răng, xương). Sau hai mươi năm công tác, các nhà nghiên cứu sau cùng đã chế biến được một laser có thể đảm bảo tính đa năng này và ít xâm nhập hơn, như thế làm giảm nguy cơ làm nóng mô quá mức, là điều trở ngại của những mô hình đầu tiên. Từ nay, laser có thể được sử dụng trong các động tác hàng ngày của phòng khám bệnh nha sĩ.

NẠO RẰNG CẦN NHIỀU THỜI GIAN HƠN.

Kỹ thuật mũi nhọn này đã được đề nghị bởi 1% các nha sĩ Pháp. Và laser có cái gì đó để quyến rủ bởi vì nó đề nghị làm tan vụn sâu răng (như cái khoan răng đã làm) nhưng không gây tiếng ồn và các chấn động rung.Tiếc thay, trong phần lớn các trường hợp, cái bánh lăn (roulette) gây lo ngại vẫn còn là một lối qua bắt buộc. Thật vậy, nạo răng sâu bằng laser cần hai lần thời gian so với cái khoan răng (fraise) ! Chỉ cần sâu răng nằm sâu, đòi hỏi gây mê, laser quá chậm để có thể cạnh tranh với cái khoan răng. Laser này chỉ dành cho các sâu răng của các trẻ em hay cho các sâu răng nông mà thôi.

NHỮNG TÍNH CHẤT DIỆT TRÙNG KHÔNG TRANH CÃI ĐƯỢC.

Vậy thì mặc dầu laser không thay thế cái khoan răng, tuy vậy nó thay thế nó trên vài khía cạnh. “ Laser có một tác dụng kháng khuẩn và một tác dụng kích thích sinh học (biostimulant) (nó kích thích các mô) mà những kỹ thuật khác không bao giờ có thể có được, nha sĩ Franck Amoyel đã giải thích như vậy. Vậy, chính lúc kết hợp với cái kỹ thuật truyền thống mà laser dường như thích đáng nhất, cải thiện chất lượng điều trị và tuổi thọ của chúng.

“ Trong trường hợp làm loài chân răng (déchaussement), một khi chuỗi các vi khuẩn bị bẽ gãy bởi các siêu âm, thì laser này rất hữu ích để loại bỏ tất cả vi khuẩn, và làm lành mạnh xương và các lợi răng giữ răng tại chỗ.”

Trong trường hợp diệt tủy (dévitalisation), cái khó khăn là tiếp cận đến các vi khuẩn ẩn mình bên trong răng. Laser đến được nơi đó, nhờ nhiệt mà nó phát ra, cải thiện hiệu quả của hypochlorite de sodium, thường được sử dụng để thực hiện thao tác này.

Đối với các răng nông, tác dụng vượt quá nạo đơn thuần : laser cho phép một sự kết dính tốt hơn của vật liệu, mà người ta sẽ đặt lên bề mặt của răng, làm giảm nguy cơ các vi khuẩn khác thâm nhập vào.

Tuy nhiên kỹ thuật tuyệt vời này có một phí tổn. Đầu tư một máy laser à Erbium tổn phí 50.000 euro đối với nha sĩ. Đối với bệnh nhân, phí tổn là 200 đến 400 euro đối với một diệt tủy (dévitalisation), và từ 100 đến 150 euro đối với một sâu răng, không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế. Vậy chính các bệnh nhân tự quyết định có phải trả thêm tiền phụ trội chất lượng này hay không.
(TOP SANTE 11/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (14/12/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#29 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 21 December 2009 - 11:41 PM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NGƯỜI BỆNH CỦA ĐẢO SAINTE-HELENE.

Khi ông ta đến cảng Rochefort sau cuộc bại trận khủng khiếp ở Waterloo, Napoléon, mặc dầu chỉ còn là cái bóng của chính mình, lại tin như đinh đóng cột rằng ông ta sẽ lên tàu đi châu Mỹ, là nơi còn có các bạn bè. Đó là Napoléon không tính đến hạm đội Anh, lúc hay biết được các kế hoạch của ông, đã vội phong bế hải cảng Pháp để thuyết phục Bonaparte lên một chiếc tàu Anh, “ le Bellerophon ”. Được chuyển đến Nothumberland sau đó, Napoléon bị buộc thực hiện một chuyến đi dài đến hòn đảo không mến khách Sainte-Hélène, nơi đây ông đã đổ bộ 3 tháng sau đó.

NHỮNG NGƯỜI THẦY THUỐC TẬN TỤY CỦA NAPOLEON.

Trong nơi lưu đày xa xăm, Hoàng Đế chỉ được đi kèm theo bởi vài người, trong đó có thống chế Bertrand và nhà sử học Las Cases, đã để lại cho chúng ta nhiều hồi ký, thường do Napoléon đọc cho mà viết. Bên cạnh họ là hai thầy thuốc 0’Meara và Antommarchi. O’Meara, người gốc Ái Nhĩ Lan, đã từng gặp Hoàng Đế trên tàu Bellerophon và đã được biệt phái hẳn đến cạnh ông để hết lòng vì công việc của mình, với một sự vồn vả ân cần làm bộ tư lệnh hải quân Anh xét thấy đáng nghi ngờ, vì thế vào năm 1818 vị thầy thuốc này được mời đến Albion. Từ kinh nghiệm của mình, O’Meara sẽ rút ra một tác phẩm tuyệt vời, được tái bản đến 34 lần, tuy nhiên không phải vì vậy mà cải thiện được chế độ áp đặt vào Bonaparte cho đến ngày cuối đời của ông. Antommarchi tiếp nối O’Meara để đi theo người bệnh nhân nổi tiếng của mình cho đến ngày lâm chung của Napoléon. Ông cũng để lại cho chúng ta những bài viết hồi ký của mình .

Sự phê phán lịch sử buộc chúng ta phải tỏ ra thận trọng về nội dung của các bản văn này, trong đó khuynh hướng đa cảm và lòng cảm thông che dấu hay làm biến đổi một sự thật không có tính chủ quan. Hai thầy thuốc của chúng ta đúng là những nhân chứng trực tiếp của những nỗi khổ đau về thể xác và tinh thần của Hoàng Đế, như câu trả lời sau đây của O’Meara với thống đốc Lowe khi ông này lo ngại về tình trạng sức khỏe của người tù nhân của mình, đã chứng tỏ điều đó : “ Phải mở rộng các giới hạn của khu vực trong đó ông ta được phép đi dạo chơi, một cách tổng quát, phải tạo cho ông ta một cảm tưởng tự do nào đó, và nhất là, an tọa ông ta trong một ngòi nhà trên sườn đồi bên kia của hòn đảo ”. Bệnh nhân đau đớn đến độ ông ta mong muốn thần chết hãy đưa ông ta đi nhanh chóng. Đây là điều Naopléon đã tuyên bố với vị thầy thuốc của mình vào tháng 12 năm 1816 : “ Đêm qua, tôi bị một cơn thần kinh khiến làm tôi thức tỉnh cho đến sáng. Tôi bị kích động và khốn khổ vì các cơn migaine khủng khiếp. Tôi đánh mất cả tri giác, khoảng vài khoảnh khắc đồng hồ. Ngay cả tôi hy vọng rằng cơn thiên đầu thống này sẽ trầm trọng dần, đủ để giải thoát tôi khỏi sự hiện hữu thảm thương này. Vào trong bất cứ giây phút nào, tôi cũng tin là đã bị một cơn đột qụy. Đầu tôi nặng nề với một cảm giác chóng mặt ; có thể nói dường như tất cả máu đều đổ dồn về não bộ. Tôi cũng cảm thấy một nhu cầu bức thiết là muốn đứng dậy.” Hoàng Đế bình phục khá nhanh cơn thần kinh này vì lẽ vài ngày sau đó, ông vừa miệt mài đọc thánh kinh, vừa vẫn mơ màng đến cái đế chế với 83 triệu thần dân mà ông đã ngự trị. Một lần khác, ông tự nói là một mình chịu trách nhiệm về tất cả những thất bại và tố cáo sự điên rồ của mình là đã tiến quân đến Moscou để khuất phục chế độ Nga xa hoàng.

CHIẾC GAN CỦA HOÀNG ĐẾ.

Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe của Hoàng Đế tiếp tục gây lo âu cho người thầy thuốc của mình. Vào ngày 17 tháng năm 1817, O’Meara ghi nhận là đã thấy Napoléon trong phòng tắm và kêu vang đau ở má phải, có lẽ gây nên bởi sâu răng, cũng như sưng nề ở các mắc cá và cẳng chân. Chẩn đoán đối với các dấu hiệu sưng tấy này : Napoléon phải luyện tập thể dục và tại sao lại phải cưỡi ngựa, thế mà lại quên rằng địa hình, nơi ông được phép di chuyển, là quá chật hẹp đến độ nó ngăn cản ngựa phi. “ Ông sẽ không còn thấy tôi nữa rất lâu, bác sĩ ạ ”, người dân của đảo Corse đã nói thêm vào như vậy. “ Người ta đã áp đặt cho tôi một cái chết còn khủng khiếp hơn nhiều so với cái chết của một người lính trên chiến trận.Tôi cảm thấy rằng cái bộ máy càng ngày càng suy sút đi. ” 15 ngày sau, ngày 1 tháng mười năm 1817, Napoléon kêu đau ở lá lách và những cơn đau nhói ở vai, nhưng cũng một cảm giác khó chịu về phía gan. Người thầy thuốc kê toa cho ông các thuốc chống táo bón nhưng ông cũng e sợ chứng viêm gan sẽ buộc Hoàng Đế phải theo một chế độ kiêng khem nghiêm ngặt và phải từ bỏ rượu. Sau đó, chứng bệnh càng ngày càng xấu đi và Bonaparte không ngừng kêu van lá gan, có lẽ đang sưng lên một cách nguy hiểm. Các cơn đau ở các chi trở nên dữ dội hơn nhưng Hoàng Đế gần như luôn luôn từ chối dùng thuốc đã được kê đơn và khi O’Meara đột ngột bị ngừng chức, thì không có một thầy thuốc nào ở cạnh giường ông trong 1 tháng. Người thầy thuốc Ái Nhĩ Lan đã được mời trở lại nhưng sau đó bị triệu hồi vĩnh viễn. Hoảng đế rất sầu não về sự ra đi này : “ Tội ác được hoàn thành. Đã quá lâu rồi tôi vẫn còn sống.”. Và trước khi rút lui vĩnh viễn, O’Meara đệ trình cho Thống chế Bertarnd một báo cáo dài và chi tiết về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mình. Mặc dầu được săn sóc tận tình, căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển và khiến lo ngại một viêm gan cấp tính. Napoléon cũng đã béo phì quá mức, thân thể không chịu được những thời kỳ táo bón kéo dài, kế tiếp bởi các đợt ỉa chảy dữ dội. Sốt cao cũng như trái tim có nhịp đập quá mức. Ông được thầy thuốc kê toa thủy ngân (mercure), mà ông tỏ ra ghét cay ghét đắng. Ông không chịu được nữa calomel, và một chứng viêm phế quản ác hiểm, gây nên bởi tình trạng ẩm ướt của nơi chốn này, rất khó mà vượt qua được, cũng như sự khốn khổ tinh thần, sự nhàn rổi và nỗi cô đơn của chốn lưu đày.

O’Meara chẳng bao lâu được thay thế bởi BS John Stokoe. Ông này chỉ kịp xác định chẩn đoán của người tiền nhiệm rồi từ chức trước những thủ đoạn phá rối liên tục của chính quyền Anh. Phải rất nhiều phản kháng của Hoàng Đế, nằm liệt giường không được săn sóc, sau cùng mới đổ bộ cạnh giường ông một đội y tế mới, trong đó có BS Antommarchi, chỉ vừa tròn 30 tuổi và cho mãi đến khi ấy, đã trau giồi tài nghệ thầy thuốc ngoại khoa của mình ở Hospice Notre-Dame de Florence. Hai ngày sau, viên thầy thuốc mới sau cùng có thể thính chẩn Hoàng Đế, và anh có thể nắm được ngay mức độ của căn bệnh : thính giác kém đi, da rất tái xanh, hách xì dữ dội xen lẫn với những cơn ho khan, các lỗ mũi bị nghẹt, mạch yếu nhưng đều, những cơn đau lưu động trong vùng thắt lưng, nôn mửa liên tiếp .. Nhưng không có gì là mới lắm trong chẩn đoán này..

Sự buồn chán, vẫn sự buồn chán trên cái núi đá, mà ở đó đã không bao giờ xảy ra điều gì cả, và đó là điều tệ hại nhất, bởi vì tình trạng sức khỏe không còn tiến triển bao nhiêu nữa trong hướng này hay hướng kia. “ Không có gì được ghi nhận ” (Rien à signaler), người thầy thuốc vẫn luôn luôn ghi vào trong báo cáo hàng ngày của mình như vậy. Nhưng sự đồng tình hợp ý nhau giữa hai người chỉ được một thời gian do tính chất càng ngày càng thất thường của Napoléon. Hoàng Đế trách người thầy thuốc của mình đã không túc trực 24 giờ trên 24. Thật ra, Antommarchi đã lợi dụng những lúc rảnh rổi hiếm hoi của mình để xuống trong thủ phủ của hòn đảo và trà dư tửu hậu ở đó với các đồng nghiệp rất hiếm hoi, điều này làm Hoàng Đế bất bình sâu nặng, đến độ Napoléon sau cùng hẳn đã đuổi viên thầy thuốc này nếu Bertarnd đã không thuyết phục ông điều ngược lại. Antommarchi có lẽ 10 năm nhỏ tuổi hơn, còn quá trẻ để có thể chống cự lại những cơn bực bội cáu gắt của người chiến thắng trận Austerlitz !

SỰ CÁO CHUNG CỦA VINH QUANG THẾ GIỚI.

Vào năm 1821 này, các lực lượng lần lượt giã từ Hoàng Đế và không thể nào lay chuyển được. Những cơn khó thở và những lần ói mửa gia tăng. Ngày 2 tháng 4, người ta kêu cứu một thầy thuốc người Anh, nhưng ông này đến chỉ để xác nhận một lâm chung mà người ta cảm thấy đã gần kề. Theo các gia nhân, chiều hôm đó một ngôi sao chổi đã đi xuyên qua bầu trời. Điềm xấu, Napoléon đã thốt lên như vậy, vì chính cũng bằng cách này mà cái chết gần kề của César đã được loan báo. Hai tuần lễ tiếp theo sau thật đặc biệt khổ nhọc. Hoàng Đế cáu kỉnh hơn bao giờ hết, trải qua suốt thời gian để soạn lại bảng di chúc. Ông đuổi cả vị thầy thuốc của mình ra khỏi phòng mặc dầu những nỗi thống khổ gần như không chịu đựng được. Ngày 18 tháng 4, Antommarchi nhận sự giúp đỡ của 2 thầy thuốc người Anh, nhưng chẳng còn làm gì được nữa. Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 năm 1821, Napoléon mê sảng hoàn toàn. Những người thân chỉ còn nghe 3 chữ được lặp đi lặp lại không ngừng : nước Pháp, quân đội, Joséphine. Vào 1 giờ, các đầu chi bắt đầu lạnh giá, các bờ môi siết lại, đôi mắt lờ đờ, bụng trướng ra nhiều lần, bị lay động bởi các tiếng sôi ruột, mạch yếu và không đều, từ 102 đến 122 đập mỗi phút. Và thứ thuốc duy nhất dành cho con người đang hấp hối này là các thuốc làm rộp da (vésicatoire) và hai thuốc dán chứa chất moutarde, được đặt lên lòng các bàn chân của Bonaparte.

Vào 6 giờ 1 phút ngày 5 tháng 5 năm 1821, Napoléon Bonaparte không còn nữa. “ Vinh quang của thế giới đã chết đi như vậy ”, Antommarchi đã ghi vào các cuốn sổ tay của mình như thế. Sau đó, người ta tiến hành rửa ráy người chết và rồi đặt lên trên một chiếc giường khác. Viên thầy thuốc lấy khuôn gương mặt của Napoléon, rồi bắt đầu giải phẫu tử thi trước sự hiện diện của 3 vị tướng người Pháp, các sĩ quan người Anh và tám vị thầy thuốc được yêu cầu tham dự vào cuộc mổ xác rùng rợn này. Antmmarchi ghi các kết luận : “ Giải phẫu tử thi đặc biệt phát hiện rằng gan bị một viêm nhiễm mãn tính và rằng các thành của dạ dày biến mất một phần, dưới một khối u ác tính.” Một thầy thuốc người Anh đã không hết ngạc nhiên về mức độ quan trọng của mỡ bao phủ tất cả các cơ quan của người chết, đồng thời chứng nhận rằng dạ dày bị một ung thư, nhất là trong vùng môn vị nhưng phủ nhận căn bệnh gan, mà từ lâu đã được mô tả bởi các đồng nghiệp, có lẽ do lệnh của thống đốc đảo. Như thế để lại một bí ẩn sau cùng quanh con người một thời đã cho mình là chủ nhân ông của thế giới, trước khi bỏ mình trên một hòn núi đá hẻo lánh xa xăm của Đại Tây Dương.
(SEMAINE MEDICALE 29/10 /2009)

2/ CÚM A : TIẾN TRÌNH DỊCH BỆNH CHẬM LẠI Ở CHÂU ÂU.

Theo OMS, số các trường hợp đang giảm xuống ở các nước châu Âu (trừ nước Pháp).

PANDEMIE . Virus H1N1 tiếp tục lưu hành ở châu Âu, nhưng hoạt động cúm đã đạt một đỉnh cao và bắt đầu hạ xuống. Các hệ thống theo dõi quốc gia ghi nhận khắp nơi một sự giảm số các trường hợp của các hội chứng cúm và các nhiễm trùng hô hấp bình thường và nặng. Chỉ có một ngoại lệ là Pháp, nơi đây các trường hợp hội chứng cúm tiếp tục gia tăng. Đó là một trong những điểm được ghi nhận từ bảng tổng kết của OMS, được công bố hôm thứ sáu. OMS đã ghi nhận trong tuần qua 828 những trường hợp tử vong mới do cúm A, trong đó 324 trên toàn bộ lục địa châu Âu.

Theo OMS, sự lùi lại của bệnh cúm đã bắt đầu trong tám nước : Islande, Bỉ, Irelande, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Bồ đào nha, Ý và Đức. Ở Bắc Âu, mặc dầu cường độ của dịch bệnh vẫn cao, tuy nhiên bệnh cúm có khuynh hướng giảm xuống ở Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch. Ngược lại ở Đông Âu, virus H1N1 tiếp tục lan tràn, ngoại trừ Bulgarie, Ukraine và Géorgie.

Sự loan báo bệnh cúm thoái trào ở Tây Âu không phải là một điều bất ngờ. “ Rất có thể là chúng ta đang đến gần cao điểm của làn sóng thứ nhất ở Châu Âu ”, ngay hôm thứ tư, bộ trưởng y tế Pháp Reselyne Bachelot đã loan báo như vậy nhân cuộc họp báo. Thật rất khó mà biết được một sự thoái lui thật sự sẽ mào đầu hay chúng ta sẽ vẫn trên mức bình nguyên ”, bà đã nói thêm như vậy.

Dịch bệnh ở Pháp chẳng bao lâu cũng lùi lại như ở các nước láng giềng châu Âu, GS Antoine Flahaut, chuyên viên dịch tễ học và giám đốc Trường cao đẳng y tế cộng đồng, đã không do dự tiên đoán như vậy, “ Tất cả những công trình nghiên cứu về cúm mùa cho thấy có một sự đồng bộ (synchronisme) cao trong các dịch bệnh cúm ”, ông đảm bảo như vậy. “ Chẳng còn bao lâu nữa chúng ta sẽ đạt được cao điểm trong đất nước chúng ta, tuần này hay tuần đến.”

Sự đồng bộ của các dịch bệnh cúm (synchronisme des épidémies grippales) là một hiện tượng được biết rõ. Ví dụ mỗi năm, cao điểm của tỷ lệ tử vong của cúm mùa ở châu Âu xảy ra một tuần sau Hoa Kỳ. Mặc dầu hiện nay, với H1N1, sự chênh lệch giữa hai phía Đại Tây Dương là dài hơn vì lẽ thời gian chênh lệch này khoảng 1 tháng, nhưng động lực của dịch bệnh không bị xê xích đáng kể giữa cac nước có điều kiện y tế như nhau và chừng nào virus không biến dị.

Trong những ngày đến, chẳng bao lâu nữa, một bước quyết định sẽ được vượt qua trong sự hiểu biết của chúng ta về cúm A. Thật vậy, những phân tích đầu tiên séroprévalence chống virus H1N1 sẽ được công bố nầy mai. Trong lúc phát hiện các kháng thể chống lại H1N1 trong huyết thanh của một số lớn người, những phân tích này sau cùng sẽ cho phép biết với một mức độ chính xác tốt hơn số những người đã bị cúm, đồng thời bao gồm những người đã có thể đã bị nó mà không hay biết, nói một cách khác là những trường hợp không có triệu chứng. Hiện nay, những công trình nghiên cứu này chỉ được tiến hành trong hai nước trên thế giới : ở Anh và ở Pháp với các chương trình SéroGrippeHebdo và CoPanFlu, được lèo lái bởi Antoine Flahaut. Những công trình nghiên cứu này rất được chờ mong. “ Thật là lạ lùng khi thấy rằng, ngày nay chúng ta không có cả một ý niệm về quy mô của bệnh nhiễm trùng. Các nhà dich tễ học không biết là nhiễm trùng cúm đang ảnh hưởng lên 5%,10% hay 20% dân số ”, tạp chí Nature Xavier de Lamballerie, của đại học Aix-Marseille II, thực hiện các xét nghiệm huyết thanh cho nước Pháp, đã tâm sự như vậy.

MỘT ĐỨA TRẺ CHẾT 4 NGÀY SAU KHI ĐƯỢC TIÊM CHỦNG CHỒNG CÚM A.

Một đứa bé 9 tuổi bị chết, hôm thứ ba ở Haute-Loire, 4 ngày sau khi đã được tiêm chủng chống lại cúm A (H1N1). Hôm 4 tháng 12, nó đã nhận một mũi tiêm Panenza, vaccin không có chất bổ trợ, được sản xuất bởi hãng Sanofi Pasteur. 48 giờ sau đó, đứa trẻ bị sốt và có những rối loạn tiêu hóa quan trọng. Ngày mồng 8, nó bị khó ở (malaise) nghiêm trọng, cần sự can thiệp của Samu. Tử vong xảy ra 2 giờ sau đó. Các phân tích virus học và vi khuẩn học đang được tiến hành. Các yếu tố có được hiện nay không cho phép xác lập nguồn gốc của trường hợp tử vong này, cũng như không cho phép tuyên bố về vai trò khả dĩ của sự tiêm chủng, Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế Pháp (Afssaps) đã chỉ rõ như vậy. Cơ quan này đã cho phép đưa ra thị trường Panenza ngày 15/11 vừa qua. Một giải phẫu tử thi pháp y đã được thực hiện theo yêu cầu của Viện Kiểm Sát Puy-en-Velay.
(LE FIGARO 14/12 /2009) .

3/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI

(tiếp theo TSYH số 152)

TIÊM CHỦNG

39/ Các vaccin được chế tạo như thế nào ?

Nguyên tắc chế tạo của một vaccin chống cúm là phối hợp một giống gốc của một virus cúm không sinh bệnh đối với người và những yếu tố riêng của giống gốc, mà vaccin được hướng vào chống lại, nhằm gây nên một đáp ứng đặc hiệu của hệ miễn dịch. Các tái phối hợp, cho phép có được giống gốc vaccin, được thực hiện một cách cổ điển bằng cách cấy trên các trứng gà thụ tinh, nhưng cũng trên cấy tế bào.

40/ Vaccin có phải bị trả tiền không ?

Vaccin này sẽ được cấp theo chế độ tiers payant toàn bộ, không phải ứng trước chi phí, trong các trung tâm được dự kiến cho điều này. “ Các cơ quan bổ sung sẽ trả ticket modérateur ”, Bộ trưởng y tế Pháp Roselyne Bachelot đã xác nhận như vậy.

41/ Khi nào phải được tiêm chủng ? Có bị bắt buộc không ?

Có thể đi tiêm chủng một khi nhận được phiếu tiêm chủng của Caisse d’assurance-maladie, đồng thời tôn trọng một kỳ hạn 3 tuần nếu đã được tiêm chủng chống cúm mùa. “ Tất cả công dân Pháp đều nằm trên danh sách, bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot đã xác nhận như vậy, nhưng sự tiêm chủng không là bắt buộc. Một liều là đủ cho những người từ 18 đến 60 tuổi, nhưng đối với những người trẻ nhất thì phải hai liều.

42/ Ông chủ tôi có thể buộc tôi phải tiêm chủng hay không ?

Không. Tiêm chủng vào lúc này không bắt buộc.

43/ Nếu tất cả mọi người quanh tôi đều bị bệnh, thế thì tiêm chủng có còn hữu ích hay không ?

Trong trường hợp cúm mùa (grippe saisonnière), mà virus đã lưu hành trong dân chúng, có hai lý do khả dĩ để thoát khỏi sự nhiễm trùng : hoặc là ta đã được miễn dịch chống lại virus, và tiêm chủng khi đó là vô ích ; hoặc là ta đã chỉ thoát được sự lây nhiễm (contagion), nhưng sự lây nhiễm này có thể luôn luôn xảy đến. Lý luận này không còn đứng vững nữa trong trường hợp cúm A (H1N1), vì lẽ chưa có ai trước đây đã được tiếp xúc với virus. Vậy các người có nguy cơ phải được tiêm chủng trong tất cả các trường hợp.

44/ Bắt đầu từ lứa tuổi nào phải tiêm chủng cho các trẻ em ?

Trước 6 tháng, tiêm chủng chẳng ích lợi gì : hệ miễn dịch chưa được khá chín mùi để sự tiêm chủng có hiệu quả. Sau 6 tháng và trong những năm đầu của tuổi ấu thơ, sự tiêm chủng chống cúm mùa được thực hiện bởi nửa liều, và cần hai mũi tiêm kế tiếp nhau.

Về cúm A, tùy theo vaccin được sử dụng, sẽ phải cần hoặc là nửa liều hoặc là cả liều.

45/ Có phải áp dụng những biện pháp đặc biệt đối với các trẻ sơ sinh hay không ?

Các trẻ sơ sinh mỏng manh hơn khi đối diện với các nhiễm trùng, bởi về hệ miễn dịch của chúng đang trên đường phát triển. Nơi các trẻ sơ sinh, cúm có thể có những dạng khác : thí dụ bệnh có thể được biểu hiện bởi viêm dạ dày-ruột cấp hay bằng một cơn sốt đơn độc.

Các trẻ sơ sinh cũng dễ bị những biến chứng nghiêm trọng hơn và kéo dài hơn, như viêm phổi. Do đó lợi ích của các thuốc kháng virus, độc nhất dựa trên ý kiến thầy thuốc, có thể được cấp cho các nhũ nhi dưới 1 tuổi.

46/ Người ta có chắc chắn về hiệu quả của vaccin không ? Có các nguy cơ hay không ? Các tác dụng phụ ? Các chống chỉ định ?

Mặc dầu vaccin mới rất có thể là sẽ chứng tỏ hiệu quả chống cúm đại dich giống như các vaccin chống cúm mùa, nhưng vấn đề các phản ứng phụ tạo nên nhiều lo âu hơn, nếu ta xét đến bối cảnh khẩn cấp trong đó vaccin được chế tạo.

Liên Hiệp châu Âu đã cấp giấy phép đưa ra thị trường cho 3 vaccin : Focetria (Novartis) và Pandemrix (GlaxoSmithKline) và Celvapan (Baxter), được chế tạo từ các nguyên mẫu được hiệu chính chống virus H5N1. Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA) đã xác nhận rằng một sự thay đổi giống gốc như thế không làm biến đổi tính hiệu quả lẫn mức độ an toàn của một vaccin. Điều này đã không thuyết phục được tất cả những người trong ngành y. BS Marc Girard nói đó là một “ đánh giá đi tắt ” (une évaluation cout-circuitée).

Sự hiện diện của các chất bổ trợ trong phần lớn các vaccin đại dịch cũng đã gây nên tranh cãi, mặc dầu EMEA nhắc lại rằng một trong những chất bổ trợ này đã được sử dụng trong hơn 40 triệu liều mà không gây ra vấn đề quan trọng. Về phía mình, Haut Conseil de la santé publique vẫn rất thận trọng, chỉ rõ rằng “ về các chất bổ trợ loại huyền tương lipid, sự vắng mặt các dữ kiện về sự dung nạp lâu dài và triển vọng sử dụng một chất bổ trợ kích thích mạnh tính miễn dịch nơi những người có hệ miễn dịch đang trong quá trình thành thục (những trẻ em rất nhỏ) không phải là không nêu ra nhiều nghi vấn.

47/ Người ta có thể chọn loại vaccin : có hay không có chất bổ trợ ?

Các vaccin không có chất bổ trợ chống virus H1N1 được dành ưu tiên cho vài nhóm người được xem là dễ bị thương tổn hơn : các trẻ nhỏ, các phụ nữ có thai, những người bị suy giảm miễn dịch.

Phần lớn các vaccin được đặt hàng bởi Pháp là những vaccin với chất bổ trợ. Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế của Pháp (Afssaps) đã chỉ rõ rằng, vào cuối tháng 11, cơ quan sẽ chấp thuận vaccin không có chất bổ trợ, Panenza, của hãng Sanofi Pasteur.

48/ Thế cũng sẽ phải tiêm chủng chống cúm mùa không ?

Vaccin chống cúm mùa không có hoạt tính chống virus mới A(H1N1) và các vaccin chống cúm đại dịch không tạo miễn dịch chống lại cúm mùa. Vậy tiêm chủng chống cúm mùa vẫn được khuyến nghị, đặc biệt là đối với những người trên 65 tuổi và những người bị vài bệnh mãn tính. Cúm mùa giết chết từ 4000 đến 6000 người mỗi năm ở Pháp.

49/ Có nguy cơ khi được tiêm chủng bởi hai loại vaccin (chống cúm mùa và cúm đại dịch) ?

Không có nguy cơ đặc biệt khi nhận hai vaccin, chống cúm mùa và chống cúm đại dịch. Tốt nhất, hai vaccin phải được tiêm cách nhau 3 tuần.

50/ Ở Pháp người ta đã từng thực hiện một chiến dịch tiêm chủng quy mô như thế ?

Đã không có chiến dịch tiêm chủng với tẩm cỡ tương đương. Chiến dịch tiêm chuẩn duy nhất trước đây có thể so sánh là tiêm chủng các học sinh lớp 6 chống lại viêm gan B, được khởi động vào năm 1994. Với chiến dịch này, gần 500.000 trẻ em vào năm 1994-1995 và khoảng 700.000 trẻ em năm sau đó, đã được tiêm chủng. Chương trình tiêm chủng này đã bị đình chỉ vào năm 1998 vì các cuộc tranh cãi về những tác dụng phụ khả dĩ của vaccin.

51/ Thế còn trên thế giới ?

Chiến dịch tiêm chủng nổi tiếng nhất trước đây đã xảy ra vào năm 1976, ở Hoa Kỳ, sau dịch bệnh cúm heo H1N1, xảy ra ở căn cứ quân sự Fort Dix (New Jersey). Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford đã ra lệnh tiêm chủng toàn thể dân chúng, và 48 triệu người Mỹ (hoặc 1/3 dân số) đã nhận một vaccin được sản xuất dành cho dịch bệnh này. Vì sự lây nhiễm vẫn chỉ được giới hạn ở căn cứ quân sự của New Jersey, và vì giống gốc virus cuối cùng tỏ ra ít độc lực hơn cúm mùa, nên chiến dịch tiêm chủng sau đó bị đình chỉ. Nơi khoảng 500 người, vaccin gây nên một biến chứng thần kinh, hội chứng Guillain-Barré.

52/Trong trường hợp có các tác dụng phụ sau khi tiêm chủng, ai sẽ chịu trách nhiệm ?

Nếu các tác dụng phụ là do một khiếm khuyết của sản phẩm (vaccin bị ô nhiễm bởi một sự không trong sạch lúc sản xuất.), nhà công nghiệp sẽ bị quy trách nhiệm. Khi sự tiêm chuẩn đã được thực hiện bởi một thầy thuốc, theo pháp chế của sự trưng dụng, thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại được gây nên.

Luật dự kiến khả năng bộ trưởng y tế áp dụng những biên pháp khẩn cấp đứng trước một “ đe dọa trầm trọng ”. Nếu là như vậy, sự bồi thường thiệt hại thuộc về Office national d’indemnisation des accidents médicaux.
(LE MONDE 5/11 /2009)

4/ KHÔNG CÓ NHIỀU U NÃO HƠN MẶC DẦU SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI CẦM TAY.

Ở Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy điển, sự sử đúng điện thoại cầm tay (gsm) đã kinh qua một đỉnh cao bùng nổ từ giữa những năm 90. Nếu điện thoại với một máy điện thoại cầm tay gây nên một sự gia tăng tỷ lệ mắc phải u thần kinh đệm (gliome) và u màng não (méningiome), thì một cách hợp lý, ta sẽ phải thấy một sự gia tăng của các khối u này, Isabelle Deltour của Viện dịch tễ học về ung thư ở Copenhague đã giải thích như vậy.

Bà ta và các cộng sự viên đã phân tích các sổ ghi ung thư của Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển trong một thời kỳ kéo dài từ 1974 đến 2003 và họ đã đi đến kết luận như sau : từ năm 1974, người ta quan sát thấy một sự gia tăng nhẹ hàng năm của tỷ lệ của các u não nơi những người trưởng thành ở Scandinavie, nhưng sự gia tăng này không theo nhịp với việc sử dụng lũy tiến của các máy điện thoại cầm tay.

Tuy nhiên vẫn phải thận trọng khi xác nhận rằng không có một sự liên hệ nhân quả nào giữa các điện thoại cầm tay và các khối u não, các nhà nghiên cứu đã đánh giá như vậy. Các lời giải thích cho các phân tích nêu trên có thể được đưa ra : đúng là có một mối liên hệ nhân quả nhưng quá nhỏ nên không xuất hiện trong công trình nghiên cứu này nếu sự gia tăng chỉ xảy ra nơi một nhóm người đặc biệt. Đó là những người đặc biệt nhạy cảm hay có một cách sử dụng điện thoại đặc biệt. Những thời kỳ tiềm phục (5-10 năm) cũng có thể quá ngắn để thấy xuất hiện các khối u và như thế hậu quả này sẽ rõ ràng hơn sau này.

Suốt trong thời kỳ này (1974-2003), người ta đã chẩn đoán một u não cho mỗi 60.000 người đàn ông và đàn bà của các nước vùng Scandinavie, trên một dân số toàn thể là 16 triệu người trưởng thành. Tỷ lệ mắc bệnh u thần kinh đệm (gliome) gia tăng trung bình 0,5 mỗi năm nơi các người đàn ông và 0,2% nơi các phụ nữ. Đối với các u màng não (méningiome), có một sự gia tăng 0,8% mỗi năm nơi các đàn ông và, sau đầu những năm 90, một sự gia tăng 3,8% nơi các phụ nữ. Khuynh hướng gia tăng ổn định đã không bị gia tốc đột ngột giữa năm 1998 và 2003, một thời kỳ 5-10 năm, sau khi điện thoại cầm tay được đưa vào ồ ạt.

Như vậy, giữa năm 1974 và 2003, những tỷ lệ mắc bệnh của những loại u não này trong 4 nước Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển đã vẫn là ổn định, đã giảm hay đã tiếp tục gia tăng dần, nhưng đã bắt đầu trước khi điện thoại cầm tay xuất hiện.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 18/12 /2009)

5/ SCANNER TIM, PHUƠNG PHÁP THAY THẾ ĐỂ NHÌN THẤY CÁC ĐỘNG MẠCH VÀNH.

Các máy chụp hình ảnh này cho phép khảo sát các động mạch và tránh trong một vài trường hợp chụp động mạch vành (coronarographie).

CARDIOLOGIE. Đó là câu chuyện của một người đàn ông 50 tuổi đến ngân hàng để xin mượn một số tiền quan trọng. Mặc dầu anh ta cảm thấy rất mạnh khỏe, nhưng nhà ngân hàng này đòi hỏi anh ta một bilan tim, vì lẽ anh có những tiền sử nhồi máu cơ tim trong gia đình. Điện tâm đồ, được thực hiện trong thử nghiệm gắng sức (épreuve d’effort), phát hiện những bất thường rất nhỏ. Trong những trường hợp như thế có phải đi đến chỗ thực hiện một chụp mạch vành (angiographie coronaire, còn được gọi là coronarographie) hay không, nghĩa là có phải chịu một thăm khám xâm nhập để xem xét các thành trong của các động mạch tưới máu tim, thăm dò này không phải là không có những biến chứng. Thầy thuốc chuyên khoa tim khi đó đề nghị với bệnh nhân một scanner động mạch vành, một thăm dò tim tương đối mới, cho phép, nhờ các hình ảnh thu được bởi scanner và được tái tạo theo 3 chiều không gian, thấy được toàn bộ các động mạch vành và mức độ thông máu của chúng.

Trong trường hợp bệnh nhân này, xét nghiệm này đã phát hiện một chứng hẹp quan trọng của thân chung của động mạch vành trái (động mạch chính của tim), cần phải thực hiện phẫu thuật bắt cầu (pontage) nhanh chóng. “ Scanner tim đặc biệt hữu ích đối với những bệnh nhân có những yếu tố nguy cơ thấp hay trung bình, đối với họ một chụp động mạch vành (coronarographie) không nhất thiết là cần thiết, đã nói như vậy BS Jean-Louis Sabayrolles, đồng thời là thầy thuốc chuyên khoa tim và quang tuyến, người tiền phong trong nghiên cứu về các scanner tim (Centre cardiologique du Nord, Paris) và hiện đang làm việc với máy mới nhất được hiệu chính General Electric Healthe Care, cho phép làm giảm và đồng thời cải thiện chất lượng cùa hình ảnh và sự chính xác của chẩn đoán.

TRONG TRƯỜNG HỢP NGUY CƠ THẤP.

Ngày nay, tất cả các leader về chụp hình ảnh, đều có những máy chụp hình ảnh có khả năng khảo sát những động mạch vành quý báu mà không cần thiết bị xâm nhập. Các máy này, mà những nguyên mẫu đầu tiên có từ cách nay khoảng 10 năm, bắt đầu đạt trình độ thành thục, với khoảng 50 thiết bị trên lãnh thổ Pháp. Nhưng liệu chúng có cho phép chẩn đoán chính xác như chụp động mạch vành (coronarographie) hay không ? “ Có máy thôi không phải là đủ, BS Sablayrolles đã đảm bảo như vậy. Cần phải được đào tạo để sử dụng những kỹ thuật phức tạp này. Ngoài ra, hiệp hội tim và quang tuyến Pháp vừa thành lập một văn bằng liên đại học, dành cho các thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến và chuyên khoa tim, để cho phép họ không những làm việc cùng nhau, mà còn thụ đắc những năng lực cần thiết cho sự sử dụng máy và lý giải các các hình ảnh.”

Tháng 8 vừa qua, nhóm của Centre cardiologique du Nord (Paris) đã công bố một công trình nghiên cứu trong tạp chí Radiology, so sánh hiệu quả của scanner tim với hiệu quả của chụp động mạch vành (angiogrphie coronaire). Công trình này, được tiến hành nơi 124 bệnh nhân tình nguyện có các triệu chứng tim, nhằm thực hiện trong kỳ đầu một scanner tim và so sánh những kết quả của nó với những kết quả của chụp động mạch vành (coronarographie) được làm trong kỳ hai. Những kết quả hoàn toàn đáng phấn khởi, mặc dầu thăm khám bằng scanner tim không thể thay thế hoàn toàn thăm khám bằng chụp động mạch vành. “ Giá trị tiên đoán (valeur prédictive) âm tính là 100%. Điều này có nghĩa la khi kết quả thăm khám bằng scanner tim là bình thường, ta chắc chắn rằng không có bệnh lý động mạch vành, BS Sablayrolles đã giải thích như vậy. Ngược lại, đứng trước những hẹp động mạch vành mức độ trung bình (hẹp 40 đến 60% lòng của động mạch), scanner thiếu sự chính xác để định lượng mức độ của hẹp. Vào lúc đó, điều quan trọng là các kết quả của scanner tim phải được đối chiếu với các triệu chứng và những thăm dò tim học khác. Ngược lại, khi mức độ hẹp trên 60%, thi nhất thiết phải thực hiện một chụp động mạch vành với mục đích xác nhận chẩn đoán bệnh và đồng thời điều trị bằng làm giãn động mạch bị hẹp và đặt các stent .”

Thăm khám bằng scanner tim cần tiêm một chất cản quang bằng đường tổng quát. Thăm khám chỉ cần vài phút, thời gian thu được những hình ảnh nói riêng là rất ngắn. Theo các chuyên gia, thiết bị này (scanner tim) sẽ không thay thế tất cả các chụp động mạch vành, vì chính thăm dò này còn cho phép thực hiện một động tác điều trị. Nhưng trong vài trường hợp, scanner tim có thể tránh việc nhờ đến chụp động mạch vành nhất là trong những trường hợp không chắc chắn hay có nguy cơ thấp. Sau cùng, mặc dầu máy scanner tim trị giá khoảng 900.000 euro, nhưng đối với bệnh nhân phí tổn thăm khám là 150 euro, hoặc gần 10 lần thấp hơn so với chụp động mạch vành.
(LE FIGARO 9/12 /2009)

6/ CÁC BỆNH NHÂN ĐỘNG MẠCH VÀNH : THÀNH CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA CÁC TẾ BÀO GỐC.

Việc sử dụng các tế bào gốc mang lại nhiều hy vọng. Trong hội nghị vừa qua của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của GS Douglas Losordo (Cardiovascular Research Institute de Chicago) đã trình bày một công trình nghiên cứu vô cùng đáng phấn khởi : 167 bệnh nhân mạch vành, bị cơn đau thắt ngực nghiêm trọng, đã nhận các tế bào gốc được gọi là “ CD 34 ”, phát xuất từ tủy xương của chính họ và được biết là có khả năng kích thích sự tăng trưởng của những mạch máu nhỏ của cơ tim. Sau khi đã trích lấy từ tủy xương và thanh lọc, các tế bào gốc này được tiêm trở lại vào trong cơ tim của họ, trong 10 vị trí, đuợc xác định bằng một kỹ thuật cartographie của tim, cho phép định được những vùng cơ tim bị bệnh, có thể làm hồi phục được (còn sống) mặc dầu không được cấp đủ huyết quản. 12 tháng sau, và sau khi đã so sánh với những bệnh nhân đã nhận một placebo, những bệnh nhận được điều trị có một sự giảm đáng kể nhưng cơn đau thắt ngực, về thời gian cưng như tần số và một sự gia tăng gấp đôi hiệu năng của họ đối với gắng sức. Một sự thu giảm tỷ lệ tử vong cũng đã được ghi nhận.
(PARISMATCH 3/12-9/12 /2009)

7/ CÁC RỐI LOẠN NHỊP TIM : LẦN ĐẦU TÊN SỬ DỤNG ROBOTIQUE.

Các BS Patrice Bergeron và André Pisapia thuộc bệnh viện Saint-Joseph (Marseille) giải thích những lợi ích của “ công cụ ” mới này.

Hỏi : Trong số các rối loạn nhịp tim, tỷ lệ mắc bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire) là gì ?
BS André Pisapia : Rối loạn nhịp này là thường xảy ra nhất ở Pháp : 1% dân số bị bệnh trước 50 tuổi, rồi 4% sau 75 tuổi . Các triệu chứng được biểu hiện bởi hồi hộp, khó thở và tim đập không đều và nhanh.

Hỏi : Các nguy cơ của rung nhĩ là gì ?
BS Patrice Bergeron : Có hai nguy cơ chính : nghẽn động mạch (embolie artérielle) (thường nhất là ở não bộ) và suy tim, có thể gây nên phù phổi.

Hỏi : Những điều trị hiện hành là gì ?
BS André Pisapia : Để ngăn ngừa mọi nghẽn mạch (embolie), người ta bắt đầu với điều trị thuốc bằng các thuốc chống loạn nhịp và kháng đông (anticoagulant). Những điều trị này chỉ có hiệu quả trong 50% các trường hợp. Đối với những người đề kháng với điều trị, lúc đó ta nhờ đến kỹ thuật cắt bỏ bằng tần số phóng xạ (technique d’ablation par radiofréquence) (dòng điện xoay chiều). Mục đích của can thiệp này là phá hủy các vùng của tâm nhĩ trái, là nơi có những ổ (foyer) chịu trách nhiệm rối loạn nhịp tim.

Hỏi : Can thiệp diễn biến như thế nào ?
BS André Pisapia : Dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát, người thầy thuốc bắt đầu đưa vào một cathéter qua nếp bẹn, vào trong tĩnh mạch đùi. Rồi thì, dưới sự kiểm soát quang tuyến, ông ta đưa cathéter lên tận tâm nhĩ trái. Sau đó, trên màn ảnh, ông tái tạo cơ thể học 3 chiều của tâm thất này và định vị trí các ổ chịu trác nhiệm của bệnh rung nhĩ. Đó là một giây phút tế nhị bởi vì vài vùng khó đến được do những chỗ cong của đường đi và do tính cứng của cathétér. Chính ở đó có nguy cơ bị thủng (người ta thống kê 1 đến 2% trường hợp xuất huyết quanh tim, nhưng may thay là có thể hồi phục được, và 1 trường hợp nghẽn mạch trên 1000). Sau khi đã định vị trí, người thao tác, nhờ một cathéter, phát ra một dòng tần số phóng xạ, nhờ nhiệt, phá hủy những vùng chịu trách nhiệm chứng rối loạn này.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
BS André Pisapia : Trong 70% các trường hợp, đó là một sự thành công. 30% trường hợp còn lại, ta phải lên chương trình một can thiệp mới.

Hỏi : Phương pháp mới với sự sử dụng robot (robotisation) là gì ?
BS André Pisapia : Mục đích là thực hiện một sự định vị trí chính xác hơn nhiều của các vùng chịu trách nhiệm gây ra bệnh rung nhĩ, nhằm gia tăng tính hiệu quả của động tác, làm giảm các tái phát, nhưng cũng để tránh những nguy cơ xảy ra các biến chứng xuất huyết và nghẽn mạch. Mục đích này đã có thể đạt được với sự hiệu chính một robot thay thế bàn tay của người phẫu thuật. Robot được cấu tạo bởi một cánh tay có khớp (bras articulé), được kéo dài bởi một bao mang (gaine porteuse) mềm bằng silicone. Bao mang này, nhờ bao quanh cathéter, nên làm cho nó dễ uốn hơn và do đó dễ thao tác hơn. Động tác thứ nhất của can thiệp vẫn như thế, cathéter được nối với cánh tay có khớp của robot được đặt trên bàn mổ. Ngồi vào bàn chân quỳ (console), nơi đây một màn ảnh tạo lại lộ trình theo 3 chiều, người thầy thuốc điều khiển cánh tay có khớp, và cánh tay này sẽ dẫn hệ thống bao chứa cathéter lên đến tận tâm nhĩ trái. Sau đó người phẫu thuật xê dịch và hướng cathéter một cách rất chính xác! Sự nhanh nhẹn mới này làm giảm rất nhiều các nguy cơ, sự nhìn thấy phẫu trường được phóng đại mang lại sự chính xác nhiều hơn.

Hỏi : Thời gian nhìn lại với kỹ thuật robot hóa này ?
BS André Pisapia : Một công trình nghiên cứu, được chỉ đạo bởi G.S Natale thuộc đại học Austin (Texas) trên 200 bệnh nhân, đã ghi nhận những kết quả rất tốt không có biến chứng. Ở bệnh viện Saint-Joseph (Marseille), trên 25 bệnh nhân được điều trị đến nay, chúng tôi đã quan sát những kết quả y hệt.

Hỏi : Tương lai của robotique đối với những rối loạn nhịp tim ?
BS Patrice Bergeron : Vì lẽ các ưu điểm của nó, như mức độ chính xác cao của động tác, sự giảm các nguy cơ, sự giảm thời gian can thiệp, ít bị tiếp xúc với các tia X, nên kỹ thuật này, hiệu năng hơn nhiều so với bàn tay của con người, sẽ càng ngày càng được sử dụng.
(PARIS MATCH 10/12-16/12 /2009)

8/ VITAMINE D : BẢO VỆ TIM MẠCH.

Nhiều công trình nghiên cứu đã báo cáo sự hiện hữu của một mối liên hệ giữa việc thiếu hụt vitamine D và sự xuất hiện của một bệnh tim mạch. Mối liên hệ này được xác nhận bởi một thử nghiệm lâm sàng, đã theo dõi 27.686 bệnh nhân (50 tuổi hoặc hơn), ở Utah, xứ sở của những người theo giáo phái Mormon. Những người này uống ít rượu và ít hút thuốc lá hơn nhiều so với những người Mỹ còn lại, điều này làm công trình nghiên cứu có ý nghĩa hơn (ít bị interférence). Những người không có tiền sử tim mạch đã được chia thành 3 nhóm tùy theo nồng độ của vitamine D trong máu : bình thường, thấp, rất thấp. Thử nghiệm này đã được tiến hành bởi Viện tim của Intermountain Medical Center ở Murray, và những kết quả, ngoạn mục, được trình bày ở hội nghị vừa qua của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ. Sau một năm theo dõi, những người có nồng độ vitamine D rất thấp có một nguy cơ tim mach chết người được gia tăng 77%, nguy cơ tai biến mạch máu não gia tăng 78%, nguy cơ xuất hiện một bệnh động mạch vành gia tăng 45% và nguy cơ bị suy tim gia tăng 50% ! Các tác giả khuyến nghị nên đo nồng độ vitamine D của mình vào mùa đông và, nếu cần uống bổ sung viatmine D.
(PARIS MATCH 10/12-16/12 /2009)

9/ CÁC KHOA HỌC THẦN KINH (NEUROSCIENCES) GIÚP CÔNG LÝ ?

Việc sử dụng các hình ảnh não bộ trong các tố tụng gây tranh cãi.

PHÁP Y HỌC. Các kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale) hiện đại và, nói một cách tổng quát hơn, các khoa học thần kinh (neurosciences) liệu có một vị trí trong những tố tụng tư pháp hay không ? Nhiều nước đã trả lời dương tính cho câu hỏi này khi nhờ đến những phương pháp chụp hình ảnh não bộ để kiểm tra tính trung thực của các lời nói của một bị cáo hay để đánh giá mức độ trách nhiệm của anh ta. Ở Pháp, là nơi neurosciences đã chưa vượt qua khỏi các cánh cửa của các tòa án, chủ đề này vẫn còn nhạy cảm, không những vì những lý do mức độ đáng tin cậy về mặt khoa học của kỹ thuật mà còn vì những vấn đề đạo đức. Hôm qua, các nhà nghiên cứu, các quan tòa, các thầy thuốc và các chuyên gia khác đã điểm tình hình, nhân một séminaire được tổ chức bởi Centre d’analyse stratégique, trực thuộc phủ thủ tướng.

Cuộc bàn cãi không phải chỉ mới có từ hôm qua. Các polygraphe đầu tiên, hay những máy phát hiện nói dối, đã được phát triển ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1920. Nhanh chóng, mức độ đáng tin cậy cua máy đã bị tranh cãi, các nhà khoa học nhấn mạnh rằng các đo lường hóa học, sinh lý hay điện, được thực hiện bởi các máy này, có thể thể hiện những cảm xúc liên kết với những hành vi không phải phát xuất từ sự nói dối (bắt đầu là sự căng thẳng lúc được thăm khám). Tòa Án tối cao Hoa Kỳ cuối cùng đã cấm sử dụng các polygraphe (máy phát hiện nói dối) vào năm 1988, nhưng các nước như Canada vẫn luôn luôn sử dụng chúng. Nhất là, với sự xuất hiện của những máy phát hiện nói dối thế hệ mới, nhờ đến những kỹ thuật hiện đại chụp hình ảnh như IRM chức năng.

Nguyên tắc là phát hiện những biến đổi của hoạt động não bộ xảy ra do sự cố gắng nhận thức (effort cognitif) mà sự nói dối đòi hỏi. Đó không phải chỉ là nghiên cứu cơ bản. Vào năm 2008, ở Ấn Độ, phương thức này đã được dùng lần đầu tiên để lên án một phụ nữ trẻ bị buộc tội là đầu độc vị hôn phu của mình. Vì đã không phản ứng với câu “ tôi đã mua arsenic ” hơn là “ bầu trời màu xanh ”, nên người ta đã xem như, một cách lạm dụng, rằng bị cáo (chối bỏ các sự kiện) xem việc mua độc chất như là một sự việc được xác lập cũng như màu xanh của bầu trời . Đối với vài nhà khoa học Pháp, chính cái nguyên tắc của sự thăm khám mới tạo ra vấn đề. “ Máy phát hiện có thể báo cho biết rằng người đó nói sự thật, mặc dầu đó không phải là sự thật, nhà sinh học thần kinh Hervé Schneiweiss (CNRS) đã nêu lên như vậy. Dầu phương pháp là gì đi nữa, nó cũng không thay đổi cái niềm tin vững chắc của một người vào cái điều mà anh ta cho là đã trông thấy. Không có sự thật thần kinh (vérité neurale).

RẤT THẬN TRỌNG

Vấn đề tranh luận khác : các neurosciences phải chăng có thể chỉ dẫn về trách nhiệm của một kẻ phạm tội ? “ Ở Hoa Kỳ, các tòa án đã cho phép các thăm dò bằng IRM hay PET scan để chứng tỏ những thương tổn khả dĩ làm rối loạn hành vi ”, Christian Byk, thẩm phán tòa phá án Paris đã chỉ rõ như vậy.“ Các thương tổn ở vùng hốc mắt-trán (orbitofrontal), ở phía trước não bộ, có thể được thể hiện bởi những hành vi vô xã hội (comportement asocial) của những người nhiên hậu sẽ phải ra trước các tòa án ”, nhà sinh học thần kinh (neurobiologiste) Angela Sirigu (CNRS) đã xác nhận như vậy. Nhóm nghiên cứu của ông đã chứng minh rằng vùng này đóng một vai trò cơ bản trong các sự hối tiếc, tình cảm này có thể biến mất trong trường hợp bị các thương tổn.

“ Vài bất thường này của não bộ làm gia tăng nguy cơ có hành vi chống xã hội (comportement antisocial), điều này không có nghĩa là chúng đều dẫn đến các tòa án, BS Sébastien Tassy (đại học Aix-Marseille 2) đã phát biểu như vậy. Nhất là, phần lớn các hành vi chống xã hội là sự việc của những người có não bộ bình thường. ”

Một cách tổng quát hơn, nhà sinh thần kinh học nữ Catherine Vidal (Viện Pasteur) khuyến nghị hết sức thận trọng trong việc lý giải các IRM não bộ. “ Những thương tổn cơ thể học không nhất thiết có một ảnh hưởng lên chức năng, bà ta nêu lên như vậy đồng thời nhấn mạnh đến những tính chất dẻo (plasticité) của não bộ. Ngoài ra, thường không thể biết được các bất thường là nguyên nhân hay hậu quả của một hành vi sai lệch (comportement déviant). ”
(LE FIGARO 13/12 /2009)

10/ UNG THƯ BÀNG QUANG : COI CHỪNG THUỐC LÁ.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được tiến hành ở New Hampshire trong 20 năm, nơi hơn 2000 bệnh nhân, chỉ rõ rằng ung thư bàng quang tiến triển hằng định, chủ yếu là do thuốc lá. Thuốc lá nhân nguy cơ mắc phải ung thư bàng quang lên 5 lần nơi người hút thuốc, so với những người không hút thuốc. Nguy cơ vẫn tồn tại dài lâu sau khi đã ngừng hút thuốc. Nguy cơ giảm rõ rệt trong 5 năm đầu sau khi ngừng hút thuốc nhưng vẫn trên mức chuẩn cho đến 20 năm sau khi ngừng hút.
(PARIS MATCH 10/12-16/12 /2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (21/12 /2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#30 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 29 December 2009 - 05:38 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT ÍT LỊCH SỬ VỀ SỰ CHỐNG THỤ THAI.

Lịch sử của viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) tất nhiên liên kết với lịch sử của sự chống thụ thai (contraception). Tài liệu xưa cổ nhất bàn về sự chống thụ thai, papyrus để Kahun, đã có cách nay 4000 năm và mô tả các thuốc chống thụ thai với chất căn bản là bột men (levain), được sử dụng bởi các phụ nữ trong thời Ai Cập cổ đại. Sau đó, suốt trong nhiều thế kỷ, các túi dương vật (préservatif) bằng da cừu, dê, rắn,v...v đã được sử dụng trong nhiều xã hội, nhất là ở Pháp.

Kỷ nguyên chống thụ thai hiện đại đã bắt đầu với những nghiên cứu khoa học về chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ. Chính vào năm 1901, nhà sinh lý học người Áo Ludwig Haberlandt (1885-1932) đã thực hiện một khám phá chủ yếu : ông đã chứng minh rằng kinh nguyệt phụ thuộc vào các hormone (các hormone não bộ kích thích nang trứng FSH và thể vàng (LH) và những hormone buồng trứng oestradiol và progestérone), được sản xuất bởi não bộ và các buồng trứng. Vào năm 1921, nhà nghiên cứu này đã cho thấy rằng, việc tiêm các trích chất buồng trứng của thỏ có thai cho phép làm tuyệt sinh sản tạm thời, bằng cách ngăn cản hay làm chậm lại sự rụng trứng của người phụ nữ. Điều này đã khiến nhà nghiên cứu chế ra thuốc chống thụ thai bằng hormone (contraceptif hormonal) đầu tiên dưới dạng tiêm chích, chứa các hormone phát xuất từ sự thanh lọc các trích chất của buồng trứng. Những thuốc chống thụ thai đầu tiên này là quá đắt nên không thể được thương mãi hóa với quy mô lớn...

CÁC HORMONE TỔNG HỢP.

Chính vì thế mà Margaret Sanger, nữ y tá và người sáng lập kế hoạch hóa gia đình ở Nữu Ước, và Katherine Dexter McCormick, nhà sinh vật học nữ Hoa Kỳ, đã thuyết phục nhà sinh vật học và thầy thuốc Hoa Kỳ Gregory Pincus (1903-1967) phát triển một viên thuốc dễ phổ cập hơn. Chính Pincus đã nghĩ đến việc cho progestérone và oestradiol để phong bế sự rụng trứng. Ông đã có ý nghĩ đó sau khi đã thực hiện, một cách nhân tạo, sự ngăn cản rụng trứng bằng cách cho các động vật cái hai chất progestérone và oestradiol này.

Viên thuốc chống thụ thai có chất căn bản hormone tổng hợp đầu tiên đã có từ năm 1955. Vào năm 1956, viên thuốc này đã được trắc nghiệm trên 250 phụ nữ cư ngụ trong một vùng ngoại ô nghèo của Porto , trước khi Cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ cho phép thương mãi hóa nó vào tháng năm 1960.

Nếu ở Đức, viên thuốc chống thụ thai đầu tiên được phát hành ngay năm 1961 bởi hãng dược phẩm Đức Schering, thì ở Pháp, phải đợi đến năm 1967 viên thuốc này mới được bán ở các hiệu thuốc. Chính đạo luật của dân biểu Lucien Neuwirth đã bật đèn xanh để đưa thuốc bán ra thị trường, bãi bỏ đạo luật 30 tháng 7 năm 1920, khi đạo luật này, nhằm chấn hưng dân số, đã cấm mọi biện pháp chống thụ thai. Từ đó, các thành phần tổng hợp và các liều lượng của viên thuốc chống thụ thai đã thay đổi, bởi vì tất cả các phụ nữ không phản ứng như nhau đối với sự sử dụng loại thuốc này : cùng một viên thuốc chống thụ thai, vài phụ nữ cảm thấy nhiều phản ứng phụ trong khi những phụ nữ khác lại không cảm thấy một phản ứng nào.

LÀM GIẢM CÁC TRƯỜNG HỢP SẨY THAI.

Vào năm 1975, hãng Schering đã đưa ra thị trường “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilules minidosées) đầu tiên (cũng được gọi là “ minipilule ” ; 20 đến 30 microgramme oestrogène, thay vì 50). Những viên thuốc này đã dần dần thay thế những viên thuốc chống thụ thai có liều lượng mạnh, được gọi là những “ viên thuốc liều lượng bình thường ” (pilules normodosées), chứa các hormone tổng hợp, progestérone đơn độc hay kết hợp với oestrogène. Ưu điểm của “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilule minidosée) : thuốc có ít những tác dụng phụ hơn (lên cân, ứ máu ở vú, nguy cơ ung thư vú, ung thư cổ tử cung...).

Ngày nay, mỗi ngày có hơn 110 triệu phụ nữ dùng thuốc chống thụ thai thuộc loại này (pilules minidosées). Còn về viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), “ Norlevo ”, thuốc chống thụ thai này đã được đưa ra thị trường bởi hãng bào chế HRA Pharma ở Pháp (quốc gia đầu tiên cho phép lưu hành) vào tháng sáu 1999. Sự sử dụng thuốc này đã được dân chủ hóa bắt đầu từ năm 2000, khi Ségolène Royal, khi đó là thứ trưởng Bộ Giáo dục, đã mang lại cho nước Pháp đạo luật 13/12/2000, liên quan đến sự chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence). Đạo luật quy định rằng các thuốc chống thụ thai cấp cứu, vì đã được chứng tỏ về mặt an toàn, nên “ không phải cần toa bác sĩ ” nữa. Ngoài ra, bản văn của đạo luật này chỉ rõ rằng, các thuốc chống thụ thai cấp cứu (contraceptifs d’urgence) có thể được phát miễn phí “ cho các các thiếu nữ vị thành niên, mong muốn được giữ bí mật, trong các hiệu thuốc hay, trong trường hợp đặc biệt, bởi một nữ y tá, trong các trường học đệ nhị cấp ”, Mục tiêu của chính quyền lúc đó là để giảm các trường hợp sẩy thai. Đó là lý do tại sao từ đó viên thuốc của ngày hôm sau được bán tự do.

Đối với viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) EllaOne, Ủy ban châu Âu đã đồng ý cho phép để đưa ra thị trường vào tháng năm 2009. Sau đó viên thuốc bé nhỏ màu trắng này đã được trình bày, dành riêng cho thế giới, tại Hội Nghị Châu Âu lần thứ 8 của Hiệp Hội Phụ Khoa, được tổ chức ở Rome từ 10 đến 13 tháng 9. Từ 24/9, bởi vì Cơ quan các dược phẩm của Châu Âu đã bật đèn xanh cho phép đưa thuốc này ra thị trường, nên người ta có thể mua nó với toa bác sĩ nơi các hiệu thuốc ở Pháp, Đức và Anh. Trong tương lai, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau, viên thuốc của ngày hôm sau nữa sẽ được bán tự do, sau khi thuốc đã được chứng tỏ về mặt an toàn.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 98 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/10/2008 )

1/ CÁC PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI QUA THỜI GIAN

Tùy theo thời kỳ và nơi chốn, ước muốn giới hạn sinh đẻ được thể hiện vì những lý do dân số, đạo đức, thẩm mỹ hay một cách giản đơn là để tách sự khoái lạc với sự sinh sản. Dầu thế nào đi nữa, trong bất cứ thời kỳ nào và trong tất các các nền văn minh, sự ngừa thai là một bộ phận của cuộc sống hàng ngày và tạo nên một mối quan tâm quan trọng. Do đó con người đã tưởng tượng ra rất nhiều phương pháp để cứu chữa những hậu quả không được mong muốn của động tác giao hợp. Từ những phương thức êm ái nhất đến những phương cách thô bạo nhất, sau đây là một sơ lược những phương tiện ngừa thai ngày xưa.

Những tài liệu bắt đầu có từ hơn 4000 năm chỉ rõ rằng những người cổ Ai Cập sử dụng các viên đạn âm đạo (suppositoires vaginaux), được cấu tạo bởi bột men (pâte de levain), mật hay phân cá sấu để bảo vệ chống lại một thai nghén không được mong muốn.Tuy nhiên, người ta xác nhận rằng các sản phẩm này phải được đưa vào trong âm đạo trước khi giao hợp, điều này tạo nên một sự kiện đáng lưu ý vào thời kỳ đó, nhưng tiếc thay rất mau bị chóng quên vì lẽ hầu hết các phương pháp về sau này đều được quy định dùng sau khi sinh. Để bảo vệ chống lại các bệnh phong tình, các người lính Ai cập che phủ bộ phận sinh dục của họ bằng ruột cừu và như thế cho ra đời những túi dương vật (préservatif) đầu tiên, 3000 năm trước công nguyên.

Những phương pháp khác còn được mô tả trong papyrus de Berlin (1.300 trước công nguyên), trong đó người ta nhận thấy những chỉ dẫn về một sự hun khói (fumigation) kết hợp với một hỗn hợp gồm có mỡ, cỏ và bia ngọt để uống vào lúc thức dậy, suốt trong 4 ngày ! Có lẽ hiệu quả hơn : những phụ nữ Ai Cập không do dự đưa vào trong âm đạo của họ một nửa của quả trái cây được khoét rỗng để che phủ cổ tử cung, mặt khác, dạng mũ cổ tử cung (cape cervicale) này có lẽ đã được chính Cléopâtre sử dụng.

LÀM MAU LÊN CHỨ !

Trong thời cổ Hy lạp, các thầy thuốc cho toa các công thức pha chế phát xuất từ cổ truyền dân gian. Soranos d’Ephèse và các đồ đệ chủ trương, nơi những phụ nữ quá trẻ hay có cuộc sống bị đe dọa nếu có thai, không được làm sẩy thai, mà phải sử dụng những phương pháp nhằm không để cho tinh dịch của người đàn ông đi vào trong tử cung. Để được như vậy họ cho những lời khuyên rất chính xác như đưa vào trong tử cung những thuốc đạn (suppositoire) chứa những sản phẩm có tác dụng làm thắt chặt cổ tử cung (nghệ, acacia, mandragore...) hoặc đóng lối vào của cổ tử cung với các nút (tampon) bằng len. Họ cũng khuyên các phụ nữ đứng dậy ngay sau mỗi lần giao hợp, hách xì, bước, nhảy, làm những cử động thô bạo và đừng do dự khi phải bước lên các xe bò (tình trạng đường xá thời đó rất thuận lợi cho những rung chuyển !). Nếu, mặc dầu những lời khuyên này, tinh trùng vẫn đi vào tử cung, Soranos chủ trương trích máu (saignée) nhưng thường tránh làm sẩy thai. Các loại thuốc sắc (tisanes) khác nhau còn được pha chế và tiêu thụ vì những tính chất ngừa thai. Trong số những thuốc sắc này, chúng ta hãy kể dầu olive, dây thường xuân (lierre), cây liễu, cây phong (peuplier), cây thông tuyết (cèdre), bạc hà cay (menthe poivrée), cây đào gai (aubépine). Việc kiêng nhịn (abstinence) trong những thời kỳ sinh sản dĩ nhiên được khuyên nhủ mặc dầu bây giờ chúng ta biết rằng tiền nhân hiểu lầm về chu kỳ kinh nguyệt. Những người La mã sử dụng cùng những phương thức, đồng thời nhờ đến thụt rửa âm đạo sau giao hợp (douche vaginale postcoitale). Để làm được điều đó, các nhà quý tộc phải nhờ đến một người nô lệ sau mỗi lần giao hợp. Họ cũng chế tạo một loại túi dương vật được cấu tạo bởi ruột và bàng quang động vật. Điều kỳ lạ là thời Thượng Cổ người ta không đề cập đến phương pháp rút dương vật (retrait), mặc dầu thoạt nhìn điều này rất là hiển nhiên. Tuy nhiên phương pháp rút dương vật này được ghi chú trong Thánh kinh với câu chuyện Oran, trong Talmud và nơi những người musulman.

TRIỆT ĐỂ HƠN : GIẾT CON MỚI ĐẺ

Dĩ nhiên những người thời xưa đã không luôn luôn có thể làm chủ được việc sinh đẻ như họ mong muốn, do đó họ đã dùng một phương pháp triệt để hơn nhiều, đó là giết con mới đẻ (infanticide) ! Đó là chuyện thường xảy ra ở thời Thượng cổ, là thời người ta ít coi trọng cuộc sống của các trẻ em. Dầu đó là Hippocrate, Soranos hay Platon, tất cả đều nhất trí xét đoán “ những trẻ nào nên được nuôi nấng dạy dỗ ” . Hãy nhắc lại rằng, ở Rome người cha có quyền sanh sát đối với các con mình và tuyên bố, vài ngày sau khi sinh, ông ta sẽ giữ lại để nuôi dưỡng trẻ vừa mới được sinh ra đời hay không. Chính những người Do thái có lẽ quyết định không thực hiện việc giết trẻ con sau khi sinh nữa.Vào thế kỷ thứ VI, Mahomet cấm điều đó trong khi ở Châu Âu việc này được hủy bỏ bởi Charlemagne vào thế kỷ thứ VIII. Vào thời Trung Cổ, còn những phương pháp khác xuất hiện và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nhưng, nếu người ta loại trừ những dây nịt tiết trinh (ceintures de chasteté), thì phương pháp ngừa thai trong thời kỳ này không tiến triển được bao nhiêu vì bị kềm hãm bởi Giáo Hội Cơ Đốc. Thật vậy, ngay vào thời kỳ đầu của đạo Cơ Đốc, suốt trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội căn cứ hôn nhân trên sự sinh đẻ và lên án sự khoái lạc và sự ngừa thai. Về sự việc này ít có văn bản chỉ cho chúng ta thấy dân chúng thời Trung cổ kiểm soát sinh sản như thế nào, nếu họ dám làm ! Không nên quên rằng vào thời kỳ này, mọi phương thức ngừa thai, gồm cả rút dương vật (retrait), đều được xem như là một tội phạm và sẽ bị trừng trị. Vậy chính ở Châu Á là nơi mà các túi dương vật (préservatifs) tiến triển. Những túi này được chế tạo bằng giấy lụa dầu (papier de soie huilée) ở Trung Quốc và bằng vảy rùa (écaille de tortue) hay bằng da thuộc (cuir) ở Nhật bản, nơi đây túi dương vật mang tên Kabuta-gata.

TÚI DƯƠNG VẬT THỜI TRANG

Ở châu Âu, phải đợi đến thế kỷ XVI và sự bùng nổ của bệnh giang mai thì các lính trận mới chịu bảo vệ lấy mình. Nhà cơ thể học và giải phẫu học người Ý Gabriel Fallope phát minh một loại bao bằng vải nhẹ, được tẩm một thứ nước sắc gồm có cỏ và nước miếng, mà ông gọi là túi dương vật (sac pénien).

Vào thế kỷ XVII, túi dương vật được làm bằng lụa hoặc nhung và được trang trí bởi một đai màu giữ nó vào vị trí. Từ nay túi dương vật này là một phần của hoạt động sinh dục và trở nên một vật phụ thời trang của những nhà quý tộc và ngay cả của vua chúa.

CHANH KHOÉT RỖNG HAY TÚI DƯƠNG VẬT?

Vào thế kỷ sau, người Venise Giacomo Casanova, nổi tiếng về những tình nhân, đã quảng cáo về chanh được khoét rỗng (citron évidé) và về túi dương vật, hai phương pháp mà ông sử dụng rộng rãi để chống lại những hậu quả của cuộc đời “sôi động” của ông. Chính Casanova đã đặt tên “capote anglaise” (chiếc áo khoác Anh) cho cái khúc ruột (bout de boyau) này, lúc nói rằng “tôi phải giam mình trong một khúc da chết (un bout de peau morte) để chứng tỏ rằng tôi đúng là còn sống”. Nữ hầu tước Sévigné đã định nghĩa túi dương vật như sau: “Đó là một áo giáp chống khoái lạc và một mạng nhện chống nguy hiểm”. Đúng là bao dương vật chưa tiện nghi lắm cũng như chưa được tin cậy lắm. Rửa âm đạo (douche vaginale) với alun, sulfate kẽm, muối Eratus, dấm và chlorure de soude, thời đó được sử dụng nhưng luôn luôn sau động tác giao hợp. Những ống tiêm đầu tiên và các dụng cụ để tiêm âm đạo xuất hiện. Cần ghi nhận rằng chậu rửa đít (bidet) xuất hiện ở Pháp vào thời đó, phần lớn được dùng để rửa chân...

ÁO KHOÁC BẢO ĐẢM 5 NĂM.

Việc sử dụng và sự thương mãi của túi dương vật được hợp pháp hóa sau Cách mạng Pháp. Vào giữa thế kỷ XIX, hãng Goodyear Tire and Rubber phát minh túi dương vật bằng cao su, có thể rửa được và được bảo đảm năm năm! Như thế, sau mỗi lần sử dụng, áo choàng (capote) được rửa, sấy khô và rắc tan. Người ta cũng gọi túi dương vật là “đối thủ bảo vệ”, “túi khoái lạc”. Năm 1880, túi dương vật bằng latex đầu tiên được sản xuất và những tiến bộ đáng kể về màng ngăn (diaphragme) xuất hiện. Cùng năm, Walter John Rendell, dược sĩ Luân Đôn, hiệu chính một vòng đỡ (pessaire), được cấu tạo bởi quinine và bơ cacao, dễ tan ở đáy âm đạo. Phương pháp này giành được thành công nhanh chóng và được phân phát khắp toàn thế giới. Vào đầu thế kỷ XX, nhiều phương pháp ngừa thai xuất hiện. Chúng ta có thể kể phương pháp Ogino, mang tên thầy thuốc người Nhật đã phát minh ra nó. Sự kiêng không giao hợp được khuyên giữa ngày thứ 12 và 16 của chu kỳ kinh nguyệt và phương pháp này đã sinh ra hàng ngàn em bé Ogino ! Còn phương pháp Knauss nhằm định ngày phóng noãn bằng cách theo dõi nhiệt độ, thì lại tỏ ra có hiệu quả đối với những người muốn mang thai hơn là đối với những người muốn được bảo vệ. Sau đó là sự xuất hiện của vòng ngừa thai (stérilet) và thuốc ngừa thai (pilule contraceptive). Vào năm 1961, túi dương vật được bôi trơn (préservatif lubrifié) đầu tiên được đưa ra thị trường.

Còn việc chống thụ thai ở nam giới thì sao? Có chứ, ngoài túi dương vật, đàn ông cũng tham gia kiểm soát sinh đẻ từ những năm 70! Tuy nhiên từ slip làm nóng đến các dược phẩm hormone mới, còn cần phải thực hiện những tiến bộ quan trọng. Suốt trong nhiều thế kỷ, các phương pháp ngừa thai và phá thai đã dựa trên những kiến thức thường sai lầm về cơ thể học và sinh lý học! Dĩ nhiên, trước khi nghĩ đến sự ngừa thai... phải tự hỏi về sự thụ thai! Nguồn: (SEMPER 5/2008)

2/ VIÊN THUỐC CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA.

Đó là một cuộc cách mạng nhỏ về chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence) : mười năm sau khi tung ra thị trường viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), cho phép tránh có thai ngoài ý muốn sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ (vỡ túi dương vật, quên uống thuốc), giờ đây là “ viên thuốc của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain). Ở Pháp EllaOne đã được bán từ cuối tháng chín : viên thuốc màu trắng 30 mg có tác dụng cho đến 5 ngày sau giao hợp, với một tỷ lệ hiệu quả không bị mang thai trung bình hơn 98%. Nhưng, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau (hay Norlevo), tính hiệu quả này giảm dần với thời gian.

THUỐC NGỪA THAI CẤP CỨU.

Cho phép chống lại có thai ngoài ý muốn và do đó chống lại sẩy thai (200.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp), sự chống thụ thai cấp cứu cho đến nay được thực hiện dưới dạng Norlevo trong nhiều nước trên thế giới : Nam Phi, Algérie, Anh, Bỉ, Pháp, Israel, Maroc, Mễ tây Cơ...và từ 22/4/2009 ở Hoa Kỳ đối với những người trên 17 tuổi ! Không nên lẫn lộn giữa sự chống thụ thai cấp cứu, cho phép tránh bị mang thai, do đó được sử dụng khi có một xét nghiệm thai nghén dương tính, với viên thuốc làm sẩy thai (pilule abortive) RU 486, được đưa vào Pháp năm 1988 và có thể sử dụng trong trường hợp có thai được xác nhận để gây nên sẩy thai...

Ở Pháp, mỗi năm, cứ 3 phụ nữ có một bị nguy cơ có thai ngoài ý muốn. Số lượng lý thuyết của các giao hợp có nguy cơ liên kết với việc quên uống thuốc được ước tính không dưới 22 triệu mỗi năm. Và mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc chống thụ thai cấp cứu được bán ra.

Một cách cụ thể, hoạt chất của EllaOne, một phân tử tổng hợp được gọi là “ ulipristal acétate ”, gắn vào các thụ thể của hormone sinh dục progestérone, nơi não bộ và các buồng trứng. Như thế, nó ngăn cản các thụ thể này kích thích sản xuất các protéine (đặc biệt là hormone “ LH ”), đóng một vai trò trong việc chương trình hóa của sự rụng trứng và sự chuẩn bị niêm mạc tử cung để tiếp nhận trứng thụ tinh. Phân tử “ levonorgestrel ”, được chứa trong viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) và các progestatifs của viên thuốc chống thụ thai, đều có cùng cơ chế hoạt động như vậy. Nhưng nhờ cấu trúc phân tử đặc biệt, gây một sự tương tác khác với thụ thể của progestérone, nên EllaOne, trái với Norlevo và viên thuốc ngừa thai, tác dụng ngay cả khi quá trình rụng trứng đã được khởi động.

CẦN ĐƠN THUỐC BÁC SĨ.

Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) chỉ được cấp với toa thuốc của bác sĩ : một biện pháp an toàn đối với tất cả các loại thuốc mới, trước khi được bán tự do, phải chứng tỏ tính an toàn trên một số lượng lớn các bệnh nhân. Được bào chế bởi hãng HRA Pharma (cũng sản xuất Norlevo), EllaOne (viên thuốc của ngày hôm sau nữa) giá đắc hơn viên thuốc của ngày hôm sau (Norlevo) : gần 50 euro thay vì 7,50 euro. Vào lúc Norlevo được đưa ra thị trường vào năm 1999, hoạt chất của EllaOne tung đã được chế tạo bởi viện dược phẩm Hoa Kỳ, Research Triangle Institute. Nhưng đã phải cần 10 năm để hãng HRA Pharma, sau khi được các quyền thế giới về thuốc này, mới thực hiện tốt một số tối thiểu các công trình nghiên cứu về tính hiệu quả và mức độ an toàn của sản phẩm trên người. EllaOne đã được trắc nghiệm trên 4000 phụ nữ khi những người này đòi hỏi một ngừa thai cấp cứu giữa 2 và 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ hay được bảo vệ kém. Kết quả : chỉ 1,6% là có thai. Vào lúc này, HRA Pharma không dự kiến loại thuốc ngừa thai cấp cứu hiệu quả hơn, nhưng suy nghĩ đến khả năng sử dụng hoạt chất của EllaOne để chống lại một vài bệnh tật.

VÀ NGÀY MAI ?

Theo Philippe Bouchard, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết của bệnh viện Saint-Antoine(PARIS), làm việc với nhiều hãng dược phẩm về sự chống thụ thai. “ Vào lúc này, không có những công trình nghiên cứu về một thuốc chống thụ thai cấp cứu hiệu năng hơn EllaOne ”. Ngược lại, nhà chế tạo thuốc EllaOne cố gắng xác định xem chất hoạt hóa của viên thuốc ngừa thai này (ulipristal acétate) có thể có hiệu quả chống lại vài bệnh của phụ nữ hay không, mà vài nghiên cứu đầu tiên trên động vật hay người cho phép nghĩ như vậy. Đặc biệt đó là trường hợp u xơ tử cung (fibrome). Khối u này, phát triển từ cơ của tử cung, thường là hiền tính, nhưng đôi khi nó có những triệu chứng rất bất lợi : gây bệnh cho 20 đến 40% các phụ nữ từ 30 đến 45 tuổi, căn bệnh này có thể gây nên những kinh nguyệt thường xuyên và nhiều, các cơn đau vùng hố chậu, đau bụng quặn, trướng bụng, thậm chí những vấn đề về khả năng sinh đẻ. Đến nay, điều trị u xơ tử cụng có thể cần đến phẫu thuật cắt bỏ, một can thiệp ngoại khoa nặng nề, đòi hỏi nhập viện nhiều ngày.

MỘT HOẠT CHẤT RẤT HOẠT TÍNH.

Thế mà các công trình nghiên cứu đầu tiên trên người đã cho thấy rằng hoạt chất của EllaOne có thể “ làm tan ” các khối u xơ tử cung. Do đó có thể tưởng tượng rằng một ngày nào đó có thể thay thế phẫu thuật nặng nề cắt bỏ u xơ bằng uống một viên thuốc đơn thuần ? Các kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi nhưng cần ít nhất 4 năm nghiên cứu để xác nhận chúng.

Căn bệnh khác có thể một ngày nào đó được điều trị bằng viên thuốc của ngày hôm sau nữa : ung thư vú.

Tuy nhiên các nghiên cứu đến nay đã không vượt qua giai đoạn thí nghiệm trên động vật. Viên thuốc chống thụ thai này cũng có thể hiệu quả chống lại bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose), một bệnh phụ khoa tiến triển, gây bệnh cho 10 đến 15% các phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ, và được biểu hiện bởi những cơn đau vùng chậu dữ dội, ra nhiều kinh kỳ, và ngay cả có thể dẫn đến vô sinh. Sau cùng, hoạt chất của EllaOne có thể dùng để điều chế một thuốc chống thụ thai chính quy. Nhưng lại nữa, không có thông tin chính xác nào được đưa ra , bí mật công nghiệp buộc phải thế.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

Đọc thêm :

3/ DIANE DE POITIERS, CHẾT VÌ ĐÃ MUỐN TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ.

Các sợi tóc của bà Diane de Poitiers chứa những nồng độ vàng rất cao, một nguồn thuốc nước thanh xuân (élixir de jouvence) mà bà đã uống đều đặn vào mỗi sáng lúc ngủ dậy.

PHÁP Y HỌC. Có lẽ chính vì muốn tìm kiếm sự vĩnh hằng mà Diane de Poitiers đã bị thiệt mạng. Qua đời vào năm 1566 ở lứa tuổi 66, người nhân tình của vua Pháp Henri II có lẽ đã tự gây ngộ độc bởi vàng khi bà sử dụng chất này để cố giữ cho trẻ và đẹp mãi, các nhà nghiên cứu người Pháp, đã tiết lộ như vậy. BS Philippe Charlier, thuộc khoa Pháp Y của bệnh viện Raymond-Poincaré de Graches, và các đồng nghiệp của ông, sau khi phân tích các sợi tóc và các chất cặn trong mô của bà ái phi Diane de Poitiers, đã công bố các công trình nghiên cứu của mình trong British Medical Journal.

Được kê đơn rộng rãi vào thế kỷ XX bởi các thầy thuốc nhằm làm thuyên giảm bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), thật vậy, vàng đã từng được ca tụng ngay cả vào thời Thượng Cổ vì được cho là có khả năng làm tái sinh. Vào thế kỷ XIV, Philippe Charlier nhấn mạnh, các dung dịch vàng uống được đã rất được biết tiếng ở triều đình Pháp. Alexandre de La Tourette đã cung hiến ngay cả bài diễn văn ngắn ngủi của mình về các tính chất tuyệt diệu của vàng uống được cho vua Henri III. Ngày nay các nhà chế tạo mỹ phẩm đưa các hạt của chất kim loại quý báu này vào trong các kem nhằm chống tuổi già (crème anti-age). Và các thầy thuốc chuyên khoa về thẩm mỹ học mạng da bằng các chỉ vàng để lấp đầy các nếp nhăn và cải thiện sự giãn da (relachement cutané).

HỘI CHỨNG NGỘ ĐỘC MÃN TÍNH.

Diane de Poitiers phải chăng muốn gìn giữ vẻ thanh xuân và sắc đẹp của mình vì tình yêu đối với Henri II (nhỏ hơn 20 tuổi) hay để tiếp tục tập luyện cật lực các môn thể thao mà bà ưa chuộng (bơi lội, săn bắn và cỡi ngựa) ? Từ nay dường như người ta biết được chắc chắn rằng bà ái phi của vua Henri II đã bị chết vì các ảo tưởng về chất vàng uống được, khi bà uống đều đặn “ nước canh ” của chất kim loại này vào mỗi buổi sáng, như nhà văn Brantome đã gợi ý. Mặt khác, nhà văn này đã ghi nhận rằng, vào lúc cuối cuộc đời mình, bà nữ công tước của Valentinois “ có vẻ mặt đẹp biết bao, tươi mát biết dường nào và cũng dễ thương biết mấy như còn ở lứa tuổi 30 ”. Tuy nhiên còn cần phải chứng minh về mặt khoa học việc tiêu thụ vàng mãn tính này. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu người Pháp đã thực hiện lúc phân tích một mớ tóc của Diane de Poitiers, được bảo tồn trong lâu đài Anet (Eure-et-Loir), nơi bà đã từng cư ngụ. Họ cũng đã nghiên cứu các chất bã phân hủy của bà ái phi, đã được nhận diện vào năm 2008 lúc các khai quật khảo cổ ở nghĩa trang Anet. Theo truyền thống, các hài cốt được ướp xác đã được chôn trong lòng đất bởi các nhà cách mạng vào năm 1795, sau khi họ đã làm uế tạp quan tài của bà.

Các khám nghiệm độc chất học đã tìm thấy những nồng độ vàng rất cao, 500 lần trị số trung bình, trong các sợi tóc. Theo các tác giả, một nồng độ như thế, trên bình diện lâm sàng, có thể tương ứng với một hội chứng ngộ độc mãn tính vàng với các rối loạn tiêu hóa (ăn không ngon, nôn, mửa, tiêu chảy), các sợi tóc mỏng đi, sắc da xanh tái (do thiếu máu), xương dễ vỡ. Những trường hợp tử vong do ngộ độc này đã được mô tả trong tư liệu y học. Thật vậy, Diane de Poitiers đã có những triệu chứng này. Mặc dầu hoạt động tích cực ở ngoài trời, bà vẫn được mô tả như là xanh xao. “ Các sợi tóc của bà thanh mịn và dễ gãy, xương bà dễ vỡ và bà gần như rụng răng gần hết ”, Philippe Charlier đã nói thêm như vậy. Ông xác nhận rằng đây không phải là do bị ô nhiễm. Vì không phải là hoàng hậu, nên bà ái phi Diane de Poitiers đã không mang vương miện bằng vàng, và như thế các sợi tóc và mô của bà ít có khả năng bị ô nhiễm bởi các nữ trang khác. Ngoài ra, vàng không được sử dụng vào những lúc ướp xác.

Các công trình của những người Pháp đã cho phép rút ra những kết luận khác rất lý thú đối với lịch sử y khoa. Vào năm 1565, Diane de Poitiers, vốn là nữ vận động viên thể thao giỏi, đã được điều trị bởi thầy thuốc ngoại khoa nổi tiếng Ambroise Parré vì một gãy xương hở của cẳng chân sau khi bị ngã ngựa. “ Sự thăm khám các xương, được lành sẹo tốt, không bị viêm màng xương (périostite) và gần như không bị mất đi chiều dài, cho thấy rằng Ambroise Parré, nhà tiền phong trong kỹ thuật rửa sạch các vết thương, đúng là làm việc một cách đúng đắn, Philippe Charlier đã nêu lên như vậy. Đối với ông, đúng là Ambroise Parré, người cha đẻ của môn ngoại khoa hiện đại, cũng là người báo trước trong lãnh vực răng giả tháo lắp được (prothèses dentaires amovibles), đã làm cho bà bệnh nhân nổi tiếng của mình hưởng được những thành quả này. Điều này giải thích tại sao Diane de Poitiers, môn đồ của thói ăn chơi của giới thượng lưu, đã có thể tiếp tân, cho mãi đến tận cuối đời mình, mặc dầu răng đã rụng gần hết. Sau khi đã tiết lộ tất cả các bí quyết của mình, Diane de Poitiers chẳng bao lâu hẳn lại được nằm yên nghỉ lần nữa.
(LE FIGARO 23/12/2009)

4/ VITAMINE D VÀ CÁC LÃO NIÊN : GIẢM NGUY CƠ TÉ NGÃ.

Cơ giàu các thụ thể tế bào đối với vitamine D, do đó vitamine này có một tác dụng trực tiếp lên sức mạnh của cơ. Một phân tích méta Hoa Kỳ-Thụy Sĩ, lấy lại những kết quả của 8 công trình nghiên cứu được tiến hành nơi 2.426 lão niên trên 65 tuổi hoặc hơn, cho thấy rằng sự cung cấp, trong vòng ít nhất 3 tháng, một liều lượng vitamine D đi từ 700 đến 1.000 đơn vị quốc tế mỗi ngày, làm giảm khoảng 20% nguy cơ bị té ngã.
(PARIS MATCH 22/10-28/10/2009)
Đọc thêm :

5/ CÁC PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ H1N1 : NHỮNG THẬN TRỌNG CẦN THIẾT.

GS Dominique Luton, tổng thư ký của Collège national des gynécologues et obstétriciens, chỉ rõ cho các bà mẹ tương lai những biện pháp cần thực hiện

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tại sao người ta khuyến nghị các phụ nữ có thai tiêm chủng chống bệnh cúm H1N1 ?
G.S Dominique Luton : Với thời gian nhìn lại và các kết quả khác nhau của những công trình nghiên cứu mà chúng ta có được hôm nay, về các nhóm dân trên thế giới đã phát triển một dạng nghiêm trọng của bệnh cúm này, chúng ta đã quan sát thấy rằng những phụ nữ có thai là những người có nguy cơ mắc phải bệnh cúm A thể nặng. Do đó cán cân lợi ích-nguy cơ ngã về phía sự chủng ngừa.

Hỏi : Có sự khác nhau nào giữa vaccin có chất bổ trợ (adjuvant) và vaccin không có chất bổ trợ ?
G.S Dominique Luton : Vaccin có chất bổ trợ bao gồm một chất làm gia tốc quá trình của sự sinh miễn dịch : nó “ doper ” những cơ quan phòng ngự của cơ thể chống lại virus H1N1. Tác dụng của nó, mạnh hơn, gây nên một phản ứng viêm nào đó của hệ miễn dịch. Vì vậy, người ta ưa thích tiêm một vaccin không có chất bổ trợ nơi phụ nữ có thai hơn. Phản ứng này, mặc dầu tạm thời, nhưng có khả năng gây nên những phản ứng phụ hiếm. Những vaccin không có chất bổ trợ không phải vì thế mà kém hiệu quả hơn !.

Hỏi : Vaccin không có chất bổ trợ này được tiêm một hay hai mũi ?
G.S Dominique Luton : Sơ đồ tiêm chủng đã được biến đổi và hiện nay bao gồm một mũi tiêm duy nhất.

Hỏi : Những tác dụng phụ được quan sát nơi những phụ nữ có thai là những tác dụng nào ?
G.S Dominique Luton : Những tác dụng có hại được gán một cách chắc chắn cho việc tiêm chủng chống H1N1 này với một vaccin không có chất bổ trợ chủ yếu là những phản ứng viêm tại chỗ (đau đớn, đỏ da…) và vài phản ứng tổng quát như các hội chứng cúm giả không nghiêm trọng. Đối với tôi cũng hữu ích ghi nhận rằng người ta đã không quan sát thấy một tác dụng phụ nào nơi các em bé sinh ra từ các bà mẹ được tiêm chủng.

Hỏi : Sự tiêm chủng này được khuyến nghị vào tháng nào ?
G.S Dominique Luton : Bắt đầu từ tam cá nguyệt thứ hai bởi vì hầu hết các biến chứng liên kết với H1N1 xảy ra vào sáu tháng cuối của thai nghén. Do đó người ta ưa thích hơn tránh mọi tiêm chủng vaccin vào tam cá nguyệt đầu tiên.

Hỏi : Ngoài sự tiêm chủng, những biện pháp bảo vệ nào cần được thực hiện ?
G.S Dominique Luton :
  • Biện pháp đầu tiên là tuân theo tất cả những thận trọng chung : rửa tay đều đặn với gel nước-cồn, tránh chừng nào tốt chừng ấy ôm hôn, bắt tay, mọi tiếp xúc với những người bị cúm hay có chung quanh họ những người bị bệnh cúm, cũng tránh những vùng tập trung đông người...
  • Nếu một phụ nữ có thai không được tiêm chủng có những triệu chứng của H1N1, người phụ nữ này phải đi khám càng nhanh càng tốt để nhận một điều trị kháng virus phòng ngừa.
  • Trong chừng mực có thể được, mỗi bà mẹ tương lai bị hội chứng cúm phải, được lấy bệnh phẩm và dùng thuốc kháng virus trong lúc chờ đợi kết quả của bệnh phẩm.

Hỏi : Ông khuyên các phụ nữ có thai tránh những nơi đông người nhưng, hiện nay, để được chủng ngừa, họ phải đi đến một trung tâm có độ tập trung người lớn...
G.S Dominique Luton : Để tránh mọi nguy cơ lây nhiễm, họ có thể mang một mặt nạ bảo vệ và ở cách xa người đứng gần nhất trên 1m. Trong tình huống này, sự truyền virus ít có khả năng xảy ra.

Hỏi : Sau khi sinh em bé, những người thân cận có phải được tiêm chủng không ?
G.S Dominique Luton : Đó là điều được mong muốn. Nếu không, phải tránh ôm hôn, cũng như tránh tiếp xúc trực tiếp và nhiều lần.

Hỏi : Người ta vừa quan sát thấy một sự biến dị của virus…vaccin không có chất bổ trợ sẽ còn tiếp tục bảo vệ hay không ?
G.S Dominique Luton : Khi người ta nói biến dị, đó là một sự biến đổi của một phần của mật mã di truyền của H1N1, có thể ảnh hưởng lên những chức năng khác nhau của virus, làm cho nó trở nên hung dữ ít hay nhiều và có thể được nhận biệt bởi các kháng thể ít hay nhiều. Hiện nay, sự biến dị được quan sát không làm xét lại tính hiệu quả của sự chủng ngừa.
(PARIS MATCH 17/12-23/12/2009)

6/ TA CÓ THỂ TRẮNG BẠC MÁI ĐẦU CHỈ TRONG VÒNG MỘT ĐÊM ?

Không, sự bạc đầu luôn luôn diễn ra từ từ ; ngoại trừ trong những tình huống bệnh lý, lúc đó ta quan sát thấy sự trắng đột ngột của một mái tóc muối tiêu.

Một giai thoại đã kể lại rằng, mái tóc của hoàng hậu Marie-Antoinette đã hoàn toàn bạc trắng vào đêm trước khi lên đoạn đầu đài, vào năm 1793. Ngày nay, hội chứng Marie-Antoinette để chỉ một tình huống trong đó tất cả các sợi tóc đều bạc trắng cùng một lượt. Cũng có thể gọi là hội chứng Thomas More, vì lẽ ông ta cũng thấy mái tóc của mình bạc trắng một lượt, trong tháp Luân Đôn, vào đêm trước khi bị hành quyết, vào năm 1535. Từ đó, những trường hợp tóc bị bạc trắng nhanh đã được mô tả, đặc biệt trong Đệ Nhị Thế Chiến, nơi những người đã sống sót sau những trận dội bom. Vậy nguyên nhân và sự giải thích của hội chứng này là gì ?

Trước hết chúng ta hãy nhắc lại sự sắc tố hóa (pigmentation) của tóc là do đâu ? Màu sắc của tóc là do các hạt hắc tố (mélanine), được chứa trong vỏ (cortex) của sợi tóc. Hắc tố (mélanine) được sản xuất bởi các tế bào hắc tố hoạt động (mélanocytes actifs) của đơn vị sắc tố hóa (unité de pigmentation), định vị trong hành của nang lông (bulbe du follicule pileux), quanh gai bì (papille dermique). Các các tế bào hắc tố tiếp xúc với các tế bào của chất căn bản(matrice) là các tế bào tế bào sừng (kératinocytes). Những tế bào sừng này, lúc tăng sinh, sản sinh ra sợi tóc. Lúc tiếp xúc với các tế bào hắc tố, các tế bào sừng (kératinocyte) tích chứa hắc tố (mélanine), và chính như thế mà tóc mọc ra đã có sắc tố, kể từ gốc của nó.

Trái với các tế bào hắc tố hoạt động (mélanocytes actifs), các tế bào hắc tố nằm yên (mélanocytes dormants) không sản xuất hắc tố. Những tế bào này không nằm trong hành (bulbe), mà tạo thành một kho dự trữ các tế bào gốc trong bao ngoài của nang lông. Thế mà, vào cuối mỗi chu kỳ, nang lông tan rã đi, tóc rụng xuống, và đơn vị sắc tố hoá (unité de pigmentation) cũng bị tiêu hủy. Khi nang lông được tái tạo, đơn vị sắc tố hóa được tái sinh từ kho dự trữ những tế bào gốc hắc tố (mélanocytes souches). Điều này cho phép sự mọc lại của một sợi tóc có sắc tố, thế chỗ cho sợi tóc trước. “ Điệp khúc ” của các tế bào hắc tố của mỗi nang lông đảm bảo sự thường trực của một mái tóc được nhuộm màu. Nhưng thế thì tại sao các sợi tóc lại bạc trắng ?

Trước đây, người ta nghĩ rằng sự bạc trắng được liên kết với sự ngưng tổng hợp và sự chuyển của hắc tố. Thật vậy, tóc bạc là do một sự giảm dần số các tế bào hắc tố, trong đơn vị sắc tố hóa cũng nhưng trong kho dự trữ. Khi số các tế bào hắc tố hoạt động đạt một ngưỡng giới hạn, lượng hắc tố được tổng hợp, được chuyển vào sợi tóc đang tăng trưởng, không còn đủ nữa để sợi tóc được sắc tố hóa : tóc trở nên trắng bạc. Tất cả các sợi tóc đều trắng khi tất cả các tế bào hắc tố của đơn vị sắc tố hóa và của kho dự trữ đã biến mất. Ngoài ra, sự vắng biểu hiện của enzyme TRP-2 (tyrosinase related protein-2) đẩy mạnh sự biến mất của các tế bào hắc tố. Không có enzyme này, các tế bào hắc tố của nang lông trở nên nhạy cảm hơi đối với các tấn công của môi trường, đặc biệt là đối với các gốc tự do oxy hóa (radical libre oxydant), và do đó sự bạc trắng của tóc được tăng nhanh.

BẠC TRẮNG “ TRONG MỘT ĐÊM ”.

Như thế, sự trắng bạc tóc xảy ra dần dần. Nhưng thế thì, một mái tóc có thể bạc trắng trong vòng một đêm như thế nào ? Hội chứng này, được mệnh danh là “ sự bạc tóc đột ngột ” (canitie subite), ngày nay được lý giải như là một phản ứng tự miễn dịch : hệ miễn dịch của cơ thể dường như tạo một phản ứng thải bỏ (réaction de rejet) đột ngột của hệ sắc tố của các nang lông. Nếu sự tấn công này xảy ra trên một mái tóc màu muối tiêu, chứa đồng thời các sợi tóc được sắc tố hóa và những sợi khác đã bạc trắng, thì chỉ có những sắc tố là sẽ “ bị thải bỏ ”, và do đó bị đánh mất, trong khi những sợi tóc trắng thì được tha miễn. Sự bạc trắng mái đầu “ trong một đêm ” là do một sự thải bỏ chọn lọc của những sợi tóc có sắc tố.
(POUR LA SCIENCE 12/2009)

7/ BỆNH CẬN THỊ TIẾN TRIỂN MẠNH.

Tỷ lệ những người bị cận thị đã chuyển từ 25% lên đến gần 42% trong 30 năm ở Hoa Kỳ.

NHÃN KHOA. Bệnh cận thị một phần lớn vẫn là một bí ẩn. Người ta biết cách đo lường mức độ cận thị, điều chỉnh nó, mổ nó, người ta biết “ cơ học” của sự rối loạn quang học của mắt, thế nhưng người ta còn biết rất tồi nguồn gốc và các nguyên nhân của nó. Một công trình nghiên cứu mới đây về quan điểm này gây quan ngại : các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa chứng thực rằng tỷ lệ những người bị cận thị đã chuyển, trong dân chúng Hoa Kỳ, từ khoảng 25% vào đầu những năm 1970 lên đến gần 42% vào đầu những năm 2000 (Archives of Ophtalmology, tháng 12/2009).

Để đi đến kết quả này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các dữ kiện thu lượm được nhân các cuộc điều tra quốc gia về y tế. Cuộc điều tra 1971-1972 nhằm vào hơn 5000 người, tuổi từ 12 đến 54 tuổi, cuộc điều tra từ 1999 đến 2004 bao gồm gần 10.000 người. Những dữ kiện thu lượm được mới đây dựa trên cùng các tiêu chuẩn như các tiêu chuẩn được dùng vào đầu những năm 1970 về cận thị. Khi đó, có 25% những người cận thị và, 33 năm sau, tỷ lệ những người cận thị là 41,6%. Những người da đen (chuyển từ 13% lên 33,5%) cũng như những người da trắng (chuyển từ 26,3% lên 43%) đã chịu cùng sự tiến triển.

Cận thị là một khuyết tật của mắt, khiến các hình ảnh được tạo thành, không phải trên võng mạc, mà trước võng mạc. Mắt có thể được so sánh với một máy chụp hình: giác mạc (cornée) là kính ngoài, đồng tử là cửa điều sáng (diaphragme), thủy tinh thể là zoom của nó và võng mạc là phim tiếp nhận (pellicule réceptrice). Một con mắt cận thị không còn có khả năng tạo những hình ảnh rõ ràng trên võng mạc đối với những vật ở xa. Sự đưa vật đến gần cho phép hình ảnh được tạo thành trên võng mạc. Vậy một người cận thị nhìn gần rất rõ nhưng nhìn xa thì mờ.

MỘT CHẤN ĐOÁN TỐT HƠN.

Ở Pháp, người ta ước tính 39% dân chúng bị cận thị ở những mức độ khác nhau. Người ta nhận thấy những tỷ lệ như thế gần như khắp nơi trên thế giới. Với những sự khác nhau giữa các vùng nông thôn và thành thị và cũng tùy theo mức phát triển của các nước. Mặc dầu ngày này người ta chẩn đoán các rối loạn khác nhau của thị giác tốt hơn cách nay 30 năm, và mặc dầu điều trị có hiệu quả hơn, nhưng các nguyên nhân của sự gia tăng quan trọng của số người bị cận thị vẫn rất được tranh cãi. Chính vì thế, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ kết luận công trình nghiên cứu bằng một lời kêu gọi nghiên cứu : “ Nhận diện các yếu tố nguy cơ chịu trách nhiệm sự gia tăng số những người cận thị có thể cho phép thiết đặt những chiến lược ít tốn kém chống lại chứng bệnh này.” Người ta cho rằng các nguyên nhân cận thị gồm nhiều yếu tố. Hai yếu tố chính, ngoài tuổi tác, là di truyền và những yếu tố môi trường. Người ta đã chứng tỏ rằng vài cận thị thể nặng và, trong một mức độ nào đó cận thị nói chung, được liên kết với di truyền. Sinh ra trong một gia đình không có người cận thị ít có nguy cơ sẽ bị cận thị. Trong trường hợp ngược lại, nguy cơ đặc biệt được gia tăng. Vài hình dạng mắt làm dễ sự xuất hiện những bất thường này.

Nhưng người ta cũng biết, mà không thể định mức một cách chính xác, rằng chế độ ăn uống, các thói quen trong đời sống, nơi cư trú, trình độ văn hóa, số năm đi học, sự sử dụng thuờng xuyên các màn ảnh của máy vi tính hay của máy truyền hình chẳng hạn, đóng một vài trò trong sự tiến triển, nếu không muốn nói là trong sự xuất hiện của chứng cận thị. Việc sử dụng thường xuyên thị giác nhìn gần cũng có thể là một yếu tố làm dễ bệnh cận thị nhưng cũng có nhiều lý thuyết khác như lý thuyết về sự tiếp xúc ánh sáng trong thời thơ ấu.“ Các kết quả này của những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ rất là đáng lưu ý và người ta cũng chứng thực cùng điều đó ở đây, một thầy thuốc chuyên khoa mắt Paris đã xác nhận như vậy. Không nghi ngờ gì nữa lối sống hiện đại của chúng ta hẳn phải làm dễ sự xuất hiện các chứng cận thị. Và có lẽ làm gia tốc sự xuất hiện của chúng. Nhưng vẫn không thể định mức một cách chính xác yếu tố nào là quan trọng nhất. Thật là đáng tiếc. ”
(LE FIGARO 16/12/2009)

8/ STRESS VÀ SỰ GIA TĂNG CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau quy một cách rõ ràng trách nhiệm của lối sống tây phương (đặc biệt là stress) vào sự gia tăng của số và những trường hợp càng ngày càng sớm của bệnh đái đường khắp nơi trên thế giới.

Bệnh đái đường là một bệnh nhiều yếu tố (maladie multifactorielle), liên kết những yếu tố môi trường phát khởi “ không được biết ”, những yếu tố di truyền làm dễ (HLA DR3/DR4) và những yếu tố miễn dịch (các tế bào lympho, các tự kháng thể). Không có một độc chất nào, không có một vi khuẩn nào là nguyên nhân trực tiếp và mặc dầu bệnh đái đường kèm theo một sự mất điều hòa của hành vi ăn uống, nhưng vai trò của ăn uống vẫn còn đang gây tranh cãi. Những điều nghịch lý của bệnh đái đường và của chứng béo phì là những bệnh lý này bây giờ đang phát triển trong các dân thiếu dinh dưỡng và các nước nghèo. Trái lại, dường như càng ngày càng được chấp nhận rằng lối sống Tây phương góp phần vào sự gia tăng của bệnh đái đường. Ngoài những yếu tố khác ra, sự lo âu, sự căng thẳng và chứng trầm cảm có vẻ đóng một vai trò trong sự phát khởi của bệnh đái đường, bằng cách gây nên một phản ứng thích ứng (réaction d’adaptation) (hay báo động), làm phóng thích các hormone làm gia tăng đường huyết (hormones hyperglycémiantes) (cortisol, adrénaline) và làm gia tăng sự đề kháng đối với insuline (insulinorésistance). Công trình nghiên cứu Whitehall Study II là một công trình nghiên cứu có mục tiêu đánh giá mối liên hệ giữa stress và nguy cơ xuất hiện bệnh đái đường loại 2. Số người tham dự gồm 5.895 công chức người châu Âu, đàn ông và phụ nữ, không bị bệnh đái đường (tuổi trung bình 35-55 tuổi), được đăng ký giữa năm 1991và 2004. Chẩn đoán đái đường loại 2 được xác lập trên cơ sở một tam giác tăng đường huyết. Các dữ kiện được thu thập qua một bảng câu hỏi. Sự căng thẳng lúc làm việc được đánh giá bởi “ Job Strain Questionnaire ”, có tính đến yêu cầu tâm lý (những bó buộc thời gian, tổng số công việc, tính chất phức tạp của công tác..), sự tự do trong quyết định và sự hỗ trợ xã hội (sự ủng hộ của các đồng nghiệp ..).

NGUY CƠ TĂNG GẤP ĐỐI NƠI PHỤ NỮ.

Sự căng thẳng liên kết với công việc tương quan với một sự gia tăng 60% nguy cơ phát triển bệnh đái đường loại 2 nơi các phụ nữ, nhưng không xảy ra nơi các đàn ông. Sự gia tăng nguy cơ này được quan sát đối với một công việc, liên kết một yêu cầu cao về mặt tâm lý với khả năng quyết định thấp và một hỗ trợ xã hội kém. Mối tương quan này vẫn có ý nghĩa về mặt thống kê sau khi điều chỉnh tình trạng xã hội kính tế hay những yếu tố căng thẳng không phải do công việc ; mối tương quan giảm bớt 20% sau khi điều chỉnh lối sống, chứng béo phì và những yếu tố nguy cơ khác của bệnh đái đường loại 2. Ngược lại, mỗi thành phần được lấy riêng rẻ (yêu cầu về mặt tâm lý đòi hỏi tâm lý, sự tự do quyết định và sự hỗ trợ xã hội) không liên kết với nguy cơ phát triển bệnh đái đường loại 2. So với những người không bị bệnh đái đuờng, những bệnh nhân đã phát triển một bệnh đái đường loại 2 là lớn tuổi hơn, có một việc làm với cấp bật thấp và bị ảnh hưởng hơn bởi những biến cố của cuộc đời của họ. Trên bình diện sinh học, họ có một nồng độ HDL- cholestérol ít cao hơn và một chỉ số khối lượng cơ thể (IMC), một huyết áp thu tâm, một nồng độ triglycéride và CRP cao hơn.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/11/2009)

9/ KHI TRÍ NHỚ ĐẾN VÀO LÚC NGỦ.

Một kích thích âm thanh hay khứu giác trong lúc ngủ trưa làm tăng cường các hiệu năng.

NEUROLOGIE. Học vào lúc đang ngủ. Ý tường làm ước mơ, và không chỉ những các sinh viên vào thời kỳ thi cử. Mà còn đối với các nhà khoa học, đó đã là một hiện thực. Càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu xác nhận rằng giấc ngủ đóng một vai trò chủ yếu trong các quá trình ghi nhớ (mémorisation). Ken Paller, thuộc đại học Northwestern (Illinois) và nhóm nghiên cứu vừa vượt qua một giai đoạn mới lúc chứng minh rằng một kích thích thính giác trong lúc ngủ trưa cho phép làm tăng cường trí nhớ.

Các công trình của họ, được công bố mới đây trong tạp chí Science, đã nhờ đến một phương pháp học độc đáo. Các nhà nghiên cứu đã dạy cho cho 12 thanh niên ghi nhớ vị trí chính xác của 50 hình ảnh trên một màn ảnh ordinateur. Mỗi hình ảnh được chiếu đồng thời với một âm thanh đặc trưng (thí dụ con mèo với tiếng mèo kêu). Sau đó, các người tình nguyện được yêu cầu làm một giấc ngủ trưa, trong đó các tiếng ồn tương ứng với 25 trong số các đồ vật, được diễn lại nơi họ. Lúc thức dậy, mặc dầu đã không ý thức các âm thanh được nhắc lại, họ đã đặt lại lên màn ảnh các hình ảnh tương ứng với các âm thanh này, tốt hơn là 25 âm thanh khác. Cùng thí nghiệm, nhưng không có ngủ trưa, đã không cải thiện các hiệu năng.

Vào năm 2007, trên cùng một nguyên tắc tương tự, Jan Born, thuộc đại học Lubeck (Đức) đã nhờ đến một sự kích thích có tính chất khác : một mùi thơm của hoa hồng, được phát ra trong một buổi luyện tập (ghi nhớ các cặp bài) rồi một lần nữa trong lúc ngủ. Việc lập lại khứu giác này đã “ booster ” một cách rõ rệt điểm số đối với các trắc nghiệm trí nhớ ngày hôm sau nếu trắc nghiệm được thực hiện trong một giai đoạn của giấc ngủ sâu. Khi đó tác dụng là số không nếu mũi được hít trong giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal) (giai đoạn của các giấc mơ). “ Hai công trình nghiên cứu này, bổ sung cho nhau, chứng tỏ rằng những kích thích khứu giác và âm thanh trong giấc ngủ sâu có thể làm gia tăng sự ghi nhớ ”, Paul Salin, nhà nghiên cứu của CNRS ở Lyon đã bình luận như thế. “ Khi ta ngủ, ta vẫn nhạy cảm với môi trường âm thanh, ánh sáng, và nhiệt. Nhưng sự việc những tiếng động có thể tham gia vào một quá trình ghi nhớ là điều mới và đáng quan tâm, GS Damien-Léger (trung tâm ngủ của bệnh viện Hôtel-Dieu, Paris) đã ghi nhận như vậy. Những công trình này cũng làm vững thêm ý tưởng cho rằng sự ghi nhớ một dữ kiện có hiệu quả hơn khi ta liên kết nó với một cảm giác hơn là khi nó xảy ra một cách đơn thuần ”.

Theo các chuyên gia, hai giai đoạn giấc ngủ can thiệp để cắm sâu vào những ký ức : giấc ngủ chậm (sommeil lent) đặc biệt có vai trò trong sự ghi nhớ tuyên ngôn (mémorisation déclarative) (ý thức), trong khi đó việc củng cố trí nhớ xúc cảm (mémoire émotionnelle) (thí dụ những ký ức về những biến cố đau buồn hay hạnh phúc) sẽ được thực hiện nhất là trong giấc ngủ nghịch lý.

“ Nhóm nghiên cứu của Jan Born đã cho thấy rằng một kích thích điện cường độ thấp của da đầu, được đặt trong các giai đoạn ngủ chậm, có thể làm gia tăng đáp ứng đối với các trắc nghiệm ngày hôm sau ”, Paul Salin đã kể lại như thế.

Nhưng trong cuộc sống thực, các thí nghiệm kích thích cảm giác đã khá gây thất vọng. Mãi đến nay, không bao giờ có ai đã có thể học một tiếng nước ngoài lúc đang ngủ với một CD phát âm. Không nên phóng đại quá mức tác động của các tái hoạt hóa, bởi vì một phần lớn trí nhớ của chúng ta là do thị giác, thế mà hệ thị giác lại bị phong bế trong lúc ngủ ”, Paul Salin đã nói như vậy. Một điều chắc chắn, hãy tối ưu hóa các đêm ngủ của mình sẽ cho phép cải thiện các trí năng. Những thí nghiệm, được tiến hành bởi Pierre Maquet, thuộc đại học Liège (Bỉ) mới đây đã xác nhận rằng một sự học việc được kèm theo sau bởi một đêm ngủ ngon là có hiệu quả hơn để ghi nhớ về lâu về dài. “ Ngủ, đó không phải là đánh mất thời gian, người chuyên gia này đã nhấn mạnh như vậy.Giấc ngủ sẽ thuận lợi cho việc duy trì một sự vận hành tốt chức năng não bộ. Nó cũng có lợi cho hệ miễn dịch và hormone.”
(LE FIGARO 2/12/2009)

10/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI

(tiếp theo TSYH số 153)

TIÊM CHỦNG (tiếp theo)

53/ Đại dịch có phải là một công việc làm ăn tốt đối với công nghiệp dược phẩm ?

Các số doanh thu, sinh ra do đại dịch năm 2009, có thể đạt đến 6 tỷ dollar (4 tỷ euro). Cúm A mang lại doanh thu khoảng 1 tỷ euro cho mỗi trong 3 hãng chế tạo vaccin chính, hãng bào chế Pháp Sanofi-Aventis, hãng Anh GlaxoSmithKline (GSK) và hãng Thụy Sĩ Novartis. Được bán từ 6,25 đến 10 euro mỗi đơn vị cho chính phủ Pháp, và ít đắt hơn nhiều cho các nước nghèo, vaccin không cho phép vượt khỏi những giới hạn rất cao. “ Về loại hợp đồng quy mô lớn này, các chính phủ thường thương thuyết những biểu giá rất “sít sao ” , Thierry Verrecha đã xác nhận như vậy. Hãng Roch, đã thương mãi hóa thuốc kháng virus Tamiflu, và GSK, hãng cạnh tranh nó, bán Relenza, hẳn cũng hưởng lợi từ đại dịch này. Từ năm 2004, 270 triệu liều Tamiflu đã được đặt hàng bởi 96 nước.Việc bán thuốc này mang lại một số doanh thu 1,3 tỷ euro năm 2009, hoặc 4,2% các buôn bán của hãng Roche. Để đối đầu với sự đổ đến của các đơn đặt hàng, các hãng bào chế đã gia tăng khả năng sản xuất, đạt 400 triệu điều trị mỗi năm đối với hãng Roche và 190 triệu mỗi năm đối với GSK.

54/ Các hợp đồng được ký ở Pháp với các hãng bào chế chính xác nói những gì ?

Thay mặt Nhà nước, Eprus (Etablissemet de préparation et de réponse aux urgences sanitaires) đã ký những hợp đồng với Novartis (16 triệu liều), Sanofi-Aventis (28 triệu liều), GSK (50 triệu liều) và Baxter (50.000 liều).

Các hợp đồng xác định các đặc điểm của sản phẩm, số lượng phải được cung cấp, các kỳ hạn giao hàng, các điều khoản kiểm soát chất lượng của sản phẩm và những bổn phận mỗi bên ký hợp đồng. Tất cả hợp đồng đều chứa một khoảng về trách nhiệm của nhà bào chế. Trách nhiệm này sẽ được cam kết nếu sản phẩm thiếu sót (ví dụ bị ô nhiễm).

TRƯỜNG HỌC VÀ XÍ NGHIỆP

55/ Ông chủ có thể buộc tôi làm việc tại nhà không ?

Cũng như mọi biến đổi của một yếu tố thiết yếu của hợp đồng lao động, làm việc tại nhà cũng cần sự đồng ý trước của người ăn lương, cũng như một văn bản sửa đổi hợp đồng lao động. Việc từ chối làm việc ở nhà có thể dẫn đến sự cho thôi việc kinh tế (licenciement économique). Nếu người ăn lương đưa ra tranh cãi trước hội đồng hòa giải lao động, người chủ sẽ phải biện minh mệnh lệnh làm việc tại nhà.

56/ Tôi có thể thương thuyết với ông chủ tôi làm việc tại nhà để tránh bị lây nhiễm không ?

Vâng, nhưng ông chủ không bắc buộc phải chấp nhận tình huống này.

57/ Những biện pháp phòng ngừa trong xí nghiệp về mặt vệ sinh ?

Một cách tổng quát, giới chủ có bổn phận thông báo những người làm công về những nguy cơ đối với sức khỏe và về những biện pháp được thực hiện để đối phó.

Trong trường hợp cúm A, những biện pháp này nằm trong kế hoạch liên tục hoạt động (plan de continuité de l’acitivité), không bắt buộc trong khu vực tư nhân, nhưng rất được khuyến nghị bởi chính quyền. Đặc biệt đó là thiết lập những biện pháp vệ sinh (rửa tay đều đặn, khử trùng các phòng ốc, có để sử dụng các dụng cụ như các dung dịch nước-cồn...), dự kiến một dự trữ đầy đủ các mặt nạ hô hấp (masques respiratoires), giới hạn sự tiếp xúc vật lý giữa các người với nhau... Văn kiện duy nhất đánh giá các nguy cơ phải được cập nhật hóa.

58/ Có nên cấm không gian mở (open space) hay không ?

Lý tưởng là vâng. Trong thế giới thực, các không gian làm việc chung phải được bảo quản và chùi dọn một cách tăng cường và hàng ngày.

Người chủ phải kiểm tra rằng những biện pháp này được áp dụng một cách đúng đắn. Trong các văn phòng tập thể, việc mang một mặt nạ chống phóng thải (masque antiprojections) có thể được khuyến nghị.

59/ Có phải giảm số các buổi hội họp lúc làm việc không ?

Được chừng nào tốt chừng đó. Vào cao điểm của đại dịch, các buổi thảo luận chuyên đề (séminaires) và các buổi hội thảo (colloques) cũng có thể phải được hoãn lại, thay vào đó là những buổi hội nghị qua điện thoại (conférences téléphoniques), các trao đổi thông tin qua internet hay những hội nghị bằng mắt (visioconférences).

Nếu những cuộc hội họp quy tụ nhiều người cùng một nơi không thể tránh được, cần áp dụng những biện pháp thận trọng. Bàn ghế đặc biệt phải được lau chùi trước và sau mỗi lần tụ tập, và những người tham dự sẽ phải tôn trọng một khoảng cách bảo vệ y tế (distance de protection sanitaire) khoảng ít nhất 1 mét.

60/ Các con tôi bị đau, tôi được quyền nghỉ theo chế độ nào ?

Luật lao động dự kiến rằng, để có thể ở cạnh con bị ốm dưới 16 tuổi, người ăn lương có thể được nghỉ không ăn lương 3 ngày mỗi năm (5 ngày mỗi năm nếu trẻ bị bệnh dưới 1 tuổi hay nếu như người ăn lương đảm nhận ít nhất 3 trẻ dưới 16 tuổi), với giấy chứng nhận của bác sĩ. Các thỏa ước tập thể hay các thỏa thuận xí nghiệp có thể dự kiến những kỳ nghỉ dài hơn, thậm chí ăn lương.

61/ Các đồng nghiệp của tôi bị bệnh, ông chủ có thể yêu cầu tôi làm bổ sung bao nhiêu giờ ?

Ông chủ có một hạn mức hàng năm những giờ bổ sung (220 giờ hay một thời gian được ấn định bởi thỏa thuận tập thể). Để sử dụng nó, ông ta phải thông báo với ủy ban xí nghiệp, bằng không với các đại diện công nhân viên, và thanh tra lao động. Sự từ chối thực hiện những giờ bổ sung là một lỗi có thể đưa đến việc sa thải những người ăn lương.
(LE MONDE 5/11/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/12/2009)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#31 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 04 January 2010 - 11:05 PM

Posted Image

Happy New Year !!!

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÓ NÊN SỢ SỰ BIẾN DỊ CỦA VIRUS A (H1N1) ?

Ở Na Uy, ở Pháp ... những sự biến dị đầu tiên của virus gây nên các lo ngại.

8 tháng sau khởi đầu của dịch bệnh, đã bắt đầu ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư 2009, virus A (H1N1) đã gây nên gần 8000 người chết trên thế giới. Dĩ nhiên, cũng như mọi virus, virus A (H1N1) đã biến dị. Nhưng những biến dị này hiện nay không đặt lại vấn đề về tính hiệu quả của sự chủng ngừa, các chuyên gia đã đảm bảo như vậy. Cần làm sáng tỏ qua 5 điểm :

1. Biến dị : Đó là gì vậy ?

Virus A (H1N1) đã biến dị hai lần. Biến dị đầu tiên, được mệnh danh là D222G, ngẫu nhiên và đúng lúc, đã phát khởi ở Na Uy. Sự biến dị được định vị trên gène của hémagglutinine 222. “ Sự biến dị này đã là một bộ phận của những biến dị được quan sát vào lúc đại dịch 1918 ”, Bruno Lina, chuyên gia virus và giám đốc của Trung tâm quốc gia tham chiếu bệnh cúm đối với vùng phía Nam, đã ghi nhận như vậy. “ Những công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng sự biến dị cho phép các virus cúm gắn vào sâu trong cơ thể dễ dàng hơn, nghĩa là nơi các tế bào phổi. ” Từ lúc loan báo vào ngày 20/1/2009, bởi Geir SteineLarsen, giám đốc của Viện y tế công cộng Na Uy, danh sách các nước bị liên hệ đã dài ra : Ukraine, Trung Quốc, Ba Tây, Mễ Tây Cơ, Nhật Bản, Hoa Kỳ,Ý, Pháp. Sự biến dị đã được nhận diện trong những trường hợp nặng và tử vong, như ở Pháp, nhưng cũng trong những trường hợp trung bình ở nơi khác trên thế giới. Sự biến dị thứ hai, được gọi là H274Y, nằm trên chỗ hoạt động của neuraminidase, một enzyme hiện diện nơi bề mặt của vỏ của các virusinfluenza. Sự biến dị này gây nên sự đánh mất hoạt tính của một thuốc kháng virus, Tamiflu (oseltamivir), và do đó làm cho điều trị không có hiệu quả.

2.Chúng ta có phải lo ngại hay không ?

“ Những biến dị này thật là rầy rà ”, Bruno Lina đã chấp nhận như vậy. Nhưng theo ý kiến trấn an của nhiều quan sát viên, thì những biến dị này có vẻ xảy ra lẻ tẻ, mà không có khuynh hướng lan tràn. “ Đối với D222G, cho đến ngày hôm nay, không có một dấu hiệu truyền giữa người với nhau nào đã được quan sát, chuyên gia virus của thành phố Lyon đã nói tiếp như vậy ; chúng ta chưa biết sự biến dị này, một mình nó, có tạo nên một yếu tố độc lực hay không. ”

Vậy đây là lúc cần theo dõi. Nhưng đừng quên sự cần thiết phải bắt đầu những nghiên cứu trên các mô hình động vật để biết được rõ nhiều hơn. Bù lại, về việc tiêm chủng thì không có gì thay đổi, “ bởi vì những biến dị này chỉ liên hệ đến những protéine và những protéine này không có dính dáng gì với những nơi được nhận biết bởi vaccin ”, Bruno Lina đã nhấn mạnh như vậy. Do đó virus luôn luôn được nhận biết bởi các kháng thể... với điều kiện đã được tiêm chủng. Còn về sự đề kháng với các thuốc chống virus, và sau hơn 6 tháng lưu hành của virus, sự đề kháng này chỉ đã được nhận thấy trong khoảng 60 trường hợp trên thế giới.

3. Có thể có những biến dị khác không ?

Cũng như tất cả các virus à ARN (virus của bệnh sida, HIV là một thí dụ), virus của bệnh cúm biến dị thường trực, dầu đó là virus A (H1N1) hay virus của cúm mùa. Đó là do sự kiện hệ sao chép (système de copie) và sự tăng sinh của virus không hoàn toàn đáng tin cậy và sinh ra những sai lầm. “ Chính những thay đổi kín đáo nhưng lũy tích, sau cùng, có thể gây nên những biến đổi quan trọng ”, Jean-Claude Manuguerra, thuộc viện Pasteur đã giải thích như vậy. Nhiều ngàn biến dị của virus A (H1N1) đã xuất hiện …và có lẽ đã biến mất cũng rất nhanh. Thật vậy, nhiều biến đổi của một virus tuân theo một quá trình Darwin : chỉ còn sống sót những virus thích ứng tốt nhất với môi trường của chúng và tăng sinh trong đó.

Phần lớn các biến dị không thể thấy được, bởi vì, để nhận diện tất cả những biến dị này, phải làm séquençage toàn bộ các virus được lấy nơi các bệnh nhân, đây là điều không thể thực hiện được về phương diện vật chất. Một trong những ưu điểm của các chất bổ trợ của các vaccin là gây nên một đáp ứng mạnh hơn của hệ miễn dịch và do đó lớn hơn, có khả năng chống lại nhiều biến dị tiềm tàng.

4. Virus giết hại như thế nào ?

Vài chỉ dấu bắt đầu hiển lộ về những nguyên nhân tại sao những người dưới 50 tuổi, có sức khoẻ tốt, lại chết vì một nhiễm trùng bởi virus A (H1N1). Đối với giáo sư Brigitte Autran (hôpital de la Pitié-Salpêtrière, Paris), có lẽ phải thấy ở đó sự biểu hiện của “ khía cạnh đen tối của miễn dịch học ”. Mặc dầu hệ miễn dịch của chúng ta là một vũ khí tuyệt vời và mạnh mẽ để bảo vệ chúng ta chống lại các vi khuẩn gây bệnh, nhưng một đáp ứng miễn dịch quá lớn có thể trở nên tệ hại hơn là căn bệnh, nhất là khi điều đó được kèm theo bởi một quá trình viêm dữ dội. Thế mà, mặc đầu chúng ta không biết được cơ chế đưa đến những thể nặng của bệnh, nhưng điều mà chúng ta quan sát được là một nhiễm trùng ở rất sâu trong phổi và một sự hóa sợi tăng nhanh được kèm theo bởi rất nhiều viêm nhiễm. “ Phản ứng viêm mạnh đến độ oxy không có thể đi từ mô phổi vào các phế nang. Đối với các bệnh nhân này, chúng ta không bao giờ biết được là phải gia tăng điều trị kháng virus hay trái lại ngăn chặn phản ứng viêm. ” “ Thể nặng phải chăng là do một virus biến dị (mutant) đặc biệt độc lực hay do một thể địa di truyền đặc biệt của người bệnh ? ” nhà nghiên cứu tiếp tục tự hỏi như vậy. Hiện nay chúng ta không biết gì hết về điều đó.

5. Đại dịch sẽ tiến triển như thế nào ?

Không thể tiên đoán được. Nhiều lắm ta có thể đưa ra nhiều giả thuyết. Nếu tất cả được diễn biến ở Châu Âu cũng như ở Hoa Kỳ (dịch bệnh xảy ra 1 tháng trước châu Âu), thì chúng ta sẽ đạt một cao điểm từ nay đến cuối tháng 12. Ở Hoa Kỳ, cao điểm này đã được vượt qua và dịch bệnh đang trên đường dốc đi xuống.

Vào giai đoạn này, 3 kịch bản sẽ được dự kiến đối với Antoine Flahaut, giám đốc Trường cao cấp y tế công cộng ở Rennes. Hoặc là, và đó là giả thuyết lạc quan nhất, dịch bệnh sẽ thoái trào vĩnh viễn. Hoặc là sự thoái trào này thấp, số các trường hợp giảm ít và dịch bệnh sẽ hoạt động trở lại từ nay đến cuối mùa đông. Hoặc là, kịch bản thứ ba có thể xảy ra, làn sóng xuống dưới ngưỡng dịch bệnh và sau một thời hạn không biết được, sẽ bùng nổ trở lại. “Nhưng tình trạng động này là ít có khả năng nhất bởi vì nó đã không bao giờ được quan sát trong các dịch cúm mùa ”, Antoine Flahaut đã xác nhận như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2010)

2/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI

(tiếp theo TSYH số 154)

TRƯỜNG HỌC VÀ XÍ NGHIỆP (tiếp theo)

62/ Tôi có thể bị trưng dụng hay không ? Ông chủ tôi có thể buộc tôi trở lại trong lúc đang nghỉ phép hay không ?

Trong khu vực tư nhân, sự trưng dụng nhân viên không được dự kiến bởi luật lao động. Tuy nhiên, sự trưng dụng có thể được áp dụng nếu chính quyền đòi hỏi nhằm đảm bảo, thí dụ, một hoạt động sinh tử bị ảnh hưởng do sự vắng mặt của các người ăn lương, như việc hốt rác chẳng hạn, người ta đã giải thích như thế ở Bộ lao động.

Còn trường hợp nghỉ phép, ngày tháng được ấn định ít nhất hai tháng trước và có thể bị biến đổi một tháng trước kỳ nghỉ phép. Nhưng trong trường hợp “ những hoàn cảnh đặc biệt ”, kỳ hạn có thể ngắn hơn, Bộ lao động đã chỉ rõ như vậy. Việc buộc một người ăn lương, đang đi nghỉ phép phải trở lại, có thể nằm trong khung cảnh này, nhưng tất cả tùy thuộc vào cách lý giải thế nào là “ những trường hợp đặc biệt ” bởi ông chủ. Ông chủ, nếu cần, phải biện minh trước tòa án, nếu người ăn lương đòi đưa ông ta ra tòa, sau khi đã bị đuổi việc vì đã từ chối rút ngắn kỳ nghỉ phép.

63/ Ông chủ tôi có thể đổi nhiệm sở của tôi để thay thế một người ăn lương bị bệnh hay không ?

Vâng. Người ăn lương không thể từ chối sự huy động này nếu việc thay đổi này chỉ gây nên một sự thay đổi các điều kiện làm việc (gia tăng số giờ làm việc hay những công tác phải thực hiện, nhưng không đi lệch các quy định của hợp đồng. . ). Ngược lại, nếu sự thay đổi nhiệm sở có liên hệ đến một yếu tố thiết yếu của hợp đồng (chức vụ, thù lao. . ), sự thay đổi này thể hiện bởi một văn bản sửa đổi hợp đồng lao động. Trong trường hợp từ chối, người ăn lương có thể bị cho thôi việc.

64/ Các bổn phận của những ông chủ để bảo vệ những người ăn lương ?

Một cách tổng quát, người chủ có bổn phận áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn và bảo vệ sức khỏe vật lý và tâm thần của các người lao động. Pháp chế áp đặt lên người chủ một nghĩa vụ kết quả (obligation de résultat) cho sự an toàn của các người làm công.

Nếu đó là một nguy cơ như cúm A, thì người chủ ít nhất phải có một nghĩa vụ phương tiện (obligation de moyens). Nếu người chủ đã không áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hoặc đã thực hiện những biện pháp không đầy đủ, một người làm công sẽ có thể sử dụng quyền báo động (droit d’alerte) và nếu cần, quyền hủy bỏ (droit de retrait), có thể áp dụng trong trường hợp “ nguy hiểm nghiêm trọng và gần kề ” (danger grave et imminent). Nếu một người làm công ăn lương chết vì cúm A và nếu đúng là người này đã lây nhiễm virus ở nơi làm việc, thì người chủ có thể phải chịu trách nhiệm. Quan tòa sẽ công nhận sự hiện hữu của một lỗi không thể tha thứ được của người chủ nếu ông ta cho rằng người chủ đã hay biết, hay đáng lý phải hay biết về mốỉ nguy hiểm mà người làm công đã gánh chịu, và đã không áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ người này.

65/ Nếu những biện pháp phòng ngừa không được áp dụng tại trường tôi, phải làm gì ?

Một phụ huynh, nhận xét thấy một sự thiếu sót trong việc phòng ngừa, phải báo với một đại diện phụ huynh học sinh. Ở trường tiểu học, người đại diện chuyển thông tin lên hội đồng nhà trường (ở đây có một đại diện của toàn thị chính), hay hội đồng hành chánh trong các trường trung học.

Một giáo viên đệ nhị cấp, nếu ghi nhận rằng những biện pháp phòng ngừa không được áp dụng, có thể đưa đơn lên ủy ban vệ sinh và an toàn tỉnh để báo cáo tình hình. Trong trường hợp không có phản ứng, người giáo viên này có thể buộc phải tổ chức một cuộc họp của ủy ban an ninh nhà trường.

66/ Các bài giảng được đảm bảo như thế nào khi một trường học hay một đại học đóng cửa ?

Trong trường trung học, mỗi giáo sư có trách nhiếm bảo đảm sự liên tục sư phạm về môn học của mình. Các bài tập có thể được đưa lên site internet của nhà trường, hay được trao cho gia đình đồng thời với thông báo đóng cửa trường. Trong các collège và lycée, các giáo viên tham chiếu đặt dưới quyền sử dụng của các học sinh qua điện thoại.

Mỗi trường đại học có một “ kế hoạch liên tục sư phạm và hành chánh ”. Trong trường hợp đóng cửa, mọi liên lạc phải được duy trì qua Web với các nhân viên và sinh viên.

67/ Những quy tắc nào để đóng hay mở cửa một nhà trẻ và một trường học ?

Sự đóng một phần hay hoàn toàn của một nhà trẻ (tối thiểu thời gian 7 ngày liên tiếp) có thể được quyết định khi có ít nhất 3 người (trẻ em và nhân viên) đã mắc phải cúm A. Đối với các trường học, việc đóng một lớp học (6 ngày liên tiếp, có thể lập lại nếu cần) có thể được quyết định từ 3 học sinh học cùng một lớp bị bệnh cúm. Việc đóng cửa toàn trường được thực hiện tùy trường hợp. Đối với các nhà trẻ cũng như các cơ sở học đường, chính các tỉnh trưởng, liên kết với giới hữu trách y tế quyết định việc đóng và mở cửa lại.
(LE MONDE 5/11/2009)

3/ VITAMINE D : MỘT HORMONE ?

Trong những năm qua, chúng ta chứng kiến một mối quan tâm mới đối với vitamine D, đến độ nhiều tác giả quy cho sinh tố này vào hàng hormone. Chúng tôi đã hỏi ý kiến của BS Corine Bouuaert, thầy thuốc đa khoa và giảng nghiệm viên của Phân khoa Y Khoa tổng quát của ULG.

Hỏi : Làm sao giải thích sự tăng trở lại mối quan tâm đối với vitamine D ?
BS Corine Bouuaert : Người ta đã khám phá ra rằng, vitamine D có lẽ có những vai trò khác ngoài vai trò bảo vệ và củng cố xương không thôi. Và rằng, vitamine D không hẳn chỉ là một hormone có tác dụng lên xương, mà có lẽ là một hormone tác động rất nhiều hướng (hormone pléiotrope). Thí dụ người ta đã khám phá ra rằng, những thiếu hụt vitamine D cũng có thể có một vai trò lên sức mạnh của cơ, hay ít nhất góp phần vào sự vận hành của thực thể thần kinh-cơ, và những thiếu hụt vitamine D cũng được liên kết nhiều hơn với những biến cố về tim, với nhiều vấn đề miễn dịch hơn và với nhiều nguy cơ bị bệnh đái đường hơn. Người ta đã chứng thực rằng các thiếu hụt vitamine D thường xảy ra và quan trọng hơn nhiều điều mà người ta tưởng.

Hỏi : Bà có thể nói cho chúng tôi biết về các công trình của bà về vitamine D ?
BS Corine Bouuaert : Cùng với các đồng nghiệp của chúng tôi, tôi đã thực hiện một công trình nghiên cứu vào năm 2005-2006, ở Liège. Chúng tôi đã đo lường tỷ lệ các thiếu hụt vitamine D nơi các ông già. Chúng tôi tuyển mộ một cách không định trước những bệnh nhân nam giới. Tiêu chuẩn chọn lọc là 65 tuổi hoặc hơn. Chúng tôi đã định lượng vitamine D của họ và những người này phải trả lời một bảng câu hỏi, đặc biệt đề cập về mức độ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời của họ. Như vậy, chúng tôi đã thu nhận được một số các dữ kiện nơi tổng cộng 291 người trên 65 tuổi. Những kết quả đã cho thấy rằng, rất ít người đã được cho bổ sung vitamine D. Các thiếu hụt rất là nghiêm trọng, càng nghiêm trọng khi các bệnh nhân sống trong các nhà dưỡng lão, điều này là hợp lý, bởi vì bệnh nhân ít khi đi ra ngoài. Nhưng các bệnh nhân ngoại trú cũng rất thiếu vitamine D.

Hỏi : Những bệnh lý do thiếu hụt vitamine D là gì ?
BS Corine Bouuaert : Nhiều tài liệu đã cho thấy một mối tương quan giữa sự thiếu hụt vitamine D và cả một loạt các vấn đề về sức khoẻ, có liên hệ với sức mạnh của cơ, sự cân bằng, chức năng tim mạch, bệnh đái đường. Người ta cũng nghĩ rằng vitamine D là thiết yếu trong thời kỳ thai nghén, nhất là cho cái vốn xương tương lai của thai nhi. Ở đây cũng vậy, hiện giờ có cả một lãnh vực nghiên cứu, và những lời khuyến nghị đều đi theo chiều hướng cần cấp bổ sung vitamine D nơi phụ nữ có thai. Vitamine D dường như là một hormone, tác động rất nhiều hướng (pléiotrope), can thiệp vào trong một loạt hệ và cơ quan, mà người ta chưa biết được cơ chế chính xác.

Hỏi : Trong thực hiển, thái độ xử trí cần phải theo là gì ?
BS Corine Bouuaert : Đó là điều đang được tranh luận hiện nay. Vài người đề nghị đừng định nồng độ vitamine D, cho ngay các bổ sung vitamine D, ít nhất 800 đơn vị mỗi ngày, nghĩa là 25.000 đơn vị, hay một ampoule D-Cure mỗi tháng. Nhưng các dữ kiện mới đây gợi ý rằng, các thiếu hụt là quan trọng hơn nhiều, và rằng có lẽ liều lượng này vẫn chưa đủ. Do đó, câu hỏi được đặt ra là phải biết có nên thực hiện sự định nồng độ vitamine D, và ở nơi những ai. Có lẽ phải định nồng độ nơi các người già, để xác định ổ nồng độ nào thì phải cho bổ sung. Có lẽ phải đo nồng độ nơi những người kêu đau cơ cũng như trong sự hiệu chính bệnh fibromyalgie. Một số bệnh nhân bị chứng bệnh fibromyalgie có lẽ chỉ là do thiếu vitamine D.

Câu hỏi không được trả lời dứt điểm, nhưng dường như trong vài trường hợp, đo nồng độ để có thể điều biến sự cho bổ sung là hữu ích. Đối với Michael Holick, một tay cự phách về vấn xề này, liều lượng tấn công tùy thuộc vào mức độ của sự thiếu hụt. Ta có thể đề nghị một liều lượng duy trì từ 800 đến 1.200 đơn vị mỗi ngày, có thể được sử dụng hàng tháng, thậm chí hàng quý.

Trị số bình thường được chấp nhận hiện nay là 30 đến 32 ng/mL. Nếu vào lúc đầu, sự thiếu hụt là rất quan trọng, với những nồng độ dưới 10 hay 12 ng/mL, ta khuyến nghị một liều lượng tấn công 50. 000 đơn vị mỗi tuần, trong 6 tuần, rồi chuyển qua liều lượng duy trì.

Phải biết rằng những phối hợp cố định nhiều vitamine, có hoặc không có calcium, thường không đủ liều lượng. Mặt khác, ngưỡng độc tính (seuil de toxicité) rất trên các liều lượng điều trị. Theo Vieth, một chuyên gia thế giới khác về vitamine D, ngưỡng độc tính nằm trên mức 200 ng/mL, điều này tương ứng với sự sử dụng 40.000 đơn vị mói ngày. Những tình huống lâm sàng tăng canxi-huyết và soi niệu quản hiếm xảy ra, dẫu sao đứng hàng đầu là : hyperparathyroidie primaire, BK, lymphome, sarcoidose…
(LE JOURNAL DU MEDECIN 10/11/2009)

4/ MỘT HƯỚNG ĐỂ LÀM CHẬM LẠI BỆNH ALZHEIMER.

NEUROLOGIE. Lại bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới của con người. Để kéo dài tuổi trẻ. Chống lại sự lão hóa. Và một cách gián tiếp để chống lại bệnh Alzheimer. Đến nay, phải thành thực mà nói, câu chuyện này đã trải qua những diễn biến mới và bất ngờ trên các con chuột phòng thí nghiệm. Với, mục tiêu lâu dài, không phải để làm cho các động vật gậm nhấm trở thành bất tử, mà là để làm tăng tuổi thọ của con người, không bệnh tật và với sức khoẻ tốt.

Hôm qua, trong tạp chí có uy tín của Hoa Kỳ Cell, một nhóm nghiên cứu bao gồm những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Pháp và Israel, đã loan báo đã tạo các con chuột có khả năng không những vẫn trẻ dài lâu hơn, mà còn những dấu hiệu của bệnh Alzheimer phát triển rất chậm. Chính bằng cách ức chế một phần một loại gène, gène của các thụ thể đối với IGF1 (Insuline like growth factor), mà các nhà khoa học đã đạt được kết quả này. Các hãng dược phẩm đã đang hiệu chính các thuốc có khả năng phong bế tác dụng của gène này và có thể cho phép con người sống lâu hơn mà không bị thoái hóa thần kinh.

Việc khám phá ra gène của các thụ thể đối với IGF1 vào giữa những năm 1990, đã mở ra một lãnh vực nghiên cứu rộng lớn trong cuộc chiến chống lại sự lão hóa. Thí dụ người ta đã cho thấy rằng yếu tố tăng trưởng IGF1 này đóng một vai trò trong sự đề kháng đối với stress, đối với sự lão hóa và tuổi thọ nơi các con sâu, các côn trùng, các con chuột. Với những khả năng áp dụng đối với con người. Nhóm nghiên cứu của Martin Holzenberger, nhà nghiên cứu của Viện Quốc Gia sức khỏe và nghiên cứu y học (Inserm U 948), cách đây vài năm đã thành công tạo nên những con chuột mà tuổi thọ được gia tăng 1/3, chỉ bằng cách ức chế một phần gène của thụ thể đối với IGf1.

Trong bài báo được công bố hôm qua, Martin Holzenberger và các đồng nghiệp Hoa Kỳ và Israel đã quan tâm đến các chú chuột được chương trình hóa để phát triển bệnh Alzheimer và nơi các chú chuột này các gène của các thụ thể của IGF1 một phần đã bị phong bế. Kết quả : không những các động vật gậm nhấm này sống lâu hơn, như người ta đã dự kiến, mà nhất là những dấu hiệu thần kinh của chúng xuất hiện chậm hơn nhiều. “Các chú chuột này lão hóa ít nhanh hơn, sống lâu hơn, và thể hiện bệnh Alzheimer chậm hơn ”, Martin Holzenberger đã tóm tắt như vậy. “Mục tiêu của một công trình như thế là để biết người ta có thể làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer, bằng cách tác động lên quá trình lão hóa hay không ”, GS Ehud Cohen, thuộc bệnh viện Hadassah, Jérusalem, đã giải thích như vậy. Với một lợi ích rõ rệt. “ Nếu người ta làm chậm được 5 năm khởi đầu của bệnh Alzheimer, ngườita sẽ chia 2 số bệnh nhân bị bệnh này ”, GS Françoise Forette của bệnh viện Broca, Paris đã xác nhận như vậy. “ Ngày nay, có đủ bằng cớ để nói rằng các yếu tố tăng trưởng IGF1 (Insuline like growth factor), là một hướng rất nghiêm chỉnh trong nghiên cứu về bệnh Alzheimer ”, Martin Holzenberger đã nói thêm như vậy.

SỰ PHÁT TRIỂN NHỮNG TẾ BÀO VIÊM.

Nhiều hãng dược phẩm đang nghiên cứu về các các chất ức chế IGF1, để chống lại ung thư và cả bệnh Alzheimer. Người ta cũng đã chứng minh rằng chỉ cần hạn chế calorie cũng đủ làm giảm sự kích thích của IGH1 (nơi người) và làm gia tăng tuổi thọ nơi động vật gặm nhấm. Mặt khác, IGF1 cũng có liên hệ trong những hiện tượng viêm và qua đó, có thể tác động lên sự thoái hóa thần kinh này. Bệnh Alzheimer cũng được đặc trưng bởi sự phát triển của những tế bào viêm trong não bộ, GS Forette đã nói thêm như vậy. Mặc dầu những cuộc điều tra đã cho thấy rằng, những người bị bệnh khớp mãn tính và được điều trị dài lâu bởi các thuốc kháng viêm, có ít nguy cơ bị bệnh Alzheimer hơn những người khác, nhưng những thử nghiệm phòng ngừa hiện nay đã không cho những kết quả dương tính. ”

Nếu một ngày nào đó có một loại thuốc thật sự cho phép kéo dài tuổi thọ và làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer, thì việc thiết đặt những người già trong xã hội của chúng ta, cũng là cả một vấn đề, sẽ được đặt ra một cách gay gắt còn hơn cả ngày nay.
(LE FIGARO 1/12/2009)

Đọc thêm :

5/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ UNG THƯ ĐƯỢC SIẾT CHẶT LẠI.

Hơn 30% các ung thư có thể tránh được bởi những thói quen ăn uống tốt hơn.

NUTRITION. Nhiều ung thư phát sinh từ các đĩa thức ăn của chúng ta. Trong số 320.000 trường hợp ung thư mới được thống kê mỗi năm ở Pháp, khoảng 30% có thể tránh được bằng những thói quen dinh dưỡng tốt hơn và một lối sống cân bằng. Vào năm 2009, một số càng ngày càng nhiều các ấn bản khoa học đã hiệu chính mối liên hệ giữa cách ăn uống và ung thư. Cách đây vài tháng, Viện ung thư quốc gia (Inca) đã công bố những lời khuyến nghị mới về vấn đề này, đặc biệt căn cứ trên những kết luận của World Cancer Research Fund. Quỹ nghiên cứu ung thư thế giới này đã phân tích hơn 7000 công trình nghiên cứu. Trên ghế của các bị cáo là tình trạng tăng thể trọng (surpoids) và bệnh béo phì (obésité), rượu, muối, các thịt đỏ và đồ thịt lợn và các chất bổ sung thực phẩm có chất căn bản là bêtacarotène.

Hoạt động vật lý, sự cho bú sữa và sự tiêu thụ trái cây và rau xanh được xếp loại như là những yếu tố làm giảm nguy cơ bị ung thư. Nếu được tiêu thụ hàng ngày (ít nhất 5 lần mỗi ngày), các trái cây và rau xanh ngăn ngừa nhiều ung thư tiêu hóa và, chỉ riêng đối với trái cây, ngăn ngừa các ung thư phổi. Phải chăng vài loại trái cây hay rau xanh tốt cho sức khỏe hơn những loại khác ? Các nhà nghiên cứu khảo sát đều đặn các tác dụng chống ung thư của một số thức ăn nhất định. Công trình nghiên cứu mới nhất : sự tiêu thụ hàng ngày quả đào lạc (pistache) bảo vệ chống ung thư phổi.

NHỮNG TÁC DỤNG CHỐNG OXY HÓA.

Theo các chuyên gia, các công trình này hữu ích trong khung cảnh nghiên cứu, nhưng trong thực tiễn, những nhấn mạnh những tính chất đặc biệt của sản phẩm này hay sản phẩm kia thì không có ý nghĩa. “ Không có một trái cây hay một rau xanh nhiệm màu, mỗi thứ có thể chứa nhiều chất đáng quan tâm : vitamine, polyphénol, caroténoides... , GS Serge Hercberg nhấn mạnh như vậy. Chính sự phối hợp của các thức ăn mới cho phép có một sự hiệp đồng và một sự bổ sung để ngăn ngừa các ung thư, nhưng cũng để ngăn ngừa những bệnh tim mạch... ” Các tính chất của các trái cây và rau xanh được giải thích một phần bởi những tác dụng chống oxy hóa (effets antioxydants) của chúng. Suốt trong cuộc sống, sự tích tụ của các gốc tự do (radicaux libres) trong các tế bào dẫn đến những hiện tượng oxy hóa, làm cho chúng bị gỉ và do đó hóa già. “ Các chất chống oxy hóa (antioxydants) chống lại cơ chế này, GS Hercberg giải thích như vậy. Lấy hình ảnh của quả lê tàu (avocat) bị nhuộm màu khi ta mở ra làm hai. Ta có thể tránh sự “ gỉ ” này bằng cách phủ lên nó quả chanh, giàu vitamine C.
(LE FIGARO 27/12/2009)

6/ UNG THƯ : NHỮNG LIỆU PHÁP NHẮM ĐÍCH (THERAPIE CIBLEE)

Vào năm 2010, theo OMS, ung thư sẽ trở thành nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trên thế giới, phế truất các bệnh tim mạch. Nhưng năm 2010 cũng sẽ là năm đánh trả, bước vào trong kỷ nguyên của các điều trị “ cá thể hóa ”(“ sur mesure ”), có hiệu quả hơn, bởi vì được thích ứng với mỗi loại ung thư, thậm chí đối với mỗi loại khối u. Và nếu xét theo số các thuốc mới thuộc loại này, đang chờ đợi để được thương mại hóa, thì một điều chắc chắn là : cuộc cách mạng của ung thư học ( “ khoa học của các khối u ung thư ”) này đang tiến bước. Giữa tháng ba năm 2008 và cuối năm 2010, Cơ quan các dược phẩm châu Âu (EMEA) đã tiên đoán sự xuất hiện 50 loại thuốc chống ung thư mới trên thị trường. Một con số khổng lồ, sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm đến. Ở Pháp, trong năm 2010, ít nhất 8 loại thuốc chống ung thư chưa từng có trước đây, được chấp thuận năm 2009, sẽ đến làm phong phú kho vũ khí của các thầy thuốc.

860 LOẠI THUỐC ĐANG ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM.

Trong số các loại thuốc này, évérolimus, được chỉ định trong ung thư thận giai đoạn tiến triển, catumaxomab, được chỉ định đối với vài ung thư tiêu hóa, hay gefitinib, đối với vài ung phổi. Đây là những điều trị tấn công vào các cơ chế riêng của các tế bào ung thư, trái với hóa học liệu pháp cổ điển, “ dội bom ” không phân biệt các tế bào ung thư và các tế bào lành mạnh. Nói một cách chính xác hơn, các thuốc này phong bế các phân tử hay các gène bất thường chịu trách nhiệm tính hung dữ hay là nguyên nhân của sự tăng sinh vô tổ chức của một khối u. Thế mà những bất thường này có nhiều và đa dạng. Công cuộc nghiên cứu càng tiến triển thì điều chứng thực sau đây là điều không thể tranh cãi : có bao nhiêu các khối u ung thư khác nhau thì có bấy nhiêu bệnh nhân, vì mỗi khối u bao hàm sự phối hợp độc nhất của các bất thường của nó. Do đó có nhiều điều trị, mục đích là vô hiệu hóa càng nhiều các bất thường càng tốt để điều trị một tối đa các ung thư.

Tuy nhiên, ý tưởng về các liệu pháp nhắm đích không phải là mới. “ Thủ lĩnh ” của chúng là một loại thuốc được sử dụng từ hơn 30 năm nay, tamoxifène (Nolvadex), tác dụng lên các khối u ung thư của vú, mà sự tăng trưởng được kích thích bởi các hormone (oestrogène). Liệu pháp nhắm đích nổi tiếng khác : herceptine (trastuzumab), năm 2001 đã cách mạng hóa sự điều trị của ung thư vú. Herceptine phong bế phân tử HER2, hiện diện trên bề mặt của 1/3 các ung thư vú và đóng một vai trò trong sự tăng sinh của ung thư. Từ đó, hiệu năng của các dụng cụ di truyền (outil génétique) đã cho phép đẩy nhanh sự nghiên cứu. Ngày nay người ta biết rằng gần 400 gène, nếu chúng bị biến dị, có thể gây nên sự ung thư hóa của một tế bào. Bấy nhiêu mục tiêu đối với các điều trị mới. Tổng cộng, hơn 860 thuốc chống ung thư đang là đối tượng của những thử nghiệm lâm sàng. Hoặc hơn gấp đôi các thuốc đã được phát triển để chống lại các bệnh tim hay thần kinh. Hiệu quả hơn và ít độc tính hơn hóa học liệu pháp cổ điển, chúng tấn công vào gót chân Achille của các khối u ung thư. Một loại thuốc mới, các “ chất ức chế PARP ”, vừa chứng tỏ tính hiệu quả lên các ung thư vú “ ba âm tính ” (triples négatifs) (không có thụ thể nào trong số 3 thụ thể được nhắm đích bởi các điều trị hiện nay). Chiến thuật của chúng ? Ngăn cản các tế bào ung thư sửa chữa các thương tổn của ADN, gây nên bởi hóa học liệu pháp và do đó sống sót sau liệu pháp này. Các thuốc “ inhibiteurs de PARP ” đầy hứa hẹn, đến độ các cuộc thương thuyết với EMEA để thương mãi hóa chúng đã bắt đầu, mặc dầu các thử nghiệm lâm sàng còn đang được tiến hành.

PHÂN TÍCH CHI TIẾT KHỐI U.

Nhưng do tính đặc hiệu của chúng, những liệu pháp này có một khuyết điểm quan trọng. Mỗi liệu pháp chỉ có hiệu quả đối với vài bệnh nhân. “ Công cuộc nghiên cứu càng tiến triển, người ta càng chia các ung thư thường xảy ra thành những nhóm ung thư hiếm ”, Gilles Vassal, chuyên gia ung thư của Viện Gustave-Roussy, Villejuif, đã giải thích như vậy. “ Thí dụ, chỉ có 30% các ung thư vú biểu hiện HER2 và có thể hưởng điều trị với herceptine. Thế mà, trong số 30% này, chỉ một nửa có thể đáp ứng với điều trị, bởi vì vài gène mang lại một sự đề kháng. ” Do đó phải phân tích khối u một cách chi tiết. Bệnh viện toàn khoa Massachusetts là bệnh viện đầu tiên thực hiện công tác này một cách hệ thống. Từ nay đến giữa năm 2010, các thầy thuốc sẽ thiết lập“ thẻ căn cước ” di truyền của các khối u của tất cả các bệnh nhân, trước khi đề nghị với họ một điều trị. Nhưng sự xuất hiện ồ ạt của các loại thuốc này không ngăn cản các chuyên gia ung thư giữ đầu óc thực tế, nhất là những điều trị nhắm đích này có thể 100 lần đắt hơn một hóa học liệu pháp cổ điển.
(SCIENCE ET VIE 1/2010)

Đọc thêm :

7/ BỆNH ĐA KHỚP DẠNG THẤP LAN TRÀN NHƯ THỂ NÀO ?

RHUMATOLOGIE. Một nhóm nghiên cứu người Đức đã khám phá bằng cách nào quá trình viêm của bệnh viêm đa khớp dạng thấp lần lượt tấn công các khớp. Các loại thuốc nhằm vào các tế bào chịu trách nhiệm gây nên phản ứng viêm này có thể làm ngừng tiến triển của bệnh.

Viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) là một bệnh của các khớp, gây bệnh cho 0,5% dân chúng phương tây, đại đa số là các phụ nữ. Nói chung, bệnh khởi đầu vào năm 40 tuổi, với một sự thương tổn của các bàn tay, cổ tay và những khớp nhỏ của các bàn chân. Với thời gian, phản ứng viêm ảnh hưởng lên phần lớn các khớp. Các bệnh nhân bị bệnh mất đi sự khéo léo, một vài trở nên tật nguyền.

Cũng như mọi bệnh tự miễn dịch, viêm đa khớp là do một phản ứng bất thường của hệ miễn dịch quay ngược trở lại chống cơ thể. Nhiều loại tế bào tấn công các mô khớp : các bạch cầu (đại thực bào và các tế bào lympho) nhưng cũng vài tế bào cấu tạo sụn, được gọi là những nguyên bào sợi hoạt dịch (fibroblastes synoviaux), mà tác dụng của chúng đặc biệt gây tàn phá. Một nhóm nghiên cứu người Đức vừa chứng tỏ rằng các tế bào này cũng chịu trách nhiệm sự khuếch tán của căn bệnh : chúng di chuyển từ khớp này qua khớp khác.

SỰ DI CHUYỂN.

Để chứng minh điều đó, Elena Neuman, thuộc đại học Justus-Liebig, ở Bad Nauheim, và các đồng nghiệp, đã nghiên cứu hành vi của các nguyên bào sợi người (fibroblastes humains) nơi các con chuột da bị lấy mất đi khả năng phòng vệ miễn dịch, nhằm làm chúng không thải bỏ ghép. Các nhà nghiên cứu đã cấy, trên một cạnh sườn của các động vật gặm nhấm, sụn người lành mạnh với các nguyên bào sợi hoạt dịch (fibroblaste synovial) phát xuất từ những bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp. Trên cạnh sườn bên phía đối diện, họ đã ghép sụn lành mạnh không có nguyên bào sợi. Sau 60 ngày, họ trích ra hai loại sụn và đã phân tích chúng. Kết quả : sụn thứ nhất (sụn với các nguyên bào sợi hoạt dịch) bị tấn công bởi các nguyên bào sợi nằm ở cạnh bên. Ngạc nhiên hơn, sụn thứ hai (sụn nằm ở cạnh sườn đối diện) cũng chứa các nguyên bào sợi người, và đã bắt đầu phá hủy nó.

Vậy những tế bào này chuyển dịch từ phía này qua phía kia của cơ thể. Bằng cách nào ? Có lẽ qua tuần hoàn máu. Thật vậy, các nhà sinh học đã phẫu tích các cơ quan của 20 con chuột được ghép : chỉ một cơ quan, lá lách, là chứa các vết của cac nguyên bào sợi. Mà một trong những chức năng của lá lách là lọc các tế bào máu. Hơn nữa, trên 40 con chuột được ghép, một nửa có những nguyên bào sợi hoạt dịch trong máu.

“ Công trình nghiên cứu này phát hiện ra rằng bệnh viêm đa khớp dạng thấp lan tràn hơi giống với ung thư, từ một khối u đôi khi phát tán thành các di căn ”, Marie-Christophe Boissier, thuộc đại học Paris XIII, đã giải thích như vậy. Những công trình nghiên cứu này mở ra một hướng điều trị mới : các thuốc nhằm ngăn cản nguyên bào sợi (fibroblastes) di chuyển. “ Để tìm ra những loại thuốc này, còn cần phải nghiên cứu chi tiết những cơ chế, nhờ đó các nguyên bào sợi này di chuyển trong các huyết quản và gắn vào các khớp ”, Jean Roudier, thuộc Inserm, Marseille, đã đánh giá như vậy.
(LA RECHERCHE 1/2010)

8/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : GIÁO DỤC ĐỂ PHÒNG NGỪA.

Giáo sư Maxime Dougados, trưởng khoa thấp khớp của bệnh viện Cochin, giải thích phương pháp mới này trong thấp khớp học tại diễn đàn khoa học của Unesco “ Arthrites, arthrose, ostéoporose : dernières avancées ”.

Hỏi : Vì những lý do nào một giáo dục phòng ngừa là đặc biệt được chỉ định trong các trường hợp viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) ?
G. S Maxime Dougados : Đó là một bệnh viêm mãn tính tự miễn dịch, nói chung, bắt đầu được biểu hiện ở các bàn tay, bởi một sự cứng khớp vào buổi sáng và một sự sưng phồng các khớp. Không được điều trị, bệnh lý này sẽ tiến triển dần dần, từng đợt và gây nên những biến dạng khớp, có thể tạo nên một tật nguyền quan trọng. Một bệnh nhân, nếu có thể nhận biết một tình trạng viêm, sẽ có thể đánh giá nó và hiểu được sự cần thiết phải theo sát điều trị duy trì của mình để ngăn cản những biến dạng này. Một bệnh nhân thông hiểu quản lý tốt hơn cuộc sống hàng ngày của mình. Nếu y thức được về các nguy cơ của các bệnh liên kết, bệnh nhân cũng sẽ biết tự bảo vệ tốt hơn.

Hỏi : Làm sao một bệnh nhân có thể tự đánh giá tình trạng viêm của mình ?
G. S Maxime Dougados : Trước hết có một máy tính nhỏ, trong đó bệnh nhân có thể đưa vào các thông tin, như số khớp bị đau hay bị sưng tấy. Toàn bộ các dữ kiện được đo bởi một con số duy nhất, chỉ số DAS : nếu trên 3,2, căn bệnh vẫn còn luôn luôn đang hoạt động. Nhờ những điều chỉ dẫn thu được như thế, thầy thuốc, vào mỗi lúc chẩn bệnh (khởi đầu hàng tháng, rồi mỗi quý hay mỗi 6 tháng một lần sau đó), có thể thích ứng điều trị tốt hơn nhiều.

Hỏi : Ngoài phương tiện thực tiễn này, chương trình giáo dục nhằm vào những gì ?
G. S Maxime Dougados : Các trung tâm giáo dục đã được thành lập vì mục đích này trong các khoa thấp khớp của bệnh viện và trong vài cơ sở chữa bệnh bằng nước nóng (cures thermales). Ở đó các bệnh nhân có thể theo các lớp tiết kiệm khớp (cours d’économie articulaire), qua đó họ học những động tác cần phải tránh trong trường hợp đợt viêm cấp tính, để bảo vệ các khớp và để hạn chế những thương tổn lên sụn, các dây gân và xương. Các liệu pháp nhóm (thérapies de groupe), được hướng dẫn bởi một chuyên gia tâm lý học (psychologue), cho phép những bệnh nhân bị viêm đa khớp dạng thấp rất nặng, mà ở nhà họ phải âm thầm chịu đựng, phát biểu một cách tự do. Đối với mọi loại thương tổn khớp (đầu gối, vai, háng... ), những bài tập thể dục đặc hiệu đã được hiệu chính, thích ứng với mức độ tàn phế.

Hỏi : Sự hữu ích của những chương trình này về nguy cơ bị các bệnh liên kết là gì ?
G. S Maxime Dougados : Hãy nhắc lại rằng những bệnh nhân bị viêm đa khớp này không chỉ có nguy cơ bị các biến chứng có liên quan đến các bệnh thấp khớp, mà cũng bị những bệnh khác, vì lẽ tình trạng miễn dịch của họ bị rối loạn hay do sự điều trị thấp khớp của họ. Chúng ta biết rằng nơi những bệnh nhân bị bệnh đa khớp này, các bệnh tim mạch và nhiễm khuẩn thường xảy ra hơn. Những chương trình giáo dục này sẽ báo động, nhắc nhở các bệnh nhân những điều khuyến nghị cần thiết, bởi vì không nên quên rằng họ phải được theo dõi rất sát ! Họ đặc biệt dễ bị những vấn đề tim mạch, do đó điều quan trọng là phải đánh giá đều đặn huyết áp, nồng độ cholestérol, đường huyết và trong lượng của họ. Những bệnh nhân này cũng có một nguy cơ lớn hơn bị nhiễm trùng, do đó cần phải canh chừng để họ được tiêm chủng, nhất là hàng năm chống lại bệnh cúm và mỗi 5 năm, chống lại phế cầu khuẩn (pneumocoque).

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những lợi ích thật sự của các chương trình này ?
G. S Maxime Dougados : Công trình nghiên cứu sau cùng hết, được thực hiện vào tháng 9 /2009 bởi nhóm nghiên cứu của trung tâm Rennes, đã chứng minh rằng , ba năm sau một chương trình giáo dục, hoạt tính của bệnh viêm này chậm đi rất rõ rệt nơi những người được giáo dục. Ở đây, trong trung tâm của chúng tôi ở bệnh viện Cochin trước đây chúng tôi đã thực hiện một nghiền cứu đã cho phép chúng tôi quan sát thấy các bệnh nhân rất thỏa mãn và có một khả năng đương đầu tốt hơn.
(PARIS MATCH 12/11-18/11/2009)[/color]

9/ MỘT LOẠI THUỐC CHỐNG LẠI VIÊM ĐA KHỚP.

RHUMATOLOGIE. Đây là một vũ khí mới chống lại viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), căn bệnh tự miễn dịch còn chưa được biết rõ, gây bệnh cho 21 triệu người trên thế giới và 300.000 người ở Pháp. Thuốc mới, tocilizumab, mở đầu một lớp điều trị mới. Thuốc này tấn công vào interleukine 6 (IL-6), một cytokine đóng một vai trò chủ chốt trong sự điều hoàn phản ứng viêm. Tocilizumab là một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal), được hướng chống lại các thụ thể của IL6, như thế phong bế sự gắn của cytokine vào các thụ thể và ngăn cản nó tác động.

Thuốc vừa được phép thương mãi hóa trên thị trường Pháp. Thuốc này được dành cho những bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp đang tiến triển thể trung bình và nặng, mà điều trị với các phương pháp cổ điển (méthotrexate, anti-TnF-alpha) thất bại, nghĩa là khoảng 35.000 bệnh nhân. Một sự bố trí cảnh giác dược (un dispositif de pharmacovigilance) sẽ được thiết đặt, vì lẽ những trường hợp tử vong đã xảy ra ở Nhật Bản vào tháng ba nơi những bệnh nhân có sức khỏe rất kém.

Đứng trước căn bệnh nghiêm trọng và gây tàn phế này, được đặc trưng bởi những đợt viêm nơi các khớp, gây nên đau và sưng phù, nhưng cũng gây thương tổn lên tim, hiện nay không có một điều trị nào chữa lành bệnh cả.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2010)

10/ VI KHUẨN CHÍ RUỘT (MICROFLORE INTESTINALE) ĐÓNG MỘT VAI TRÒ TRONG CHỨNG BÉO PHÌ.

Đây là điều mới để chống lại chứng béo phì : sự điều biến vi khuẩn chí ruột (microflore intestinale) của chúng ta là làm dễ sự mất cân. Nhóm nghiên cứu Tây Ban Nha đã áp đặt 36 thiếu niên bị tăng thể trọng theo một chế độ ăn uống và những hoạt động vật lý. Mặc dầu tất cả đều nhận một cung cấp năng lượng tương tự, nhưng 23 trong số các thiếu niên này đã mất nhiều trọng lượng hơn những trẻ khác. Điều gì phân biệt chúng với nhau ? Một tỷ lệ cao hơn 2 loại vi khuẩn ruột (clostridium và bacteroides). Thành phần của vi khuẩn chí ruột do đó ảnh hưởng lên sự phát triển của bệnh béo phì.
(SCIENCE ET VIE 10/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/1/2010)
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#32 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 12 January 2010 - 05:54 AM

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY CÓ LỢI CHỐNG LẠI BỆNH ALZHEIMER ?

Các kết quả ly kỳ đã thu được trên chuột nhưng cần phải được xác nhận.

NEUROLOGIE. Ngay đúng vào giữa cuộc luận chiến về tính độc hại khả dĩ của các điện thoại cầm tay đối với sức khỏe, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ lại tạo một mối bất ngờ. Thật vậy, các công trình nghiên cứu trên chuột của họ, vừa được công bố trong tạp chí chuyên khoa Journal of Alzheimer’s Disease, gợi ý rằng một sự tiếp xúc lâu dài với các sóng điện từ, được phát ra bởi các điện thoại di động, có thể ngăn ngừa căn bệnh Alzheimer, và ngay cả có thể làm thoái biến các thương tổn của nó. Mãi đến nay, đúng hơn, các điện thoại cầm tay bị nghi ngờ gây nên những khối u não. Những kết quả thu được bởi Gary Arendash, thuộc trung tâm nghiên cứu về bệnh Alzheimer ở Florida, có vẻ ly kỳ ngoạn mục, nhưng rất còn sơ khởi và vẫn cần được xác định, các chuyên gia người Pháp đã đánh giá như vậy.

Gary Arendash là nhà nghiên cứu được công nhận trong lãnh vực của bệnh Alzheimer, là một trong những nhà tiền phong của hướng tiêm chủng đối với bệnh này. Ông đã đi từ giả thuyết cho rằng một sự sử dụng mạnh và lâu dài của điện thoại cầm tay có thể có hại đối với não bộ và đặc biệt là trí nhớ. Để kiểm chứng điều đó, nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành những thí nghiệm nơi 96 con chuột, trong đó nhiều con bị biến đổi về mặt di truyền để làm phát khởi bệnh Alzheimer. Hai giờ mỗi ngày, trong 7 đến 9 tháng, những động vật này đã chịu tác dụng, không phải trực tiếp từ những điện thoại cầm tay, mà từ một antenne phát ra những sóng điện từ có tần số cao. Các nhà nghiên cứu đều ngạc nhiên bởi vì những tác dụng của sự tiếp xúc này (tương ứng nơi người một điện thoại cầm tay được gắn chặt vào tai nhiều giờ mỗi ngày trong nhiều năm) đã là có lợi.

“ MỘT HƯỚNG ĐÁNG LƯU Ý ”

Trước hết, các chú chuột có tố bẩm về mặt di truyền mắc bệnh Alzheimer nhưng được tiếp xúc sớm và dài lâu với các sóng điện từ đã được bảo vệ chống lại bệnh này. Hiệu năng của chúng đối với các trắc nghiệm trí nhớ (định hướng trong một mê cung) đã tỏ ra giống với các hiệu năng của các động vật lành mạnh. Còn đáng ngạc nhiên hơn, các chú chuột vốn đã bị bệnh, cũng đã tìm lại được trí nhớ của mình. Và trong não bộ của chúng, các mảng amyloide (một trong những chữ ký cơ thể học của bệnh Alzheimer) đã thoái lui. Về những chú chuột không bị biến đổi về mặt di truyền, trí nhớ của chúng cũng được gia tăng nhờ một sự tiếp xúc lâu dài với các sóng điện từ. “ Bởi vì chúng tôi đã sử dụng các tham số điện từ y hệt với các điện thoại cầm tay, và bởi vì trí nhớ của các con chuột của chúng tôi đã được đánh giá với những phương pháp giống với những trắc nghiệm nơi người, nên chúng tôi nghĩ rằng những kết quả của chúng tôi có thể rất thích đáng nơi người ”, Garen Arendash đã nhấn mạnh như vậy. Theo ông, những tác dụng bảo vệ của các sóng điện từ lên trí nhớ, một phần có thể được giải thích bởi một sự gia tăng lưu lượng máu trong não bộ. Trong những thời kỳ tiếp xúc với máy điện thoại cầm tay, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận một sự tăng nhẹ của nhiệt độ não bộ nơi các cobaye. Hiện tượng này, có lẽ đóng một vai trò trong sự thoái lui của các mảng amyloide, đã được ghi nhận duy nhất nơi các con chuột bị bệnh, sau nhiều tháng thí nghiệm. “ Các sóng điện từ có thể là một điều trị không dược lý và không xâm nhập của bệnh Alzheimer ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy, đồng thời kêu gọi thận trọng khi suy diễn những khám phá của họ lên người. Đứng trước các công trình chưa từng có này, các chuyên gia người Pháp vẫn tỏ ra dè dặt. “ Đó là một hướng nghiên cứu đáng lưu ý, được đề nghị bởi một nhóm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng những kết quả của họ cần được thực hiện lại ”, GS Jean-Jacques Hauw, thầy thuốc bệnh lý thần kinh thuộc đại học Pierre-et-Marie-Curie, Paris, đã bình luận như vậy. Ông nói rõ rằng mô hình động vật được sử dụng bởi nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ là có giá trị, nhưng vẫn còn xa với căn bệnh Alzheimer của người. GS Philippe Amouyel (Inserm), nhà nghiên cứu bệnh Alzheimer, thẳng thừng phê phán về phương pháp thực hiện. Trong các thí nghiệm này, chính toàn bộ cơ thể của động vật được cho tiếp xúc với các sóng điện từ, chứ không chỉ có đầu mà thôi, ông đã nhận xét như vậy. “ Nhất là số lượng các con chuột được dùng làm thí nghiệm là khá thấp và được chia thành nhiều nhóm nhỏ chịu nhiều trắc nghiệm. Ngoài ra, vài kết quả được quan sát có thể là do sự tình cờ ”
(LE FIGARO 8/1/2010)

2/ BƯỚC NHANH HƠN ĐỂ SỐNG LÂU HƠN.

Hai tin tốt lành đối với sức khỏe của trái tim chúng ta, bởi vì dễ áp dụng. Tin vui đầu tiên là mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và nguy cơ tim mạch. Một công trình nghiên cứu, đã theo dõi hơn 28.000 người và mới đây được trình bày ở hội nghị thường niên của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, chứng minh rằng những bệnh nhân có những nồng độ vitamine D thấp, dưới 30ng/ml, có nguy cơ hai lần nhiều hơn bị suy tim, tai biến mạch máu não hay bệnh động mạch vành, hơn những bệnh nhân có những nồng độ bình thường. Những kết quả khá đủ thuyết phục để bắt đầu tiến hành nhanh chóng các thử nghiệm lâm sàng nhằm đánh giá lợi ích của việc cho bổ sung vitamine D, đặc biệt có nhiều trong gan cá.

Tin tốt lành thứ hai liên quan đến nhịp bước của chúng ta. Về điểm này, chính một nhóm nghiên cứu người Pháp của Inserm (đại học Paris-VI-Pierre-et-Marie Curie UMRS 708) đã theo dõi 3200 người trong suốt 5 năm. Công trình đã tiết lộ rằng chúng ta bước càng ít thì nguy cơ chết do tim càng gia tăng. Như thế, tốc độ của các di chuyển có thể là một chỉ dấu (indicateur) đáng tin cậy. Vậy bước nhanh là rất có lợi vì lẽ tỷ lệ tử vong 44 lần cao hơn nơi những người di chuyển một cách chậm chạp.
(SCIENCE ET AVENIR 1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 95 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (3/10/2008)

4/ CHẠY ĐỂ LÀM NGỪNG LẠI THỜI GIAN

Theo các nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ, chạy bộ đều đặn làm chậm lại những tác dụng của tuổi già.

Chúng ta biết rằng hoạt động vật lý được liên kết với sự gìn giữ sức khỏe trong mọi loại tuổi tác, nhưng còn hiệu quả của chúng với thời gian thì sao ? Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã thực hiện một công trình nghiên cứu dài hạn (20 năm) nơi những người trưởng thành, môn đồ của môn chạy bộ. Eliza Chakravarty và các cộng sự viện (Stanford University, California) đã gởi các bảng câu hỏi hàng năm cho 538 thành viên của một câu lạc bộ bóng đá và 423 người chứng ở Californie. Tất cả đều 50 tuổi hoặc hơn vào lúc đầu công trình nghiên cứu năm 1984. Những dữ kiện thu lượm được liên quan đến việc chạy bộ và mức độ thường xuyên tập thể dục, chỉ số khối lượng cơ thể và những tình trạng mất năng lực vật lý (khả năng mỗi ngày bước, mặc quần áo, rửa ráy, đứng dậy từ ghế ngồi, lấy các đồ vật) cho đến năm 2005. Tổng cộng, 284 người chạy bộ và 156 người chứng đã điền tất các các bảng câu hỏi. Khởi đầu, những người hoạt động chạy trung bình 4 giờ mỗi tuần, sau 21 năm theo dõi, thời gian này đã giảm xuống còn khoảng 76 phút mỗi tuần.

Những kết quả cho thấy rằng vào năm 1984, những người chạy bộ trẻ hơn, mảnh dẻ hơn và ít có khuynh hướng hút thuốc hơn những người chứng. Những người chứng này cũng có nhiều tình trạng mất năng lực vật lý hơn những người thể thao, và điều này ở trong mọi thời kỳ theo dõi. Tinh trạng mất năng lực này gia tăng với tuổi tác trong hai nhóm, nhưng ở một mức độ hơi ít hơn đối với những người hoạt động nhất, khoảng 16 năm sau. Mặt khác người ta không nhận thấy tỷ lệ hư khớp (ostéoarthrite) cũng như khớp đầu gối giả (prothèse du genou) cao hơn nơi những người chạy bộ.

Sau 19 năm theo dõi, 15% những người chạy bộ đã chết, so sánh với 34% những người chứng. Những tàn phế vật lý và đường cong sống sót đã tiếp tục phân ly giữa hai nhóm sau 21 năm theo dõi, khi những người tham dự đạt đến tuổi 90.

CHUNG KẾT TỐT ĐẸP

Đối với các tác giả, việc tập thể dục mạnh mẽ (thí dụ chạy bộ) nơi những người tuổi trung niên và đứng tuổi được liên kết với một sự giảm số các tàn phế vật lý trong tuổi già và một chất lượng sống tốt hơn sau 90 tuổi. Do đó, làm sao bảo vệ sức khỏe lúc về già ? Bằng cách tập thể dục. Đối với một trong các tác giả, James Fries, điều này minh họa hoàn toàn lý thuyết sự giảm tỷ lệ mắc bệnh (théorie de compression de morbidité) : việc tập thể dục đều đặn làm kéo dài những năm sống không tàn phế và do đó một cuộc sống có chất lượng cao. “ Tiếp tục một luyện tập thể thao không nhất thiết sẽ kéo dài tuổi thọ, nhưng điều này sẽ giới hạn thời kỳ cuối đời trong đó chúng ta sẽ không còn có khả năng tự mình thực hiện những hoạt động hàng ngày được nữa. Những kết quả cũng tương quan với những thói quen sống tốt hơn nơi những người thể thao nói chung ” .

Nói một cách khác, những người chạy bộ lâu năm có thể lực tốt hơn, có một thời kỳ sống còn lại “ tích cực ” (une espérance de vie active) lớn hơn và có nguy cơ chết sớm, hai lần ít hơn so với những người không hoạt động thâm niên. Dầu đó là những bệnh tim mạch, bệnh ung thư, bệnh thần kinh, bệnh nhiễm trùng hay những bệnh khác.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 29/8/2008)

3/ LÀM SAO HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ NGĂN NGỪA SỰ LÃO HÓA Ở NGAY TRUNG TÂM CÁC TẾ BÀO.

Một công trình nghiên cứu phát hiện các tác dụng bảo vệ của thể dục lên các nhiễm sắc thể.

Tin tốt lành đối với tất cả những ai đã quyết định đặt thể dục trong danh sách các quyết định của họ cho năm 2010. Một công trình nghiên cứu độc đáo, vừa mới được công bố trong tạp chí Circulation, chứng minh rằng việc tập đều đặn một môn thể thao dai sức (sport d’endurance) làm chậm lại sự lão hóa, và điều này xảy ra ở mức tế bào. Theo các công trình của Ulrich Laufs (đại học Saarland, Hambourg), được tiến hành đồng thời nơi chuột và các vận động viên, hoạt động vật lý tác động bằng cách điều hòa sự biểu hiện của télomérase, một enzyme được biết là có vai trò chủ chốt trong quá trình lão hóa và ung thư.

Là những mảnh ADN ở các đầu mút của các nhiễm sắc thể, các télomère ngắn lại trong suốt cuộc đời, khi các tế bào càng phân chia. Khi các télomère này đạt đến một kích thước tới hạn, tế bào không còn có thể tăng sinh và chết. Vậy, sự xói mòn của các nhiễm sắc thể, được ức chế bởi télomérase, là một thành phần trung tâm của sự lão hóa. Trái lại, sự hoạt hóa của enzyme télomérase đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng sinh vài tế bào ung thư. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, nguồn gốc của khám phá enzyme có hai mặt này, đã được thưởng giải Y Học Nobel vào năm 2009.

Nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập lợi ích của hoạt động vật lý trong sự ngăn ngừa các bệnh tim mạch. Một sự luyện tập đều đặn cho phép một sự kiểm soát tốt hơn huyết áp, cải thiện nồng độ cholestérol, triglycérides và đường trong máu, điều hòa sự lên cân … Người ta cũng đã chứng tỏ rằng những người hoạt động vật lý tích cực làm giảm các nguy cơ bị một vài ung thư (nhất là ung thư đại tràng, vú và tử cung). Tuy nhiên, các cơ chế phân tử để giải thích những hiệu quả này vẫn ít rõ ràng.

Để làm sáng tỏ những cơ chế này, Ulrich Laufs và các đồng nghiệp trong thời kỳ đầu đã nghiên cứu các con chuột, trong đó một nhóm, trong 3 tuần lễ, đã được huấn luyện cho chạy trong một chiếc bánh xe. So với những động vật vẫn nhàn rỗi, các con chuột thể thao có một sự gia tăng hoạt tính của télomérase ở động mạch chủ và trong các tế bào máu của chúng. Những con chuột này cũng có một sự giảm các dấu hiệu của chết tế bào được chương trình hóa (apoptose).

“ MỘT LOẠI ĐỔNG HỒ NỘI TẠI ”

Để xác nhận những dữ kiện này nơi người, các nhà nghiên cứu Đức sau đó đã chọn lọc nhiều nhóm vận động viên thể thao : một mặt các vận động viên điền kinh nhà nghề tuổi trung bình 20, và chạy 73 km mỗi tuần ; mặt khác, các vận động viên marathon và các vận động viên cuộc đua ba môn (triathlète) tuổi trung bình 51 tuổi. Họ đã được so sánh với hai nhóm chứng gồm những người có sức khoẻ tốt, không hút thuốc. “ Một sự luyện tập vật lý dài lâu làm hoạt hóa men télomérase và làm giảm sự rút ngắn của các télomère trong các bạch cầu ”, các tác giả đã kết luận như vậy, đồng thời xác nhận rằng sự ổn định của kích thước của các télomère là rõ rệt hơn nơi các vận động viên tập luyện từ nhiều thập niên so với những vận động viên trẻ nhất. “ Những công trình nghiên cứu của chúng tôi là một bằng cớ trực tiếp về tác dụng chống già của hoạt động vật lý ”, họ đã đánh giá như vậy. “ Đã từ lâu, các télomère đã được xem như là một loại đồng hồ nội tại cho phép đo lường quá trình lão hóa. Ngày nay dường như chúng đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong việc kiểm soát sự vẹn toàn của tổ chức mô ”, Eric Gilson, nhà nghiên cứu sinh học phân tử và giáo sư ở đại học Y Khoa Nice, đã phản ứng như vậy.

Theo chuyên gia này, các công trình mới đây cho thấy rằng hệ các télomère có liên quan trong sự tạo thành các mạch máu mới (néoangiogénèse), nhưng cũng trong những quá trình viêm và những phản ứng miễn dịch. “ Trong tương lai, về mặt kỹ thuật ta có thể dự kiến đo lường đều đặn kích thước của các télomère của một cá thể cũng như ta thực hiện đo đường huyết hiện nay ”, nhà nghiên cứu người Pháp nói tiếp như vậy. Một nồng độ bất thường khi đo được lý giải như là một tín hiệu báo động, yêu cầu thực hiện một bilan sức khỏe hoàn chỉnh hơn. Còn lại là vấn đề phí tổn.
(LE FIGARO 5/1/2010)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Bài số 147, Đề Mục: 3/ GIẢI NOBEL LẦN THỨ 100 CHẠY THEO TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ.

4/ MỘT THUỐC KỀM HÃM BỆNH PARKINSON.

Sau cùng, phải chăng chúng ta có được loại thuốc đầu tiên có khả năng làm chậm lại bệnh Parkinson ? Đó là điều được gợi ý bởi nhóm nghiên cứu của Olivier Rascol (Inserm/CHU Toulouse), cộng tác với các nhóm nghiên cứu của Warren Olanow (Hoa Kỳ) và của phòng thí nghiệm Teva (Israel). Rasagiline (Azilect) được kê toa để làm giảm các triệu chứng của bệnh Parkinson (run, cứng đờ) khi chúng trở nên gây cản trở quan trọng. Thế mà những công trình nghiên cứu mới đây dường như chứng tỏ rằng rasagiline cũng có một tác dụng bảo vệ các neurone mà căn bệnh nhắm vào. “ Chúng tôi đã muốn xem thuốc này cũng có thể làm chậm sự tiến triển của sự thoái hóa hay không ”, Warren Olanow đã trình bày như vậy. 1176 bệnh nhân đã được chia thành hai nhóm : một nhóm đã nhận một placebo trong 9 tháng, rồi rasagiline 9 tháng tiếp theo. Nhóm kia đã được điều trị trong 18 tháng với rasagiline. Không ngạc nhiên : sau 9 tháng đầu tiên, tình trạng của các bệnh nhân được điều trị bởi rasagiline được cải thiện. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn, sau 18 tháng và mặc dầu tất cả các bệnh nhân đều được điều trị rasagiline, nhưng sự khác nhau giữa hai nhóm vẫn tồn tại. Thế mà “ nếu rasagiline chỉ tác dụng lên các triệu chứng, thì tác dụng của nó sau 18 tháng đáng lý ra phải giống hệt nhau trong hai nhóm ”, Warren Olanow đã xác nhận như vậy. Kết luận, thuốc hẳn phải kềm hãm sự trở nặng của bệnh. Một tác dụng cần phải được xác nhận bằng một sự theo dõi các bệnh nhân.
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Bài số 146, Đề Mục: 9/ THUỐC MỚI KỀM HÃM SỰ TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH PARKINSON.

5/ TÂM THẦN HỌC : LITHIUM VẪN LÀ ĐIỀU TRỊ CĂN BẢN CỦA CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.

Một công trình nghiên cứu lớn xác nhận vai trò của Lithium trong căn bệnh xen kẽ những giai đoạn kích động và trầm cảm này.

Bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), còn được gọi là bệnh lưỡng cực loại 1 (maladie bipolaire de type 1), gây bệnh 1% dân chúng trong dạng “ thuần nhất ” nhưng 4% bị một dạng nhẹ (“ édulcorée ”), tuy nhiên không phải là kém phần đau khổ. Những rối loạn được gọi là lưỡng cực này, được thể hiện bởi những giai đoạn trầm cảm xen kẽ với những lúc kích động, mất ngủ, cảm giác khoái trá, những ý nghĩ vĩ đại… được phân biệt với những trầm cảm phản ứng (dépressions réactionnelles) bởi sự thiếu những yếu tố khởi động rõ ràng. Và nhất là bởi những khác nhau trong điều trị và xử trí. Đã từ nhiều năm nay, một tố bẩm di truyền mạnh có thể là nguyên nhân của những bệnh này. Một vài gia đình có vẻ bị ảnh hưởng hơn so với những gia đình khác.

Trái với những bệnh tâm thần nghiêm trọng khác, đối với loạn tâm thần hưng-trầm cảm và các rối loạn lưỡng cực, có những điều trị tỏ ra có hiệu quả và đảm bảo một đời sống gần như bình thường đối với một tỷ lệ không phải nhỏ các bệnh nhân. Nhưng rất thường những rối loạn này không được chẩn đoán tốt, gây nên một sự chậm trễ trong việc xử lý. Điều trị cơ bản không dựa vào các thuốc chống trầm cảm mà vào các thuốc điều hòa tính khí (régulateurs de l’humeur). Tuần này, tạp chí Anh The Lancet đã xuất bản những kết quả của một thử nghiệm điều trị rất quan trọng, thử nghiệm Balance, mà những kết luận chứng minh một cách chính thức rằng điều trị hiệu quả nhất đối với các rối loạn lưỡng cực là ở chỗ kết hợp của hai thuốc điều hòa tính khí, lithium và valproate. “ Những kết quả này rất là quan trọng, GS Chantal Henry, giám đốc trung tâm chuyên gia về những rối loạn lưỡng cực, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) đã giải thích như vậy. Trước hết, những kết quả này đã có được nhờ một công trình nghiên cứu độc lập của công nghiệp dược phẩm. Sau đó, chúng cho phép mang lại những câu trả lời cụ thể bằng cách xác định một loại “ gold standard ” trong điều trị những rối loạn lưỡng cực.

Thử nghiệm, được công bố trong The Lancet, đã được tiến hành bởi một mạng thế giới các thầy thuốc tâm thần chuyên về căn bệnh này. Thử nghiệm được thực hiện trên 330 bệnh nhân trong 41 trung tâm điều trị ở Anh, Ý, Pháp và Hoa Kỳ. Các bệnh nhân được chia thành 3 nhóm : những bệnh nhân của nhóm đầu tiên chỉ nhận lithium, những bệnh nhân của nhóm thứ hai chỉ nhận valproate (một thuốc chống động kinh đã tỏ ra có hiệu quả chống lại những rối loạn tính khí) và những bệnh nhân của nhóm thứ ba nhận một phối hợp của hai thứ thuốc. Tất cả những bệnh nhân này đã được điều trị và theo dõi trong hai năm.

Những kết quả cho thấy rằng 46% các bệnh nhân nhận hai loại thuốc đã không bị tái phát, đặc biệt là không có một đợt hưng phấn (manie) hay trầm uất (dépression) trong hai năm điều trị, so với 41% những bệnh nhân chỉ nhận lithium và 31% đối với những bệnh nhân chỉ nhận valproate. “ Nếu những kết quả này chỉ rõ rằng sự kết hợp của lithium và valproate cho những kết quả tốt nhất, phân tích thống kê cho thấy rằng, sự khác nhau giữa sự sử dụng hai loại thuốc kết hợp với nhau và lithium được dùng riêng rẽ, là không đáng kể, GS Chantal Henri, đã góp phần vào công trình nghiên cứu này cho Pháp, đã xác nhận như vậy.

Những tác dụng ngoạn mục của lithium lên các loạn thần kinh hưng- trầm cảm đối với một số bệnh nhân nào đó (nhưng không phải tất cả) đã được khám phá trong những năm 1970. Tuy vậy thuốc này vẫn không được sử dụng đầy đủ nhất là bởi vì hơi khó quản lý. “ Những liều lượng điều trị không xa lắm những liều lượng gây độc, GS Henry đã nói thêm như vậy. Phải theo dõi đều đặn bệnh nhân. Ngoài ra, sức ép thương mãi của các hãng được phẩm khiến các thầy thuốc cho toa những thuốc mới, dễ quản lý hơn, nhưng có vẻ ít hiệu quả hơn. Các bệnh nhân, đáp ứng tốt với lithium, thấy đời sống mình thật sự thay đổi, với một sự thoái lui các giai đoạn hưng phấn và trầm cảm, thậm chí một sự biến mất đối với vài bệnh nhân. Tất cả các phân tích méta đều cho thấy rằng lithium làm giảm tỷ lệ tự tử và nhập viện nơi những bệnh nhân bị nhưng rối loạn lưỡng cực. Trong công trình nghiên cứu Balance, một số quan trọng các bệnh nhân đã không tái phát chút nào.” Lithium được thương mãi hóa ở Pháp dưới tên Téralithe. Sử dụng liều lượng không đúng đắn, thuốc gây nên một cảm giác khát dữ dội và một nguy cơ bị thương tổn thận và giáp trạng.

Cái khó khăn điều trị là ở chỗ sự trì chậm trong chẩn đoán bệnh này, nhất là trong những thể ít điển hình. “ Công trình nghiên cứu Balance xác nhận rằng ngày nay lithium vẫn là điều trị chọn lựa của những rối loạn lưỡng cực.”, GS Chantal Henry đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 28/12/2009)

6/ NGOẠI KHOA CỦA BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ (CHIRURGIE DE LA CATARACTE) : ĐỪNG DO DỰ NỮA !

Người ta thống kê khoảng 500.000 phẫu thuật được tiến hành mỗi năm ở Pháp. Những triệu chứng đầu tiên là một sự biến đổi của các màu sắc, sự lòa mắt và một cảm giác khó chịu thị giác. Sau đó dần dần được xác lập một sự giảm thị lực : người ta thấy mờ rồi rất mờ. “ Không được điều trị, BS Catherine Albou-Ganem đã xác nhận như vậy, ta có thể đánh mất thị giác, điều này gần như không còn là trường hợp trong đất nước của chúng ta nữa. Chẩn đoán được xác lập bằng một thăm khám đơn giản bởi kính hiển vi sinh học (biomicroscope). Mục đích của can thiệp ngoại khoa là để thay thế thủy tinh thể bị biến đổi bằng một thủy tình thể khác, bằng plastique mềm. Sự gây mê từ nay được thực hiện với các giọt của thuốc nhỏ mắt, được dung nạp rất tốt. Ngày nay, những đường xẻ bé tí (micro-incisions) được thực hiện ở ngoại vi của giác mạc (cornée) khoảng 2mm (thay vì 12 mm cách nay còn vài năm). Sự tiến bộ này có thể được thực hiện là nhờ kỹ thuật ngoại khoa đã trở nên ít gây chấn thương hơn. Trong quá khứ, người ta lấy đi tức thời toàn bộ của thủy tinh thể, nên bắt buộc phải thực hiện, một đường xẻ lớn. Ngày nay, nhà phẫu thuật đưa vào một loại búa đâm (marteau piqueur) bé xíu vô cùng mảnh, làm nghiền vụn thủy tinh thể và hút các mảnh vụn ra, đồng thời để lại cái vỏ ngoại biên của nó. Để thay thế thủy tinh thể bị lấy đi, nhà phẫu thuật đưa vào một implant được gấp lại trong một ống tiêm đặc biệt. Thủy tinh thể sau đó tự mở ra như một cánh dù. Những implant mới nhất, bằng polymère cực kỳ mềm mại, rất có hiệu năng : bằng cách biến đổi độ cong và design của chúng, chất lượng quang học đã được cải thiện rất nhiều. Chúng có thể dễ gấp hơn và gây nên những biến chứng ít hơn.” Phẫu thuật, kéo dài 10 đến 20 phút, hoàn toàn không đau, và sự hồi phục, rất nhanh chóng và hoàn toàn. Với tỷ lệ biến chứng dưới 1%, phẫu thuật này đã tỏ ra có tính chất cách mạng.
(PARIS-MATCH 5/11-11/11/2009)

7/ LIỆU PHÁP GENE CẢI THIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PARKINSON.

NEUROLOGIE. Bằng cách tiêm 3 loại gène vào trong não bộ của những động vật linh trưởng mô hình của bệnh, các nhà nghiên cứu Pháp đã thành công điều trị được chúng mà không gây nên những tác dụng phụ gây khó chịu quan trọng.

Run, cứng các chi, giảm khả năng di chuyển : các triệu chứng của bệnh Parkinson gây cản trở quan trọng. Bệnh lý này, gây bệnh cho 100.000 người Pháp, được liên kết với sự thoái hóa, trong não bộ, của những tế bào thần kinh sản xuất dopamine. Thuốc chuẩn để điều trị bệnh Parkinson ? L-dopa. Nhưng thuốc này gây nên những cử động không kiểm soát được, các loạn vận động (dyskinésie). Do đó, lợi ích của liệu pháp gène (thérapie génique), được hiệu chính bởi một nhóm nghiên cứu người Pháp : liệu pháp này đã cho phép điều trị các khỉ macaque mô hình của bệnh, mà không gây nên những tác dụng phụ này.

VIRUS VÔ HẠI.

Tính độc đáo của điều trị này dựa trên sự sử dụng đồng thời 3 gène thiết yếu cho sự tổng hợp của dopamine. Các nhà nghiên cứu đã đưa các gène này vào trong một virus được làm trở thành vô hại. Virus được chọn vì có khả năng chuyên chở một lượng quan trọng các thông tin di truyền. Sau khi đã được biến đổi như vậy, virus này được chủng vào trong striatum của khỉ macaque, tức vùng của não bộ thiếu dopamine trong chứng bệnh này. Virus truyền 3 gène này vào các tế bào thần kinh và những neurone này bắt đầu chế tạo chất dẫn truyền thần kinh.

Những kết quả thu được thật đáng phấn khởi. Sự sản xuất dopamine, được đo in vivo, đã đạt một nồng độ lên đến 50% trị số bình thường. Tất cả các khỉ macaque được điều trị đã có một sự cải thiện trong 12 tháng theo dõi. Nhất là khả năng cử động đã trở lại 80% mức bình thường. Sau hết, so với uống L-dopa, liệu pháp này đã không gây nên những loạn vận động (dyskinésie). Được áp dụng cho một nhóm khỉ macaque mắc bệnh Parkinson, khởi đầu được điều trị bởi L-dopa, lieu pháp gène đã làm giảm số khỉ bị bệnh.

SỰ SẢN XUẤT LIÊN TỤC.

“ Giả thuyết của chúng tôi cho rằng sự cách quãng cần thiết của các liều thuốc uống L-dopa gây nên một sự kích thích não bộ đoạn hồi, là nguyên nhân của những biến chứng này, Béchir Jarraya, thầy thuốc ngoại thần kinh và nhà nghiên cứu của CEA-Inserm, đã giải thích như vậy. Sự sản xuất tại chỗ và liên tục dopamine mà liệu pháp gène mang lại, làm vững chắc cho lý luận này.” Liệu pháp gène có thể được sử dụng ngay khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, dùng đơn độc hay bổ sung L-dopa.

Được cổ vũ bởi thành công này, các nhà khoa học đã phát động một thử nghiệm lâm sàng trên những người bị bệnh Parkinson ở bệnh viện Henri-Mondor, Créteil. “ Tình trạng của 6 bệnh nhân, được điều trị theo phương pháp này, đã được cải thiện ở những mức độ thay đổi ; điều trị tỏ ra được dung nạp tốt ”, Stéphane Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh điều khiển thử nghiệm này, đã tuyên bố như vậy. “ Những công trình này thể hiện một bước tiến quan trọng, Etienne Hirsch, chuyên gia về căn bệnh ở CNRS, về phần mình, đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, cũng như mọi can thiệp ngoại thần kinh, liệu pháp này có những nguy cơ xuất huyết.
(LA RECHERCHE 12/2009)

8/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ : MỘT THẾ HỆ IMPLANT MỚI THAY THẾ THỦY TINH THẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH NHIỀU RỒI LOẠN.

Để mổ đục thủy tinh thể (cataracte), các laser mới “ femtoseconde ” cho phép thực hiện các đường xẻ dưới 1 mm, để lấy thủy tinh thể ra khỏi ổ, sau khi nó được làm hóa lỏng bởi laser. Như thế hạn chế chấn thương gây nên bởi các đường xẻ 2mm đang được thực hiện ngày nay. Bởi vì mặc dầu vẫn không thể đưa vào một thủy tinh thể thay thế cổ điển với một đường xẻ dưới 1 mm, các công trình nơi động vật cho thấy rằng, cái túi thủy tinh thể được khoét rỗng có thể được làm đầy, qua một đường xẻ dưới 1mm, bằng cách tiêm vào đó silcone lỏng. “ Chất silicone này gây nên phản ứng trùng hợp (polyméralisation) và một khi được đặt tại chỗ, có thể được điều biến (remodélé) lại bằng laser nhằm điều chỉnh các rối loạn thị giác cổ điển ”, GS Béatrice Cochener (Brest) đã giải thích như vậy. Sự trong suốt được tìm thấy lại và thị giác được điều chỉnh cùng lúc với phẫu thuật. Trong khi kỳ công kỹ thuật này chỉ mới ở giai đoạn thí nghiệm, thì một thế hệ implant mới đang làm đảo lộn phép điều trị bệnh đục thủy tinh thể. Đó là những thấu kính bé xíu trong nhãn cầu, cũng điều chỉnh những rối loạn như cận thị, viễn thị và lão thị. Được gọi là nhiều tiêu cự (multifocal), các implant này có trên bề mặt của chúng những vòng đồng tâm xen kẽ nhau, trong đó những vòng này tái lập thị giác nhìn xa, còn những vòng kia phục hồi thị giác nhìn gần. Như vậy, não bộ tiếp nhận đồng thời những thông tin thị giác được thích ứng với thị giác nhìn gần và nhìn xa và chính não bộ sẽ thực hiện sự chọn lọc tùy theo nơi mà n