Nhịp cầu y khoa: Ung Thư Phổi (lung Cancer) - Nhịp cầu y khoa

Jump to content


Chào Mừng bạn ghé thăm Diễn Đàn NHỊP CẦU Y KHOA. Nơi trao đổi thông tin, học hỏi, giao lưu của Sinh Viên Y Khoa, Bác Sĩ, Dược Sĩ và Bệnh nhân.

Mời bạn đăng ký thành thành viên để cùng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, và những thắc mắc, những nghi vấn về Y, Dược, bệnh tật. Nếu bạn đã là thành viên Nhịp Cầu Y Khoa, xin hãy đăng nhập để cùng trao đổi và trợ giúp nhau. Nếu bạn yêu thích website này, xin giới thiệu đến các bạn bè, người thân quen !!!

Các chủ đề nổi bật

CÁC CHỨC NĂNG CĂN BẢN CẦN BIẾT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

Nhà trọ sinh viên - cùng chia sẻ thông tin để giúp nhau tìm nơi trọ hợp lý

Bệnh Lý Suy Tĩnh mạch Mạn Tính - Tư vấn và khám miễn phí

Đại Học Y Toronto - Canada Nhận Sinh Viên Nước Ngòai …

Du học Mỹ Cần Biết ... / XKCX To America ...

CẤP CỨU - Chuyên Ngành Cấp Cứu

THỜI SỰ Y HỌC - Tin Tức Y Học Trên Thế Giới (SỐ 190 - 06/09/2010)




Page 1 of 1
  • You cannot start a new topic
  • You cannot reply to this topic

Ung Thư Phổi (lung Cancer) Lynn Ly Phỏng Dịch từ eMedicineHeath

#1 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 26 October 2009 - 06:01 AM

UNG THƯ PHỔI (LUNG CANCER)

Lynn Ly phỏng dịch theo trang web eMedicineHealth

( http://www.emedicine.../article_em.htm )


1) KHÁI NIỆM VỀ UNG THƯ PHỔI

Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu của các bệnh ung thư gây tử vong ở cả phụ nữ và nam giới ở Hoa Kỳ và khắp thế giới. Ung thư phổi đã vượt qua bệnh ung thư vú cho dù bệnh ung thư vú là nguyên nhân hàng đầu của các bệnh ung thư gây tử vong ở phụ nữ. Tại Hoa Kỳ trong năm 2007, dự kiến 160.390 người đã bị chết vì ung thư phổi, con số này nhiều hơn con số tử vong do ung thư ruột, ung thư vú, và ung thư tiền liệt tuyến gom lại . Chỉ khoảng 2% những người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi mà căn bịnh đã lan rộng đến các phần khác trong cơ thể là sống được năm năm kể từ sau khi chẩn đoán (phát hiện ra), mặc dù tỷ lệ sinh tồn cho bệnh ung thư phổi được chẩn đoán ngay tại giai đoạn đầu thì cao hơn, khoảng 49% sống sót trong năm năm hoặc lâu hơn.

Ung thư xảy ra khi các tế bào bình thường trải qua một biến đổi mà khiến cho các tế bào phát triển và sinh sôi nảy nở không có sự kiểm soát bình thường. Các tế bào hình thành một khối u (a mass) hoặc bướu (tumor) khác biệt với các mô xung quanh nơi nó phát sanh. Các bướu này nguy hiểm, vì chúng chiếm lấy oxygen, chất dinh dưỡng, và chỗ / không gian của các tế bào khỏe mạnh.

Phần lớn các u bướu ở phổi là ác tính (malignant). Điều này có nghĩa là chúng xâm chiếm và phá hủy các mô khỏe mạnh xung quanh chúng và có thể lan tràn khắp cơ thể.
  • Các u bướu cũng có thể lan sang các hạch bạch huyết (lymph nodes) ở gần đó hoặc thông qua các mạch máu đến các bộ phận nội tạng khác. Tiến trình này được gọi là di căn (metastasis).

  • Khi bệnh ung thư phổi gây ra di căn (metastasizes), các u bướu trong phổi được gọi là u bướu nguyên phát (primary tumor), và các khối u ở các bộ phận khác của cơ thể được gọi là u bướu thứ phát (secondary tumors) hoặc bướu di căn (metastatic tumors).

Vài u bướu trong phổi là di căn từ của các bịnh ung thư nơi khác trong thân thể. Phổi là một khu vực phổ biến cho các loại ung thư di căn. Nếu là trường hợp di căn, ung thư không được xem là ung thư phổị, Thí dụ, nếu ung thư tiền liệt tuyến lan truyền qua các mạch máu đến phổi, thì đó là ung thư tiền liệt tuyến di căn (a secondary cancer = ung thư thứ phát) trong phổI và không dược gọi là ung thư phổi .

Ung thư phổi thường được chia thành hai nhóm chính mà có đánh giá là khoảng 95% trên tất cả trường hợp.
  • Việc phân chia thành các nhóm dựa vào phân loại tế bào tạo ra bệnh ung thư

  • Hai loại chính của ung thư phổi được mô tả đặc điểm bởi kích thước của tế bào khối u khi được xem dưới kính hiển vi. Chúng được gọi là "Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ" (small cell lung cancer = SCLC) "Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ" (non-small cell lung cancer = NSCLC). Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ (NSCLC) bao gồm nhiều phân loại phụ / nhiều loại kế tiếp (subtypes) của các khối u bướu.

  • Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ (SCLC) thì ít phổ biến, nhưng chúng phát triển nhanh hơn và có nhiều khả năng gây di căn hơn Ung Thư Phổi Không Phải Tế Nhỏ (NSCLC). Thông thường, Ung Thư Tế Bào Nhỏ đã lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể khi ung thư được chẩn đoán.

  • Khoảng 5% trong số những bệnh ung thư phổi là do những kiểu tế bào hiếm, bao gồm khối u thần kinh-nội tiết (carcinoid tumor), u bạch huyết (lymphoma) , và những loại khối u khác.

Những kiểu đặc trưng của bệnh ung thư phổi nguyên phát (primary lung cancers) như sau:
  • Ung thư mô tuyến (Adenocarcinoma) là Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ (NSCLC) và là loai phổ biến nhất của ung thư phổi, chiếm 30% -40% tất cả các trường hợp. Một loại kế tiếp (subtype) của Ung Thư Mô Tuyến (adenocarcinoma) được gọi là Ung Thư Biểu Bì Tế Bào Cuống Phổi Và Túi Phổi (bronchoalveolar cell carcinoma), loại này tạo ra một vẻ ngoài giống như viêm phổi (pneumonia) trên X-quang ngực

  • Ung Thư Biểu Bì Tế Bào Hình Vảy (Squamous cell carcinoma) là môt Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ (NSCLC) và là là loại thứ hai phổ biến nhất của ung thư phổi, chiếm khoảng 30% tất cả các bệnh ung thư phổi.

  • Ung Thư Tế Bào Lớn (Large cell cancer) là môt Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ (NSCLC), chiếm đến 10% của tất cả các trường hợp.

  • Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ (SCLC) chiếm đến 20% của tất cả các trường hợp.

  • Khối U Thần Kinh-Nội Tiết (Carcinoid tumors) chiếm 1% của tất cả các trường hợp

2) NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH UNG THƯ PHỔI (Lung Cancer Causes)

Hút thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ung thư phổi. Nghiên cứu từ những năm 1950 đến nay đã xác minh mối liên quan này.
  • Khói thuốc lá chứa hơn 4.000 hóa chất, nhiều chất trong số đó đã được xác định là gây ra ung thư phổi.

  • Một người hút nhiều hơn một gói thuốc lá mỗi ngày có nguy cơ ung thư phổi phát triển 20-25 lần nhiều hơn một người chưa bao giờ hút thuốc.

  • Một khi một người cai hút thuốc lá, nguy cơ người đó bị ung thư phổi giảm dần. Khoảng 15 năm sau khi cai hút thuốc, nguy cơ ung thư phổi giảm đến mức giống như người chưa bao giờ hút thuốc.

  • Hút xì-gà hay thuốc ống điếu (Cigar and pipe smoking) làm tăng nguy cơ ung thư phổi nhưng không nhiều như hút thuốc lá (cigarette smoking).

Khoảng 90% các bệnh ung thư phổi phát sinh do sử dụng thuốc lá. Nguy cơ ung thư phổi phát triển liên quan đến các yếu tố sau:
  • Số lượng điếu thuốc được hút,

  • Ở lứa tuổi nào bắt đầu hút thuốc

  • Hút thuốc bao lâu (hay thời gian hút thuốc bao lâu trước khi cai hút thuốc)

Những nguyên nhân khác gây bệnh ung thư phổi bao gồm như sau:
  • Hút thuốc lá thụ động, hoặc hút thuốc gián tiếp luôn cho thấy một nguy cơ về ung thư phổi. Ước tính khoảng 3.000 tử vong do bệnh ung thư phổi xảy ra hằng năm tại Mỹ là do hút thuốc lá thụ động (do hít khói thuốc từ người khác thả ra)
  • Không khí ô nhiễm do khói xe, nhà máy, và các nguồn khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi, và nhiều chuyên gia tin rằng sự tiếp xúc lâu dài với không khí ô nhiễm tương tự như tiếp xúc lâu dài với hút thuốc lá thụ động sẽ có nguy cơ phát triển ung thư phổi.
  • Sự tiếp xúc với chất Asbestos làm tăng nguy cơ ung thư phôi lên 9 lần . Sự kết hợp giữa tiếp xúc asbetors và hút thuốc lá thường làm tăng nguy cơ ung thư phổI lên 50 lần .Một ung thư khác được biết đến là U Trung Biểu Mô (mesothelioma) (một loại ung thư màng phổi (pleura) hay lớp lót khoang bụng gọi là màng bụng) cũng liên quan nhiều đến sự tiếp xúc asbestos
    (Ghi chú: Asbestos là 1 khoáng chất sa thạch hình thành tự nhiên với tinh thể dài, sợi mỏng, chất này được phát hiện trong 1 số sản phẩm dùng làm lớp cách nhiệt mà các công ty xây dụng dùng nó nhét giữa vách tường để giữ ấm mùa đông và giữ hơi lạnh trong nhà mùa hè. Tại Canada, chất này đã bị cấm sử dụng trong kiến trúc nhà cửa)
  • Những bệnh phổi, như bệnh lao (TB = tuberculosis) và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD : chronic obstructive pulmonary disease), cũng tạo ra nguy cơ ung thư phổi. Một người bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) có gấp 4 - 6 lần nguy cơ về ung thư phổi ngay cả loại trừ ảnh hưởng của việc hút thuốc lá
  • Tiếp xúc với Radon cũng dẫn đến một nguy cơ khác.
    • Radon là một sản phẩm tự nhiên tạo ra radium, mà radium là một sản phẩm của uranium. (Nói khác đi , Radon là một khí phóng xạ xuất hiện tự nhiên trong môi trường đất / phân bón hoặc nước.)

    • Radon hiện diện trong không khí trong nhà và ngoài trời

    • Nguy cơ bị ung thư phổi gia tăng với sự tiếp xúc radon lâu dài đáng kể, mặc dù không có ai biết những rủi ro thật chính xác. Một ước tính khoảng 12% các ca tử vong ung thư phổi là do khí radon, hoặc là 15.000 đến 22.000 tử vong liên quan đến ung thư phổi hằng năm tại Hoa Kỳ . Khí Radon là nguyên nhân hàng đầu thứ hai của ung thư phổi tại Hoa Kỳ . Sự tiếp xúc radion làm tăng nguy cơ đáng kể về ung thư phổi giống như tiếp xúc với asbestos hay hút thuốc lá .


  • Một số ngành nghề mà phải tiếp xúc với sự xuất hiện của arsenic, chromium, nickel, aromatic hydrocarbons, và và những ê-te (ethers) có thể tăng nguy cơ về ung thư phổi

  • Một người đã từng bị ung thư phổi thì dường như có nhiều khả năng tiến triển sang ung thư phổi thứ phát hơn người bình thường đang phát triển ung thư phổi nguyên phát

3) NHỮNG TRIỆU CHỨNG UNG THƯ PHỔI

Có đến 1/4 người bị ung thư phổi không có triệu chứng khi chuẩn đoán bệnh ung thư , Bịnh ung thư phổi thường được xác định bất ngờ khi khi thực hiện chụp x-quang ngực cho các nguyên nhân khác. Tuy nhiên, đại đa số người bịnh phát triển những triệu chứng. Những triệu chứng là do ảnh hưởng trực tiếp của các bướu nguyên phát (primary tumor), ảnh hướng của khối u di căn (metastatic tumors) trong các bộ phận khác của cơ thể, hoặc sự rối loạn về hooc môn (hormones), rối loạn về máu hay rối loạn những hệ thống khác gây ra bởi ung thư

Những triệu chứng của ung thư nguyên phát bao gồm ho, ho ra máu, đau ngực, và thở dốc / khó thở (shortness of breath)
  • Bệnh ho mới phát khởi ở người hút thuốc hay người từng hút thuốc (người đã cai thuốc) cần nên suy xét là có liên quan đến bệnh ung thư phổi.
  • Bệnh ho không hết hoặc bị nặng hơn theo thời gian cần nên được thăm khám bởi bác sĩ
  • Ho ra máu (hemoptysis) xảy ra ở nhiều người bị bệnh ung thư phổi. Bất cứ số lượng máu ho ra thế nào đều là nguyên nhân và đáng quan tâm.
  • Đau ngực là một triệu chứng có trong khoảng 1/4 số người bị ung thư phổi. Cơn đau dữ dội (dull), đau nhức nhối (aching), đau dai dẳng và có thể đau ở 1 số vùng khác quanh ngực .
  • Khó thở / thở dốc / thở hổn hển (Shortness of breath) thường là kết quả của sự tắc nghẽn dòng lưu thông không khí trong một phần của phổi, sự tập hợp các chất dịch quanh phổi (pleural effusion = tràn dịch màng phổi), hoặc sự lan tràn các khối khắp nơi trong phổi.
  • Thở khò khè (wheezing) hay khan giọng có thể báo hiệu sự tắt nghẽn hay viêm nhiễm trong phổI mà có thể đi cùng với bệnh ung thư
  • Nhiễm trùng hô hấp lập đi lập lại (respiratory infections), chẳng hạn như viêm phế quản (bronchitis) hay viêm phổi (pneumonia), có thể là một dấu hiệu của ung thư phổi

Các triệu chứng của khối u di căn trong phổi phụ thuộc vào vị trí và kích thước. Khoảng 30% - 40% số người mắc bệnh ung thư phổi có một số triệu chứng hay dấu hiệu của bệnh ung thư di căn.
  • Ung thư phổi thường hay lây lan nhiều nhất đến gan, các tuyến thượng thận (adrenal glands), xương, và não.

  • Ung thư phổI di căn (metastatic lung cancer) ở gan thường không gây ra các triệu chứng, cho đến lúc căn bịnh được chuẩn đoán

  • Ung thư phổI di căn (metastatic lung cancer) ở các tuyến thượng thận (adrenal glands) cũng cũng thường là nguyên nhân không có triệu chứng cho đến thời điểm căn bịnh được chẩn đoán.

  • Ung thư phổI di căn dến xương là phổ biến nhất với bệnh Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ nhưng cũng xảY ra với các loại bệnh ung thư phổi khác . Ung thư phổI di căn dến xương gây đau nhức xương, thông thường là đau cột xương sống (đốt xương sống =vertebrae), xương đùi (thighbones), và những xương sườn (ribs)

  • Ung thư phổi di căn đến não có thể gây khó khăn về thị giác (vision), suy nhược 1 bên cơ thể (bán thân), và / hoặc bệnh động kinh (seizures)

Hội chứng Paraneoplastic là những ảnh hưởng từ xa, những ảnh hưởng gián tiếp của bệnh ung thư mà không liên quan trực tiếp đến sự xâm lấn do các tế bào u bướu đến cơ quan nội tạng . Thông thường hội chứng Paraneoplastic bị gây ra bởi các hóa chất được tách ra / thả ra từ những căn bệnh ung thư. Những triệu chứng bao gồm như sau:
  • Ngón tay dùi trống (clubbed fingers = clubbing of fingers) - sự tích tụ thêm các mô ở dưới các móng tay

  • Sự hình thành xương mới - ở dọc theo ống chân (lower legs) hay cánh tay

  • Bệnh thiếu máu - số lượng hồng huyết cầu (red blood cells) thấp và mức dộ calcium (canxi) cao hay mức độ sodium (natri) thấp trong máu

  • Những ảnh hưởng khác - yếu cơ / sự suy nhược bắp thịt (muscle weakness), da bị nổi mần ngứa ngáy (skin rashes), và có sự thoái hóa về não (degeneration of the brain)

  • Cơ thể mất trọng lượng (weight loss)

  • Sức chịu dựng kém, mau mệt mỏi (fatigue)

  • Mực độ sodium (natri) giảm thấp

4) KHI NÀO CẦN TÌM ĐẾN SỰ QUAN TÂM / CHĂM SÓC VỀ Y TẾ ?

Hãy đi gặp bác sĩ để càng sớm càng tốt nếu có những biểu hiện phát triển sau đây:
  • Bất kỳ triệu chứng nào về bệnh ung thư phổi,

  • Mới ho hoặc có thay đổi trong cơn ho hiện có,

  • Ho ra máu (hemoptysis)(có đốm máu trong nước bọt / trong đàm khi ho = flecks of blood in the sputum when coughing)

  • Trọng lượng cơ thể suy giảm không như ý muốn (unexplained weight loss),

  • Sức chịu dựng kém, cảm giác mau mệt mỏi kéo dài vô cớ (unexplained persistent fatigue) , hoặc

  • Những cơn đau buốt hay đau nhức vô cớ (unexplained deep aches or pains).

Cần đi ngay vào khoa cấp cứu ở bệnh viện gần nhất nếu có bất kỳ biểu hiện sau đây:
  • Ho ra một lượng máu lớn (coughing up a large amount of blood),

  • Thở dốc, khó thở bất ngờ (sudden shortness of breath),

  • Duy yếu, suy nhược đột ngột (sudden weakness),

  • Thị lực đột ngột có vấn đề (sudden vision problems),

  • Đau ngực liên tục (persistent chest pain).

5) NHỮNG KHẢO SÁT VÀ NHỮNG XÉT NGHIỆM (EXAMS AND TESTS)

Sau khi nghe về các triệu chứng, bác sĩ sẽ liệt kê ra một danh sách các chẩn đoán khả dĩ (possible diagnoses). Họ sẽ đặt câu hỏi về bệnh sử như hỏi về các triệu chứng, thuốc men và phẫu thuật , hút thuốc và công việc làm / nghề nghiệp, và các câu hỏi khác về lối sống / sinh hoạt hằng ngày, sức khỏe tổng quát, và thuốc men.

Ngoại trừ trường hợp ho ra máu đang xảy ra nghiêm trọng, x-quang ngực hầu như rất cần được được thực hiện trước tiên để tìm ra nguyên nhân gây ra các triệu chứng về hô hấp.
  • Tấm film x-quang (x-ray film) có thể hoặc không thể cho thấy một sự bất thường

  • Các kiểu/dạng bất thường được nhìn thấy trong ung thư phổi bao gồm một khối u nhỏ (nodule) hay những khối u nho nhỏ hay một khối u lớn

  • Không phải tất cả gì bất thường đêu được quan sát thấy ra trên x-quang ngực là bệnh ung thư. Ví dụ, một số người phát triển sẹo và sự tích tụ calcium (canxi) trong phổi của họ cũng có thể trông giống như khối u trên ngực trên tấm phim x-quang.

Trong hầu hết trường hợp, hình ảnh CT scan hay MRI về ngực sẽ tiếp tục xác định các vấn đề sau đó. (Ghi chú: CT scan = kỹ thuật chụp hình cắt lớp; MRI = Kỹ chụp ảnh bằng cách sử dụng Từ Trường kết hợp computer )
  • Nếu có triệu chứng nghiêm trọng, chụp x-quang có thể được bỏ qua và chụp CT scan hoặc MRI có thể được thực hiện ngay lập tức

  • Những lợi điểm của CT scan và MRI là chúng cho thấy nhiều chi tiết hơn so với x-quang và có thể hiển thị hình ảnh lá phổi trong không gian ba chiều (show the lungs in three dimensions).

  • Các xét nghiệm này giúp xác định giai đoạn của bệnh ung thư phổi bằng cách hiển thị kích cỡ của một khối u hay các khối u.

  • Chúng cũng có thể trợ giúp việc nhận ra sự lan tràn của căn bệnh ung thư phổi vào các hạch bạch huyết (lymph nodes) ở gần đó hoặc ở đích xác cơ quan nội tạng khác .

Nếu phim x-quang hay hình chụp cắt lớp (CT scan) của một người mà có biểu hiện về sự hiện diện của một khối u, thì họ sẽ phải trải qua một tiến trình xét nghiệm để chuẩn đoán
  • Tiến trình này có bao gồm sự thu thập về đàm / nước bọt (sputum), cắt lấy 1 phần nhỏ của tế bào khối u = sinh khiết (biopsy) hoặc một lượng nhỏ chất dịch từ màng phổi (the sac around the lung)

  • Các tế bào thu lượm đó được một bác sĩ, người chuyên chẩn đoán bệnh bằng cách xem các loại tế bào và mô (a pathologist = nhà nghiên cứu bệnh học), xem xét dưới kính hiển.

  • Hiện giờ nhiều biện pháp khác nhau để xét nghiệm các tế bào này .

Xét Nghiệm Đàm (Sputum testing): Đây là một sự thử nghiệm đơn giản mà đôi khi được thực hiện để phát hiện ung thư trong những lá phổi.
  • Đàm là dịch nhầy đặc mà có lẽ sản sinh ra trong khi ho.

  • Các tế bào trong đàm có thể được khảo sát để xem có phải là bệnh ung thư không. Điều này được gọi khảo sát tế bào học (cytologic review)

  • Đây không phải là một thử nghiệm đáng tin cậy hoàn toàn . Nếu kết quả là âm tính (negative), thường những phát hiện cần phải được xác định bởi những thử nghiệm thêm sau đó nữa

Soi phế quản (Bronchoscopy) : Đây là một thử nghiệm nội soi, nghĩa là một ống mỏng, mềm dẻo được thắp sáng với một máy ảnh nhỏ ở cuối đường ống được sử dụng để xem những cơ quan (organ) bên trong thân thể (Công cụ này gọi là Bronchoscope)
  • Soi phế quản là nội soi phổi. Công cụ bronchoscope được đưa qua miệng hoặc mũi và xuống khí quản (windpipe). Từ đó, ống tube có thể được chèn vào đường thở / cuống phổi (airways /bronchi) của lá phổi

  • Một máy ảnh nhỏ truyền hình ảnh về một màn hình để theo dõi (a video monitor)

  • Bác sĩ điều khiển công cụ bronchoscope có thể tìm kiếm các khối u và thu thập các mẫu của bất kỳ khối u nào mà có nghi ngờ.

  • Soi phế quản thường có thể được sử dụng để xác định phạm vi khối u.

  • Tiến trình này không dễ chịu . Sự gây mê cục bộ được thực hiện ở miệng và cổ họng là cách làm giảm đau hữu hiệu để việc khám nghiêm phế quản có thể chịu đựng được

  • Soi phế quản có một số rủi ro / hung hiểm và đòi hỏi một chuyên gia thành thục trong việc thực hiện tiến trình nội soi này

Kim sinh thiết (Needle biopsy): Nếu một khối u là trên khu vực ngoại vi của phổi, thì thường không thể nhìn thấy bằng cách soi phế quản (bronchoscopy). Thay vào đó, phương phátpsinh thiết được thực hiện thông qua một kim đâm xuyên qua vách ngực (chest wall) và vào đến khối u.
  • Thông thường, một x-quang ngực hoặc chụp cắt lớp (CT scan) được sử dụng để hướng dẫn mũi kim.

  • Tiến trình này thì an toàn và hiệu quả trong việc lấy đầy đủ mô để chẩn đoán. Sau khi bề mặt ngực được làm sạch sẽ và được chuẩn bị, da và vách ngực (chest wall = vách ngực = xương + cơ ngực) bị tê / mất cảm giác (be numbed).

  • Những rủi ro nghiêm trọng nhất của tiến trình này là đâm mũi kim có thể gây ra một sự rò rỉ không khí từ phổi (pneumothorax). Sự rò rỉ khí xảy ra nhiều khoảng 3% -5% trong trường hợp. Mặc dù tình trạng này có thể nguy hiểm, nhưng hầu như luôn luôn được nhận biết và điều trị mà không gây hậu quả nghiêm trọng.

Thủ thuật chọc dò phổi (Thoracentesis): các bệnh ung thư phổi, cả nguyên phát và di căn, có thể gây ra chất dịch tụ tập trong lớp túi bao quanh phổi . Chất dịch này được gọi là một sự tràn dịch màng phổi (a pleural effusion)
  • Chất dịch này thường có chứa các tế bào của căn bệnh ung thư này.

  • Lấy mẫu chất dịch này có thể xác nhận sự hiện diện của ung thư trong phổi.

  • Mẫu dịch được lấy ra bởi một mũi kim trong tiến trình tương tự như thủ thuật Kim Sinh Thiết (Needle biopsy).

  • Thủ thuật chọc dò phổi có thể là quan trọng cho cả viện xác định ung thư giai đoạn mấy lẫn chẩn đoán tình trạng ra sao .

Phẩu Thuật Mở Xoang Ngực (Thoracotomy): Đôi khi một khối u ung thư phổi không thể với tới / đụng tới bằng cách soi phế quản hoặc những phương pháp dùng mũi kim
  • Trong những trường hợp này, cách duy nhất để có được một tế bào sinh thiết là thực hiện một phẫu thuật

  • Phẩu Thuật Mở Xoang Ngực (Thoracotomy) thì càng nhiều khối u có thể được cắt bỏ bởi phẫu thuật. Các khối u cắt ra rồi thì sau đó được đưa đi khảo sát dưới kính hiển vi

  • Thật không may, phương pháp giải phẫu này có thể không thành công trong việc loại bỏ tất cả các tế bào ung thư nếu là khối u lớn hoặc đã lây lan đến các hạch bạch huyết ở phía bên ngoài của phổi.

  • Phẩu Thuật Mở Xoang Ngực (Thoracotomy)là phẫu thuật lớn mà phải được thực thiện trong bịnh viện

Nội soi trung thất (Mediastinoscopy): Đây là một tiến trình nội soi (endoscopic procedure) khác. Nó được thực hiện để xác định mức độ / phạm vi mà các bệnh ung thư đã lan tràn vào trong các vùng ngực giữa hai lá phổi (Mediastinum = vùng trung thất)
  • Một vết rạch nhỏ được thực hiện vào phần dưới cổ, phía trên xương ức (breastbone = sternum). Một biến dị (A variation) là tạo vết rạch ở ngực.

  • Mediastinoscope là dụng cụ giống hình ống mỏng được sử dụng để kiểm tra các mô và hạch bạch huyết ở khu vực giữa hai lá phổi. Dụng cụ này được chèn vào phía sau xương ức .

  • Mẫu của các hạch bạch huyết được lấy ra để đánh giá về các tế bào ung thư.

  • Nội soi trung thất (Mediastinoscopy) là một bước rất quan trọng để xác định khối u có thể được phẫu thuật loại bỏ hay không.

Các xét nghiệm khác: Các xét nghiệm khác được thực hiện để xác định giai đoạn của u bướu, và đánh giá khả năng của một người về sự chịu đựng phẫu thuật và những trị liệu khác.
  • Các xét nghiệm chức năng của phổi đánh giá dung lượng khí khi hô hấp (breathing capacity)

  • Các xét nghiêm máu được thực hiện để xác định bất kỳ sự mất cân bằng hóa học, sự rối loạn máu, hoặc các vấn đề khác mà có thể làm phức tạp hóa sự điều trị.

  • Chụp hình cắt lớp (CT scan) hay chụp chụp hình bằng sóng từ trường (MRI) có thể được thực hiện trên một số khu vục phổ biến nhất về sự lây lan để kiểm tra di căn của căn bênh. Những xét nghiệm này nói chung được thực hiện chỉ khi những triệu chứng xuất hiện mà gợi ý về di căn của căn bệnh . Những phác đồ diều trị nhất định nào đó yêu cầu các xét nghiệm này cần được thực hiện

  • Chụp hình xương có thể xác định có phải ung thư đã khuyết tán / lan đến xương

Đánh giá Ung Thư Giai Đoạn Mấy (Staging): Đánh Giá Ung Thư Giai Đoạn Mấy là một phương pháp phân loại các khối u cho các mục đích của phác đồ điều trị.
  • Đánh giá Ung Thu Giai Đoạn Mấy (Staging) được dựa trên kích thước của khối u, vị trí của khối u, và mức độ di căn của khôi u (nếu có)

  • Điều trị sẽ được phác họa cho riêng từng giai đoạn ung thư.

  • Ung thư ở giai đoạn mấy có liên quan tới nhận dịnh (outlook) về việc trị liệu và sự sống còn (mức tiên lượng). Ung thư ở giai đoạn càng cao, thì khả năng chữa khỏi bệnh càng ít .

6) ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI

còn tiếp ... Sẽ phỏng dịch tiếp , và bổ xung thêm sau
Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#2 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 28 October 2009 - 12:14 AM

UNG THƯ PHỔI (LUNG CANCER)

Lynn Ly phỏng dịch theo trang web eMedicineHealth ...

Phần tiếp tục ....


6) ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI

Những quyết định trong điều trị ung thư phổI phụ thuộc vào liệu có phải "Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ" (SCLC) hay "Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ" (NSCLC) hiện diện . Sự Điều trị cũng phụ thuộc vào giai đoạn khối u, đặc biệt là ở NSCLC ("Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ"). Trình trạng vật lý phổ biến ở một người (khả năng chịu đựng được những tiến trình điều trị) cũng được tính đến .

Các phương pháp trị liệu sử dụng rộng rãi nhất cho bệnh ung thư phổI là phẫu thuật , hóa trị (chemotherapy), và xạ trị (radiation therapy)

a) ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC (Medical Treatment)

Hóa Trị (Chemotherapy) và Xạ Trị (Radiation Therapy)
  • Hóa trị và xạ trị có thể chữa khỏi một số ít bệnh nhân. Kết quả của những phương pháp trị liệu này là làm các khối u teo lại / co lại và được biết là để kéo dài tuổi thọ cho hầu hết các bệnh nhân .

  • Hóa trị và xạ trị rất có hiệu quả trong việc hóa giải những triệu chứng của căn bệnh

  • "Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ" (NSCLC) loại không thể làm phẫu thuật thì được điều trị bằng hóa trị hay phối hợp cả hóa trị và xạ trị

  • Nếu "Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ" (SCLC) ở giai đoạn mới bắt đầu (ung thư có hạn chế đến ngực = confined to the thorax), tiêu chuẩn trị liệu là liệu pháp hóa trị và và xạ trị được thực hiện cùng một lúc.

  • Trong những giai đoạn sau (ung thư khi đã lây lan ra bên ngoài của ngực), "Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ" (SCLC) được điều trị bằng liệu pháp hóa trị và "xạ trị xoa dịu" (palliative radiation therapy) đến tận các khu vực mà di căn có thể hiện diện.

  • Đôi khi não bộ được điều trị bằng xạ trị ngay cả khi không có khối u hiện diện tại đó . Gọi là phương pháp "Bức xạ hộp sọ phòng bệnh" (Prophylactic Cranial Irradiation = PCI), liệu pháp này có thể ngăn chặn một khối u hình thành. Tuy nhiên, liệu pháp PCI không thích hợp cho tất cả các bệnh nhân, và những tác dụng phụ có thể xuất hiện.

  • "Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Hạn Chế" (Limited SCLC), ung thư đã không lây lan ra ngoài khoang ngực, có% 80 -90% tỷ lệ phản ứng đối với sự kết hợp hóa trị và xạ trị . Sự thuyên giảm (ung thư không còn được nhận diện bởi kiểm tra sức khỏe hay X-quang) diễn ra vào khoảng 50 %- 60% trong các trường hợp .

  • Tỉ lệ trên tất cả các trường hợp ung thư phổi ở giai đoạn cuối / giai đoạn tiên tiến (ung thư lây lan ra ngoài khoang ngực), phỏng định khoảng 50% -60% "Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ" (SCLC) và 15 -40% "Ung Thư Phổi Không PhảiTế Bào Nhỏ" (NSCLC) sẽ thuyên giảm với liệu pháp hóa trị .

  • Nếu sự tái phát (relapse) xảy ra, một chế độ hóa trị (chemotherapy regimen) kiểu khác có thể được đề nghị để làm giảm triệu chứng và có vài lợi ích sinh tồn khiêm tốn

  • Ngay cả với một phản ứng ban đầu thuận lợi cho việc điều trị, "Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ" (SCLC) có xu hướng tái phát trong vòng 1-2 năm trong hầu hết các bệnh nhân, đặc biệt là ở những người mắc bệnh ung thư lan tràn sâu rộng.

  • Nghiên cứu gần đây cho thấy lợi ích của "hóa trị bổ trợ" (adjuvant chemotherapy) ở giai đoạn đầu của "Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ" (NSCLC) trong việc ngăn ngừa hoặc trì hoãn sự tái phát sinh các khối u, ngay cả sau khi phẫu thuật liệu phát cho thấy thành công khi loại bỏ căn bệnh ung thư

  • Hóa trị sử dụng các hóa chất mà di chuyển qua các mạch máu (bloodstream). Nó ảnh hưởng đến cả các tế bào ung thư lẫn tế bào khỏe mạnh. Nhiều phản ứng phụ phổ biến được biết đến của liệu pháp hóa trị bao gồm buồn nôn và ói mửa (nausea and vomiting), rụng tóc (hair loss), những vấn đề về da (skin problems), lở loét miệng (mouth sores), và mệt mỏi / đuối sức (fatigue).

  • Liệu pháp xạ trị (Radiation therapy) không ảnh hưởng đến các tế bào khắp cơ thể như hóa trị. Tuy nhiên, xạ trị không ảnh hưởng đến các mô khỏe mạnh nằm hoặc trực tiếp giáp với khối u. Trong một chừng mực nào đó (to a certain extent), những phản ứng phụ về xạ trị tùy thuộc vào bộ phận nào của cơ thể là mục tiêu được nhắm tới của xạ trị .

  • Dựa trên dữ liệu thử nghiệm lâm sàng gần đây, hóa trị liệu đã được phát hiện có lợi cho tất cả các giai đoạn"Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ" (NSCLC) , bao gồm cả giai đoạn I hoặc II. Những người bị ung thư phổi sẽ được giới thiệu đến một chuyên gia về u bướu ung thư (oncologist) để được tư vấn và lựa chọn liệu pháp trị liệu .

b) Phẫu Thuật (Surgery)

Giải phẫu là việc điều trị được ưu tiên cho những bệnh nhân ở giai đoạn đầu của "Ung Thư Phổi Không PhảiTế Bào Nhỏ" (NSCLC) . Thật không may, 60% -80% trong số tất cả bệnh nhân mà bệnh tiến triển nặng hay đã di căn thì không thích hợp làm giải phẫu
  • Những người mà có "Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ" (NSCLC) đã không lây lan có thể chịu đựng được phẫu thuật miễn là họ có đầy đủ chức năng phổi.

  • Một phần của một thùy, nguyên cả một thùy, hoặc toàn bộ một bên phổi có thể được cắt bỏ. Mức độ loại bỏ phụ thuộc vào kích thước của khối u, vị trí của khôi u, và nó đã lan rộng bao xa.

  • Một kỹ thuật được gọi là cryosurgery đôi khi được sử dụng cho "Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ" (NSCLC). Trong kỹ thuật cryosurgery, khối u được tiêu diệt bằng cách làm đông lạnh nó. Điều trị này chủ yếu để làm giảm các triệu chứng của ung thư.

  • Tỉ lệ phục hồi cho những ung thư ngoại vi nhỏ (small peripheral cancers) ở khoảng 80%

  • Mặc dù phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn, có một tỷ lệ lớn bệnh nhân ở ung thư giai đoạn đầu có tái phát và chết vì nó

Phẫu thuật không được sử dụng rộng rãi trong "Ung Thư Phổi Bào Nhỏ" (SCLC). Bởi vì "Ung Thư Phổi Bào Nhỏ" (SCLC) lan truyền rộng rãi và nhanh chóng khắp cơ thể, loại bỏ tất cả khối u ở khắp nơi bằng phẫu thuật thường là không khả thi (không thể thực hiện )

Một phẫu thuật ung thư phổi là phẩu thuật lớn . Nhiều người trải nghiệm đau đớn, suy nhược, mệt mỏi, và khó thở sau khi giải phẫu . Hầu hết có những vấn đề di chuyển đi lại, ho, và thở sâu . Giai đoạn phục hồi có thể là vài tuần hay thậm chí cả vài tháng

7) THEO DÕI DIỄN TIẾN CĂN BỊNH (Follow-up)

Sau cuộc giải phẫu cho bất kỳ phẫu thuật ung thư phổi nào, thường có một nguy cơ gia tăng về sự phát triển ung thư phổi nguyên phát lần thứ hai cũng như có nguy cơ khối u gốc sẽ xuất hiện trở lại
  • Nhiều bệnh ung thư phổi tái phát trong vòng hai năm đầu sau khi điều trị.

  • Việc thường xuyên kiểm tra nên được thực hiện để có thể xác định bất kỳ sự tái phát nào đó càng sớm càng tốt.

  • Một người đã trải qua phẫu thuật cần nên được theo dõi chăm sóc và khảo sát theo khuyến cáo từ nhóm bác sĩ / chuyên gia đang điều trị họ .

8) ĐIỀU TRỊ GẢM ĐAU TẠM THỜI và CHĂM SÓC BỆNH NHÂN Ở GIAi ĐOẠN CUỐI (Palliative and terminal care)

Điều trị giảm đau tạm thời cho giai đoạn cuối (Palliative care or hospice care) đề cập đến sự chăm sóc về y tế hoặc điều dưỡng để làm giảm những triệu chứng và đau khổ mà không cần cố gắng để chữa trị căn bệnh tiềm ẩn. Bởi vì chỉ một số ít những người bị ung thư phổi được chữa khỏi, được giải trừa đau khổ và điều này trở thành mục tiêu chính cho nhiều người.
  • Bệnh nhân, thân nhân bệnh nhân, và bác sĩ có lẽ đoán biết ra khi người bệnh đã đến mức độ này .

  • Bất cứ khi nào có thể, sự chuyển sang biện pháp điều trị giảm đau tạm thời (palliative care) nên được lên kế hoạch trước.

  • Kế hoạch nên bắt đầu với một cuộc đàm thoại 3 chiều giữa bệnh nhân, người đại diện cho bệnh nhân nếu bệnh nhân quá yếu không thể tham dự, và bác sĩ

  • Trong suốt cuộc thảo luận, cần thảo luận về những kết quả phỏng chừng , các vấn đề / giới hạn của y học, và bất kỳ sự lo ngại sợ hãi hoặc bất trắc có thể xảy ra

Điều trị giảm đau tạm thời (Palliative Care) cho giai đoạn cuối có thể thực hiện tại nhà, nếu chăm sóc tại nhà là không thể thực hiện thì mới phải ở trong bịnh viện, hoặc trong một nơi chuyên chăm sóc bệnh nhân ở giai đoạn cuối (hospice facility) . Điều trị giảm đau tạm thời cho giai đoạn cuối (palliative care) bao gồm chủ yếu các phương pháp trị liệu để làm giảm khó thở và đau đớn .
  • Sự khó thở sẽ được điều trị bằng oxy và thuốc men như opioids, đó là loại thuốc gây ngủ như thuốc phiện, morphin, codein, methadone, và bạch phiến (heroin).

  • Sự chăm sóc cơn đau bao gồm các thuốc chống viêm và opioids. Bệnh nhân được khuyến khích tham gia trong việc xác định liều thuốc giảm đau, vì liều lượng bao nhiêu là cần thiết để ngăn chặn cơn đau sẽ thay đổi từ ngày này sang ngày khác.

  • Các triệu chứng khác, chẳng hạn như lo âu, thiếu ngủ, và trầm cảm, cần được điều trị bằng thuốc thích hợp, và trong một số trường hợp cần có các liệu pháp / phương pháp bổ sung.

9) SỰ PHÒNG NGỪA (Prevention)

Ung thư phổi vẫn là một căn bệnh ngăn ngừa được cao bởi vì 90% các bệnh ung thư phổi xảy ra ở người hút thuốc hay đã cai thuốc . Cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh ung thư phổi là không hút thuốc .
  • Hút thuốc lá gây nghiện rất cao , và việc cai thuốc thường cho chứng minh là rất khó khăn . Tuy nhiên, tỷ lệ hút thuốc đã giảm xuống gần đây ở Bắc Mỹ và những nơi khác trên thế giới.

  • Những nhân viên y tế đóng 1 vai trò quan trọng trong việc xác định người hút thuốc và giúp họ từ bỏ hút thuốc lá.

  • Nhiều sản phẩm như kẹo nicotin gum , thuốc xịt nicotin, thuốc hít nicotin, và các loại thuốc khác đã được sử dụng thành công để giúp mọi người cố gắng từ bỏ hút thuốc lá.

  • Giảm thiểu sự tiếp xúc với hút thuốc lá thụ động , nghĩa là giảm thiểu tiếp xúc với người hút thuốc lá để không phải hít khói thuốc do họ thả ra, cũng là một biện pháp phòng ngừa có hiệu quả.

  • Sử dụng bộ công cụ thử nghiệm radon cho từng căn nhà có thể xác định và cho phép sửa chữa các mức độ khí radon trong nhà, khi mà chất khí radon cũng có thể gây ra ung thư phổi.

  • Những người nghiện thuốc mà sử dụng một sự kết hợp nicôtin bổ sung với điều trị tâm lý và sự huấn luyện về hành vi / ứng xử cho biểu hiện giảm thiểu mức độ hút thuốc đáng kể

Sàng lọc bệnh ung thư phổi bao gồm những việc sau đây
  • Hiện nay, American Cancer Society (Nhóm chuyên về Ung Thư của Hoa Kỳ) không cho lời khuyên về thông lệ chụp X-Quang ngực để kiểm tra ung thư phổi . Điều này có nghĩa là nhiều hãng bảo hiểm không bao chi phí chụp X-Quang Phổi hay chụp cắt lớp (CT scans).

  • Chụp X-quang ngực định kỳ có thể thích hợp cho người hiện tại đang hút thuốc hay hút thuốc trước đây (người đã cai thuốc) . Hãy bàn luận về những ưu và khuyết điểm của phương pháp này với một vị bác sĩ .

  • Chụp hình cắt lớp ở tốc độ chậm (Low-dose CT scans) thường cho thấy khả năng rất lớn trong việc phát hiện ung thư phổi ở giai đoạn bắt đầu / mới chớm, và từ đó thực hiện phẫu thuật chữa bệnh . Tiến trình này đòi hỏi 1 kiểu máy chụp cắt lớp đặc biệt (spiral CT scanner = máy chụp cắt lớp xoán ốc) và máy này được xem là một công cụ hữu hiệu cho việc xác định các bệnh ung thư phổi có khối u nhỏ ở người hút thuốc hay hút thuốc trước đây (người đã cai thuốc). Tuy nhiên, chưa có chứng minh là sử dụng kỹ thuật này thì thực sự cứu sống sinh mạng hay giảm nguy cơ tử vong về căn bệnh ung thu phổi . Những thử nghiệm đang tiến hành xa hơn nữa để xác định khả năng của kỹ thuật chụp cắt lớp xoán ốc ( spiral CT scans) trong việc sàng lọc chuẩn đoán bệnh ung thư phổI

10) SỰ CẢNH GIÁC (Outlook)

Nói chung (bao gồm tất cả các loại và các giai đoạn của ung thư phổi), 16% người bị ung thư phổi sinh tồn ít nhất năm năm. Tỷ lệ sinh tồn của ung thư phổI có xu hướng thấp khi so sánh tới tỷ lệ 5-năm sinh tồn thì bệnh ung thư ruột (colon cancer) là 65%, ung thu vú (breast cancer) là 89%, và ung thư tiền liệt tuyến (prostate cancer) là 99%
  • Những người ở giai đoạn I của "Ung thư phổI không phải tế bào nhỏ ( NSCLC) và từng trải qua phẫu thuật phổi có 60 -70% cơ hội sống sót năm năm.

  • Những người ở giai đoạn II của "Ung thư phổI không phải tế bào nhỏ ( NSCLC) có 30%-40% cơ hội chữa bệnh , vào những người ở giai đoạn III có 20%-30% cơ hội chữa bệnh

  • Những người bị ung thư phổi mà tình trạng không thể làm phẫu thuật có một thời gian sống trung bình là chín tháng hoặc ít hơn.

  • Những người bi "Ung thư phổI tế bào nhỏ có hạn chế" ( limited SCLC) được hóa trị có 2-năm sinh tồn với tỉ lệ 20 - 30% và 5-năm sinh tồn với tỉ lệ 10-15%

  • Dưới 5% người bị "Ung thư phổI tế bào nhỏ đã lan rộng" (extensive-stage SCLC) hay "Ung thư phổI tế bào nhỏ" (SCLC) là sống được hai năm sau khi giải phẫu , với trung bình sinh tồn là khoảng tám đến 13 tháng.

11) CÁC NHÓM HỖ TRỢ VÀ TƯ VẤN (Support Groups and Counseling)

Việc sống với căn bệnh ung thư thực sự có nhiều thử thách mới đối với người bị bệnh và đối với gia đình thân nhân, bạn bè của họ.
  • Những người bi bệnh ung thư rất có thể phải lo lắng nhiều về căn bệnh ung thư ảnh hưởng họ sao, sẽ ảnh hưởng đến khả năng sống một cuộc sống bình thường của họ, như là việc chăm sóc gia đinh , nhà cửa của họ , công ăn việc lamg và tiếp tục gìn giữa muối quan hệ bạn bè hay những hoạt động vui chơi

  • Nhiều người cảm thấy lo lắng và chán nản, thất trí . Một số người cảm thấy tức giận và bực bội; người khác cảm thấy bất lực và buông xuôi (defeated)

Đối với hầu hết những người bị bệnh ung thư, cần được thổ lộ cảm xúc của họ và cần quan tâm giúp đỡ
  • Bạn bè và người thân trong gia đình có thể ủng hộ thật nhiều. Họ có thể là do dự trong việc xin hỗ trợ cho đến khi họ thấy những người đối phó với bệnh ung thư ra sao . Những người bị bệnh ung thư không nên chờ đợi bạn bè hay thân nhân đưa ra đề nghị trợ giúp , nếu họ muốn nói về những mối lo lắng suy tư của họ, họ nên cho bạn bè và gia đình biết. .

  • Một số người không muốn trở thành gánh nặng cho người thân yêu hoặc chỉ thích thổ lộ sự lo lắng của họ với một chuyên gia bình thường. Bàn luận về cảm xúc và sự lo lắng về bệnh ung thư với một nhân viên xã hội, 1 chuyên gia tư vấn, hoặc thành viên của giáo sĩ có thể rất hữu ích. Một bác sĩ phẫu thuật hoặc chuyên gia U bướu (oncologist) sẽ có thể đề nghị một ai đó cho bệnh nhân

  • Nhiều người mắc bệnh ung thư được trợ giúp sâu sắc bằng cách nói chuyện với người khác cũng bị bệnh ung thư như họ. Chia sẻ mối quan tâm với những người khác đã từng trải qua có thể tạo sự yên tâm đáng kể. Nhóm hỗ trợ những người bị bệnh ung thư có thể có sẵn, thông qua các trung tâm y tế nơi đang điều trị họ . American Cancer Society cũng có thông tin về các nhóm hỗ trợ trên toàn nước Mỹ.

12) CÁC THÔNG TIN BỔ XUNG KHÁC

Hình Minh họa

X-Quang ngực cho thấy 1 bóng tối ở lá phôI trái mà sau đó chuẩn đoán là ung thư phổi

Posted Image

Hình chụp cắt lớp (CT scan) cho thấy 1 khôi u trong lá phổI phải . Mấu tế bao khối u được khảo sát bằng kim sinh thiết đã xác định ung thư phổi

Posted Image

Các trang web thông tin bổ xung:

American Cancer Society, Detailed Guide: Lung Cancer
Lung Cancer Online
National Cancer Institute, National Institutes of Health, Lung Cancer

Địa chỉ để liên lạc các nhóm hỗ trợ và Tư vấn (Support Groups and Counseling) tại US

American Cancer Society
National Home Office
1599 Clifton Road, NE
Atlanta, GA 30329 (800) ACS-2345

American Lung Association
61 Broadway, 6th Floor
New York, NY 10006
(212) 315-8700

National Cancer Institute, Cancer Information Service
NCI Publications Office
6116 Executive Blvd MSC8322
Suite 3036A
Bethesda, MD 20892-8322
(800) 4-CANCER (422-4237)
TTY (for deaf and hearing-impaired callers) (800) 332-8615

Alliance for Lung Cancer Advocacy, Support, and Education
1155 21st Street NW, Suite 350
Washington, DC 20036
(800) 298-2436 (lung cancer hotline)
info@alcase.org

Tác giả và người biên tập:
  • Tác Giả: Melissa Conrad Stoppler, MD, Chief Medical Editor, eMedicineHealth.com
  • Người Biên Tập: Jay W. Marks, MD

Các tác giả và người biênt tập trước đây:
  • Tác Giả: Sat Sharma, MD, FRCPC, FCCP, Program Director, Associate Professor, Department of Internal Medicine, Divisions of Pulmonary and Critical Care Medicine, University of Manitoba; Site Coordinator of Respiratory Medicine, St Boniface General Hospital.
  • Người Biên Tập: Winston W Tan, MD, Assistant Professor, Department of Medicine, Mayo Medical School; Francisco Talavera, PharmD, PhD, Senior Pharmacy Editor, eMedicine; Jerry Balentine, DO, Professor of Emergency Medicine, New York College of Osteopathic Medicine; Medical Director, Saint Barnabas Hospital.

Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#3 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 07 November 2009 - 01:04 AM

UNG THƯ PHỔI

ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA UNG THƯ PHỔI


(Bài Viết từ trang web Bệnh Học: http://www.benhhoc.com/post/1731 )


I. ĐẶT VẤN ĐỀ :

Cho đến nay , mặc dù có nhiều cố gắng của các nhà chuyên khoa về lâm sàng và cận lâm sàng , bệnh ung thư phổi vẫn còn là một bệnh nặng . Kết quả điều trị nói chung và ngoại khoa nói riêng còn hạn chế . Lý do là:
  • Khó phát hiện sớm do bệnh nhân đến muộn , do thầy thuốc không phát hiện được
  • Khi phát hiện được bệnh đã qua thời kỳ phẩu thuật tốt , những phương pháp điều trị nội khoa (Quang tuyến liệu pháp,hoá chất chống ung thư ), chỉ có tác dụng tạm thời .

II. ĐẠI CƯƠNG :

Ung thư phổi sớm :
  • Ung thư nguyên phát
  • Ung thư thứ phát

Ung thư nguyên phát phổi gồm có ung thư phế quản và ung thư phế nang
  • Ung thư phế quản phát triển từ biểu mô nhầy của niêm mạc phế quản cho nên gọi là ung thư khối điểm phế quản
  • Ung thư phế nang thường rất hiếm phát sinh từ biểu mô phế nang hoặc ống phế nang . Trong ung thư phổi thì chủ yếu là ung thư phế quản do đó nói đến ung thư phổi có nghĩa là nói đến ung thư phế quản

Theo thống kê trong những năm gần đây ung thư phế quản tăng lên ở tuổi từ 55 trở lên , là một bệnh phổ biến ở các nước công nghiệp . Đối tượng thường gặp là nam giới ( 6-10 người mắc bệnh mới có 1 nữ )

III.NGUYÊN NHÂN :
  • Thường gặp ở người nghiện hút : Theo thống kê ở viện A (1986) 74% bệnh nhân có tiền sử nghiện thuốc lá có chất 3.U benzopyren (0,5 microgam/điếu) có thể gây nên ung thư dạng biểu bì , trong khi ung thư tuyến phế quản lại không thấy có liên quan đến thuốc lá.
  • Một số hoá chất có thể gây ung thư phổi :
    • Thạch tín :(as ) thuốc diệt sâu bọ có as , bụi as ,điều trị as lâu ngày
    • Chromátkén , clorua vinyl ... ở các mỏ trung tâm kỹ nghệ
    • Hắc ín (từ động cơ ô tô)
    • Sợi Amiăng
    • Bụi phóng xạ ( urani ...) chì , đồng , kẽm

  • Vi rút :
    • Một số ung thư phế quản có thể phát triển trên vùng tổn thương sẹo xơ cũ
    • Bụi ô nhiễm ở thành phố , các khu vực kỹ nghệ nhất là kỹ nghệ hoá chất được coi là tác nhân gây ung thư phế quản

IV.GIẢI PHẨU BỆNH :

Căn cứ theo khu trú đầu tiên (đại thể) , ung thư phế quản chia làm 2 loại : Ung thư phế quản trung tâm và ung thư phế quản ngoại vi .
  • Ung thư phế quản trung tâm là ung thư phế quản lớn (phế quản gốc , thuỳ hoặc phân thuỳ ) thể này thường hay gặp dễ chẩn đoán vì hay gây tắc phế quản . Soi phế quản có thể nhìn được , triệu chứng hô hấp xuất hiện sớm , dễ gây xẹp phổi .
  • Ung thư phế quản ngoại vi : ít gặp hơn , ít gây xẹp phổi , soi phế quản không thấy được , lâm sàng thường lặng lẽ nên phát hiện chậm .

Căn cứ theo tổ chức học ( Vi thể ) ung thư phế quản gồm có :
  • Ung thư phế quản biệt hoá bao gồm :
    • Ung thư phế quản dạng biểu bì ( thường hay gặp nhất 60-70% )

    • Ung thư tuyến ( 10-15% )

  • Ung thư phế quản không biệt hoá tế bào nhỏ

Trong các loại trên :
  • Ung thư phế quản dạng biểu bì : Thường gặp ở nam giới hay ở phế quản lớn . 1/3 trường hợp gặp ở ung thư ngoại vi . Tiến triển chậm , di căn muộn xu hướng di căn gần . ở các khối u to có thể có hoại tử thành hang ung thư .
  • Ung thư tuyến phế quản : Có cấu trúc tuyến , chủ yếu ở ngoại vi phổi tại các phế quản nhỏ . Lâm sàng thường lặng lẽ , di căn xuất hiện sớm .
  • Ung thư phế quản không biệt hoá tế bào nhỏ : Không bao giờ ở ngoại vi phổi , hay di căn và di căn nhiều chổ . Di căn nhanh và sớm trước khi có dấu hiệu lâm sàng . Loại này lan theo chung quanh phế quản để vào trung thất , vào các hạch , động mạch , tĩnh mạch phổi . Tiên lượng xấu , nhiều trường hợp không mổ được , tử vong nhanh .

V. PHÂN LOẠI :

Sự phân loại tổ chức học , kết hợp sử dụng phân loại T.N.M cho phép đánh giá tiên lượng và kết quả điều trị của ung thư phế quản .

Phân loại của hội ung thư quốc tế :
  • T : ( U nguyên phát )
    • To : chỉ có tế bào học dương tính
    • T1 : đường kính của u lớn nhất là 4 cm
    • T2 : U ở một phổi , đường kính lớn hơn hoặc cư trú ở rốn phổi
    • T3 : U lan rộng ra ngoại vi phổi

  • N : ( Hạch tại chổ )
    • No : không có hạch di căn
    • N1 : Hạch trong lồng ngực cùng bên
    • N2 : Hạch trên xương đòn cùng bên
    • N3 : Hạch ở rốn phổi , trung thất , bên đối diên
    • N4 : Các hạch nơi khác

  • M : ( Di căn xa , không kể hạch )
    • Mo : Không có di căn
    • M1 : Di căn xa ( tuyến thượng thận , tim , não ...)

VI. LÂM SÀNG :
  • Khi khối u dưới 1cm đường kính thì chưa có dấu hiệu lâm sàng .
  • Nhiều trường hợp , thường do chụp X quang phổi nghi ngờ mà chẩn đoán được
  • Nói chung khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng ở phổi thì đã muộn ( trong cơ thể đã có một số tế bào ung thư di căn ở mộy hay nhiều cơ quan khác rồi ) Những nhóm tế bào này thường tồn tại lặng lẽ trong một thời gian . những nơi khu trú của các nhóm tế bào di căn này là ở não , xương , gan , ...hoặc ở ngay phế quản . Nhiều khi triệu chứng xuất hiện là biểu hiện của biến chứng . Vì vậy khi chẩn đoán được là lúc bệnh đã tiến triển .

1/ Triệu chứng hô hấp :
  • Ho : Thường ho dai dẳng , ho là một phản ứng của niêm mạc phế quản đối với sự phát triển của khối u . ở phế quản càng lớn ho càng rõ rệt . Trong ung thư ngoại vi thường ít ho và ho xuất hiện muộn hơn . Giai đoạn đầu bệnh nhân thường ho khan về sau ho có thể có đờm nhầy và có thể có máu . Thường ho ra ít máu , máu có màu tím . nguyên nhân ho ra máu là do loét niêm mạc phế quản hoặc do u xâm nhập vào động mạch phế quản nhỏ .
  • Đau ngực : Khó thở ở thì thở vào hoặc thở ra do phế quản bị chít hẹp
  • Có thể có triệu chứng của viêm phổi cấp tái diễn nhiều lần ở một vùng phổi

2/ Triệu chứng toàn thân :
  • Sút cân : Tình trạng chung suy sụp , mệt mỏi , khoảng 5-15% có hội chứng Pierre-Marie ( ngón tay dùi trống ) đau và biến dạng các xương bàn tay , bàn chân , Hội chứng này thường do ung thư tuyến phế quản sản xuất ra hoc môn sinh trưởng .

3/ Triêu chứng di căn trong lồng ngực
  • Hay gặp ung thư biểu bì , ung thư này di căn sớm vào các hạch bạch huyết ở rốn phổi và trung thất gây nên hội chứng trung thất như : H/c chèn ép tĩnh mạch chủ trên .
  • Nếu khối u ở đỉnh phổi có thể xâm nhập vào thành ngực tại chổ gây nên hội chứng Pancoast-Tobias . Hội chứng này gồm có :
    • H/c Horner : Đau nửa đầu , co đòng tử , sụp mi do liệt cơ Muller , hẹp khe mắt .

    • Đau dây thần kinh mặt trong cánh tay

    • Đau các khớp cột sống từ C8-D1

    • Cung xương sườn 1 và 2 bị phá huỷ có khi cả xương đòn

  • Hội chứng cận u : Một số u có thể tiết ra những chất giống hoc môn và tác dụng hoàn toàn giống hoc mon . Thường hay gặp nhất là ung thư phổi . Đây là hội chứng nội tiết lạc chổ ( Ectogiie Endocren Syndrom )
  • Hội chứng cường chức năng vỏ thượng thận : Có triệu chứng như trong bệnh Cushing nhưng không điển hình : Bệnh nhân thấy mệt mỏi , phù toàn thân , mỏi và yếu cơ , da mặt nhiều trứng cá , đái tháo đường . Có thể có sạm da do u vừa tiết ACTH và tiết MSH . Có trường hợp có Huyết Áp cao
  • Hội chứng tăng tiết ADH ( hội chứng Shwartz - Batler ) ADH tăng tái hấp thu nước tiểu do vậy giữ lại nước trong cơ thể , làm loãng độ Na huyết tương giảm nồng độ Cl
  • Hội chứng Canxi máu : Do u tiết hoc mon cận giáp hoặc do tiêu xương vì di căn , lâm sàng bệnh nhân có khát , đái nhiều , đái nhiều giảm trương lực và yếu cơ , rung cơ , chán ăn , buồn nôn .
  • Hội chứng Pierre-Marie : Do tăng nồng độ hoc mon sinh trưởng ( GH ) làm hình thành những xương mới , chủ yếu là ở các xương dài , xương tăng sinh và viêm xương dưới màng xương . Hậu quả là khớp sưng đau , ngón tay , ngón chân dùi trống .

VII.CẬN LÂM SÀNG

1/ Xquang :

X-Quang rất có giá trị trong chẩn đoán . Có khi phải chụp 2 hay nhiều lần cách nhau khoảng 2 tuần để theo dõi sự phát triển của bóng mờ , bóng mờ tăng kích thước đều và nhanh ( một dấu hiệu xquang của ung thư )

a/ Đối với ung thư trung tâm :
  • Rốn phổi rộng hơn bình thường , bóng mờ không đều ở rốn phổi , bờ không đều đặn , bóng mờ phát triển đậm dần . Đặc biệt có các tia lan ra xung quanh như mặt trời mọc ( hình ảnh đặc biệt trong ung thư phổi)
  • ở trường hợp lòng phế quản bị khối ung thư làm hẹp , thường cố hình ảnh của rối loạn thông khí tại phần phổi tương ứng của phế quản đó :
    • Phổi giảm sáng ( do giảm thông khí )
    • Phổi tăng sáng ( do giãn phổi )
    • Tăng thể tích , trung thất bị đẩy sang bên lành
    • Có thể xẹp phổi ( Khối u to làm tắc lòng phế quản )

b/ Ung thư ngoại vi :
  • Bóng mờ đậm độ không đều nhau , chu vi không đồng đều , khi khối u càng lớn bóng mờ càng đậm . Do viêm mạnh nên quanh khối u , cấu trúc phổi đậm nét hơn bình thường . Thể tích khối u có thể bằng từ đồng xu đến nắm tay . Nếu khối u cách phổi một quãng có thể thấy những tia nối với rốn phổi , các tia này có thể là sự thâm nhiễm ung thư dọc theo phế quản hoặc dọc mạch máu , hoặc vào chuỗi bạch mạch .

c/ Trên phim có thể thấy hình ảnh của các biến chứng :
  • Hoại tử : Làm thành một hang trong lòng khối u , hang này có thành dày , bờ ngoài rõ đều , bờ trong khúc khuỷu hang không đều , có thể thấy những nụ nổi lên . Trong lỗ hổng có nhiều dịch tiết , có khi giống như một hang lao thông thường , bờ mỏng mặt trong và ngoài đều đặn , bên trong có dịch hoặc không . Nhưng ở đây nhu mô phổi ở chung quanh thường xuyên lành , thử nhiều lần BK vẫn âm tính , điều trị đặc hiệu lao không có tiến bộ . Có thể gặp hình ảnh của của áp xe phổi , bóng mờ lớn , giữa hình sáng và có nước dịch ở thuỳ trên . ở đây thuỳ bị co kéo có thể gây nên biến dạng của cơ hoành , trung thất thành ngực .
  • Di căn vào hạch trung thất :
    • Vào hạch phế quản - phổi làm rốn phổi rộng ra , nhiều khi bờ ngoài của rốn có nhiều hình vòng .
    • Vào hạch cạnh khí quản và hạch khí phế quản , làm bóng của phần trên trung thất rông ra
    • Vào ngã ba khí phế quản làm góc khí quản banh rộng ra ( thực tế việc xác định trên xquang rất khó khăn chỉ ở những trường hợp nặng mới thấy được )

  • Di căn vào thành ngực : Gặp ở ung thư phổi ngoại vi có thể di căn sang màng phổi , xương sườn , làm phá huỷ xương sườn hoặc gãy xương .

d/ Chụp phế quản :
  • Có giá trị đặc biệt ( ung thư trung tâm ) phế quản hep , thành phế quản nham nhở , phế quản có thể cắt cụt
  • ít có giá trị ( ung thư ngoại vi ) một số trường hợp có thể thấy phế quản bị thu hẹp , chệch hoặc bị cắt cụt .

2/ Soi phế quản
  • Rất quan trọng để chẩn đoán ung thư phế quản . có thể thấy một u dài hoặc một nụ mọc lên trên niêm mạc phế quản . U này màu trắng hoặc màu hồng bờ không đều , niêm mạc phế quản bị thâm nhiễm dày , u có thể loét và dễ chảy máu .
  • Từ khi có ống soi sợi mềm , có thể phát hiện được những ung thư ở phế quản cấp 5, cấp 6 .
  • Trong ung thư phế quản ngoại vi soi phế quản thường không thấy
  • Cũng có khi hình ảnh chèn ép từ ngoài phế quản làm xẹp lòng phế quản . Qua soi phế quản có thể làm simh thiết chải phế quản hay sinh thiết hút phế quản , nếu khối u ở ngoại vi đẻ tìm tế bào ung thư . cũng có thể lấy dịch tiết ở lòng phế quản đẻ tìm tế bào ung thư .

3/ Phản ứng Mantoux
  • âm tính
  • Tốc độ máu lắng tăng cao

4/ Các biện pháp khác
  • Sinh thiết hạch ngoại vi nếu có hạch trên xương đòn , hoặc làm sinh thiết hạch ở cơ bậc thang theo phương pháp Daniels
  • Khi cần thiết có thể làm sinh thiết phổi , chọc kim qua thành ngực vào khối u , dưới hướng dẫn của X-quang
  • ở một số trường hợp nhất định có thể mở lồng ngực thăm dò , làm sinh thiết tức thì để quyết định luôn phương pháp phẩu thuật ở phổi .

VIII. TIẾN TRIỂN :

Có thể đánh giá tốc độ tiến triển bằng tính thời gian tăng lên gấp đôi qua xquang : viết tắt : TD ( Temps de dédoublement )
  • Ung thư tuyến TD= 100 ngày
  • Ung thư dạng biểu bì TD = 70-80 ngày
  • Ung thư không biệt hoá tế bào nhỏ TD = 40-50 ngày

Giai đoạn chưa có triệu chứng lâm sàng ung thư tương ứng vào khoảng 2/3 toàn bộ thời gian tiến triển của ung thư phế quản . TD càng nhanh thì hay có di căn và di căn càng nhanh

IX. CHẨN ĐOÁN :
  • Chỉ khó khăn trong giai đoạn đầu , thường là do bệnh nhân hay thầy thuốc thiếu cảnh giác .
  • Soi phế quản , sinh thiết , tìm tế bào ung thư trong đờm .
  • Chụp phế quản là biện pháp cần thiết để chẩn đoán .

X. ĐIỀU TRỊ :

Cho đến hiện nay phẩu thuật cắt phổi vẫn là biện pháp điều trị cơ bản và tương đối có hiệu quả hơn các phương pháp điều trị ung thư phế quản khác . Kết quả phẩu thuật phụ thuộc vào chẩn đoán sớm và chỉ có kết quả trong ung thư dạng biểu bì .

1/ Chỉ định phẩu thuật :
  • Thể trạng tốt , bệnh nhân không già quá
  • Chưa có di căn trong trung thất , ngoài phổi
  • Phổi bên kia còn tốt về chức phận

2/ Phương pháp mổ :
  • Phẩu thuật cắt thuỳ phổi hay cắt cả lá phổi theo sự phát triển của khối u , những trường hợp ung thư phế quản xâm lấn vào màng tim , cơ hoành thành ngực, thì tiến hành cắt phổi mở rộng ( Cắt bỏ một phần màng ngoài tim , một phần cơ hoành ,hoặc thành ngực )

3/ Những trường hợp không còn chỉ định phẩu thuật
  • Khàn tiếng : Do khối u phổi phải đã lan vào trung thất hoặc u phổi trái đã xâm lấn vào quai động mạch chủ , tại đây có dây thần kinh quặt ngược , soi thanh quản thấy liệt thanh quản .
  • Khó nuốt do thực quản bị khối u xâm lấn .
  • Hạch ở hố thượng đòn , hay nách .
  • Hội chứng đè ép tĩnh mạch chủ trên .
  • Di căn vào hạch trung thất bên đối diện .
  • Tràn dịch màng phổi do di căn vào màng phổi .

4/ Chỉ đinh điều trị trường hợp không mổ được

a/ Điều trị triệu chứng tạm thời
  • Chống khó thở
  • Giảm đau , lồng ngực , xương , khớp
  • Chọc hút dịch màng phổi

b/ Quang tuyến liệu pháp :
  • Làm ung thư ngừng tạm thời phát triển , đỡ đau , đỡ khó thở
  • Hoặc tiêu diệt những tế bào còn sót lại sau phẩu thuật hoặc hạch di căn ở trung thất

c/ Thuốc chống ung thư : ( Anticancereux )
  • Xyclophotphatmit ( Cyclophosphamide ), Endoxan Methotrexat . Thuốc chống ung thư có tác dụng hơn cả đối với loại ung thư không biệt hoá tế bào nhỏ
  • Có thể phối hợp sử dụng hoá chất với quang tuyến , liệu pháp làm giảm khối lượng của u để có thể mổ được .

XI. TIÊN LƯỢNG :
  • Việc chẩn đoán sớm ung thư phế quản còn khó khăn nên khi phát hiện được thì khoảng 80% không còn chỉ định mổ nữa
  • Thời gian sống trên 5 năm sau mổ vào khoảng 20-30% , số chết sau năm đầu vào khoảng 50%
  • Tiên lượng phẩu thuật của các ung thư phế quản ở ngoại vi tốt hơn cả 48% sống trên 5 năm , theo MC Mamara (1969) . Sau đó là ung thư dạng biểu bì . Tỉ lệ sống trên 5 năm sau mổ là 35% . Trong khi đó tỉ lệ này là 5% đối với ung thư tế bào nhỏ .

Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#4 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 09 February 2010 - 04:45 AM

Hôm nay đọc được thông tin Y Học do bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh thu gom và chuyển dịch ... Thấy thông tin này là 1 thông tin tốt cho việc ngăn ngừa và trợ giúp cho người bị ung thư phổi ... nên Lynn gom tin tức này về topic này ... Rất mong là thông tin là tia hy vọng để phòng ngừa và ngăn chận sự phát triển của căn bệnh ung thư phổi ... Khi đang gõ dòng chữ này, trong lòng Lynn nhớ đến 1 thành viên NYCY ... cậu em rất trẻ ... từng đặt câu hỏi trong box Tư Vấn ... chính cậu em này đã khiến Lynn quyết định phỏng dịch bài viết Ung Thư Phổi ... và hiện rất mong tin câu ta ... Cầu mong là vạn sự tốt lành đến cho cậu em !!! Rất mong căn bệnh của cậu em được khống chế !!!

Quote

Thời Sự Y Học Số 104 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (08/02/2010)

10/ TRÀ XANH HIỆU QUẢ TRONG SỰ NGĂN NGỪA UNG THƯ PHỔI.

Nguyên nhân đầu tiên của tử vong ở Đài Loan là ung thư phổi.

Rất nhạy cảm với tai ương này, nhóm nghiên cứu của BS I-Hson Lin (Chung Shan Medical University) đã tiến hành một cuộc điều tra về những thói quen sinh sống của 170 bệnh nhân bị ung thư phổi và của 340 người chứng lành mạnh. Những kết luận của công trình nghiên cứu mới đây đã được trình bày tại hội nghị về những cơ chế phần tử, nguồn gốc của ung thư phổi, ở Colorado (Californie). Các kết quả gây ngạc nhiên : nơi những người hút thuốc không uống trà xanh, nguy cơ được nhân lên 12,7 lần so với những người hút thuốc nhưng uống trà xanh (ngay cả chỉ uống một tách mỗi ngày). Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự hiện diện của những profil di truyền được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư này. Nơi những người có mức độ nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) thuận lợi, trà xanh làm gia tăng tác dụng bảo vệ. Các chất có lợi, được chứa trong trà xanh, có một tác dụng lên tính ổn định của các tế bào và các gène của chúng. Đó là các polyphénol, các chất chống oxy hóa (antioxydant) được biết rõ, thí dụ như épigallocatéchine, có tác dụng 200 lần mạnh hơn vitamine E.
(PARIS MATCH 4/2-10/2/2010)

Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#5 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 17 February 2010 - 09:30 PM

THÔNG TIN Y HỌC VỀ UNG THƯ PHỔI
(Lung Cancer)


Lynn Ly tổng hợp thông tin về Ung Thư Buồng Trứng
từ các bài Thời Sự Y Học của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh


Thời Sự Y Học Số 28 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/5/2007 )

Quote

10/ CÁC LỢI ÍCH CỦA CHỌC HÚT TẾ BÀO.

Trong ung thư phổi, chọc hút tế bào (cytoponction) dưới sự hướng dẫn của siêu âm qua thực quản (échographie transoesophagienne) nhằm lấy một «lõi carotte« nhỏ mô hạch (tissu ganglionnaire) dưới sự kiểm soát của siêu âm từ một ống thăm dò (sonde) được đưa vào trong thực quản. Thủ thuật này cho phép xác định mức độ lan rộng của khối u. Bổ sung cho scanner, thủ thuật vi sinh thiết có siêu âm hướng dẫn này là một phương tiện đáng tin cậy để phát hiện các di căn đồng thời tránh khỏi phải mở lồng ngực bằng giải phẫu ngoại khoa hoặc thoracotomie.
(SCIENCE ET AVENIR 5/2007)


Thời Sự Y Học Số 37- BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 2/8/2007 )

Quote

6/ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI BẰNG QUANG ĐỘNG

Điều trị bằng quang động (thérapie photodynamique) mang lại những kết quả đáng phấn khởi trong điều trị vài loại ung thư được chẩn đoán sớm nhưng không thể mổ được vì loại ung thư mắc phải và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Kỹ thuật này nhằm tiêm bằng đường tĩnh mạch một chất gây nhạy cảm với ánh sáng (un agent photosensibilisant) gắn vào khối u ung thư, rồi phá hủy các tổ chức ung thư thấm chất gây nhạy cảm này nhờ một tia laser được đưa đến bằng đường soi phế quản. Đã có được những trường hợp bệnh nhân sống trên 6 năm nhờ phép trị liệu này.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2007)


Thời Sự Y Học Số 73 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (18/4/2008)

Quote

1/ UNG THƯ PHỔI LIÊN KẾT VỚI CÁC YẾU TỐ DI TRUYỀN

Một vài người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi hơn là do profil génétique của họ, theo các kết quả của nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong Nature. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử y học một sự biến dị di truyền (variation génétique) liên kết với nguy cơ bị ung thư phổi.

Một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế từ 19 nước vừa chứng minh lần đầu tiên trên thế giới rằng có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) cho sự phát sinh ung thư phổi. 3 nhóm nghiên cứu quốc tế khác nhau, trong đó có những nhà nghiên cứu Pháp, đã công bố các công trình phù hợp với nhau trong ấn bản 3/4 của các tạp chí khoa học Nature và Nature Genetics. Tất cả 3 nhóm đều định vị biến dị di truyền có liên quan trong sự phát sinh ung thư phổi, trong một vùng của nhiễm sắc thể 15, là nơi định vị của các gènes mã hóa cho các thụ thể nicotine.

Cần nhắc lại rằng ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong do ung thư thường xảy ra nhất trên thế giới với 1 triệu các trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm (hơn 25.000 trường hợp ung thư mới xảy ra hàng năm ở Pháp). Chúng ta đã biết rõ rằng khói thuốc lá là thủ phạm chủ yếu của hơn 80% các ung thư phổi và việc ngừng hút thuốc vẫn là phương cách đơn giản nhất để bảo vệ lấy mình. Ung thư phổi là một căn bệnh đặc biệt giết người với 18.000 tử vong mỗi năm và chỉ 15% các bệnh nhân còn sống sau 5 năm, bởi vì bệnh ung thư này thường được chẩn đoán quá chậm trễ và đề kháng nhất với điều trị. Nhưng sự việc chỉ rõ một tố bẩm di truyền trong sự phát sinh bệnh ung thư phổi cho thấy rằng chúng ta không bình đẳng trước nguy cơ này, mặc dầu thế chúng ta không nên nới lỏng các biện pháp phòng ngừa đối với thuốc lá.

Để có được một kết quả như thế (tương tự với các kết quả của những nhóm nghiên cứu khác), các nhà nghiên cứu ( Fondation Jean Dausset, Cơ quan quốc tế về ung thư ở Lyon…) đã phân tích gần 300.000 biến dị di truyền được phân phối trên toàn bộ các nhiễm sắt thể của hơn 10.000 người gốc châu Âu, mà một nửa bị ung thư phế quản (cancer bronchique). Cuối cùng họ đã nhận diện một vùng có kích thước nhỏ trên nhiễm sắc thế 15, là nơi xảy ra những biến dị di truyền (variations génétiques) tái diễn liên kết với ung thư này. Những người mang những biến dị di truyền này trên một bản sao nhiễm sắc thể 15 có nguy cơ mắc phải ung thư phổi 2 lần cao hơn, so với những người không có những biến dị này. “Trên thực tiễn, trong khi nguy cơ bị một ung thư ác tính ở phổi, đối với một người hút thuốc thâm niên là 16%, tỷ lệ này sẽ tăng lên 23% nếu anh ta mang các biến dị di truyền trên cả 2 bản sao nhiễm sắc thế 15, điều này không phải là ít ỏi”, Giáo sư Dominique Maraninchi, chủ tịch của Viện quốc gia ung thư (Inca) đã tóm tắt như vậy. “Đối với một người hút thuốc bây giờ bỏ không hút nữa, trong khi nguy cơ mắc phải một ung thư phổi vẫn còn là 8%, thì nguy cơ này sẽ tăng lên 15% nếu anh ta có những biến dị này trên hai bản sao nhiễm sắc thể 15. Vậy chỉ với sự hiện diện cua biến dị này không thôi cũng đủ làm gia tăng nguy cơ bị ung thư phổi, đó là điều không thể chối cãi được”. Đối với những người không hút thuốc sự việc ít rõ ràng hơn

PHÁT TRIỂN VÀ CẢI THIỆN ĐIỀU TRỊ

Các gènes nằm trong vùng có liên quan với sự phát sinh ung thư phổi của nhiễm sắc thể 15 cũng mã hóa cho các thụ thể nicotine (récepteurs nicotiniques) của acétylcholine. Mà các thụ thể này cũng đóng một vai trò chủ yếu trong chứng nghiện thuốc lá và hiện diện trong biểu mô của các phế quản. Các kết quả của những nhà nghiên cứu chứng tỏ rằng ngoài vai trò của chúng trong chứng nghiện thuốc lá, các thụ thể này cũng can thiệp trong sự phát sinh ung thư phổi. Nhưng có chăng một mối liên hệ giữa sự hiện diện của các thụ thể như thế với chứng nghiện thuốc lá? Hiện nay không thể nói được bởi vì có hàng chục, thậm chí hàng trăm những thụ thể nicotine. Đối với Paul Brennan, thuộc Cơ quan quốc tế về ung thư ở Lyon, một điều chắc chắn là “những kết quả này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ những cơ chế có liên hệ trong sự phát triển bệnh và có thể mở ra những đường hướng mới để phát triển và cải thiện các điều trị. Thí dụ bằng cách phong bế vài trong số các thụ thể nicotine”. Đồng thời, các nhà nghiên cứu vẫn có thái độ thực tiễn. “ Phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngưng hút thuốc lá. Bởi vì ngay cả những người hút thuốc không mang các biến dị di truyền này đi nữa, vẫn có một nguy cơ quan trọng phát triển một ung thư phổi hoặc một bệnh có liên quan với thuốc lá.

Công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng chúng ta không được bình đẳng trước các mối nguy cơ bị ung thư. “ Nhưng về ung thư phổi, thuốc lá đóng một vai trò chủ yếu trong khi yếu tố di truyền can thiệp một cách thứ yếu mà thôi”, G.S Maraninchi đã kết luận rõ ràng như vậy.
(LE FIGARO 4/4/2008)


Thời Sự Y Học Số 98 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/10/2008 )

Quote

8/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA UNG THƯ PHỔI VÀ SỰ Ô NHIỄM

Ung thư phổi, mỗi năm gây bệnh cho hơn 23.000 người đàn ông và khoảng 5.000 phụ nữ ở Pháp, được liên kết một cách rõ ràng với thuốc lá. Gần 85% những người bị loại ung thư này đang hút hay đã hút. Nhưng không phải tất cả. Ngoài thuốc lá và sự tiếp xúc với amiante, phải chăng còn có những yếu tố khác trong môi trường làm dễ sự phát sinh ung thư này ? Sự ô nhiễm không khí (nguồn gốc xe hơi và công nghiệp) là một yếu tố, mặc dầu thứ yếu so với thuốc lá, nhưng có thể làm dễ phát sinh loại ung thư này. Những nghiên cứu về vấn đề này là căn bản trên bình diện chính trị, bởi vì chúng biện minh một phần cho công cuộc đấu tranh chống lại sự ô nhiễm gây nên bởi các ô tô. Tuy vậy những kết luận rút ra vẫn còn được bàn cãi, vì lẽ những kết quả đôi khi mâu thuẫn và khó phân tích.

Nhiều yếu tố đã được xếp loại như là gây ung thư đối với người. Năm 1980, lần đầu tiên, nhiễm độc thuốc lá thụ động (tabagisme passif) (nghĩa là thở khói thuốc của những người khác) đã được xem như là một yếu tố làm dễ ung thư phổi. Mặc dầu một sự tiếp xúc thụ động chỉ làm gia tăng 20% đến 30% nguy cơ bị ung thư phổi, nhung số người bị liên hệ đã góp phần làm cho cuộc đấu tranh chống thuốc lá thụ động thành một ưu tiên y tế cộng đồng trong hầu hết các nước châu Âu. Được bàn cãi hơn là tác dụng của sự ô nhiễm không khí lên nguy cơ ung thư phổi. Vấn đề là quan trọng bởi vì hàng chục triệu người đang bị ô nhiễm. Sự ô nhiễm này là do những chất khí, như S02, NO2, 03, cũng như những phần tử khác nhau được phát ra, một phần lớn, bởi các động cơ Diesel.

NHỮNG NGHIÊN CỨU PHÙ HỢP NHAU

Những điều tra đầu tiên về vấn đề này đã được công bố vào đầu những năm 1990 ở Hoa kỳ. Trong công trình nghiên cứu được gọi là “sáu thành phố”, các thầy thuốc Hoa kỳ đã phát hiện một sự gia tăng tỷ lệ tử vong, mặc dầu thấp, bởi ung thư phối và các bệnh tim mạch trong những đô thị bị ô nhiễm nhất so với những đô thị ít bị ô nhiễm nhất. Một điều tra khác, lần này trên 154 thành phố, cũng ở Hoa Kỳ, phát hiện một mối tương quan nhẹ giữa mức độ ô nhiễm không khí và tỷ lệ tử vong bởi ung thư phổi.

Năm 2004, Cơ quan an toàn y tế môi trường của Pháp đã thực hiện một nghiên cứu, cho phép ước tính tỷ lệ tử vong bởi ung thư phổi từ 6 đến 11%, được quy cho do tiếp xúc với các hạt nhỏ (particules fines) trong 76 thành phố của Pháp. Mới đây, công cuộc điều tra châu Âu “Ô nhiễm không khí và sức khỏe” khẳng định rằng từ 1296 đến 1901 trường hợp tử vong bởi ung thư phổi có thể tránh được mỗi năm trong 23 thành phố châu Âu nếu những mức ô nhiễm trung bình được thu giảm ¼. Nếu những dữ kiện về ô nhiễm không khí và ung thư phổi còn cần được nghiên cứu thêm, thì ngược lại từ lâu chúng ta đã biết rằng amiante đóng một vai trò không chối cãi được trong sự phát sinh vài ung thư phế quản, ngoài mésothéliome ra. Sự tiếp xúc với các vi sợi (microfibre) này trong các nghành công nghiệp khác nhau, như xây dựng, đã là nguyên nhân của hơn 2000 ung thư phổi ở Pháp năm 1999. Những sự tiếp xúc nghề nghiệp khác, với khí than đá (gaz de houille), hoặc lúc sản xuất than cốc (coke) hay nhôm, cũng đã được xếp loại là sinh ung thư. Cũng vậy, sự tiếp xúc kéo dài với một khí phóng xạ tự nhiên (radon) được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị ung thư phổi.

Trong 20 năm qua, khoảng 40 công trình nghiên cứu dịch tễ học nhằm vào những hậu quả của khói diesel trong vài nghề nghiệp (tài xế, thợ cơ khí...). Mặc dầu các dữ kiện khó giải thích, nhưng các chuyên gia quả quyết rằng có lẽ có một sự liên kết ở mức độ thấp giữa diesel và ung thư phổi.
(LE FIGARO 3/10/2008)


Thời Sự Y Học Số 134 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( (12/7/2009 )

Quote

6/ UNG THƯ PHỔI : XÉT NGHIỆM MÁU SẼ THAY THẾ SCANNER ?

Ung thư phổi và vài con số :
  • 30.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp.
  • 27.500 tử vong mỗi năm.
  • 10% tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm.

Có lẽ sắp đến đây người ta sẽ phát hiện ung thư phổi trong máu. Dầu sao, đó là hướng rất đổi mới, được các nhà nghiên cứu của Pensylvanie theo đuổi và được trình bày vào tháng năm vừa qua ở hội nghị của American Thoracic Society để đương đầu với bệnh ung thư giết chết 800.000 người mỗi năm trên thế giới này. Thật vậy, cho đến hôm nay không có một xét nghiệm nào để phát hiện ung phổi cả. Ngoài ra, chỉ 30% các ung thư phổi được phát hiện ở một giai đoạn sớm mới có thể mổ được. Bởi vì, công cụ duy nhất hiện có, scanner, chỉ có thể phát hiện những hòn phổi (nodule pulmonaire) có một kích thước đủ lớn. Nét độc đáo của những nghiên cứu của G.S Anil Vachani là ở chất chỉ dấu (marqueur) được sử dụng. Trái với các nhóm nghiên cứu, như nhóm của BS William Jacot, thuộc bệnh viện Arnaud-de-Villeneuve ở Montpellier, G.S Anil Vachani đã không đi theo con đường (hiện nay không lối thoát) của các protéine được tiết ra bởi khối u ung thư, mà ông đã chọn các bạch cầu. Thật vậy, một vài loại bạch cầu trong các bạch cầu này, những tế bào lympho, là những bạch cầu đầu tiên tấn công vào khối u ngay khi nó phát triển trong cơ thể. Các gène hiện diện trên các tế bào lympho này sẽ chỉ một cách chính xác sự hiện diện của một khối u. Qua trung gian của các puces ADN, các nhà nghiên cứu đã khảo sát các gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của hai nhóm 44 bệnh nhân, nhóm đầu gồm những bệnh nhận được phát hiện sớm, nhóm thứ hai tạo thành nhóm chứng. Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập, với một độ chính xác 87%, một sự phối hợp của nhiều gène phát hiện sự hiện diện của một ung thư. Còn cần phải kiểm tra xem profil di truyền này có chung cho những ung thư khác không. Một công trình sẽ cần đến nhiều năm. Hướng khác : khí thở ra bởi các bệnh nhân. Nhóm nghiên cứu của BS Michael Philips ở New Jersey, đã nhận diện vài thành phần trong không khí. Công trình nghiên cứu, được hưởng một tài trợ 3 triệu dollars của National Institutes of Health, sẽ được theo đuổi thêm 3 năm nữa trước khi chứng minh rằng xét nghiệm phát hiện độc đáo này, có một tác động thật sự lên tỷ lệ tử vong.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2007)

Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#6 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 06 July 2010 - 03:25 AM

Thời Sự Y Học Số 181 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 05/7/2010 )

Quote

3/ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG UNG THƯ TIẾN TỪNG BƯỚC NHỎ.

Tuy nhiên các tiến bộ chống lại các ung thư da, vú, phổi và buồng trứng đã được loan báo ở Chicago.

ONCOLOGIE. Hôm qua ở Chicago đã bế mạc hội nghị thế giới về ung thư của Hiệp hội Ung thư học lâm sàng (Asco : American Society of Clinical Oncology), được tổ chức hàng năm ở Hoa Kỳ. Những sơ đồ điều trị, những chiến lược đổi mới, các loại thuốc …cuộc hội họp này là cơ hội để điểm lại các phương hướng lớn của cuộc đấu tranh chống lại ung thư. Các cách mạng điều trị trong những buổi gặp gỡ này là ngoại lệ, nhưng những các tiến bộ diễn biến thường xuyên. “ Ngày nay, các kỹ thuật học về sinh học phân tử đã cho phép chúng ta hiểu rằng ung thư, thí dụ ung thư vú, không phải là một căn bệnh độc nhất (une maladie unique), mà là một tập hợp của các bệnh khác nhau, mà mãi cho đến nay chúng ta điều trị tất cả chúng theo cùng một phương cách, GS Thomas Turz, tổng giám đốc của Institut Gustave-Roussy đã giải thích như vậy. Các điều trị được gọi là cá thể hóa (traitements personalisés), được thích ứng với các đặc điểm di truyền và sinh phân tử của các ung thư, đang trải qua một sự phát triển bùng nổ, đặc biệt là trong lãnh vực nghiên cứu. ”

Một công tác nhận diện sinh phân tử và xếp loại quan trọng đang được tiến hành và sẽ biến đổi toàn bộ các ung thư thành các nhóm hưởng những điều trị đặc hiệu. Đối với các ung thư mà ta không có thể chữa lành, hóa học liệu pháp nhằm biến ung thư thành một bệnh mãn tính, để ta có thể sống dài lâu. Hôm nay, ta ước tính số những trường hợp ung thư mới trên thế giới mỗi năm là 12,7 triệu và số các trường hợp tử vong là 7,6 triệu. Trong suốt cuộc đời mình, một người đàn ông trên hai và một phụ nữ trên ba sẽ bị một khối u ung thư.

NHỮNG TIẾN BỘ CHỐNG LẠI U HẮC TỐ.

Lần đầu tiên, một thử nghiệm lâm sàng, được trình bày ở Chicago, đã báo cáo một lợi ích thật sự về mặt tỷ lệ sống còn (survie), với một thứ thuốc mới, nơi những bệnh nhân bị một u hắc tố ác tính với các di căn. Cho mãi đến nay, không có một thử nghiệm nào đã thành công cải thiện hy vọng sống trong thể tiến triển của ung thư da này. Tuy vậy, hai năm sau khởi đầu điều trị, một tỷ lệ cao hơn các bệnh nhân được điều trị với kháng thể Ipilimumab, vẫn còn sống so với một nhóm chứng. Ipilimumab là một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) được tiêm tĩnh mạch, không nhắm đích các tế bào ung thư, nhưng kích thích các tế bào lympho T, đóng một vai trò chủ chốt trong đáp ứng miễn dịch tế bào. Thử nghiệm lâm sàng sau cùng này, được gọi là giai đoạn 3, đã được tiến hành với 676 bệnh nhân trong 13 nước ở Bắc và Nam Mỹ, ở châu Phi và châu Âu, từ tháng chín 2004 đến tháng tám 2008. Mặc dầu đó không phải là một cuộc cách mạng về mặt chữa lành bệnh, nhưng đó đúng là một đường hướng mới, mở ra những triển vọng thuận lợi chống lại căn bệnh đáng sợ này.

UNG THƯ BUỒNG TRỨNG : TỶ LỆ SỐNG CÒN ĐƯỢC KÉO DÀI.

Avastin, một liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) ngăn cản khối u ung thư phát triển nhờ các huyết quản nuôi dưỡng, đã được sử dụng trong ung thư vú, phổi, thận, phối hợp với hóa học liệu pháp, kéo dài sự sống sót của các phụ nữ bị những thể nặng của ung thư buồng trứng, nếu ta tin vào một công trình nghiên cứu cũng được trình bày ở Asco. “ Đó là thử nghiệm lâm sàng đầu tiên giai đoạn 3, cho thấy rằng phong bế sự tao thành các huyết quản của các khối u cải thiện một cách đáng kể tỷ lệ sống sót không tiến triển của các phụ nữ bị một ung thư buồng trứng hay phúc mạc rất khó điều trị, BS Robert Burger của Fox Chase Cancer Center ở Philadelphie (Hoa Kỳ) đã giải thích như vậy. BS Burger đã tiến hành công trình nghiên cứu này trên 1873 phụ nữ mới được chẩn đoán bị ung thư tiến triển của buồng trứng và đã được giải phẫu. Những bệnh nhân được điều trị bằng Avastin và hóa học liệu pháp đã hưởng được một hy vọng sốt cao hơn so với những bệnh nhân chỉ nhận hóa học liệu pháp không thôi.

UNG THƯ PHỔI : NHỮNG KẾT QUÁ ĐẦY HỨA HẸN.

Những kết quả đầy hứa hẹn đã đạt được, chống lại một thể ung thư phổi tiến triển nơi những bệnh nhân có một profil génétique đặc biệt, với một thứ thuốc mới, crizotinib, được bào chế bởi hãng Pfitzer. “ Khoảng 90% các bệnh nhân được điều trị với crizotinib đã đáp ứng dương tính với điều trị và hơn một nửa (57%) đã thấy khối u của họ thoái lui sau 6 tuần,GS Yung Jue-bang, thuộc phân khoa Y của đại học quốc gia Hán Thành đã xác nhận như vậy. Theo ông ta, những kết quả này “ thể hiện một sự cải thiện quan trọng so với điều mà chúng ta quan sát thấy với hóa học liệu pháp chuẩn nơi những bệnh nhân bị ung thư phổi có di căn.” Một điều trị như thế, còn trong giai đoạn thực nghiệm, mà thời gian nhìn lại hiện nay vẫn còn chưa đủ, chỉ được thích ứng với khoảng 5% các bệnh nhân bị ung thư phổi và mang sự biến đổi di truyền này.

Kết luận, nhùng điều trị mới chống ung thư mang lại và sẽ mang lại những sự cải thiện về mặt sống còn, nhưng vài cải thiện bị giới hạn, được đếm bằng tháng chứ không phải bằng năm. Điều này chắc hẳn sẽ gây tranh luận, bởi vì những thuốc mới được gọi là nhắm đích này càng ngày càng tốn kém
(LE FIGARO 9/6/2010)

4/ UNG THƯ PHỔI : CÁC RAU LÁ XANH CÓ TÁC DỤNG PHÒNG NGỪA.

Một công trình nghiên cứu của NIH (National Institute of Health) đã quan tâm đến “ méthylation ”, cơ chế hóa học có can dự trong sự ung thư hóa của một gène. Khói thuốc lá làm gia tăng tỷ lệ méthylation của vài gène liên kết với sự xuất hiện của một ung thư phổi. Trong công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng một sự cung cấp gia tăng và đều đặn các rau lá xanh (légumes à feuilles vertes) làm giảm số các gène bất thuờng trong các tế bào khí quản.
(PARIS MATCH 3/6-9/6/2010)

Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

#7 User is offline   lynn_ly 

  • Thượng tướng
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • Group: Tổng quản
  • Posts: 2,375
  • Joined: 20-June 07
  • Gender:Not Telling

Posted 12 July 2010 - 10:21 PM

Thời Sự Y Học Số 182 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/07/2010)

Quote

6/ NGUY CƠ UNG THƯ PHỐI SAU PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP.

Sự cải thiện của các phương tiện điều trị về ung thư vú cho phép các bệnh nhân sống lâu hơn, nhưng đồng thời làm gia tăng các nguy cơ bị một ung thư khác. Trong một duyệt xét tư liệu y học, Paul Lorigan và các cộng sự viên (Manchester, Vương quốc Anh) đã phân tích nguy cơ bị một ung thư phổi nơi những phụ nữ trước đó đã được điều trị vì một ung thư vú được phát hiện ở một giai đoạn sớm. Họ đã nghiên cứu hậu quả của liệu pháp được sử dụng (phẫu thuật, kỹ thuật phóng xạ liệu pháp đặc biệt, hóa học liệu pháp bổ trợ...) và vài yếu tố riêng cho các bệnh nhân (tuổi, hành vi nghiện thuốc lá...) trên nguy cơ phát triển một ung thư phổi, vào một giai đoạn sau này,

Các dữ kiện gợi ý rằng các kỹ thuật phóng xạ liệu pháp xưa cổ hơn được liên kết với một nguy cơ gia tăng quan trọng phát triển một ung thư phổi nơi phổi cùng bên (phổi bị nhận phóng xạ). Tuy nhiên không có bằng cố rõ ràng rằng các kỹ thuật hiện đại được liên kết với cùng nguy cơ này. Mặc dầu vậy, chứng nghiện thuốc lá tạo nên một nguy cơ quan trọng và làm gia tăng nguy cơ ung thư phổi nơi những người chịu một phóng xạ liệu pháp.

Về hóa học liệu pháp bổ trợ (chimiothérapie adjuvante), nó không được liên kết một cách đáng kể với một sự gia tăng của nguy cơ. Mặc dầu nguy cơ bị ung thư phổi gia tăng với thời gian trôi qua từ khi điều trị, nhưng yếu tố “ tuổi tác ” vào lúc trị liệu dường như không đóng một vai trò.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/7/2010)

Love is nature's way of giving, a reason to be living !!!
0

Share this topic:


Page 1 of 1
  • You cannot start a new topic
  • You cannot reply to this topic

2 User(s) are reading this topic
0 members, 2 guests, 0 anonymous users


Toggle shoutbox Shoutbox - Nhắn tin ngắn

Hello All, Vì chút vấn đề kỹ thuật , Mục Nhắn Tin Ngắn (Shoutbox) tạm ngưng hoạt động ...

Hiện giờ thì diễn đàn đã cung cấp cho các thành viên NCYK khá nhiều chức năng hơn xưa ...  Tuy nhiên Lynn chưa có thời gian update lại các bài hướng dẫn ở đề mục "CÁC CHỨC NĂNG CĂN BẢN CẦN BIẾT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN" . Tạm thời các anh chị em NCYK ráng làm quen với cách xắp xếp mới mà có nhiều "quyền lực" và "tiện lợi"  hơn xưa  của mình há ... Cheer everyone !!! (hihi)
lynn_ly  : (31 August 2010 - 02:06 AM) Testing ... testing ... Hello All !!!
Guest : (13 August 2010 - 12:16 AM) Congratulations, you have successfully installed IP.Shoutbox!
Now you need to setup the shoutbox permissions in ACP -> Members TAB -> Manage User Groups -> Edit a Group -> IP.Shoutbox TAB
Resize Shouts Area